Một trong những mục đích chính của hợp tác kinh tế trong một khu vực làtạo điều kiện cho quá trình phân chia lao động giữa các nớc thành viên để đạt đ-ợc những thành tựu trong thơng mại.
Trang 1Liên kết kinh tế quốc tế trong nội bộ khối các nớc
Đông và Đông Nam á và xu hớng vận động củaliên kết kinh tế quốc tế tại khu vực này
I Tăng cờng liên kết nội bộ khối các nớc Đông và
Đông Nam á
1 Xu h ớng liên kết kinh tế quốc tế ở các n ớc Đông và Đông Nam á
1.1 Hiệp hội các n ớc Đông Nam á
Khối liên kết kinh tế này đợc thành lập năm 1967 trên cơ sở hiệp ớc Baligồm 5 nớc là Inđônêxia, Thái lan, Singapore, Malayxia,và Philippin Sau đóBrunây tham gia Mục tiêu hoạt động của hiệp hội này là “thúc đẩy sự phát triểnkinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá của các nớc thành viên, xây dựnghoà bình và ổn định ở vùng Đông Nam á”
Cơ cấu tổ chức của Asean gồm:
Uỷ ban thờng trực điều hành công việc hàng ngày giữa các kỳ hội nghịhàng năm của các nớc thành viên do các bộ trởng ngoại giao hợp thành Trụ sởchính đóng ở Bangkok
Hội nghị hàng năm giữa các bộ trởng ngoại giao của các nớc thành viên làcơ quan cao nhất của Hiệp hội
Ban th ký do tổng th ký chủ trì là cơ quan hoạt động hàng ngày Trụ sởchính đóng tại Giacacta Chín Uỷ ban chuyên môn về các lĩnh vực lơng thực vànông nghiệp, thơng mại và công nghiệp, giao thông vận tải, khoa học văn hoá vàcác vấn đề khác Có hai cơ quan là Uỷ ban thờng trực ở giơnevơ và Brussel để
mở rộng và cải thiện điều kiện thơng mại với các nớc thánh viên của tổ chứcGATT và với EC
Ban đầu là hiệp hội chính trị nhng ASEAN ngày càng hoạt động theo ớng hình thành một thị trờng chung giữa các nớc thành viên Nền kinh tế các n-
h-ớc ASEAN đạt đợc tốc độ tăng trởng cao trong khoảng 20 năm gần đây và ngàycàng chứng tỏ một sự năng động diệu kỳ trong việc tham gia vào phân công lao
động quốc tế và trao đổi thơng mại quốc tế
Ngày nay để đáp ứng với nhu cầu hoà nhập vào tiến trình phát triển củanền kinh tế thế giới, nội dung của liên kết kinh tế quốc tế của các nớc Đông và
Đông Nam á đang đợc mở rộng cả về các lĩnh vực khác và cả về số lợng cácthành viên
1.2 Xu h ớng hợp tác kinh tế ASEAN:
Trang 2Một trong những mục đích chính của hợp tác kinh tế trong một khu vực làtạo điều kiện cho quá trình phân chia lao động giữa các nớc thành viên để đạt đ-
ợc những thành tựu trong thơng mại ASEAN đã tỏ rõ các nỗ lực của mình trongviệc tăng cờng liên kết kinh tế quốc tế bằng một quá trình hoạt động đầy năng
động
Hiệp định thơng mại u đãi ASEAN (PTA)
PTA đợc bắt đầu từ năm1997 Các mức u đãi thuế quan đợc mở rộng trênphạm vi từng sản phẩm thông qua các đề nghị tự nguyện và thơng thuyết Tuynhiên, quá trình này diễn ra khá chậm và thiếu hiệu quả Năm 1980, ngời ta đa
ra cách tiếp cận toàn diện Theo hiệp định, các mức u đãi sẽ đợc áp dụng đối vớinhững mặt hàng dới một mức trần giá trị nhập khẩu nhất định Mức u đãi ngoạibiên( MOP ) cũng đợc tăng từ 10% đến mức tối thiểu là 20-25% vào năm 1981
và sau đó lên đến 40% và cao hơn nữa Tháng 5/1984, tổng số các mặt hàng ởng mức u đãi thuế quan lên tới hơn 18000 (1985) Tuy nhiên, có một điểm bấtcập trong cách tiếp cận toàn diện này Tiềm năng của nó bị phủ nhận bởi nhiềuloại danh mục loại trừ quốc gia mở rộng Năm 1982, một cuộc thẩm tra về cácdòng thơng mại trong năm 1981 đợc hởng khoảng 9.000 u đãi đã cho thấy rằngchúng chỉ chiếm khoảng 2% trong nền thơng mại giữa các nớc ASEAN(1985)
h-Có nhiều yếu tố cản trở quá trình tự do hoá thơng mại rộng rãi và hiệu quảhơn Một trong các yếu tố đó là các quốc gia thành viên có cơ cấu công nghiệpgiống nhau, do vậy các nớc này sản xuất hay dự định sản xuất ra các mặt hànggiống nhau Nói cách khác, các nớc ASEAN có một lực lợng bổ xung kinh tếkhá hạn chế Bản chất phi bổ xung này lại đợc củng cố thêm nhờ chính sáchthay thế nhập khẩu của một số nớc ASEAN Tuy nhiên, cần phải chỉ ra rằng mộttrong những hiệu ứng tích cực của sự giống nhau này trong cơ cấu kinh tế củaASEAN là các nớc thành viên cùng quan tâm tham gia vào những phơng thứcchung nhằm tiếp cận các vấn đề kinh tế quốc tế Bên cạnh đó, thay đổi trongnhận thức về các thành tựu hợp tác khu vực cũng cản trở quá trình tự do hoá th-
ơng mại của ASEAN.Vấn đề này lại càng trở nên tệ hại hơn do những khác biệttrong mức thuế quan của các nớc thành viên So với một nớc có mức thuế quanthấp, sự sụt giảm cùng một tỷ phần thuế quan nhất định ở một nớc có mức thuếquan cao đợc coi là một bớc suy thoái trầm trọng hơn Khi các mức u đãi đợc ápdụng theo PTA đợc đa phơng hoá trên cơ sở “ tối huệ quốc” đối với các nớcthành viên, những nớc có mức thuế cao sẽ do dự khi hạ bớt mức thuế quan do sựnhân nhợng không thoả đáng giữa các nớc có mức thuế thấp với nhau Trên thực
tế, các cuộc thơng thuyết thực thụ cũng gặp những khó khăn nghiêm trọng do
Trang 3các vấn đề chính trị luôn đợc u tiên hàng đầu khi nớc nào cũng phải lo bảo vệchủ quyền của mình.
Những bất đồng trong nhận thức về thành quả hợp tác khu vực giữa các
n-ớc thành viên ASEAN cũng nảy sinh do các mặt hàng cơ bản chiếm một tỷ trọnglớn trong tổng số hàng hoá xuất khẩu của các nớc ASEAN(trừ Singapore) Giả
sử rằng các nớc này chỉ có lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ đối với các mặt hàng cơbản, một nớc thành viên có thể chỉ bán cho các nớc thành viên khác những mặthàng mà nớc đó sẵn sàng bán cho các nớc ngoài khu vực Đồng thời việc phân
bố công nghiệp chế tạo và các hoạt động phụ trợ có thể bị địa phng hoá trongphạm vi một nớc thành viên, và từ đó nảy sinh hiện tợng “phân cực” Một nớcthành viên công nghiệp hoá ít hơn có thể cho rằng, thay vì nhập khẩu từ bênngoài, khi mua hàng của một nớc công nghiệp hoá cao hơn, nớc này sẽ mất đikhoản doanh thu bằng với mức thuế đánh vào hàng chế tạo bên ngoài
Kế hoạch về các dự án công nghiệp ASEAN (AIP)
Khái niệm về dự án công nghiệp ASEAN (AIP) lần đầu tiên đợc đề xuấtvàonăm 1973 trong một nghiên cứu của Liên hợp quốc (Liên Hợp Quốc, 1974)
và chính thức đợc chấp nhận vào năm1976 Trong số 5 thành viên của ASEAN,mỗi nớc đợc phân một dự án công nghiệp hàng đầu, bên cạnh một số dự án hạnghai khác Các dự án công nghiệp hàng đầu gồm Dự án Urea ASEAN ở Indonesia
và Malaisia, Dự án Tro muối- Sôđa đá ASEAN ở Thái lan, Dự án Phân bónPhosphate ASEAN ở Philippines và Dự án động cơ Diesel ở Singapore Trongtừng trờng hợp, nớc chủ nhà đều đảm nhận 60% cổ phần, phần còn lại chia đềucho cả bốn nớc kia Các dự án AIP đợc hởng mức u đãi tiếp thị trên toànASEAN, trong đó có thể bao gồm cả việc mua hàng đảm bảo theo thoả thuận từtrớc
Tiến triển của các dự án AIP cũng chịu ảnh hởng bất lợi của những bất
đồng trong triết lý kinh tế Một vấn đề nan giải là bản chất và phạm vi của việc
hỗ trợ thi trờng dành cho các dự án AIP Singapore là một điển hình Dựa vàokinh nghiệm của mình về thị trờng tự do và kinh tế mở cửa, Singapore quanniệm rằng những cản trở đối với quá trình tham gia và hạn chế cạnh tranh chỉkhiến công việc càng trở nên kém hiệu quả Do vậy, nớc này không hề mặn màvới bất cứ hình thức mang tính độc quyền nào Quan điểm của các nớc ASEAN
về sự cân bằng giữa bảo hộ và cạnh tranh quốc tế cũng khác nhau
Một lĩnh vực nữa cũng gây nhiều tranh cãi là liệu có nên tính chi phí xâydựng cơ sở hạ tầng vào chi phí dự án hay không Vấn đề giá cả sản phẩm trongtơng lai cũng thu hút sự chú ý của các nhà đàm phán ASEAN Giá cả các sản
Trang 4phẩm ASEAN cũng cần phải đợc thống nhất bởi vì các đối tác khác buộc phảitạo điều kiện tiếp cận thị trờng bên cạnh việc tạo ra hình thức mua hàng đảmbảo.
Kế hoạch bổ sung công nghiệp ASEAN (AIC)
Năm 1981, kế hoạch AIC đợc phát động trên nguyên tắc góp chungnguồn lực và chia sẻ thị trờng Dự án đầu tiên của kế hoạch là dự án sản xuất “ ôtô ASEAN ” Lý do cơ bản của dự án này là nhằm xây dựng hiệu quả kinh tếnhờ quy mô thông qua việc phân chia các giai đoạn sản xuất khác nhau của cácngành công nghiệp liên kết theo chiều dọc của các nớc ASEAN Nhng sau đó dothiết bị sản xuất ở từng nớc ASEAN lại không tơng thích với nhau(Rao, 1996),nên kế hoạch AIP bị thay thế bởi kế hoạch Bổ sung từ Nhãn hiệu tới Nhãnhiệu(BBC) Kế hoạch này khích lệ một số công ty đa quốc gia thuộc các ngànhcông nghiệp tự động chuyển thiết bị sản xuất của mình tới các trung tâmASEAN có mức chi phí thấp hơn và tận dụng yếu tố tơng hỗ của kế hoạch Nhờ
đó, các nớc có thể trao đổi bộ phận máy móc với nhau Kế hoạch BBc nhờ đóthành công hơn trừ việc Indonesia không tham gia đã làm giảm mức thu tiềmnăng từ hiệu quả kinh tế nhờ quy mô
Kế hoạch liên doanh công nghiệp ASEAN(AIJV)
Đợc đa ra năm 1983, kế hoạch AIJV nhằm mục đích khuyến khích đầu tnội bộ ASEAN từ phía các nhà đầu t t nhân Kế hoạch này đợc thực hiện ở bất
cứ quy mô nào miễn là có ít nhất sự tham gia của 2 nớc thành viên ASEAN.Liên doanh với đối tác nớc ngoài đợc khuyến khích Sự u đãi cơ bản dành chocác dự án AIJV là mức thuế đợc hạ thấp xuống Các nớc thành viên tham gia kếhoạch chỉ phải đóng một mức thuế quan bằng 10% mức bình thờng đối vớinhững hàng hoá sản xuất theo các dự án AIJV
Kế hoạch hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO)
Dựa trên kế hoạch Thuế quan u đãi có hiệu quả chung(CEPT) áp dụngcho Khu vực Thơng mại Tự do ASEAN, Kế hoạch AICO nhằm đẩy mạnh đầu tcủa các ngành công nghiệp dựa vào công nghệ Khi đợc thông qua Thoả hiệpAICO, các công ty sẽ đợc hởng mức thuế quan u đãi từ 0-5%
Khu vực tự do thơng mại ASEAN (AFTA)
Vấn đề AFTA đợc nêu ra tại Hội nghị thợng đỉnh ASEAN lần thứ 4 tổchức năm 1992 ở Bangkok Khu vực thơng mại tự do này bao trùm tất cả mọisản phẩm chế tạo và sản phẩm nông nghiệp, dù cho thời gian biểu xoá bỏ hạn
Trang 5chế định lợng cũng nh các rào cản phi thuế quan khác không hề giống nhau Cóbốn loại sản phẩm, mỗi loại chịu một mức thuế quan khác nhau.
Danh mục toàn bộ - Sản phẩm có tên trong Danh mục toàn bộ là nhữngsản phẩm đã trực tiếp trải qua quá trình tự do hoá nhờ việc giảm bớt thuế quanCEPT, xoá bỏ hạn chế định lợng cũng nh các rào cản thơng mại khác Mức thuếquan đối với các sản phẩm này cần đợc hạ xuống mức tối đa là 0-5% vào năm
2002 Các thành viên mới của ASEAN cũng phải hoàn thành chỉ tiêu này vàonăm 2006( đối với Việt nam), 2008(Lào và Myanmar), 2010 ( Campuchia)
Danh mục loại trừ tạm thời (TEL) - Sản phẩm có tên trong danh mục TEL
sẽ tạm thời không phải chịu ảnh hởng của quá trình tự do hoá thơng mại trongmột thời gian Kể từ 1/1/1996, các khoản thanh toán thờng niên của các sảnphẩm có tên trong TEL đợc chuyển sang danh mục toàn bộ Đến tháng 2/2000,trong TEL chỉ còn lại 9.977 dòng thuế quan, chiếm 15,5% tổng số dòng thuếquan của ASEAN
Danh mục nhạy cảm - Danh mục này bao gồm các sản phẩm nông nghiệpcha qua chế biến Trong danh mục này, cam kết giảm thuế quan xuống còn 0 -
55 và xoá bỏ hạn chế định lợng cũng nh các rào cản phi thuế quan khác đợc nớirộng tới năm 2010 Thời gian thực hiện cam kết đối với thành viên mới củaASEAN là 2013 (Việt nam), 2015 (Lào và Myanmar), 2017(Campuchia) Đếntháng 2/2000, trong danh mục nhạy cảm có 410 dòng thuế quan, chiếm 0,64%tổng dòng thuế quan của ASEAN
Danh mục ngoại lệ chung(GE) - Các sản phẩm có tên trong GE loại trừvĩnh viễn khỏi khu vực thơng mại vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia, đạo đứcchung, đời sống và sức khoẻ cây cỏ, muông thú, con ngời, cũng nh các điềukhoản về giá trị khảo cổ, lịch sử và nghệ thuật Đến tháng 2/2000, trong danhmục GE có 909 dòng thuế quan, chiếm tới 1,4% tổng dòng thuế quan củaASEAN
Bảng 2 Tỷ lệ thuế quan CEPT trung bình dự kiến theo từng nớc
Trang 6Singapore 0,00 0,00 0,00 0,00
Nguồn: ASEAN, Báo cáo thờng niên 1999-2000
#: Mức thuế quan CEPT khu vực đợc tính bình quân dựa trên cơ sở số đờng thuế quan trong danh mục toàn bộ của năm 1999.
Việc xây dựng một khu vực thơng mại tự do trong nội bộ ASEAN đã trởnên dễ dàng hơn, một phần nhờ chiến lợc phát triển hớng ngoại của các nớcthành viên thực hiện vào những năm 1980 với mức thuế quan thấp hơn nhiều sovới các nớc đang phát triển khác Đặc biệt, nớc có thị trờng lớn nhất và khép kínnhất trong khu vực là Indonesia đã thực hiện tự do hoá thơng mại mạnh mẽ Quátrình cắt giảm và cuối cùng cắt bỏ thuế quan càng thực hiện tốt thì tiến độ tạolập khu vực thơng mại tự do càng thuận lợi hơn
Tuy nhiên, chính những thay đổi trên trờng thơng mại quốc tế mới là nhân
tố thúc đẩy các nớc ASEAN tiến nhanh trên con đờng tự do hoá môi trờng thơngmại và kinh tế của mình Đầu tiên, việc thành lập Thị trờng chung Châu Âu vàtiếp theo là Hiệp định thơng mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) đã làm ASEAN lo ngại
về chủ nghĩa bảo hộ thơng mại chống lại hàng hoá xuất khẩu của ASEAN sangcác khối kinh tế khu vực này Thứ hai, ngời ta cho rằng Liên Xô tan rã và Đông
âu sụp đổ sẽ khiến cho đầu t trực tiếp nớc ngoài từ Tây Âu và Bắc Mỹ vào Đông
á chuyển sang các nớc xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng lại nền kinh tế quan liêuthành thị trờng tự do Thứ ba, Trung Quốc quyết định chọn và xây dựng một sốthành phố duyên hải thành các đặc khu kinh tế, ấn Độ nỗ lực thận trọng màchắc chắn khi xoá bỏ chế định và tự do hoá nền kinh tế, Việt nam khôi phụcquan hệ với Mỹ là những điều kiện thúc đẩy việc kiểm tra sức cạnh tranh và sứchấp dẫn của toàn ASEAN trong kỷ nguyên cạnh tranh toàn cầu để giành đợc tiềnvốn từ các nhà đầu t
Nhìn chung, ASEAN đã hớng quan hệ thơng mại của mình tới các nớcbên ngoài nhiều hơn là chỉ trong nội bộ khu vực Thơng mại nội bộ ASEAN - 6,chủ yếu đợc thực hiện giữa Singapore và Malaysia, tăng 6 lần từ 24 tỷ đô la Mỹtrong năm1985 lên tới 143 tỷ đô la Mỹ trong năm 1997 Mặc dù chiếm 18%tổng thơng mại năm 1985 và 20% tổng thơng mại năm1997, thơng mại nội bộASEAN - 6 vấn thấp so với Liên minh Châu Âu Để thực hiện thành côngAFTA, sự phụ thuộc lẫn nhau và quá trình hợp tác kinh tế cần phải đợc đẩymạnh hơn nữa
Trang 7Nguồn: ASEAN , Báo cáo thờng niên, 1999-2000
Hiện nay, đặc điểm cơ bản của sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế củaASEAN chính là việc tái phân bố và hợp lý hoá hoạt động sản xuất theo giá trịhàng hoá từ các nớc ASEAN phát triển sang các nớc ASEAN kém phát triểnhơn Mô hình phát triển kinh tế “ngỗng bay” của Kojima(1986) dờng nh đang
mở ra một bối cảnh Đông á rộng lớn hơn, bắt đầu từ Nhật bản tới các nền kinh
tế công nghiệp hoá mới(NIE) và xuống các nớc ASEAN ( Kojima, 1981: 1-10).Vấn đề then chốt của mô hình “ngỗng bay” là nền kinh tế của các quốc gia khingừng nhận đầu t trực tiếp nớc ngoài, thờng là dới hình thức di chuyển các nhàmáy chế tạo, sẽ dễ cất cánh và bay nhẹ nhàng hơn với hình chữ V nh đàn ngỗng
di c Lúc đó sẽ nảy sinh câu hỏi tại sao một số nớc nh Bắc Triều Tiên và Mông
cổ ở Đông Bắc á hay Campuchia và Lào ở Đông Nam á lại không bị ảnh hởngbởi mô hình “ngỗng bay”? hay nói cách khác là các nớc đang phát triển phảichấp nhận những chính sách nội sinh nào để đợc gia nhập câu lạc bộ “ngỗngbay”? Tiếp nữa, tại sao một vài con ngỗng có khả năng bay nhanh trong khi cáccon khác lại không thể bay nhanh bằng? Cuối cùng đầu t nớc ngoài ồ ạt đổ vàokhông phải chỉ từ Nhật bản mà còn từ Mỹ và Tây âu và gần đây là từ bốn nềnkinh tế công nghiệp hoá mới ở Châu á
Một trong những lợi ích phụ tích cực do AFTA mang lại là dòng đầu ttrực tiếp nớc ngoài đổ vào khu vực sẽ lớn hơn Theo Menon (1995), loại hình th-
ơng mại nội bộ ASEAN hiện nay là loại hình thơng mại nội bộ công nghiệp màtrong đó, các công ty đa quốc gia (MNC) theo đuổi loại hình đầu t trực tiếp nớcngoài tìm kiếm hiệu quả (hay còn gọi là đầu t trực tiếp nớc ngoài dựa vào cácyếu tố) Loại hình đầu t này bị đánh bạt đi bởi giả thiết cho rằng các yếu tố sản
Trang 8xuất ở ASEAN có những phẩm chất vợt trội hơn hẳn những yếu tố của riêng mộtnớc chủ nhà Dòng luân chuyển hàng hoá tự do hơn sẽ khuyến khích sự phâncông lao động trong khu vực, nơi quá trình hội nhập theo chiều dọc của quátrình sản xuất diễn ra khắp ASEAN tuỳ theo lợi thế cạnh tranh của từng nớcthành viên Trong khía cạnh này, mọi thứ vẫn đang phát triển tích cực Do vậySingapore và Malaysia chuẩn bị sẵn những biện pháp kích thích tài chính đểkhuyến khích các công ty đa quốc gia thiết lập trụ sở hoạt động với ASEAN ởSingapore và với Châu á - Thái Bình Dơng ở Kuala Lumpur Nớc cờ chiến thuậtnày đợc tung ra nhằm khai thác hiện tợng trên trong môi trờng sản xuất thơngmại quốc tế mới bằng cách nối liền với chuỗi hoạt động sản xuất giá trị gia tăngtoàn cầu của các công ty đa quốc gia Các nhà đầu t nớc ngoài có thể tiếp cận tàichính và vận tải chất lợng cao hơn, sẵn có ở các nớc phát triển Đồng thời, họgiảm thiểu chi phí sản xuất của mình bằng cách xây dựng phơng tiện sản xuất ởnhững nớc d thừa lao động và đất đai Hơn thế nữa kinh tế các nớc ASEAN tăngtrởng mạnh trong suốt hai thập kỷ qua đã làm cho nhu cầu về hàng tiêu dùng vàdịch vụ ở các nớc này tăng cao Các nhà đầu t chắc chắn sẽ muốn khai thác thịtrờng mới mẻ mà rộng lớn nảy trong bối cảnh mở cửa và giảm bớt thuế quan nhhiện nay.
Tuy nhiên, ngời ta vẫn cha biết chắc rằng thông qua AFTA, liệu ASEAN
có khả năng thu hút đầu t nhờ xoá bỏ thuế hay không ( Athukorala và Menon,1996) Thứ nhất là các nớc ASEAN đã nhiều lần đơn phơng hạ thấp hàng ràothuế quan.Thứ hai, ngời ta sẽ quan tâm nhiều hơn đến sự tồn tại của các hàngrào phi thuế quan ở biên giới (bao gồm chính sách đầu t, phối hợp sản phẩm với
kỹ thuật, hợp tác và t vấn kinh tế vĩ mô) vốn đòi hỏi phải đợc chú ý Bất chấp thịtrờng AFTA rộng lớn hơn và hấp dẫn, sức lôi cuốn của một dòng đầu t trực tiếpnớc ngoài nhiều hơn sẽ khiến cho nhà đầu t linh động chuyển sang thực hiệnchuyên môn hoá theo ngành dọc (thơng mại dựa vào phân công lao động)
Mặc dù vậy, AFTA không phải là không bị ảnh hởng bởi cú sốc của sự
điều chỉnh Do sự thống trị của cơ quan nhà nớc độc quyền bảo hộ và các doanhnghiệp t nhân liên kết chặt chẽ với nhau trong nền kinh tế, mối quan hệ về khảnăng thích nghi của Indonesia sẽ cản trở tổng thể quá trình tự do hoá thơng mại.Mối quan ngại này cũng thấy rõ tại các thành viên mới của ASEAN đang làmquen với khái niệm môi trờng thị trờng tự do Để tồn tại trong môi trờng cácdoanh nghiệp nớc ngoài cũng nh các doanh nghiệp t nhân trong nớc cạnh tranhkhốc liệt, doanh nghiệp quốc doanh của các nớc này có thể sẽ phải thu hẹp lạinếu không sát nhập thành một tổng công ty hay t nhân hoá
Trang 9ASEAN cần chú ý tới những cảm nhận về chênh lệch lợi nhuận giữa cácnớc thành viên của khu vực thơng mại tự do Nếu ASEAN quyết định khôngchấp nhận chủ nghĩa khu vực mở cửa, cho phép các nớc nằm ngoài khu vực cócơ hội trở thành thành viên ASEAN, thì sự chênh lệch này sẽ bất lợi cho triểnvọng tăng trởng kinh tế của ASEAN trong tơng lai Một khi đã cân đối đợcchính sách, và luật lệ, nền thơng mại nội bộ khu vực lớn mạnh sẽ đợc coi là bớc
đệm ngăn ngừa chủ nghĩa bảo hộ thơng mại đang ngày càng tăng Bên cạnh đó,thu nhập cũng có khả năng tăng cao do AFTA đẩy mạnh thu hút các nhà đầu t n-
ớc ngoài, nếu không họ có thể đầu t vào các khu vực khác trên thế giới
2 Những vấn đề của các n ớc Đông và Đông Nam á trong quá trình liên kết kinh tế quốc tế
Vào đầu những năm 90, khi chiến tranh lạnh kết thúc, những thay đổitrong môi trờng chính trị, kinh tế khu vực và quốc tế đã đặt kinh tế các nớcASEAN đứng trớc những thách thức lớn không dễ vợt qua Đó là: Quá trình toàncầu hoá kinh tế thế giới diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ, đặc biệt trong lĩnhvực thơng mại, chủ nghĩa bảo hộ truyền thống trong ASEAN ngày càng mất đi
sự ủng hộ của các nhà hoạch định chính sách trong nớc cũng nh quốc tế Đó là:
sự hình thành và phát triển các tổ chức hợp tác khu vực mới, đặc biệt nh EU,NAFTA sẽ trở thành các khối thơng mại khép kín, gây trở ngại cho hàng hoáASEAN khi thâm nhập thị trờng này Đó là: Những thay đổi về chính sách nh
mở cửa, khuyến khích và dành u đãi rộng rãi cho các nhà đầu t nớc ngoài, cùngvới những lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực của Việtnam và Trung Quốc, Nga và các nớc Đông Âu đã trở thành những thị trờng đầu
t hấp dẫn hơn ASEAN, đòi hỏi ASEAN vừa phải mở rộng về thành viên, vừaphải nâng cao hơn nữa tầm hợp tác khu vực
2.1 Gia tăng sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế
Những khó khăn phức tạp của các nớc Đông và Đông Nam á trong quátrình liên kết kinh tế quốc tế chủ yếu đều bắt nguồn từ khoảng cách khá xa vềtrình độ phát triển kinh tế của các nớc này so với các nớc phát triển khác Mặc
dù kinh tế của các nớc khu vực này trong những năm qua đã có sự tăng trởng vớitốc độ khá cao nhng đại bộ phận các quốc gia này vẫn còn một khoảng cách khá
xa mới đuổi kịp các nớc phát triển trong khu vực và trên thế giới Theo “ Báocáo tình hình phát triển của thế giới năm 1997 “ của Ngân hàng thế giới thì cácnớc phát triển chỉ chiếm 12,95% dân số thế giới nhng chiếm tới 77,08% tổngsản phẩm thế giới Hiện nay, các nớc có nền kinh tế phát triển nắm trong tay 3/4sức sản xuất của toàn thế giới, 3/4 kim ngạch mậu dịch quốc tế, là nơi đầu t và
Trang 10thu hút chủ yếu các luồng vốn FDI ( trong 827 tỷ USD tổng vốn FDI của thếgiới, các nớc này chiếm khoảng 609 tỷ USD Năm 1999, FDI vào EU gần 300 tỷUSD, vào Mỹ gần 200 tỷ USD) Các nớc này sở hữu 49 các TNCs lớn nhất thếgiới trong đó đứng đầu là General Motor (Mỹ) có tổng số vốn là 304 tỷ USD;nắm giữ hầu hết các công nghệ hiện đại nhất, các phát minh, sáng chế, bí quyết.Các thiết chế kinh tế quốc tế nh WTO, IMF, WB đều nằm dới sự chi phối củacác nớc lớn.
Trong khi đó, các nớc đang phát triển chiếm trên 80% dân số thế giới
nh-ng lại chỉ chiếm 20,1% tổnh-ng sản phẩm thế giới Tốc độ tănh-ng trởnh-ng kinh tế chacao (sấp sỉ 2% mỗi năm), dân số đông và tăng nhanh nên thu nhập bình quân /
đầu ngời ở các nớc này thấp hơn nhiều so với các nớc phát triển Khoảng cáchgiầu nghèo ngày càng tăng lên (năm 1970, ớc tính thu nhập quốc dân/ đầu ngờicủa Việt nam bằng 1/35 Nhật Bản, thì nay đã là 1/100.) Theo các nhà phân tíchkinh tế thì trong những thập kỷ gần đây, một số nớc Đông Nam á tuy đã đạt đợctốc độ tăng trởng tơng đối cao (trên dới 10%), nhng sự tăng trởng đó cha thực sựbền vững Do đó, chỉ cần có một biến cố kinh tế xảy ra là nền kinh tế lại rơi vàotình trạng suy thoái Ví dụ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở khu vực Châu á-Thái bình dơng năm 1997 đã làm cho mức tăng trởng của nhiều nớc trong khuvực này bị giảm sút nghiêm trọng
“ Làn nớc của toàn cầu hoá đẩy tất cả thuyền lên, đa một số thuyền lớnlên cao và bỏ lại hoặc nhấn chìm những thuyền nhỏ ” Đó là hình ảnh minh hoạcho thách thức mà các nớc Đông Nam á gặp phải do sự chênh lệch về trình độphát triển kinh tế trong quá trình toàn cầu hoá
2.2 Hệ thống ngân hàng yếu kém, thô sơ và thiếu linh hoạt
Các nhà kinh tế học cho rằng nợ khó đòi hay các khoản cho vay tồi ở cácnớc Đông và Đông Nam á luôn ở mức nguy hiểm, nguyên nhân là do sự yếukém của hệ thống kiểm tra, giám sát các hoạt động ngân hàng Sự yếu kém đólại bắt nguồn từ: thứ nhất, sự không ràng trong các quy chế quản lý ngân hàng;thứ hai, sự quản lý điều hành thờng bị chi phối bởi các yếu tố chính trị; thứ ba,
sự yếu kém trong việc kiểm toán và phân loại các khoản cho vay; và thứ t, cácngân hàng thiếu quyền tự chủ trong việc ra quyết định kinh doanh
Việt nam là một trong những bằng chứng cho những phân tích nói trên.Vào thời điểm tháng 7/1998, 15% tổng số cho vay của Việt nam đợc xếp vàoloại quá hạn Và cũng trong năm 1998, các xí nghiệp quốc doanh chiếm tới35,1% tổng số nợ quá hạn của các ngân hàng thơng mại
Trang 112.3 Sự bất cập của nền kinh tế ch a hoạt động theo cơ chế thị tr ờng
Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung với những yếu kém của nó nh sứccạnh tranh kém, cơ chế “ xin cho ” cha đợc khắc phục, thủ tục hành chính rờm
rà, tệ tham nhũng lộng hành, khu vực nhà nớc làm ăn thua lỗ cùng với t duykinh tế lạc hậu tỏ ra không thể tồn tại trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tếhiện nay Vì thế các nớc Đông và Đông nam á phải biết làm gì để khắc phục khókhăn mang tính chất nền tảng là phải nhanh chóng chuyển từ cơ chế kế hoạchhoá tập trung sang cơ chế thị trờng
2.4 Lợi thế so sánh giảm dần và cơ cấu kinh tế ch a hợp lý
Do trình độ phát triển thấp, máy móc thiết bị lạc hậu, thiếu vốn nên sảnphẩm xuất khẩu của các nớc này chủ yếu là dạng thô và sơ chế làm giá trị xuấtkhẩu giảm đi từ 5 đến 10 lần Lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, lực lợng lao
động dồi dào, chi phí lao động thấp sẽ mất dần đi do sự phát triển của kỹ thuật
sử dụng công nghệ cao tiết kiệm lao động, sự lớn mạnh của nền kinh tế tri thứctrong đó sở hữu trí tuệ mới là sở hữu mang lại sự giầu có của các nớc phát triển
2.5 Đối đầu với vấn đề cạnh tranh gay gắt
Cạnh tranh là vấn đề luôn đi đôi với quá trình hội nhập và liên kết kinh tếquốc tế Trớc bối cảnh liên kết kinh tế quốc tế ngày càng ở mức độ cao, thì cácnớc Đông và Đông Nam á đứng trớc một thực trạng khách quan là khả năngcạnh tranh kém hơn nhiều so với các nớc phát triển trên thế giới Các mặt hàngnguyên liệu và nông sản thực phẩm bị giảm giá khiến cho thơng mại bị thâmhụt Các mặt hàng mang lại lợi nhuận lớn cho các nớc này vẫn phải đối mặt với
sự phân biệt đối xử ghê gớm Khoảng 1/5 số hàng xuất khẩu dệt may vào các
n-ớc công nghiệp chịu mức thuế hơn 15% Các nn-ớc công nghiệp phát triển yêu cầucác nớc này mở rộng thị trờng nhng họ áp dụng chính sách bảo hộ mậu dịchkhắt khe Điều này làm sâu hơn hố sâu ngăn cánh giữa những nớc giầu với nớcnghèo
Tóm lại, để đối mặt với một loạt các vấn đề nh đã nêu ở trên, các nớc
Đông và Đông Nam á nhất thiết cần phải liên kết chặt chẽ với nhau tạo thànhmột sức mạnh tổng hợp để có thể vững bớc tham gia vào quá trình liên kết kinh
tế quốc tế và xu thế toàn cầu hoá thơng mại của thế giới
II Xu hớng mở rộng phạm vi liên kết của các nớc Đông
và Đông Nam á ra ngoài khối
Trang 12Ngoài các kế hoạch giảm thuế để đẩy nhanh tiến trình liên kết và hợp táckhu vực, các nớc ASEAN còn thoả thuận mở rộng hợp tác với các đối tác bênngoài nh Nhật bản, Hàn quốc, Trung Quốc, EU, Mỹ
Đặc biệt trong năm 2000 ba sự kiện nổi bật liên quan đến hợp tác nội bộASEAN và giữa ASEAN với các nớc bên ngoài khu vực
Thứ nhất là Hội nghị ASEM3 tổ chức tại Xơun( Hàn quốc) trong 2 ngày
20,21 tháng 10 năm 2000 bao gồm 10 nớc Châu á và 15 nớc Châu âu Tại Hộinghị ASEM3 đã thảo luận 15 dự án hợp tác giữa 2 Châu lục á - Âu trên các lĩnhvực kinh tế, chính trị, an ninh Trong bản tuyên bố chung Xơun, các nớc đã nhấttrí về chơng trình hợp tác và liên kết, trong đó đáng chú ý nhất là các bên đãthông qua giải pháp về cơ chế hợp tác giữa hai bên, đặc biệt là các cơ chế có liênquan đến kinh tế, thơng mại, tài chính
Thứ hai là hội nghị cấp cao APEC tổ chức tại thủ đô Banda(Xêri)
Bêgaoan(Brunei) tháng 12 năm 2000 Tại Hội nghị các nớc thành viên APEC lầnnày đã khẳng định cam kết Bôgô về hệ thống thơng mại và xây dựng kế hoạchcho chơng trình thơng mại điện tử
Thứ ba là Hội nghị thợng đỉnh không chính thức của 10 nớc ASEAN và 3
quốc gia đối thoại(Trung Quốc, Nhật bản, Hàn quốc) tổ chức tại Singapore từ 22
đến 25/11/2000 Tại hội nghị các nớc thành viên và các bên đối thoại đã thảoluận, xem xét các vấn đề quan trọng nh: Tiến trình thực hiện AFTA; Mở rộngthơng mại tự do ASEAN theo công thức ASEAN + 1, ASEAN + 3; Kế hoạchphối hợp xây dựng hệ thống tin học nối mạng giữa các nớc thành viên
Khu vực Đông Nam á đang đợc xem nh là một khu vực thống nhất hơnvới sự tồn tại của ASEAN vào thời kỳ sau chiến tranh lạnh Những nền kinh tếnày đã hoạt động tốt cho việc giành lấy sự tăng trởng kinh tế mạnh trớc khủnghoảng Tuy nhiên, thách thức của Trung Quốc đối với khu vực trở nên rõ nét khitầm quan trọng của Trung Quốc tăng lên về thơng mại và đầu t trong toàn cầuhoá kinh tế thế giới
1 Quan hệ kinh tế ASEAN - Trung Quốc trong một nền kinh tế thế giới hội nhập
1.1 Sự thay đổi không gian liên kết kinh tế ASEAN và Trung Quốc
Quan hệ kinh tế giữa ASEAN và Trung Quốc phát triển rực rỡ trong suốtthập kỷ 90 Sự mở cửa về thơng mại và FDI đã có kết quả tích cực về tăng trởng
và sự hội nhập với nền kinh tế thế giới Các nớc ASEAN đã có mức tăng trởngtrung bình khoảng 7% trong thập kỷ 90 cho tới trớc khủng hoảng tài chính năm
Trang 131997 Mức tăng trởng này cũng bao gồm cả những thành viên mới của ASEAN
(Which are known ASEAN CLMV- Cambodia, Laos, Myanma and Vietnam) Mặt khác vớinớc có mức tăng trởng trung bình tới 10% trong thập kỷ qua, Trung Quốc đã trởthành nớc có tăng trởng GDP thực cao nhất thế giới ( International Monetary Fund World Economic Outlook database). Điều này rõ ràng đã làm cho Trung Quốc trởthành một lực lợng nổi bật trong nền kinh tế toàn cầu
ASEAN có mức độ mở cửa cao bao gồm cả về xuất khẩu và nhập khẩu,khoảng 135% so với GDP năm 2000 Với mức độ mở cửa cao nh vậy, xuất khẩucủa ASEAN đã tăng hơn gấp đôi hơn thập kỷ qua, từ 162,9 tỷ USD năm 1991lên tới 358,3 tỷ USD năm 1999 Sự hội nhập với nền kinh tế thế giới đã đợc biểuhiện bằng mức độ mở cửa cao khoảng 41% năm2000 Trong cùng thời kỳ, xuấtkhẩu của Trung Quốc đã tăng khoảng 3 lần, từ 71,9 tỷ USD năm1991 lên tới195,2 tỷ USD năm 1999
Một khía cạnh khác về sự tăng trởng nhanh của ASEAN và Trung Quốc làtầm quan trọng của FDI thu hút đợc cùng với nguồn công nghệ và kinh nghiệmquản lý (See UNCTAD, World Investment Report 1998) Dòng FDI chảy vào ASEAN
đã tăng hơn gấp đôi trong khoảng 1990 và 1997 Mức cao nhất là năm 1996 vớitổng giá trị là 29,6 tỷ USD nhng vẫn kém xa so với năm 1990 là năm FDI đã ởmức cao nhất khi so sánh nguồn FDI với các nớc đang phát triển Dòng FDI vàoASEAN đợc tập trung vào những lĩnh vực tái tạo sự hấp dẫn của nơi này nhờ chế
độ hội nhập khu vực bên cạnh những sáng kiến chính sách của mỗi quốc gia
Còn đối với Trung Quốc, FDI đã tăng hơn 10 lần, từ 3,5 tỷ USD năm 1990hay khoảng 10% của tổng FDI vào những nớc đang phát triển lên tới 40,8 tỷUSD hay khoảng 17% tổng FDI vào các nớc đang phát triển Theo báo cáo đầu
t thế giới mới nhất năm 2001 thì Hồng kông vợt Trung Hoa đại lục với t cách lànơi nhận FDI riêng lẻ lớn nhất Châu á với 64 tỷ USD, và cũng đứng đầu trongviệc đa FDI ra ngoài với 63 tỷ USD mặc dù FDI vào Trung Quốc đều gia tăng.Một trong những cách lý giải chính là những công ty đa quốc gia dự định vàoTrung Quốc đại lục đã “ trữ ” quỹ ở Hồng Kông với mong đợi Trung Quốc gianhập WTO ( See UNCTAD 2001- World Investment Report 2001)
Với những số liệu thực tế về thơng mại và đầu t nh trên, sự độc lập vềkinh tế của ASEAN và Trung Quốc đã lại trở thành một vấn đề cần xem xét kỹhơn Thoạt nhìn, dờng nh ASEAN bị đe doạ bởi sự đi lên của Trung Quốc, đặcbiệt là vì cạnh tranh xuất khẩu của nó trên thị trờng thứ ba và sự chệch hớng đầu
t có thể sảy ra khi so sánh các mối liên kết kinh tế lớn Tuy nhiên, nếu một nớc
Trang 14chấp nhận ý tởng về tiến trình bắt kịp thì đều phù hợp với hầu hết các nớc Châu
á, bao gồm ASEAN và Trung Quốc
Sự bổ sung và cạnh tranh lẫn nhau về thơng mại hàng hoá và dịch vụ và vềFDI vẫn đan xen vào nhau Một kết luận rõ ràng là quá vội vàng và cần phải đ -
1.2 Quan hệ kinh tế ASEAN – Trung Quốc sau khi Trung Quốc gia Trung Quốc sau khi Trung Quốc gia nhập WTO.
Với t cách là thành viên mới của WTO, Trung Quốc sẽ dần hạ thấp hàngrào thuế quan thơng mại và cho phép tăng thêm sự tham gia của nớc ngoài vàothị trờng trong nớc ( Review of World Economics) Khi sự kiểm soát về thơng mại và
đầu t của nớc ngoài đợc thả lỏng, các doanh nghiệp trong nớc sẽ phải cạnh tranh
và điều chỉnh theo tình hình mới Kết quả là sự cạnh tranh tăng lên sẽ bắt buộccác công ty trong nớc phải đẩy nhanh cải cách và nâng cao hiệu suất Tơng tự
nh vậy khi việc hạ thấp thuế quan và giảm các kiểm soát về định lợng khác cóhiệu lực, lợng nhập khẩu tăng vọt sẽ làm giảm đáng kể thặng d thơng mại của
đất nớc Tuy nhiên, tác động đối với cán cân thanh toán sẽ tính cả sự gia tăngcủa dòng FDI vào thị trờng rộng lớn của Trung Quốc
Lực lợng lao động dồi dào của Trung Quốc đã đóng góp trực tiếp vào cáchoạt động chế tạo có chi phí thấp trong nớc Hàng trăm triệu công nhân từ cácvùng nông thôn đang di c ra thành thị là góp phần vào sự tăng trởng nhanh ở khuvực này Với thị trờng khổng lồ đầy tiềm năng của Trung Quốc, các nhà đầu t n-
ớc ngoài đơng nhiên sẽ tập trung đầu t của họ vào đất nớc này Với sự mở rộngquy mô thị trờng Trung Quốc, ASEAN có thể trở thành nạn nhân của việc TrungQuốc gia nhập WTO nếu họ thất bại trong việc cải thiện môi trờng đầu t củamình để đảm bảo lợi ích của các nhà đầu t nớc ngoài Bất chấp những tháchthức, sự tăng trởng của thơng mại Trung Quốc sau khi gia nhập sẽ kích thích th-
Trang 15ơng mại trong khu vực và mang lại những cơ hội kinh doanh mới cho các nớcChâu á.
Việc cải thiện hiệu suất là một trong những mặt chính mà ASEAN sẽ phảinâng cao hiệu suất của chính mình về tất cả các mặt để đơng đầu với việc TrungQuốc gia nhập WTO.Sự tăng năng suất của các doanh nghiệp Trung Quốc khi
họ đẩy mạnh đầu t, đối phó với cạnh tranh nớc ngoài sẽ nâng cao khả năng vốntrong thị trờng vốn quốc tế Bên cạnh những sáng kiến chính sách của mỗi một
đất nớc, ASEAN cũng cần phải đẩy nhanh những kế hoạch hội nhập khu vực vềthơng mại và đầu t và sự cải thiện thực sự về sản xuất, năng suất và chuyển giaocông nghệ đối phó với sự phát triển gần đây nhất của Trung Quốc
ASEAN đang muốn thâm nhập sâu thêm vào thị trờng rộng lớn của TrungQuốc sau khi nớc này gia nhập WTO Cho tới nay, ASEAN và Trung Quốc đang
có những mối quan hệ về thơng mại và đầu t quan trọng và phát triển nhanhchóng Tuy tỷ trọng thơng mại và đầu t của ASEAN và Trung Quốc phần lớnvẫn tập trung ở những bạn hàng chính là Mỹ, EU và Nhật, nhng vẫn còn khônggian cho phát triển thơng mại và đầu t vào nhau ASEAN sẽ phải nhìn lại vàkhám phá nhiều hơn nữa những cơ hội thị trờng có đợc từ nỗ lực tự do hoá củaTrung Quốc cũng nh sự năng động của nền kinh tế Trung Quốc để đảm bảo rằnghợp tác kinh tế có thể mang lại lợi ích cho cả hai bên ASEAN phải có một số
điều chỉnh về với ngành nghề mà không thể liên kế tên doanh đợc với TrungQuốc
Tầm quan trọng của Trung Quốc cũng đặc biệt đúng đối với những nềnkinh tế ASEAN có biên giới chung với Trung Quốc - Lào, Myanma và Việtnam Một bằng chứng cho thấy rằng đó là một nhân tố quan trọng tong quan hệkinh tế của các nớc thành viên mới Trung Quốc Nói chung tỷ lệ tăng trởngmạnh về thơng mại giữa ASEAN và Trung Quốc chủ yếu dựa vào trao đổi máytính, máy móc và thiết bị điện tử Thực tế cho thấy những sản phẩm này dẫn đầucả về xuất khẩu và nhập khẩu của cả Trung Quốc và ASEAN, tạo nên tầm quantrọng của thơng mại trong khu vực, mang lại nguồn thu nhập nhiều hơn, đa dạnghoá sản xuất và cân bằng kinh tế
Dựa trên những thực tế này, yêu cầu đối với những nhà hạch định chínhsách là sẽ phải tập trung vào toàn cảnh kinh tế trong một Châu á hội nhập vớitrọng tâm tăng trởng cao của khu vực, tiểu vung hay thậm chs cả những điểmtiềm năng rất cục bộ địa phơng Với các mức phát triển hiện tại, ASEAN vàTrung Quốc sẽ chủ yếu dựa vào các lĩnh vực nh giáo dục và cơ sở hạ tầng lànhững yếu tố liên kết với những trung tâm toàn cầu rộng lớn hơn qua những hoạt