1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề pháp lý về thuế thu nhập cá nhân tại việt nam

75 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Thu nhập là tổng các giá trị tài sản, của cải được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ của một chủ thể trong nền kinh tế - xã hội tạo ra và nhận được từ nhiều nguồn như lao động, đầu tư, k

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ

NHÂN TẠI VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn : Ths Vũ Anh Sao

TP Hồ Chí Minh, năm 2018

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ

NHÂN TẠI VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn : Ths Vũ Anh Sao

TP Hồ Chí Minh, năm 2018

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua những năm tháng học tập, rèn luyện và trao dồi kiến thức tại trường tôi

đã tiếp thu, trang bị được những kiến thức quý báu làm hành trang chuẩn bị cho cuộc sống và ứng dụng trong công việc sau này Nhân dịp hoàn thành khóa luận tốt nghiệp tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô tại trường Đại học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy tôi và gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Vũ Anh Sao, người đã tận tâm hướng dẫn, chỉ dạy tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Với tinh thần nổ lực của bản thân và sự truyền đạt của các Thầy, Cô Trường Đại học Công nghệ TP.HCM đã giúp tôi hoàn thành bài luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến quý thầy cô đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu để áp dụng vào quá trình nghiên cứu, hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Tôi xin hứa sẽ đem hết khả năng của mình để phục vụ trong công việc sau này ngày càng tốt hơn./

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Vũ Anh Sao Các kết quả, số liệu nêu trong khóa luận là trung thực,

có xuất xứ rõ ràng và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc và được phép công bố Nếu không đúng như đã nêu trên tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của mình

TP.HCM, ngày 31 tháng 08 năm 2018

Sinh viên

Nhan Kim Tiền

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Ký hiệu bảng Tên bảng Trang

Bảng 1.1 Tỷ lệ thu thuế thu nhập cá nhân trên GDP ở

Bảng 1.2 Tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân trên tổng nguồn

Bảng 1.3 Đối tượng nộp thuế Thu nhập cá của một số

Bảng 2.2 Thống kê đối tượng nộp thuế theo luật thuế

Bảng 2.3 Tỷ trọng thu ngân sách từ thuế TNCN của

Bảng 2.4 Quy mô thu ngân sách từ thuế TNCN của

Bảng 2.5 Thuế suất thuế Thu nhập cá nhân đối với thu

nhập từ đầu tư tại một số nước năm 2016 52

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Mục đích và phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu của khóa luận 4

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM 5

1.1 Một số vấn đề lý luận về thuế thu nhập cá nhân 5

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế Thu nhập cá nhân 5

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triễn của thuế thu nhập cá nhân 12

1.2 Pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam 13

1.2.1 Nội dung quản lý thuế thu nhập cá nhân 13

1.2.2 Cơ chế quản lý thuế thu nhập cá nhân 14

1.3 Nguyên tắc và cơ sở xây dựng pháp luật thuế Thu nhập cá nhân 15

1.3.1 Nguyên tắc xây dựng pháp luật thuế Thu nhập cá nhân 15

1.3.2 Cơ sở xây dựng pháp luật thuế Thu nhập cá nhân 16

1.4 Kinh nghiệm từ một số nước trên thế giới về thuế Thu nhập cá nhân 26

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM 32

2.1 Thực trạng thi hành pháp luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam 32

2.1.1 Thực trạng quy định pháp luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam 32

2.1.2 Thực tiễn thi hành thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam và các kết quả đạt được 42

2.2 Những khó khăn, bất cập trong giai đoạn thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam 49

2.3 Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt nam 56

2.3.1 Bài học kinh nghiệm từ một số nước trên thế giới cho Việt Nam 56

2.3.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam

59

2.3.3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam 62

KẾT LUẬN 67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam đang trên đà phát triễn và hội nhập sâu rộng với các nền kinh tế thế giới thì việc sử dụng công cụ thuế để quản

lý và điều tiết nền kinh tế vĩ mô không thể giữ nguyên tính truyền thống trước đây nữa mà cần có những đổi mới cho phù hợp Tính đến nay Việt Nam đã ký kết 12 Hiệp định thương mại tự do (FTA) và hiện đang trong quá trình đàm phán 4 hiệp định khác Bối cảnh này đặt ra yêu cầu đối với Việt Nam là phải đẩy mạnh cải cách, trong đó cải cách chính sách thuế là yêu cầu bắt buộc đầu tiên để phù hợp với các cam kết hội nhập mà Việt Nam đã ký kết

Đặc biệt sau năm 2018, khi các cam kết trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và các hiệp định thương mại tự do trong và ngoài khu vực hoàn thành cắt giảm thuế nhập khẩu theo cam kết, dự kiến nguồn thu cho ngân sách nhà nước (NSNN) từ các hoạt động xuất nhập khẩu sẽ giảm Trước tình hình đó, Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng đã yêu cầu “động viên hợp lý các nguồn lực, phấn đấu

tỷ lệ huy động và NSNN cho GDP bình quân 20% - 21%, tăng tỷ trọng thu nội địa

và xây dựng hệ thống thuế đồng bộ và hiện đại.”

Như vậy việc gây sức ép lên các sắc thuế khác để huy động nguồn thu NSNN

là không thể tránh khỏi Theo đó, thuế trực thu chiếm hơn 40% tổng thu thuế của Việt Nam, trong đó thuế TNCN chiếm hơn 18% và là nghĩa vụ của tất cả người lao động ở Việt Nam Từ đó có thể thấy rõ tầm quan trọng của thuế TNCN trong bối cảnh cải cách thuế hiện nay

Đi lên cùng với sự phát triễn của đất nước thì thu nhập của tầng lớp nhân dân ngày càng tăng cao, đối tượng nộp thuế TNCN và hình thức nộp thuế cũng ngày càng đa dạng Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, cá nhân nước ngoài định

cư và làm việc tại Việt Nam, người Việt Nam có thu nhập tại ngưới ngoài cũng tăng lên Sự đa dạng và gia tăng thu nhập của các cá nhân trong xã hội sẽ làm cho sự chênh lệch về khoản cách thu nhập của các tầng lớp dân cư ngày càng lớn Với tình hình đó, có thể thấy thuế TNCN càng có vai trò quan trọng trong sự điều tiết nền kinh tế

Mặc dù, thuế TNCN đã được đưa vào áp dụng ở Việt Nam từ năm 1991 với tên gọi “Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao”, hơn nữa trong giai đoạn cải cách hệ thống chính sách thuế, nhiều văn bản quy định về thuế TNCN đã được nghiên cứu, ban hành, điều chỉnh và hợp nhất để phù hợp với sự đổi mới của nền kinh tế Song đến nay vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập gây khó khăn cho cả

Trang 9

người nộp thuế và cơ quan thuế Đồng thời, trước yêu cầu phát triễn và hội nhập của nền kinh tế thì càng đặt ra sự cấp thiết về việc hoàn thiện pháp luật thuế TNCN

Với đề tài “Những vấn đề pháp lý về thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam”

cá nhân em mong muốn đóng góp, đánh giá để hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về thuế thu nhập cá nhân trong giai đoạn cải cách thuế tại Việt Nam hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu thuế là một trong nhứng vấn đề quan trọng trong việc cải cách chính sách nền kinh tế vĩ mô, thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học, nhà chính trị, tổ chức tài chính và cơ quan chính phủ ở nước ta, từ đó cho ra đời các công trình nghiên cứu về chính sách thuế nói chung và pháp luật thuế TNCN nói riêng Có thể kể tên một số công trình tiêu biểu sau:

- Phạm Thị Phương Mai (2008), Thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế

và việc thực thi ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ ngành Kinh tế chính trị, Trường Đại

Các công trình nói trên đã nêu ra rất nhiều vấn đề cả về lý luận và thực tiễn

áp dụng pháp luật thuế nói chung và pháp luật thuế TNCN nói riêng Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình nêu trên, các văn bản pháp luật và các tài liệu có liên quan đến pháp luật thuế TNCN, luận văn đã tiếp cận những quy định về pháp luật thuế TNCN từ đó rút ra những kiến nghị nhầm đóng góp để hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế TNCN

Hiện nay, dưới sự phát triễn nhanh chóng của các thành phần kinh tế, các loại thuế đang có sự dịch chuyển tỷ trọng thì việc quản lý thuế TNCN ở Việt Nam

đã xuất hiện một số bất cập, khó khăn Mặc dù nhà nước ta đã ban hành rất nhiều các văn bản hướng dẫn thi hành, tuy nhiên vẫn thể hiện sự chậm nhịp đối với sự thay đổi của nền kinh tế vĩ mô Do vậy luận văn có những ý nghĩa khoa học và thực tiễn như sau:

- Luận văn đã khái quát một cách hệ thống lý luận về thuế TNCN ở Việt Nam

từ đó đóng góp vào việc hoàn thiện pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam, nhầm góp phần năng cao tính hiệu quả trong quá trình thực hiện quản lý thuế tại Việt Nam

Trang 10

- Với một số giải pháp được đề xuất tại luận văn dựa trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thuế TNCN tại Việt Nam sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế TNCN nhầm đảm bảo tính hiệu quả của thuế và chống lại nạn thất thu giúp tăng ngân sách nhà nước

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về những đối tượng sau:

- Quy định pháp luật của Luật thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam và các văn bản hướng dẫn liên quan

- Tình hình thực thi thuế Thu nhập cá nhân trong giai đoạn hiện nay

Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu trong các quy định pháp luật như Luật thuế TNCN ở Việt Nam

và các văn bản sửa đổi, hướng dẫn thi hành có liên quan Trong đó, luận văn tập trung vào các đối tượng thuộc sự điều chỉnh của luật thuế Thu nhập cá nhân như: đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, thuế suất, giảm trừ gia cảnh

4 Mục đích và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp khoa học như phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, kết hợp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn để giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra Cụ thể:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: đây là phương pháp được sử dụng xuyên suốt của đề tài, phương pháp sử dụng thu thập thông tin gián tiếp, không tiếp xúc với đối tượng được khảo sát Phương pháp được sử dụng để đi sâu nghiên cứu, phân tích về thực trạng thuế TNCN và thực tiễn thi hành Tổng hợp để rút ra bản chất của

Trang 11

các sự việc, hiện tượng từ đó đưa ra các đánh giá, kiến nghị phù hợp nhầm hoàn thiện pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam

- Phương pháp so sánh: phương pháp được sử dụng chủ yếu trong chương 2 của luận văn Với phương pháp này, tác giả đã so sánh quy định của luật thuế TNCN của Việt Nam và các nước trên thế giới cũng như so sánh các giai đoạn áp dụng pháp luật thuế TNCN tại Việt Nam từ đó đề xuất những giải pháp nhầm hoàn thiện pháp luật thuế TNCN cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

- Phương pháp thống kê: phương pháp này cũng được tác giả sử dụng trong cả chương 1 và chương 2 Tác giả sử dụng phương pháp này để thể hiện tình hình thu thuế thu nhập cá của các nước trên thế giới và thống kê số thu thuế TNCN của Việt Nam trong các giai đoạn thi hành pháp luật về thuế thu nhập

5 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung của khóa luận gồm 2 chương:

Chương 1: Khái quát chung về pháp luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam

Chương 2: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam

Trang 12

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT THUẾ THU

NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM

1.1 Một số vấn đề lý luận về thuế thu nhập cá nhân

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế Thu nhập cá nhân

1.1.1.1 Khái niệm

Muốn hiểu thế nào là thuế TNCN, trước hết chúng ta phải hiểu thế nào là thu nhập tính thuế

Theo trường phái cổ điển mà đại biểu là Adam Smith nhà kinh tế chính trị

thời kỳ công trường thủ công, trong “lí luận về phương pháp các nguồn thu nhập”

(1776) ông cho rằng tiền công, lợi nhuận và địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của thu

nhập Theo K.Marx, trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh của Gôta” (1875) xác

định sản phẩm được sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định gồm hai phần cơ bản: Phần thứ nhất là phần bù đắp những hao phí về tư liệu sản xuất trong quá trình sản xuất, đây là phần khôi phục, hay tái sản xuất ra những tư liệu sản xuất cần thiết; Kế đến là phần của cải mới được sáng tạo ra Phần của cải mới sản xuất ra này chính là thu nhập Vậy thu nhập trong phạm trù kinh tế, là phần của cải mới được sản xuất

do các ngành, các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế dùng để khôi phục lại sức lao động cần thiết, tái sản xuất ra đời sống của người sản xuất và tích luỹ tăng thêm vốn vật chất cho người sản xuất, hay thực hiện tái sản xuất mở rộng

“Thu nhập là tổng các giá trị tài sản, của cải được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ của một chủ thể trong nền kinh tế - xã hội tạo ra và nhận được từ nhiều nguồn như lao động, đầu tư, kinh doanh thông qua quá trình phân phối sản phẩm và thu nhập quốc dân trong một khoản thời gian nhất định, thường là một năm”1

Có thể hiểu tổng quát, thu nhập tính thuế theo pháp luật thuế TNCN là luồng tiền lương, trả lãi, cổ tức và các nguồn thu khác mà một cá nhân nhận được trong một khoảng thời gian nhất định

Về nguyên tắc, bất kỳ một cá nhân hay một pháp nhân nào khi nhận được nguồn thu nhập dưới bất kỳ hình thức nào đều phải thực hiện việc đóng một phần tiền từ thu nhập đó vào ngân sách nhà nước dưới dạng thuế thu nhập do pháp luật quy định

Như vậy, thuế TNCN được biểu hiện dưới dạng thuế trực thu trực tiếp đánh vào thu nhập của mỗi cá nhân trong một khoản thời gian theo luật định

1

Lê Văn Ái (2000), Giáo trình thuế, NXB Tài chính, Hà Nội

Trang 13

1.1.1.2 Đặc điểm

Thứ nhất, thu nhập chịu thuế căn cứ vào nguồn gốc phát sinh các khoản thu

và căn cứ vào đặc điểm cư trú

Thuế TNCN là loại thuế đánh vào thu nhập của các cá nhân nhằm tạo ra công bằng xã hội, khuyến khích một phần thu nhập của cá nhân vào ngân sách nhà nước thông qua việc thu thuế đối với các khoản thu nhập từ đầu tư, kinh doanh… Thu nhập chịu thuế bao gồm tất cả các khoản thu nhập theo quy định của pháp luật sau đó trừ đi các chi phí được phép khấu trừ Nhà nước sẽ liệt kê danh mục các khoản thu nhập phải tính vào thu nhập chịu thuế đồng thời cũng sẽ có một danh mục khác liệt kê các khoản chi phí được phép khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế

Ngoài căn cứ vào nguồn gốc thu nhập, thuế TNCN còn căn cứ vào đặc điểm

cư trú để áp dụng thuế đúng đối tượng và tạo ra sự công bằng xã hội Thông thường, các quốc gia đều căn cứ vào nguyên tắc cư trú để đánh thuế TNCN, quan niệm về

cư trú của các quốc gia gần như là tương đồng Thường có các nội dung cơ bản như sau:

- Có nơi ở thường xuyên tại quốc gia đó hoặc có thời gian sống tại quốc gia đó

từ 183 ngày trở lên trong một năm, thời gian có thể thay đổi tùy theo từng quốc gia;

- Quốc gia đó là nơi hành nghề chính, nghĩa là đối tượng có phần lớn thu nhập được tạo ra từ những hoạt động này; hoặc

- Có trung tâm quyền lợi đặt tại quốc gia đó Được hiểu là hoặc có phần vốn đầu tư chủ yếu hoặc có trụ sở hoạt động tại quốc gia đó

Thứ hai, Đối tượng nộp thuế cũng chính là đối tượng chịu thuế nên tạo gánh

nặng tâm lý cho người chịu thuế hơn các sắc thuế khác

Về lý thuyết, thuế trực thu trên thu nhập và tài sản của người chịu thuế sẽ công bằng hơn so với các loại thuế gián thu vì người có thu nhập cao và tài sản nhiều sẽ phải đóng thuế nhiều hơn những người nghèo có thu nhập thấp Tuy vậy thuế trực thu tạo gánh nặng trực tiếp lên các đối tượng nộp thuế, ở khía cạnh nào đó tác động mạnh mẽ hơn các loại thuế gián thu, làm giảm động lực lao động và sản xuất của người dân và các doanh nghiệp, gia tăng thị trường ngầm

Phạm vi điều chỉnh của thuế TNCN là rất rộng lớn và đối tượng chịu thuế cũng chính là người trực tiếp nộp thuế nên sức ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế và thái độ của người nộp thuế là rất to lớn Không giống các sắc thuế gián thu khác, ví

dụ như thuế giá trị gia tăng, khoản thuế đã được tính sẵn trong giá bán nên không ảnh hưởng nhiều đến tâm lý phải đóng thuế của người tiêu dùng Thuế trực thu có

Trang 14

thể hiểu một cách đơn giản là nhà nước trực tiếp thò tay lấy tiền từ túi của người nộp thuế Điều đó chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý khi đóng thuế của các cá nhân và sinh ra tư tưởng tìm cách trốn thuế

Thứ ba, Thuế thu nhập cá nhân thường là loại thuế lũy tiến

Đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế thu nhập cá nhân là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội, công bằng ở đây là công bằng theo chiều dọc Do vậy, việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần

sẽ đáp ứng được yêu cầu này vì phần thu nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao

Các nước thường xây dựng một biểu thuế lũy tiến, các bậc ứng với thu nhập càng cao thì mức thuế xuất càng cao Biểu thuế lũy tiến được xây dựng căn cứ vào nguyên tắc đánh thuế và hệ số thu nhập bình quân đầu người của mỗi quốc gia, khả năng nộp thuế của mỗi cá nhân là khác nhau.Tư tưởng đánh thuế này xuất hiện vào khoản thế kỷ 17, do vị vua nước Anh Writ khởi xướng là cơ sở phát triễn cho của biểu thuế lũy tiến tính chất lũy tiến mạnh hay yếu dựa vào khoản cách của các bậc thuế xuất, khoảng cách giữa các bậc thuế xuất càng lớn thì mức độ lũy tiến càng cao

và ngược lại

Thứ tư, Thuế thu nhập cá nhân có diện thu thuế rất rộng

Tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và hầu như tất cả

số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập phát sinh trong nước hay ngoài nước Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thu cho

ngân sách nhà nước của thuế TNCN là rất cao

Thứ năm, Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế phức tạp và mang tính

trung lập đối với cơ cấu nền kinh tế

Xét về góc độ kinh tế, thuế TNCN có tính trung lập cao hơn so với các loại thuế khác vì việc tăng hay giảm mức thuế suất hầu như không kéo theo những biến đổi về cơ cấu kinh tế Ngoài ra, do đặc điểm là điều tiết lên thu nhập của mỗi cá nhân nên phạm vi điều chỉnh là rất rộng lớn, rất dễ gây nên ảnh phản ứng của người nộp thuế Do tính chất phân tán và phức tạp của đối tượng nộp thuế nên công tác quản lý thuế trở nên khó khăn

1.1.1.3 Vai trò

(1) Vai trò kinh tế của thuế thu nhập cá nhân

- Góp phần quan trọng làm tăng thu ngân sách nhà nước:

Trang 15

Ở nhiều nước, nguồn thu từ thuế TNCN góp phần quan trọng vào ngân sách nhà nước Thông thường tỷ lệ của nguồn thu này vào khoản 10% trên GDP hằng năm và khoản 25% trên tổng nguồn thu từ thuế Đặc biệt ở một số nước thuế TNCN đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu của quốc gia như: Đan Mạch, Australia, New Zealand…

Bảng 1.1 Tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân trên GDP ở một số quốc gia[14]

Quốc gia Trung bình theo các giai đoạn

Trang 16

- Là công cụ để nhà nước điều tiết nền kinh tế:

Ngoài tác động làm tăng ngân sách nhà nước, từ những năm 1970 thuế TNCN còn có vai trò điều tiết, định hướng nền kinh tế xã hội với việc ban hành cơ chế đánh thuế thu nhập thuế xuất kép Đây là cơ chế đánh thuế với các mức thuế xuất khác nhau đối với thu nhập do sức lao động và thu nhập do hoạt động đầu tư vốn mang lại Việc điều chỉnh mức thuế xuất đối với thu nhập từ hoạt động đầu tư

là cao hoặc thấp, nhà nước có thể điều tiết hoạt động đầu tư là nhanh hay chậm vào

Trang 17

nên kinh tế, từ đó kiềm hãn hay thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng Hay khi miễn giảm khoản thuế TNCN từ hoạt động dầu tư nào đó sẽ thúc đẩy các nguồn vốn đầu

tư vào lĩnh vực này

Có thể kể đến kinh nghiệm từ chính sách thuế này của Thái Lan, để khuyến khích người dân Thái đầu tư vào thị trường chứng khoán, nước này đã áp dụng miễn thuế TNCN đối với các giao dịch đứng tên cá nhân2

(2) Thuế thu nhập cá nhân góp phần đảm bảo tính công bằng và giảm sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội

Đây chính là chức năng quan trọng của thuế TNCN, trong các loại thuế thì thuế TNCN thể hiện rõ nét nhất vai trò này Trước hết Luật thuê TNCN phân phối lại của cải, thu nhập trong xã hội Trong bối cảnh kinh tế đất nước càng phát triễn thì kéo theo đó là sự phân cấp giàu nghèo càng lớn thì áp dụng thuế TNCN là một biện pháp hữu hiệu thể hiện chức năng xã hội của nó

Người có thu nhập cao sẽ nộp thuế nhiều hơn người có thu nhập trung bình, những người có thu nhập ngang nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh cá nhân mà sẽ nộp khoản thuế khác nhau Tính chất này luôn được quán triệt khi xây dựng thuế TNCN thuế TNCN thường được thiết kê đảm bảo những người có thu nhập thấp thực sự sẽ không chịu ảnh hưởng của luật Thuế TNCN Để thực hiện được điều này, nhà nước quy định trong hệ thống thuế TNCN về ngưỡng tính thuế và số tiền được trừ khi tính thuế Do đặc điểm là thuế đánh trên thu nhập của các cá nhân cùng với tính chất lũy tiến của nó nên đã thu hẹp được khoảng cách về thu nhập giữa các cá nhân

có mức thu nhập cao và cá nhân có mức thu nhập thấp Đây là quan điểm công bằng theo chiều dọc, những người có khả năng nộp thuế càng cao thì sẽ nộp nhiều thuế hơn và ngược lại Nó khác so với quan điểm công bằng theo chiều ngang là tất cả mọi người sẽ nộp thuế cùng với một tỉ lệ như nhau Trên lý thuyết, thuế thu nhập cá nhân là loại thuế ưu việt làm giảm khoảng cách giàu - nghèo trong xã hội

(3) Đối với hệ thống thuế

- Thuế TNCN góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác Một số thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đều có nhược điểm là có tính luỹ thoái và ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn người giàu vì khi tiêu thụ cùng một lượng hàng hoá mọi người không phân biệt giàu nghèo và đều phải chịu thuế như nhau Nếu tính thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp luỹ tiến từng phần sẽ góp

2 Nguyễn Văn Hiệu (2006), “Thuế thu nhập cá nhân ở Thái Lan: Kinh nghiệm quản lý cho Việt Nam”, Tạp

chí Thuế nhà nước

Trang 18

phần khắc phục được nhược điểm này

- Góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp

Trong doanh nghiệp thường tồn tại cả thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân Giữa hai loại thuế này luôn luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau Thuế thu nhập cá nhân còn góp phần khắc phục sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có sự thông đồng giữa các doanh nghiệp hay giữa doanh nghiệp với cá nhân Trong trường hợp doanh nghiệp kê khai cao hơn thực tế những chi phí phải trả cho các cá nhân để làm giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp hòng trốn thuế thu nhập doanh nghiệp thì các cá nhân nhận được những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thêm thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập nhận được kê khai tăng thêm đó Thu nhập của doanh nghiệp tăng thường kéo theo sự tăng lên của thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp

(4) Thuế thu nhập cá nhân làm tăng ý thức công dân hơn về nghĩa vụ và quyền lợi của mình đối với nhà nước

Điều này ta có thể thấy rõ nét hơn khi đem so sánh về ý thức nộp thuế của công dân giữa các nước phát triển như Mỹ, Pháp, Đức … với các nước đang phát triển như Việt nam, Lào, Indonesia … Do ở các nước phát triển, hệ thống thuế trực thu đã phát triển và hầu hết mọi người dân đều phải tự tính thuế và nộp thuế cho mình, do đó quan niệm về thuế của họ rất rõ ràng, họ cảm thấy mình có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước Họ cảm thấy tự hào khi nộp thuế vì biết mình đã đóng góp cho Nhà nước Tất nhiên cũng có nhiều trường hợp trốn thuế nhưng đây chỉ là những trường hợp cá biệt3

Còn ở những nước đang phát triển, việc nộp thuế cho Nhà nước còn là điều hết sức cưỡng ép với rất nhiều người Họ không muốn phải trích một phần thu nhập của mình cho nhà nước thông qua việc nộp thuế Mặc dù, Hàng ngày chúng ta vẫn phải nộp thuế, nhưng do là thuế gián thu nên chúng ta không biết hoặc không gây ảnh hưởng tâm lý Khi phải tính và nộp thuế trực thu thì tâm lý nhiều người không

hề thấy thoải mái Chính vì không phải tự tính thuế và nộp thuế cho mình nên ý thức về thuế của người dân ở những nước đang phát triển là rất thấp

Minh chứng đơn giản là việc dân cư đi qua cầu phải nộp phí, lệ phí; nếu có thể trốn được thì họ cũng sẵn sàng làm ngay cho dù đó chỉ là một khoản tiền rất nhỏ Nhìn những nước phát triển, dù không có người thu các khoản phí này thì người đi qua những nơi phải nộp phí và lệ phí vẫn tự giác bỏ tiền vào chỗ thu tiền Cũng chính vì sự nhận thức về nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước của người dân ở

3 Chung Phương Anh (2014), So sánh pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam và một số nước

trên thế giới, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 19

những nước đang phát triển thấp hơn những nước phát triển cho nên ý thức về quyền con người của họ cũng thấp hơn

Chính vì vậy, ta có thể thấy rằng sự phát triển của thuế thu nhập cá nhân cũng là một bước đánh dấu sự phát triển về nhận thức và văn hóa của con người Đi kèm với sự phát triển về kinh tế bao giờ cũng là sự phát triển về con người Do thuế TNCN là loại thuế trực thu, người dân sẽ biết rõ về vai trò của mình đối vế quốc gia bằng cách nộp thuế để duy trì ngân sách nhà nước Bên cạnh đó, họ cũng sẽ càng có

ý thức giám sát hướng chi tiêu các nguồn ngân sách của chính phủ với tư cách là một nhà đầu tư giám sát việc sử dụng vốn của mình (đóng thuế) để hưởng lợi từ các dịch vụ công mà nhà nước thực hiện

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triễn của thuế thu nhập cá nhân

Pháp luật Thuế TNCN đã được áp dụng rất sớm tại các nước phát triễn Được ban hành lần đầu tiên tại Hà Lan vào năm 1797, sau đó là Anh Quốc vào năm

1979 và được áp dụng lâu dài từ năm 1874 “Ở Mỹ, thuế thu nhập cá nhân đã xuất hiện trong thời kỳ chiến tranh 1812 và nó cũng dựa vào điều luật thuế của nước Anh năm 17984” Tuy nhiên, sau đó đã bị tạm dừng vì được cho là trái với Hiến

pháp do các khoản thuế được thu trực tiếp từ người dân dẫn đến các Bang có số dân khác nhau thì số tiền nộp thuế là khác nhau Đến năm 1913, việc thông qua Hiến pháp được sửa đổi lần thứ 16 đã đặt cơ sở pháp lý cho việc áp dụng thuế thu nhập tiếp theo đó là các nước Châu Âu, New Zealand, Nhật Bản đưa ra các đạo luật về thuế TNCN vào khoản cuối thế kỷ 19, tạo tiền đề cho Luật thuế TNCN phổ biến trên thế giới Tính đến nay, đã có khoảng 180 nước áp dụng Luật thuế TNCN.[20]

Ở Việt Nam, trong thời kỳ phong kiến, đời sống người dân rất cực khổ Thuế thân lúc bấy giời (tương tự thuế TNCN) được ban hành từ thời nhà Lê, vào năm

1470 Loại thuế này không phân biệt người có thu nhập cao hay thấp, cho dù là người nông dân nghèo hay địa chủ đều phải nộp mức thuế như nhau Từ năm 1945, sau thắng lợi Cách mạng tháng tám, sắc lệnh thuế đầu tiên được ban hành vào ngày 07/09/1945 đã xóa bỏ chính sách thuế nặng nề thời kỳ đô hộ của thực dân Pháp Trong thời kỳ chiến tranh từ năm 1954 đến 1975, chính quyền Sài Gòn đã ban hành thuế lợi tức đánh vào thể nhân (thuế TNCN), tuy nhiên chỉ mới áp dụng ở miền Nam mà chưa có điều kiện áp dụng ở miền Bắc Đến tháng 12/1990 pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đươc ban hành, sau đó được sửa đổi bổ sung qua các năm: 1994, 1997, 1999, 2001, 2004 và đến 2007 luật thuế TNCN được ban

4 Trần Minh Đức (2013), “Xây dựng thuế suất thuế Thu nhập cá nhân đảm bảo nguyên tắc công bằng”, Tạp

chí Khoa học xã hội

Trang 20

hành có hiệu lực từ ngày 01/01/2009 và được sửa đổi bổ sung năm 2012, có hiệu lực ngày 01/07/2013

1.2 Pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam

1.2.1 Nội dung quản lý thuế thu nhập cá nhân

Trên thế giới hiện nay, hệ thống pháp luật thuế ở các quốc gia được thiết kế

có cấu trúc khác nhau Một số nước quy định tất cả các sắc thuế trong một Bộ luật chung về thuế, gọi là Bộ luật thuế vụ Trong Bộ luật này, nhà làm luật vừa quy định

về nội dung cụ thể của các sắc thuế trong hệ thống thuế; vừa quy định về trình tự, thủ tục hành thu, cơ chế quản lý thuế và cả xử lý vi phạm, giải quyết các tranh chấp

về thuế

Ngược lại, có những nước lựa chọn thiết kế mỗi sắc thuế được ban hành bằng một đạo luật riêng, độc lập với nhau nhưng vẫn đảm bảo tính tương thích với nhau Đồng thời tách bạch các quy định về quản lý thuế bằng một đạo luật riêng với các đạo luật quy định sắc thuế, biện pháp này đang là xu hướng chung ở nhiều nước “Giải pháp này được đánh giá là thích hợp hơn với điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu vì nó cho phép nhà làm luật có thể sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh các quy định trong các đạo luật thuế một cách dễ dàng hơn so với việc đưa tất cả các quy định về thuế trong một Bộ luật chung về thuế”5

Thực tiễn lập pháp các nước cho thấy, xây dựng pháp luật quản lý thuế có hai xu hướng:

Một là, các vấn đề về quản lý thuế được ghi nhận trong các Luật thuế

Ở nước ta trước khi có Luật Quản lý thuế, pháp luật quản lý thuế được xây dựng theo xu hướng này Bởi vậy, các quy định về quản lý thuế nằm rải rác trong rất nhiều các văn bản pháp luật khác nhau, trong các văn bản pháp luật quy định từng sắc thuế đều có quy định về quản lý thuế để áp dụng cho sắc thuế đó

Hai là, các vấn đề về quản lý thuế được quy định riêng trong đạo luật gọi là

Luật Quản lý thuế để quản lý thống nhất đối với tất cả các loại thuế

Pháp luật quản lý thuế dù được xây dựng, thiết kế theo xu hướng nào thì giữa pháp luật quản lý thuế và pháp luật quy định từng sắc thuế bao giờ cũng cần có mối quan hệ biện chứng, thống nhất với nhau Luật quản lý thuế Việt Nam được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ 10 ngày 22/11/2006, có hiệu lực thi hành từ 1/7/2007 Về phạm vi điều chỉnh, Luật quản lý thuế quy định việc quản lý đối với các loại thuế: Thuế Giá trị gia tăng, Thuế Tiêu thụ đặc biệt, Thuế Thu nhập doanh

5

Janet stotsky (2014), Cẩm nang chính sách thuế, biên dịch Nguyễn Văn Phúc

Trang 21

nghiệp, Thuế Thu nhập cá nhân,… do cơ quan quan lý thuế của cơ quan hải quan thực hiện

Luật Quản lý thuế Việt Nam liệt kê các nội dung quản lý thuế gồm: “Đăng

ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế”6

Căn cứ vào nội dung hoạt động quản lý thuế, pháp luật quản lý thuế điều chỉnh các quan hệ về đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế

Thuế thu nhập cá nhân là một bộ phận trong hệ thống thuế Do đó, quản lý thuế thu nhập cá nhân cũng thuộc sự điều chỉnh của Luật quản lý thuế, là sự tác động có chủ đích của các cơ quan chức năng trong bộ máy Nhà nước đối với quá trình tính và thu thuế thu nhập cá nhân để thay đổi quá trình này nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách và đạt được các mục tiêu Nhà nước đặt ra

Về nội dung, Luật quản lý thuế không quy định riêng về quản lý thuế thu nhập cá nhân mà quy định đan xen với các sắc thuế khác trong từng phần Tuy nhiên, nhìn một cách khái quát, chúng ta có thể tổng kết được các nội dung về quản

lý thuế thu nhập cá nhân, được chia thành 3 nhóm như sau:

Nhóm 1: Các thủ tục hành chính thuế, bảo đảm các điều kiện cho người nộp

thuế thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế đầy đủ, đúng hạn, bao gồm các nội dung: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; Xóa nợ thuế, tiền phạt

Nhóm 2: Giám sát việc tuân thủ pháp luật thuế của cơ quan quản lý thuế đối

với người nộp thuế, bao gồm các nội dung: Quản lý thông tin về người nộp thuế; Kiểm tra thuế, thanh tra thuế

Nhóm 3: Các chế tài bảo đảm các chính sách thuế được thực thi hiệu quả,

bao gồm các nội dung: Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; Xử lý vi phạm pháp luật về thuế; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế

1.2.2 Cơ chế quản lý thuế thu nhập cá nhân

Quản lý thuế thu nhập cá là một công tác hết sức phức tạp Nó khó khăn hơn rất nhiều so với các sắc thuế khác vì cơ sở thu thuế là các nguồn thu nhập, mà các

6

Luật quản lý thuế 2006 luật số 78/2006/QH11, Điều 3

Trang 22

khoản thu nhập thì rất đa dạng và đối tượng nộp thuế thì phân tán Chính vì sự khó khăn này mà việc ban hành pháp luật quản lý thuế là điều hết sức cần thiết và được chú trọng, xem xét kỹ lượng của nhà nước

Pháp luật là yếu tố chủ yếu cấu thành cơ chế quản lý thuế Mỗi cơ chế quản

lý thuế khác nhau đòi hỏi các đạo luật khác nhau điều chỉnh cho phù hợp với cơ chế quản lý thuế đó Chẳng hạn, ở nước ta trước đây khi thực hiện cơ chế quản lý thuế

“chuyên quản” trực tiếp theo từng đối tượng, từng sắc thuế thì pháp luật quản lý thuế phải đặt ra quy định phù hợp để thích ứng với cơ chế quản lý thuế này, có như vậy cơ chế quản lý thuế mới có thể vận hành được Tuy nhiên, khi chuyển sang áp dụng quản lý thuế theo cơ chế “tự khai, tự nộp thuế” thì pháp luật quản lý thuế buộc phải có sự thay đổi để tương thích với cơ chế quản lý thuế

Theo cơ chế này, Pháp luật quản lý thuế quy định đầy đủ trách nhiệm, quyền hạn của người nộp thuế, của cơ quan quản lý thuế và tổ chức, cá nhân có liên quan trong quản lý thuế Trong đó:

- Đề cao quyền và tính tự chịu trách nhiệm của người nộp thuế;

- Công khai minh bạch các thủ tục và thời hạn giải quyết hồ sơ thuế, gắn trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế trong việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ thuế;

- Các thủ tục hành chính thuế được quy định đơn giản, rõ ràng, minh bạch nhằm nâng cao trách nhiệm, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp thuế, tạo điều kiện cho người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật thuế;

- Coi trọng hơn việc kiểm tra, thanh tra, xử lý các vi phạm pháp luật thuế của

cơ quan quản lý thuế;

- Vấn đề xây dựng hệ thống thông tin về người nộp thuế được coi trọng trong pháp luật quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế

1.3 Nguyên tắc và cơ sở xây dựng pháp luật thuế Thu nhập cá nhân

1.3.1 Nguyên tắc xây dựng pháp luật thuế Thu nhập cá nhân

Việc ban hành pháp luật thuế thu nhập cá nhân sẽ tạo ra những quy định pháp luật làm cơ sở để tính và thu thuế TNCN Đồng thời, ban hành luật thuế TNCN cũng đưa ra những căn cứ để kiểm tra, thanh tra, và áp dụng ác chế tài đối với quá trình thực thi Luật thuế TNCN Bước đầu để xây dựng một hệ thống thuế tốt, đạt hiệu quả cao thì chính sách thuế thu nhập cá nhân cần được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản như sau:

Trang 23

Trước hết, việc xây dựng các văn bản pháp luật và chính sách thuế cần đảm

bảo tính đơn giản, rõ ràng và chặt chẽ Vì thuế thu nhập cá nhân là loại thuế khá phức tạp nên nguyên tắc này cần được đảm bảo để hạn chế hành vi trốn thuế của các đối tượng nộp thuế

Thứ hai, quy định trong chính sách thuế thu nhập cá nhân phải đảm bảo

được yêu cầu đặt ra về việc huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội

Thứ ba, pháp luật thuế TNCN cũng cần đảm bảo tính công bằng đối với

người nộp thuế và xã hội Thuế TNCN đóng vai trò phân phối lại thu nhập trong xã hội, giảm bớt sự cách biệt quá lớn về mức sống giữa các cá nhân trong xã hội nhưng cũng cần động viên sự phấn đấu làm việc của người lao động Các quy định phải đảm bảo cho thu nhập thực tế sau khi nộp thuế của các đối tượng nộp thuế tương xứng với công sức lao động và sự đóng góp của họ, khuyến khích lao động trong xã hội

Ngoài những yêu cầu cơ bản trên, để đảm bảo chính sách thuế thu nhập cá nhân phát huy hiệu quả cần chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho quá trình triển khai thực hiện, bao gồm: Phát triển mạnh hệ thống thanh toán qua ngân hàng, không dùng tiền mặt bằng các phương pháp bắt buộc và khuyến khích tự nguyện; cải tiến

và hoàn thiện chế độ kế toán, thống kê, thông tin, báo cáo để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân, đặc biệt đối với cá nhân, hộ gia đình tự doanh; Phát triển hệ thống dịch vụ kế toán, tư vấn, kê khai thuế chuyên nghiệp; Tăng cường phối hợp giữa cơ quan thuế với các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức cá nhân có liên quan Nâng cao vai trò và thẩm quyền của cơ quan thuế trong việc kiểm tra, kiểm soát, thanh tra thuế, cưỡng chế thuế; Tăng cường tuyên truyền, vận động sâu rộng về chính sách thuế TNCN xây dựng cơ chế tiếp thu ý kiến thông tin phản hồi từ người dân

1.3.2 Cơ sở xây dựng pháp luật thuế Thu nhập cá nhân

1.3.2.1 Đối tượng nộp thuế

Do thuế TNCN là loại thuế trực thu đã nói trước đó, nên đối tượng nộp thuế cũng chính là đối tượng chịu thuế Việc xác định được đối tượng chịu thuế cũng là bước quan trọng để ta xác định căn cứ tính thuế Ở hầu hết các nước trên thế giới, thuế TNCN đều dựa trên hai tiêu thức sau: Một là, đánh thuế dựa trên nguyên tắc cư trú (sau đây gọi là tiêu thức cư trú); hai là, đánh thuế dựa trên nguồn phát sinh thu nhập (sau đây gọi là tiêu thức nguồn thu nhập)

- Tiêu thức cư trú

Trang 24

Một cá nhân được coi là đối tượng cư trú tại một nước phải chịu thuế TNCN đối với mọi thu nhập, không phân biệt là nguồn thu nhập phát sinh trong nước hay ngoài nước còn một cá nhân được xem là “không cư trú” chỉ phải nộp thuế TNCN đối với phần thu nhập phát sinh tại nước đó Nguyên tắc đánh thuế theo cư trú đa phần được các nước áp dụng nhằm đánh thuế các đối tượng được xem là cư trú tại quốc gia đó Thông thường, đối tượng được xem là cư trú tại một quốc gia có số ngày sinh sống tại nước đó từ 183 ngày trong năm tính thuế (có thể là năm dương lịch hoặc năm tài chính) hoặc trong khoản 12 tháng liên tục Một số nước quy định đối tượng chịu thuế TNCN theo tiêu thức cư trú được cụ thể trong bảng 1.3 dưới đây

Bảng 1.3 Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân của một số nước

STT Tên nước Đối tượng nộp thuế

1 Trung Quốc

Đối tượng nộp thuế là: Cá nhân có chỗ ở hoặc không

có chỗ ở trong nước Trung Quốc, mà cư trú tại Trung Quốc đủ 1 năm, thì phải nộp thuế đối với toàn bộ thu nhập của người đó nhận được từ trong và ngoài nước Trung Quốc Cá nhân không có chỗ ở tại Trung Quốc

mà cư trú dưới 1 năm, thì phải nộp thuế đối với thu

nhập phát sinh từ Trung Quốc

2 Malaysia

Đối tượng nộp thuế là: (1 )Cá nhân cư trú hoặc không

cư trú, chịu thuế đối với thu nhập phát sinh tại

Malaysia (2) Cá nhân không cư trú được miễn thuế

đối với thu nhập nước ngoài được chuyển vào Malaysia Với hiệu lực từ năm tính thuế 2004, cá nhân

là đối tượng cư trú cũng được miễn thuế đối với thu nhập có nguồn nước ngoài được chuyển vào Malaysia

(3) Cá nhân cư trú thuế cho năm tính thuế nếu tổng số

ngày đối tượng đó ở Malaysia trong năm trên 182 ngày Trên thực tế, cơ quan thuế sẽ tính số ngày thực tế mà đối tượng đó ở tại Malaysia bằng cách căn cứ hộ chiếu của đối tượng đó

3 Philippin

Đối tượng nộp thuế là: cá nhân cư trú và không cư trú

Công dân cư trú là đối tượng chịu thuế thu nhập trên thu nhập toàn cầu (bao gồm cả thu nhập có nguồn gốc tại Philippin và thu nhập có nguồn gốc từ nước ngoài) Công dân không cư trú, người nước ngoài cư trú hoặc

Trang 25

[Nguồn: Quốc hội, thuế Thu nhập cá nhân các nước]

- Theo tiêu thức nguồn phát sinh thu nhập

Một cá nhân phải chịu thuế TNCN ở một nước đối với mọi khoản thu nhập phát sinh tại nước đó Ở hầu hết các nước, nguyên tắc chịu thuế theo nguồn thu nhập được áp dụng nhầm đánh thuế lên các khoản thu nhập phát sinh tại nước mình đối với các cá nhân không cư trú Cách đánh thuế này rất phù hợp đối với các nước

có nhiều nười đến đầu tư, làm việc và công dân tại nước đó ít ra nước ngoài làm

người nước ngoài không cư trú là đối tượng chịu thuế đối với phần thu nhập phát sinh tại Philippin

4 Thái Lan

Đối tượng nộp thuế là: cá nhân cư trú và không cư trú

Được gọi là cư trú nếu tổng thời gian cư trú ở Thái Lan lớn hơn 180 ngày trong năm tính thuế (năm dương lịch) Cá nhân có thời gian sinh sống và làm việc ở Thái Lan từ 180 ngày trở xuống tính theo năm dương lịch thì được gọi là cá nhân không cư trú Cá nhân cư trú phải chịu thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập nhận được, không phân biệt ở trong nước hay ở nước ngoài Cá nhân không cư trú chỉ phải chịu thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập phát sinh ở Thái Lan

5 Hàn Quốc

Đối tượng nộp thuế là: Cá nhân cư trú hay không cư

trú, có thu nhập chịu thuế trong năm: Đối tượng cư trú được quy định là người có nhà ở hoặc có thời gian cư trú tại Hàn Quốc từ 1 năm trở lên Đối tượng không cư trú là người không có nhà ở tại Hàn Quốc hoặc có thời gian cư trú tại Hàn Quốc dưới một năm Đối tượng cư trú phải chịu thuế thu nhập đối với tất cả các khoản thu nhập nhận được phát sinh ở trong hay ngoài Hàn Quốc (kê khai thu nhập toàn cầu) Đối tượng không cư trú chỉ phải chịu thuế thu nhập đối với khoản thu nhập nhận được có nguồn gốc Hàn Quốc

6 Nhật Bản

Đối tượng nộp thuế là: những cá nhân cư trú và không

cư trú tại Nhật Bản: Cá nhân cư trú tại Nhật Bản là những người đã sống từ lâu hay đã và đang định cư tại Nhật trong một thời gian dài liên tục từ một năm trở lên Cá nhân không cư trú tại Nhật Bản là người có thời gian cư trú tại Nhật dưới một năm

Trang 26

việc Chẳng hạn như Hồng Kông không áp dụng tiêu thức cư trú để đánh thuế mà nước này quy định đối với mỗi cá nhân, không phân biệt cư trú hay không cư trú, chỉ phải nộp thuế TNCN đối với các khoản thu nhập phát sinh tại HongKong7

Sự phân biệt cư trú hay không cư trú là rất quan trọng để xác định người nộp thuế phải chịu thuế TNCN với các loại thu nhập nào Như vậy, có thể thấy tùy vào chính sách và trình độ quản lý của từng nước mà các nước sẽ quy định đối tượng nộp thuế sao cho phù hợp nhất với nền kinh tế - xã hội của nước đó

1.3.2.2 Xác định thu nhập chịu thuế

Mặc dù, đối tượng chịu thuế TNCN là các khoản thu nhập của cá nhân, tuy nhiên cá nhân có rất nhiều nguồn thu nhập khác nhau nhưng không phải thu nhập nào cũng chịu sự điều chỉnh của Luật thuế TNCN Thu nhập chịu thuế là phần thu nhập có quy định cơ sở đánh thuế TNCN

Hiện nay, trên thế giới còn tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về thu nhập

và cách tính thu nhập nên cơ sở đánh thuế TNCN cũng không giống nhau Tùy theo cách tính thu nhập của mỗi nước mà quy định về các khoản thu nhập chịu thuế, các khoản giảm trừ là không giống nhau, có thể thấy rõ điều đó tại Bảng 1.4 Mặc khác, không phải tất cả các khoản thu nhập phát sinh đều có thể xếp vào thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu thuế của một cá nhân có thể hiểu là toàn bộ khoản thu nhập bằng tiền, bằng hiện vật mà người chịu thuế có được trong một khoản thời gian xác định và có thể tùy ý sử dụng

Bảng 1.4 Thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của một số nước

(1) Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; (2) Thu nhập

từ tiền lương , tiền công, các khoản thu nhập có tính chất như tiên lương tiên công; (3) Thu nhập từ đầu tư vốn, gồm lãi cho vay, lợi tức từ các hình thức vốn góp khác; (4) Thu nhập từ chuển nhượng vốn; (5) Thu nhập từ chuển nhượng bất động sản; (6) Thu nhập khác gồm: trúng xổ số, cá cược; trúng thưởng trong các hình thức khuyễn mại, trò chơi có thưởng; tiền bản quyên

2 Trung

Quốc

(1) Thu nhập từ tiền công, tiền lương; (2) Thu nhập từ sản xuất kinh doanh; (3) Thu nhập về cho thuê tài sản; (4) Thu nhập về chuyển nhượng tài sản; (5) Thu nhập từ kinh doanh chứng

Trang 27

[Nguồn: thuế thu nhập cá nhân của các nước, Quốc Hội]

Qua sự đối chiếu, so sách thu nhập chịu thuế của một số nước từ Bảng 1.4 ta

có thể thấy thu nhập chịu thuế có các đặc điểm sau:

khoán; (6) Thù lao dịch vụ; (7) Thu nhập từ nhuận bút; (8) Thu nhập về chi phí sử dụng quyền đặc biệt; (9) Thu nhập về lãi cho vay, cổ tức, hoa hồng; (10) Thu nhập ngẫu nhiên; (11) Thu nhập khác

3 Malaysia

(1) Thu nhập từ lao động làm công bao gồm tất cả các hình thức tiền thù lao như tiền công, tiền lương, tiền hoa hồng, tiền thưởng, trợ cấp về hưu;

(2) Thu nhập từ kinh doanh, lãi cổ phần, lãi tiền vay, tiền cho thuê và những khoản có tính chất tương tự

4 Philippin

(1) Phí dịch vụ được chi trả dưới bất kỳ hình thức nào; (2) Tổng thu nhập thu được từ việc thực hiện kinh doanh; (3) Lãi buốn bán tài sản; (4) Lãi tiền vay; tiền cho thuê; (5) Tiền bản quyền; (6) Cổ tức; (7) Tiền trợ cấp hàng năm; (8) Phần thưởng

và tiền thắng; (9) Tiền lường hưu; (10) Khoản phân chia từ thu nhập ròng của công ty hợp danh chuyên nghiệp chung cho người vay vốn

5 Thái

Lan

(1) Thu nhập từ các dịch vụ lao động; (2) Thu nhập từ kinh doanh (3) Thu nhập từ cho thuê tài sản; (4) Thu nhập từ bản chất công việc vị trí hoặc dịch vụ lao động cung cấp; (5) Thu nhập từ tín nhiệm quyền tác giả, bản quyền, các quyền khác; (6)Thu nhập có bản chất là cổ tức, lãi tiền gửi ngân hàng; (7) Thu nhập từ các nghề tự do; (8) Thu nhập từ xây dựng và các hợp đồng công việc khác;

Quốc

- Thu nhập toàn cầu: (1) Thu nhập từ lao động; (2) thu nhập từ

kinh doanh; (3) Thu nhập từ cho thuê bất động sản; (4) Thu nhập từ tài sản tạm thời; (5) Thu nhập khác

- Thu nhập chịu thuế riêng biệt: (6) Thu nhập từ lương hưu;

(7) Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản; (8) Thu nhập từ trồng rừng và khai thác gỗ

7 Nhật

bản

(1) Thu nhập từ công việc lao động; (2) Thu nhập từ hoạt động kinh doanh; (3)Thu nhập do buốn bán bất động sản; (4) Thu nhập từ tiền lãi cổ phần; (5) Thu nhập từ lợi tức; (6) Thu nhập từ các khoản hưu trí; (7) Thu nhập từ buôn bán gỗ; (8) Thu nhập từ các khoản vốn; (9) Thu nhập bất thường; Thu nhập khác

Trang 28

Thứ nhất, tất cả các khoản thu nhập phát sinh dù bằng tiền hay hiện vật đều

có thể chịu thuế TNCN dù nguồn phát sinh là do sản xuất kinh doanh, lao động hay đầu tư sau khi trừ đi các khoản thu nhập không tính thuế do pháp luật quy định Những khoản thu nhập này thường là các khoản thu nhập đã chịu một loại thuế khác nào đó hoặc là những khoản thu nhập không đáng kể được trừ đi để thuận tiện cho công tác quản lý thuế của nhà nước Nói cách khác, thu nhập chịu thuế gồm hầu hết các loại thu nhập phát sinh không phân biệt nguồn gốc hình thành và hình thái thu nhập

Thứ hai, thu nhập chịu thuế phải là thu nhập ròng, nghĩa là sau khi trừ đi các

chi phí đáng kể để tạo ra nó và các khoản được phép giảm trừ do pháp luật quy định Đối với thuế TNCN thì thu nhập tính thuế là thu nhập chịu thuế sau khi đã trừ

đi các khoản chi phí để tạo ra thu nhập đó và các phần được giảm trừ khi tính thuế

Thứ ba, việc xác định thu nhập chịu thuế phải đảm bảo tính khả thi cho công

tác quản lý thuế Một số nhà kinh tế nêu quan điểm là nên đánh thuế trên thu nhập hoàn chỉnh, tức là thu nhập hiện hữu cộng lãi vốn, dù lãi đó là có thực hay chỉ mới

là hứa hẹn Tuy nhiên, ý tưởng đánh vào thu nhập hoàn chỉnh có tính khả thi kém

do sự phức tạp, không chắc chắn cho việc xác định thu nhập chịu thuế Mặc khác,

để có được thu nhập hoàn chỉnh thì người nộp thuế lại có các khoản chi phí khách quan khác nhau, chẳng hạn như chi phí khắc phục rủi ra, chi phí chữa bệnh…Do đó, nếu dựa vào thu nhập hoàn chỉnh để đánh thuế thì lại vi phạm nguyên tắc công bằng Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách đều thống nhất chỉ sử dụng thu nhập hiện hữu để xác định thu nhập chịu thuế

Xuất phát từ sự khác nhau trên cơ sở xây dựng hệ thống thuế toàn bộ hay riêng biệt và nguyên tắc tính thuế mà quy định về thu nhập chịu thuế của các quốc gia cũng có sự khác nhau Chẳng hạn, thu nhập từ kinh doanh của cá nhân tại một quốc gia có thể bị đánh thuế TNCN nhưng tại một số quốc gia khác có thể bị đánh thuế theo thu nhập của một công ty hay thu nhập của việc chuyển nhượng tài sản Tuy nhiên có thể khái quát các loại thu nhập chịu thuế theo theo thông lệ của các quốc gia như sau: (i) thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh; (ii) thu nhập từ tiền công, tiền lương; (iii) thu nhập từ đầu tư (kể cả tiền lãi vay, tiền lãi cổ phần)

Ngoài ra còn có các yếu tố thu nhập khác thường xuyên xuất hiện trong luật thuế TNCN là: tiền lương hưu và các khoản tiền bảo hiểm; các khoản thanh toán bảo hiểm xã hội; thu nhập từ việc nắm giữ cổ phần; thu nhập từ việc chuyển nhường tài sản

Nhìn chung trên thế giới việc xử lý các khoản thu nhập phụ ngoài lương thay đổi rất lớn giữa các hệ thống thuế thu nhập Một số hệ thống thuế thu nhập loại tất

cả các khoản thu nhập phụ ngoài lương do người chủ trả ra khỏi thu nhập chịu thuế của người lao động Một số khác lại đánh thuế chúng với mức thuế suất hoặc là

Trang 29

bằng với thuế suất của người chủ hoặc là bằng với thuế suất của người lao động Việc loại khỏi thuế các khoản thu nhập ngoài lương này làm giảm đáng kể khoản thu nhập tính thuế Điều này làm tăng yêu cầu về các khoản thu nhập ngoài lương, bởi vì các khoản thu nhập này được loại bỏ một cách hiệu quả khỏi thu nhập trước thuế “Điều này cũng dẫn đến sự xói mòn về tính lũy tiến của luật thuế bởi vì các khoản thu nhập phụ ngoài lương này được trả không theo tỉ lệ cố định đối với những người lao động có thu nhập cao.”[27]

1.3.2.3 Xác định thu nhập miễn thuế, giảm trừ gia cảnh

sở sau:

Trước hết, thuế thu nhập dánh thuế lên thu nhập mới tạo ra trong quá trình

vận động sản xuất Để tạo lập ra thu nhập thì người chịu thuế phải bỏ ra các chi phí nhất định trong quá trình sản xuất Do vậy, để xác định những khoản thu nhập chịu thuế với từng cá nhân, nhà nước phải suy xét đến những chi phí mà người chịu thuế phải bỏ ra trong quá trình tìm kiếm thu nhập tuy nhiên, đối với việc xác định các khoản thu nhập giảm trừ của các cá nhân là hết sức phức tạp và đòi hỏi cao trong trình độ quản lý thuế của nhà nước

Thứ hai, việc xác định một sắc thuế hoàn hảo là phải ra nhiều điều kiện và

phúc lợi xã hội hơn cho người nộp thuế sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế của mình Với việc trừ đi các chi phí quản lý, doanh nghiệp có thể dễ dàng hơn hơn trong việc tái sản xuất đơn giản trong chu trình kế tiếp, tương tự đối với các cá nhân, khi thực hiện tính thuế TNCN cũng được trừ đi các chi phí tiêu dùng hợp lý

để đảm bảo chất lượng cuộc sống

Thứ ba, con người làm ra thu nhập không phải chỉ để phục vụ riêng cho cá

nhân họ mà còn chu cấp cho người phụ thuộc để đảm bảo sức lao động cho con người trong quá trình sản xuất tiếp theo chúng ta không thể chỉ nghĩ đến các chi phí phục vụ nhu cầu thiết yếu của các cá nhân mà còn cho cả người phụ thuộc với cá nhân đó Với những hoạt động sản xuất kinh doanh, hành nghề độc lập thì lẽ dĩ nhiên họ sẽ được giảm trừ các khoản chi phí đầu tư ban đầu để dễ dàng tái sản xuất giản đơn những hoạt động này, các khoản thu nhập sau khi đã trừ đi khoản giảm trừ

sẽ phải chịu thuế thu nhập Còn đối với những người làm công ăn lương, họ bỏ ra sức lao động để tạo ra sản phẩm và nhận lại được nguồn thu nhập tương đương với sức lao động đó, hoạt động cung cấp sức lao động sẽ được trả các khoản thanh toán

Trang 30

tương đương với sự đánh giá của xã hội Vì vậy, các chi phí thiết yếu mà người lao động bỏ ra để phục vụ tái sản xuất lại sức lao động của họ (chi phí sinh hoạt cơ bản) cũng được giảm trừ trước khi tính thuế luật thuế TNCN phải suy xét đến những chi phí này một cách hợp lý để đảm bảo những nhu cầu tất yếu của họ và cả những người phụ thuộc được đáp ứng đầy đủ trước khi áp dụng biểu thuế trên thu nhập mà

họ tạo ra

Các khoản chi phí này được quy định khác nhau tùy theo hoàn cảnh của mỗi nước, thông thường các khoản giảm trừ là: chi phí y tế do người nộp thuế chịu; chi phí nuôi dưỡng những người thân chưa có hoặc không có khả năng lao động; các chi phí cho con cái tại các trường học phổ thông, cao đẳng và đại học; các khoản đóng góp từ thiện của người nộp thuế vào tổ chức từ thiện, trường học hoặc đảng phái chính trị Thông thường các khoản giảm trừ này chỉ áp dụng đối với các cá nhân cư trú và được tính theo hai dạng: giảm trừ cho bản thân người nộp thuế và giảm trừ cho người phụ thuộc

Bảng 1.5 Biểu so sánh chiết giảm gia cảnh với thu nhập quốc dân bình

quân đầu người của các nước 2005

cảnh/GDP bình quân

đầu người

0,94 lần 0,67 lần 1,66 lần 1,88 lần

VI Tỷ giá hối đoái

(TB tỷ giá của Bộ tài

chính số257/TB-BTC,

26/7/2006)

7,99CNY 3,69 MYR 38,02 Baht 9.065IDR

Trang 31

1.3.2.4 Thuế suất

Biểu thuế lũy tiến được xây dựng trên nguyên tắc đánh thuế căn cứ vào khả năng nộp thuế của người dân, người có thu nhập cao thì có khả năng nộp thuế hơn người có thu nhập thấp và ngược lại khoản cách giữa các bậc thuế suất sẽ quyết định tính chất lũy tiến mạnh hay yếu khoản cách quá xa sẽ tạo điều kiện cho hành

vi chuyển dịch thu nhập để tránh thuế, tuy nhiên nếu khoản cách quá gần sẽ tạo ra

sự bất hợp lý trong điều tiết thu nhập của một nhóm đối tượng nộp thuế

Trên thế giới thường có 3 phương thức xác định thuế xuất cơ bản là: (i) thuế xuất lũy tiến; (ii) thuế xuất cố định; (iii) thuế xuất kép

Hệ thống đánh thuế lũy tiến:

Là cách đánh thuế trên toàn bộ thu nhập không kể thu nhập có nguồn thu từ hoạt động kinh doanh, lao động hay đầu tư Tính lũy tiến của thuế thu nhập cá nhân thường gắn liền với khái niệm về khung thuế với thuế suất tăng lên Tính lũy tiến có thể được định nghĩa chính thức như sau: gọi T(Y) là tổng nghĩa vụ nộp thuế thu nhập của một cá nhân có thu nhập là Y, gọi m(Y) là thuế suất biên và t(Y) là thuế suất bình quân Khi đó, thuế thu nhập được định nghĩa là lũy tiến khi độ co giãn của thuế theo thu nhập lớn hơn 1 ở mọi mức thu nhập, và là lũy thoái nếu độ co giãn này nhỏ hơn một Thuế thu nhập tỉ lệ sẽ có độ co giãn bằng một đơn vị Nói cách khác, tính lũy tiến cho ta:

(dT/T)/(dY/Y) > 1, hoặc:

m(Y)/t(Y) > 1 <=> m(Y) - t(Y) > 0 [27]

Cơ sở của hệ thống thuế này là cố gắng duy trì sự căng bằng theo cả chiều dọc lẫn chiều ngang Theo đó những người có mức thu nhập ngang nhau sẽ đóng mức thuế bằng nhau, những người có thu nhập cao hơn sẽ chịu mức thuế cao hơn Hơn hết, ưu điểm của hệ thống thuế này là hạn chế được các trường hợp chuyển nguồn thu nhập nhằm tránh nộp thuế Ví dụ, nếu đánh thuế thu nhập với các thuế suất khác nhau thì cá nhân nộp thuế có thể chuyển thu nhập từ đầu tư (thu nhập chịu mức thuế suất cao) sang dạng thu nhập từ tiền công (thu nhập chịu mức thuế suất thấp) Tuy nhiên, việc đánh thuế với tổng nguồn thu nhập của hệ thống thuế lũy tiến

sẽ dẫn đến tình trạng phân biệt về thuế phải đóng đối với các nguồn thu nhập khác nhau

Bảng 1.6 Biểu thuế luỹ tiến từng phần của các nước năm 2005

Cao nhất trên 960.000.000đ ~ 60.000USD

Trang 32

Cao nhất 45%

Thấp nhất đến 500NDT ~

60 USD

Cao nhất trên 100.000NDT ~ 12.000USD

3 Malaysia

9 bậc

(Bậc 1 Thuế suất 0%)

Thấp nhất là 1%

Cao nhất 28%

Thấp nhất trên 2.500 RM ~ 680USD

Cao nhất trên 250.000 RM ~ 68.000USD

4 Philppin 7 bậc

Thấp nhất là 5%

Cao nhất 32%

Thấp nhất đến 10.000 PHP ~

200 USD

Cao nhất trên 500.000 PHP ~ 10.000USD

5 Thái Lan

6 bậc

(Bậc 1 Thuế suất 0%)

Thấp nhất là 5%

Cao nhất 37%

Thấp nhất trên 80.000 bath ~ 2.000 USD

Cao nhất trên 4.000.000 bath ~ 100.000USD

Quốc 4 bậc

Thấp nhất là 10%

Cao nhất 37%

Thấp nhất đến 3.300.000JPY ~ 30.000USD

có ưu điểm là đơn giản, dễ quản lý, không tốn nhiều chi phí thực hiện khi thu thuế Tuy nhiên, nó không có sự san sẻ gánh nặng về thuế giữa các đối tượng có mức thu nhập khác nhau

Hệ thống thuế này phổ biến hơn ở các nước Đông Âu, điển hình là nước Nga, bắt đầu áp dụng cách đánh thuế này từ năm 2001 với thuế suất là 13% đối với tất cả các khoản thu nhập Việc thay đổi thuế suất lũy tiến thành mức thuế suất cố định đã làm cho hệ thống thuế nước này trở nên đơn giản hóa và công tác quản lý thuế ở nước Nga trở nên dễ dàng hơn Tiếp đến là Cộng hòa Slovakia cũng đã áp dụng hệ thống thuế cố định này vào năm 2004 với mức thuế suất cố định là 19% chung cho tất cả khoản thu nhập của cả cá nhân và doanh nghiệp Việc thay đổi này cũng làm đơn giản hóa và minh bạch hơn hệ thống thuế ở quốc gia này, tạo ra động lực khuyến khích kinh doanh và thúc đẩy hoạt động đầu tư cho các doanh nghiệp

Trang 33

Hệ thống thuế suất kép:

Hệ thống thuế suất này sử dụng mức thuế cố định cho các nguồn thu nhập từ đầu tư như: đầu tư gián tiếp; tiền lãy cho vay; lợi tức cổ phần; chuyển nhượng chứng khoán; chuyển nhượng bất động sản;…kết hợp với hệ thống thuế suất lũy tiến từng phần đối với thu nhập từ làm công và thu nhập từ kinh doanh Việc sử dụng hệ thống thuế suất kép này cho phép duy trì sự cân bằng theo chiều ngang đối với các khoản thu nhập từ đầu tư chịu mức cùng một mức thuế như nhau và cân bằng theo chiều dọc đối với mức thuế suất lũy tiến từng phần áp dụng cho các khoản thu nhập từ tiền làm công, thu nhập từ hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, hệ thống thuế này có tính chất phức tạp, khó áp dụng và tiếp cận đến nhân dân Hệ thống thuế suất kép thường được áp dụng phổ biến ở nhiều nước có các mức thuế suất khác nhau

1.4 Kinh nghiệm từ một số nước trên thế giới về thuế Thu nhập cá nhân

Việt Nam tiến hành đổi mới toàn diện nền kinh tế từ sau đại hội đảng lần thứ

VI (1986), đến nay đã hơn 20 năm Đây không phải là thời gian đủ dài để đất nước

có thể tiến hành giải quyết đồng bộ những vấn đề vĩ mô của nền kinh tế Nhà nước

ta đang từng bước hoàn thiện, điều hành nền kinh tế thị trường trong thời gian qua, bằng cách nghiên cứu kinh nghiệm của những người đi trước, vận dụng sáng tạo và phù hợp với điều kiện của Việt Nam là việc làm hết sức đúng đắn Đặc biệt là với kinh nghiệm quản lý, vận dụng chính sách thuế TNCN của một số quốc gia là điều hết sức cần thiết cho Việt Nam trong việc hoàn thiện chính sách thuế TNCN trong giai đoạn tới Với bề dày lịch sử và hiện diện trên 180 quốc gia, chính sách TNCN

có những nét tương đồng cũng như những đặc trưng khác nhau giữa các nước Sau đây, người viết xin tổng kết trên các cơ sở xây dựng pháp luật thuế TNCN như sau:

(1) Xác định đơn vị chịu thuế:

Có một số cách khác nhau để ta có thể xác định đơn vị chịu thuế thu nhập trong một hệ thống thuế thu nhập cá nhân Thứ nhất, mỗi cá nhân có thể được đánh thuế riêng lẻ, bất chấp tình trạng hôn nhân của họ như thế nào Thứ hai, các cặp vợ chồng có thể được đánh thuế trên cơ sở thu nhập chung Thứ ba, các cặp vợ chồng

có quyền lựa chọn được đánh thuế chung hay là riêng Sau cùng, các hộ gia đình có thể được đánh thuế trên cơ sở thu nhập chung Tuy nhiên, đơn vị chịu thuế được xác định chủ yếu trên thế giới là cá nhân và hộ gia đình

Đơn vị chịu thuế được các nước xác định là cá nhân như Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản…

Nếu lựa chọn hộ gia đình là đơn vị tính thuế như Pháp thì: đối tượng cư trú được kê khai nộp thuế theo hộ gia đình gồm NNT và người được nuôi dưỡng NNT

là các cá nhân hay cặp vợ chồng chưa có con, người được nuôi dưỡng là con cái chưa đến tuổi thành niên, hay người tàn tật, người không có khả năng lao động…

Trang 34

Khi tính thuế theo hộ gia đình thì có thể quy đổi từng thành viên thành các mức thuế theo quy định:

Cá nhân độc thân 1 suất;

Cặp vợ chồng chưa có con 2 suất;

Con thứ nhất (chưa thành niên) 0,5 suất;

Con thứ hai (chưa thành niên) 0,5 suất;

Xác định đơn vị chịu thuế là hộ gia đình hợp lý và mang tính công bằng hơn

vì nó suy xét đến hoàn cảnh của từng hộ gia đình Tuy nhiên, lại rất phức tạp và gây khó khăn cho công tác quản lý thuế

(2) Đối tượng nộp thuế

Để xác định đối tượng nộp thuế TNCN, hầu hết các nước áp dụng nguyên tắc

cư trú, kết hợp với nguyên tắc đánh thuế theo nguồn phát sinh thu nhập Một cá nhân được coi là đối tượng cư trú tại một nước phải chịu thuế TNCN đối với toàn

bộ thu nhập nhận được, không phân biệt nguồn gốc phát sinh Cá nhân không cư trú chỉ phải chịu nghĩa vụ thuế TNCN đối với phần thu nhập có nguồn gốc phát sinh tại nước đánh thuế Đa số các nước quy định, cá nhân cư trú là người sinh sống ở nước

sở tại trên 183 ngày trong năm tính thuế hoặc trong 12 tháng liên tục Nếu không thỏa mãn điều kiện trên thì được coi là đối tượng không cư trú Có thể thấy quy định này qua một số nước như Malaysia, Singapore; Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Anh, Mỹ, Nhật Bản, đối với các cá nhân không cư trú, nguyên tắc nguồn phát sinh thu nhập được hầu hết các nước áp dụng để đánh thuế đối với các khoản thu nhập phát sinh tại nước đó

Như ở Nhật Bản và Trung Quốc: Người nộp thuế gồm cả những cá nhân cư

trú và không cư trú Cá nhân cư trú là những người sống, định cư tại Nhật/Trung Quốc liên tục từ một năm trở lên, nộp thuế trên thu nhập toàn cầu Cá nhân có thời gian cư trú dưới một năm được xác định là không cư trú, chỉ phải nộp thuế đối với thu nhập phát sinh ở nước sở tại

Ở Mỹ: Người nộp thuế cũng gồm những cá nhân cư trú và không cư trú

Người nước ngoài được coi là cư trú nếu họ sống thường xuyên hợp pháp tại Mỹ (được cấp thẻ xanh) hoặc nếu họ có mặt ở Mỹ trong thời gian dài đủ để được cấp một thẻ lưu trú

Philippin: Công dân cư trú phải chịu thuế trên thu nhập toàn cầu (cả thu

nhập tại Philippin và thu nhập có nguồn gốc từ nước ngoài) Công dân không cư trú, người nước ngoài cư trú hoặc không cư trú chỉ chịu thuế đối với phần thu nhập phát sinh tại Philippin

Riêng Hồng Kông quy định mọi cá nhân cư trú hay không cư trú chỉ phả nộp

thuế thu nhập đối với các khoản thu nhập phát sinh tại Hồng Kông Như vậy, nước này chỉ áp dụng tiêu thức nguồn thu nhập để xác định đối tượng nộp thuế

Trang 35

(3) Xác định thu nhập chịu thuế:

Một trong các yếu tố quan trọng của căn cứ tính thuế là xác định thu nhập chịu thuế Có hai cách để xác định thu nhập chịu thuế: một là thu nhập đã nhận (tổng thu nhập) hay thu nhập đã nhận được trừ một số khoản chi phí tạo ra thu nhập (thu nhập ròng) Theo quan điểm đánh thuế trên tổng thu nhập thì thu nhập tính thuế

là toàn bộ số tiền mà NNT đã nhận, không phân biệt đã bỏ ra ít hay nhiều chi phí để tạo ra thu nhập tính thuế Cách tính thuế này tuy đơn giản nhưng không đảm bảo được sự công bằng trong chính sách động viên đối với từng cá nhân, từng gia đình Nước ta đã áp dụng phương pháp này trong Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người

có thu nhập cao

Hầu hết các nước hiện nay như: Nhật Bản, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, đều xác định thu nhập chịu thuế là tổng thu nhập trừ đi tổng các khoản được giảm trừ của đối tượng đó trong kỳ tính thuế (thu nhập ròng), không bao gồm các khoản được miễn thuế Tổng các khoản được giảm trừ là tổng chi phí hợp lý phát sinh trong kỳ tính thuế và các khoản được phép giảm trừ khác theo quy định như giảm trừ gia cảnh cho đối tượng nộp thuế Tuy nhiên, mỗi nước xác định thu nhập chịu thuế có những điểm khác nhau như:

Pháp xác định 08 loại thu nhập chịu thuế thu nhập thu nhập ròng làm căn cứ

tính thuế là tổng thu nhập ròng của từng loại thu nhập mà NNT có được trong năm tính thuế Tổng thu nhập chịu thuế của hộ nộp thuế bằng tổng các khoản thu nhập ròng từ mọi nguồn thu nhập chịu thuế của đối tượng nộp thuế cộng với tổng thu nhập của vợ (hoặc chồng) và của các con nếu xác nhập vào hộ sau khi trừ đi các khoản chịu lỗ của từng loại thu nhập Ngoài ra, hộ nộp thuế còn được trừ khỏi thu nhập chịu thuế các khoản chi phí như: trợ cấp đời sống bắt buộc đối với vợ hoặc chồng đã ly thân hay ly hôn theo phán quyết của tòa án; chi nuôi dưỡng người gia trên 75 tuổi… và các khoản lỗ chưa trừ hết trong 05 năm kể từ năm tính thuế trở về trước

Nhật bản xác định thu nhập chịu thuế theo từng nguồn thu nhập Mỗi loại

thu nhập chịu thuế được xác định bằng tổng thu nhập trừ đi các chi phí bỏ ra để tạo

ra nguồn thu nhập, các khoản được khấu trừ tùy theo từng loại thu nhập Các khoản thu nhập chịu thuế TNCN gồm 10 loại: thu nhập từ cổ tức; thu nhập từ tiền lãi cổ phần; thu nhập do buôn bán bất động sản; thu nhập từ các hoạt động kinh doanh; thu nhập từ các công việc lao động; thu nhập từ các khoản hưu trí; thu nhập từ các khoản vốn; thu nhập từ buôn bán gỗ; các khoản thu nhập bất thường; các loại thu nhập khác

Luật thuế TNCN tại Thái Lan quy định thu nhập chịu thuế được xác định

tương tự như ở pháp, tuy nhiên khác hơn Pháp là Thái Lan có đơn vị tính thuế là cá

Trang 36

nhân, nên thu nhập ròng được tính cho cá nhân chứ không cộng vào hộ gia đinh như

ở Pháp

Nhận thấy, đa số các nước đều xác định thu nhập chịu thuế và phân loại chúng theo nguồn hình thành: Thu nhập từ lao động; thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh; thu nhập từ tài sản như cho thuê, chuyển nhượng tài sản, nhận thừa kế, quà tặng, quà biếu; thu nhập từ đầu tư gián tiếp như tiền lãi, cổ tức, thu nhập được chia từ các hoạt động góp vốn; thu nhập khác Riêng Nhật Bản quy định tiền hưu trí cũng chịu thuế TNCN

(4) Xác định miễn, giảm Thuế TNCN:

Quy định về miễn giảm thuế được thực hiện qua nhiều cách khác nhau của các nước nhằm đạt hiệu quả tối ưu của chính sách thuế TNCN trong đó, các yếu tố chính trị luôn được các nhà lập pháp và hoạch định chính sách cân nhắc Có các phương pháp miễn, giảm chủ yếu:

Phương án 1: Trong luật thuế quy định từng trường hợp miễn, giảm bằng mức khoản tiền cố định hoặc khung tỷ lệ phần trăm (%) trên số thuế phải nộp, ví dụ: NNT gặp rủi ro bất khả kháng do thiên tai, hoàn cảnh đặc biệt, Ưu điểm là có sự

rõ ràng, minh bạch giúp NNT thấy được ngay kết quả cụ thể của chính sách, do đó được nhiều nước áp dụng, nhất là các nước phát triển

Phương án 2: Quy định miễn giảm dưới hình thức tạm thời chưa thu thuế đối với một số khoản thu nhập, thu hút sự quan tâm của xã hội, ưu điểm là đạt được mục tiêu lâu dài của chính sách mà vẫn có ý nghĩa chính trị - xã hội

Phương án 3: Dựa trên cơ sở kết hợp ưu điểm của cả 2 phương pháp trên, là vừa quy định miễn giảm cho một số loại thu nhập, vừa cho phép miễn giảm một khoản tiền đối với một số đối tượng có hoàn cảnh nhất định

(5) Xác định mức giảm trừ gia cảnh

Hầu hết các nước đều có quy định giảm trừ gia cảnh, biểu hiện rõ nét nhất là tính công bằng theo chiều ngang trong vai trò điều tiết thu nhập Cùng một mức thu nhập như nhau nhưng người có hoàn cảnh khó khăn hơn (ví dụ có nhiều người phải nuôi dưỡng, bị tàn tật ) thì cần được giảm trừ nhiều hơn người có điều kiện thuận lợi Có thể thực hiện giảm trừ gia cảnh theo 2 cách: giảm trừ cá nhân và giảm trừ tiêu chuẩn

Giảm trừ cá nhân là NNT kê khai chi phí thực tế phát sinh đối với các khoản

được phép giảm trừ kèm theo chứng từ chứng minh Ưu điểm của hình thức này là công bằng hơn nhưng phức tạp trong công tác quản lý và tốn kém chi phí hành thu, chỉ được áp dụng ở những nước có nền kinh tế phát triển, trình độ dân trí cao và có

hệ thống thông tin người nộp thuế Có nước quy định chế độ miễn trừ cho bản thân NNT và người phụ thuộc như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, nhưng có nước lại áp dụng tính thuế từ đồng thu nhập đầu tiên để NNT

Trang 37

thấy rõ trách nhiệm công dân của mình đối với nghĩa vụ thuế như Pháp, Mỹ, Anh Nhìn chung, để đơn giản hoá chính sách và giảm nhẹ công tác quản lý, các nước chậm phát triển áp dụng hình thức giảm trừ tiêu chuẩn Theo đó, mức thu nhập khởi điểm tính thuế là mức thu nhập trung bình xã hội đảm bảo trang trải đủ những chi phí cần thiết về kinh tế và xã hội

Singapore quy định các khoản giảm trừ rất phức tạp Quốc gia này có những

chính sách về các khoản đóng góp từ thiện rất cụ thể: từ ngày 1/1/2002 tất cả các khoản đóng góp từ thiện do nhà nước chỉ định sẽ được khấu trừ thuế gấp đôi, tức 02 lần khoản đóng góp từ thiện đó Ngoài ra, chính sách thuế tại Singapore cũng quy định giảm trừ cho NNT các khoản chi phí kiếm sống, khoản giảm trừ này phụ thuộc vào độ tuổi Bên cạnh đó, đối tượng nộp thuế cũng được khấu trừ những chi phí khác như: chi phí sinh đẻ và nằm viện; chi phí đào tạo như chi phí tham gia các khóa học chuyên nghiệp, mang tính chất học viện hay chứng chỉ chuyên nghiệp hay các chi phí đăng ký tham gia các hội thảo, hội nghị liên qua đến các chuyên đề kinh doanh, việc làm; chi phí tiền thuê người giúp việc

Theo luật thuế TNCN tại Malaysia quy định giảm trừ gia cảnh chỉ áp dụng

đối với NNT là cá nhân cư trú, theo đó mỗi cá nhân được giảm trừ 8000 RM/năm Nếu đối tượng nộp thuế là người tàn tật thì được miễn giảm bổ sung 6000 RM/năm Bên cạnh đó, nước này cũng quy định giảm trừ cho người phụ thuộc theo các mức sau: chi phí điều trị y tế tối đa là 5.000 RM/năm; miễn giảm cho con cái 1.000 RM/năm cho một người con; trẻ em tàn tật 5.000 RM/năm

Nhật bản quy định mức giảm trừ NNT đối với cá nhân cư trú có sự phân biệt

theo mức thu nhập và loại thu nhập Các khoản chiết khấu khác như: chi phí y tế; chi phí tổn thất do thiên tai; các khoản chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm nhân thọ

Mỹ quy định 5 loại chi tiêu quan trọng được phép khấu trừ: chi y tế; mức

chịu lãi thuế chấp; các loại thuế cấp bang và địa phương trừ thuế bán hàng; các khoản đóng góp từ thiện và mất mát đột xuất Ngoài ra, đối với phần giảm trừ cho người phụ thuộc luật thuế TNCN Mỹ quy định mức giảm trừ tối đa chi phí chăm sóc con cái là 2.400 đôla nếu có 1 con và 4.800 đôla nếu có 2 con trở lên trong các gia đình có cả cha và mẹ đi làm, nếu có thuê người chăm sóc con cái thì phần chi phí này sẽ được trừ đi khi tính thuế8

(6) Xác định hệ thống thuế

Xây dựng mức thuế suất cố định hay theo biểu thuế luỹ tiến thể hiện chính sách động viên phù hợp với khả năng đóng góp và trình độ quản lý của các nước Hầu hết các nước đều chia thành hai loại thuế suất: thuế suất toàn phần và thuế suất luỹ tiến Thuế suất toàn phần thường áp dụng cho thu nhập từ vốn, chuyển nhượng

8 Huỳnh Văn Diện (2016), Pháp luật thuế thu nhập cá nhân từ thực tiễn cần thơ, Luận án Tiến sĩ luật học

viện Khoa học xã hội, Hà Nội

Ngày đăng: 04/03/2021, 20:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quốc hội (2007), luật số 04/2007/QH12 luật thuế thu nhập cá nhân 2007 2. Quốc hội (2013), luật số 26/2012/QH13 luật sửa đổi,bổ sung một số điều củaluật thuế thu nhập cá nhân 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: luật thuế thu nhập cá nhân 2007" 2. Quốc hội (2013), luật số 26/2012/QH13 "luật sửa đổi,bổ sung một số điều của
Tác giả: Quốc hội (2007), luật số 04/2007/QH12 luật thuế thu nhập cá nhân 2007 2. Quốc hội
Năm: 2013
9. Đảng cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội.*Tài liệu sách, tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2016
12. Bộ Tài chính (2006), Hệ thống văn bản pháp luật về thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao: Đã sửa đổi, bổ sung, cập nhật văn bản đến tháng 06/2006, Nxb Bộ Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống văn bản pháp luật về thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao: Đã sửa đổi, bổ sung, cập nhật văn bản đến tháng 06/2006
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Nxb Bộ Tài chính
Năm: 2006
13. Nguyễn Thị Mỹ Dung (2012), “Quản lý thuế ở Việt Nam – Hoàn thiện và đổi mới”, Tạp chí Phát triễn và hội nhập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý thuế ở Việt Nam – Hoàn thiện và đổi mới”
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Dung
Năm: 2012
14. Huỳnh Văn Diện (2016), Pháp luật thuế thu nhập cá nhân từ thực tiễn cần thơ, Luận án Tiến sĩ luật học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật thuế thu nhập cá nhân từ thực tiễn cần thơ
Tác giả: Huỳnh Văn Diện
Năm: 2016
15. Nguyễn Văn Hiệu (2006), “Thuế thu nhập cá nhân ở Thái Lan: Kinh nghiệm quản lý cho Việt Nam”, Tạp chí Thuế nhà nước, (20), tr.7-9,17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuế thu nhập cá nhân ở Thái Lan: Kinh nghiệm quản lý cho Việt Nam"”, Tạp chí Thuế nhà nước
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệu
Năm: 2006
16. Hiệp hội các doanh nghiệp Châu Âu tại Việt Nam (2018), Sách trắng 2018, EuroCham Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách trắng 2018
Tác giả: Hiệp hội các doanh nghiệp Châu Âu tại Việt Nam
Năm: 2018
17. Phan Phương Nam (2006), Nguyên tắc công bằng trong Pháp luật Thuế thu nhập cá nhân, Luận văn Thạc sĩ Luật, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nguyên tắc công bằng trong Pháp luật Thuế thu nhập cá nhân
Tác giả: Phan Phương Nam
Năm: 2006
18. Nguyễn Hải Ninh (2011), “Những yếu tố ảnh hưởng đến việc kiểm soát thu nhập của người nộp thuế trong quá trình thực hiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học, (số 7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố ảnh hưởng đến việc kiểm soát thu nhập của người nộp thuế trong quá trình thực hiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Nguyễn Hải Ninh
Năm: 2011
21. Trương Bá Tuấn (2011), “Đổi mới chính sách thuế giai đoạn 2001 – 2010”, Tạp chí Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chính sách thuế giai đoạn 2001 – 2010”
Tác giả: Trương Bá Tuấn
Năm: 2011
22. TS. Lê Xuân Trường, Phạm Nữ Mai Anh (2011), Thuế suất đơn nhất – Xu hướng thế giới và khả năng áp dụng ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học viện, Học viện Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuế suất đơn nhất – Xu hướng thế giới và khả năng áp dụng ở Việt Nam
Tác giả: TS. Lê Xuân Trường, Phạm Nữ Mai Anh
Năm: 2011
23. Trương Bá Tuấn (2017), Cải cách chính sách thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam hướng tới mục tiêu tái cấu trúc ngân sách nhà nước, Viện Chiến lược và Chính sách tài chính - Bộ Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách chính sách thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam hướng tới mục tiêu tái cấu trúc ngân sách nhà nước
Tác giả: Trương Bá Tuấn
Năm: 2017
25. Viện khoa học tài chính (1990), thuế và cải cách thuế ở nước ta, Bộ Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: thuế và cải cách thuế ở nước ta
Tác giả: Viện khoa học tài chính
Năm: 1990
4. Quốc hội (2012), luật số 21/2012/QH13 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Quản lý thuế 2006 Khác
5. Chính Phủ, Nghị định số 65/2013/NĐ-CP, ngày 27/6/2013 Quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân Khác
7. Bộ Tài chính, Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân Khác
8. Bộ Tài chính, Thông tư số 80/2012/TT-BTC ngày 22/5/2012 hướng dẫn Luật Quản lý thuế về đăng ký thuế Khác
11. Bộ Tài chính (2011), Báo cáo tổng kết ba năm thi hành Luật thuế thu nhập cá nhân Khác
19. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2016), Báo cáo nghiên cứu độc lập về Đánh giá cải cách thủ tục hành chính thuế: mức độ hài lòng của doanh nghiệp năm 2016 Khác
24. Ủy ban thường vụ Quốc hội – ban công tác đại biểu (2014), Thực trạng điều chỉnh thuế thu nhập của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w