Theo kết quả phân tích của các cơ quan chức năng,80% nước thải từ bệnh viện là nước thải bình thường tương tự nước thải sinh hoạt chỉ có 20% là những chất thảinguy hại bao gồm chất thải
Trang 1CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI ĐỒ ÁN
1.1.Đặt vấn đề
Hoạt động của các bệnh viện ở nước ta hiện nay đang được cải thiện hàng ngày cả
về chất lẫn về lượng.Những năm gần đây nhu cầu khám chữa bệnh của người dân rấtlớn.Hơn nữa,với chủ trương đưa thầy thuốc đến với tất cả các bệnh nhân trên toàn quốc
kể cả vùng sâu và vùng xa.Do đó,hiện nay nhà nước đã đầu tư xây dựng,cải tạo nângcấp nhiều bệnh viện,trạm y tế khắp cả nước nhằm phục vụ người dân được tốt hơn.Bên cạnh đó,ngày nay có rất nhiều bệnh viện cỡ nhỏ và vừa do các tổ chức cá nhân xâydựng lên
Tuy nhiên,song song với việc tăng cường khả năng phục vụ khám chữa bệnhcho nhân dân,các hoạt động của bệnh viện cũng thải ra một lượng rất lớn chất thải gâyảnh hưởng đến con người và môi trường
Như chúng ta đã biết,chất thải y tế được xem là một trong những loại chất thảinguy hại có tác động trực tiếp đến con người và môi trường nếu không được kiểm soát,quản lý và xử lý tốt.Vì vậy,việc kiểm soát,quản lý và xử lý chất thải y tế là một nhiệm
vụ cấp bách của ngành y tế và các ngành liên quan,nhằm bảo vệ môi trường,bảo vệ sứckhỏe cho nhân viên y tế, bệnh nhân và cộng đồng
Ơ nước ta,công tác quản lý và xử lý chất thải y tế đã được ban,ngành các cấpquan tâm.Tuy nhiên đến nay vẫn chưa được chú trọng đầu tư đúng mức,quản lý chưahiệu quả như công tác phân loại, vận chuyển…xử lý chưa đúng quy định,chủ yếu vẫncòn tập trung xử lý chung cùng với các loại chất thải khác tại bãi chôn lấp,còn các hệthống xử lý (HTXL) nước thải của bệnh viện thì thiết kế sơ sài,không hiệu quả,chủ yếu
“che mắt” các cơ quan có thẩm quyền hoặc không có HTXL nước thải (Việt Nam Net11/09/2009)
Trang 2Với sự gia tăng ngày càng nhiều các loại chất thải,đặc biệt là chất thải y tế nguyhại,cùng với sự quản lý còn nhiều bất cập như hiện nay,sẽ là một nguồn gây ô nhiễmmôi trường,ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng dân cư nghiêm trọng ở hiện tại và trongtương lai, nếu như ngay từ bây giờ chúng ta không có các biện pháp tích cực hơn.
Bệnh viện huyện Krôngpăc – tỉnh Dăclăk là đơn vị hành chính sự nghiệp vớinhiệm vụ khám điều trị, cấp cứu cho người dân trên địa bàn,đồng thời thực hiện cácchương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu,phòng chống dịch bệnh và thực hiện chứcnăng quản lý nhà nước về y tế
Ngoài những lợi ích do hoạt động của bệnh viện, thì bên cạnh đó cũng có nhữngtác động đáng kể đến môi trường xung quanh như là: tác động đến môi trường nước,tác động đến môi trường không khí, chất thải rắn …
Hiện nay, tại bệnh viện huyện Krôngpăc – tỉnh Dăclăk chưa có HTXL nướcthải Do yêu cầu của thực tế chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tính toán thiết kếtrạm xử lý nước thải cho bệnh viện huyện Krôngpăc – tỉnh Dăclăk”
1.2.Tính cấp thiết
Như ta đã biết nước thải bệnh viện(NTBV) nếu không được xử lý sẽ gây ảnhhưởng nghiêm trọng đến môi trường,ảnh hưởng đến hệ sinh thái trong khu vực và sứckhỏe của người dân.Vấn đề đặt ra là làm thế nào để giảm nồng độ các chất ô nhiễm đếnmức cho phép trước khi xả vào nguồn tiếp nhận
Trước tình trạng đó,việc xây dựng trạm xử lý nước thải cho bệnh viện huyệnKrôngpăc – tỉnh Dăclăk là vấn đề cấp bách và cần thiết
Trang 31.3 Nhiệm vụ luận văn
Tính toán,thiết kế trạm xử lý NTBV cho bệnh viện huyện Krôngpăc – tỉnhDăclăk,công suất:100m3/ngày.đêm.Nước thải sau khi xử lý đạt tiêu chuẩn xả thải mức
II theo TCVN 7382:2004
1.4 Nội dung luận văn
- Tổng quan về bệnh viện huyện Krôngpăc – tỉnh Dăclăk
Trang 4CHƯƠNG 2:TỔNG QUAN VỂ BỆNH VIỆN HUYỆN KRÔNGPĂC
2.1 Một số đặc điểm về bệnh viện huyện Krôngpăc – tỉnh Đăclăk
2.1.1 Vị trí
Tên bệnh viện: Bệnh viện đa khoa huyện Krôngpăc
Địa chỉ : 148 Lê Duẩn – Thị trấn Phước An – Huyện Krôngpăc – Tỉnh ĐăclăkĐiện thoại: 0500.3521128
Địa chỉ mail: khoabvhkrongpac@gmail.com
Tổng diện tích mặt bằng : 2000m2
Nhiệt độ không khí trung bình là 260C,chênh lệch khí hậu từ 14 – 340C
Lượng mưa: lượng mưa trung bình hàng năm 2300 mm,tập trung vào các tháng 6,
7, 8, 9, 10, 11 với khoảng 160 ngày mưa;lượng mưa cao nhất 2718mm;lượng mưa thấpnhất 1553mm
Độ ẩm không khí: trung bình 49%
Địa hình khu đất bằng phẳng, nền đất ổn định
Môi trường xung quanh bệnh viện không có nguồn gây ô nhiễm hoặc ảnh hưởngxấu đến môi trường xung quanh
2.1.2 Nguồn cung cấp điện
Nguồn cung cấp điện cho bệnh viện hiện nay được lấy từ mạng lưới điện Quốc giathông qua điện lực huyện Krôngpac cung cấp
Để duy trì điện của bệnh viện trong trường hợp điện lưới bị cúp,bệnh viện trang bị
1 máy phát điện dự phòng với công suất 500 KVA
Trang 52.1.3 Nguồn cung cấp nước
Nguồn cung cấp nước cho toàn bệnh viện hiện nay được lấy từ mạng lưới cấp nướccủa huyện Krôngpăc
2.1.4.Hệ thống giao thông
Cũng như các cơ sở hạ tầng kỹ thuật khác,các hệ thống giao thông và thông tin liênlạc đã được hoàn thiện và đáp ứng nhu cầu khu vực.Tuyến đường Lê Duẩn là mặt tiềncủa khu nên rất thuận tiện cho lưu thông cấp cứu bệnh nhân.Hệ thống thông tin liênlạc,do bưu chính viễn thông huyện cung cấp
2.1.5 Nguồn tiếp nhận chất thải rắn
Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ bệnh viện được hợp đồng với công ty môi trường
đô thị huyện Krôngpăc thu gom,vận chuyển và xử lý hàng ngày
2.1.6 Nguồn tiếp nhận nước thải
Nguồn tiếp nhận nước thải của bệnh viện là hệ thống cống thoát nước thải đô thịcủa huyện Krôngpăc
Nước thải bao gồm các nguồn:nước thải từ những phòng khám,chữa bệnh và nướcmưa chảy qua khu vực bệnh viện
2.2 Hoạt động bệnh viện huyện Krôngpăc
2.2.1 Quy mô bệnh viện
Bệnh viện có 105 giường bệnh
Rộng 2000m2
2.2.2 Các hoạt động của bệnh viện
Bệnh viện huyện Krôngpăc hoạt động khám chữa bệnh cho toàn bộ nhân dân cónhu cầu
Trang 6Các dịch vụ khám chữa bệnh được thực hiện tại các phòng, khoa của bệnh việnnhư:khoa ngoại, khoa nội,khoa sản…
2.2.3 Cơ cấu tổ chức
Dự kiến nhân sự làm việc tại bệnh viện huyện Krôngpăc được trình bày trong bảngsau:
Bảng 2.1 - Bố trí nhân sự tại bệnh viện
1 Khu hành chính
Phòng thu viện phí
Phòng hành chánh
060303
2 Khu điều trị nội trú
Bác sĩ điều trị
Điều dưỡng
Hộ lý
26061604
Trang 76 Khu thanh trùng
Bác sĩ phụ trách chung
Điều dưỡng phụ trách chung
Nhân viên xử lý gòn, gạc, y cụ
Nhân viên hô hấp tiệt trùng
Nhân viên chống nhiễm khuẩn
080101020202
Bác sĩ phụ trách (trưởng, phó khoa)
1302
Trang 8(Nguồn: Bệnh viện huyện Krôngpăc tháng 10/2008)
2.2.4 Nhu cầu điện nước
Tổng nhu cầu cấp nước cho bệnh viện khoảng 80m3/ngày.đêm (dựa trên: tiêu chuẩn
sử dụng nước:700 lít/giường/ngày.đêm với số giường bệnh: 105 giường)
Tổng nhu cầu sử dụng điện cho bệnh viện khoảng 36 000 kWh/năm
2.2.5.Trang thiết bị máy móc
Bảng 2.2 - Danh mục trang thiết bị máy móc
STT Trang thiết bị/Máy móc Số lượng (bộ)
02020101
Trang 9Máy giúp thởMáy điện tim một cầuMáy điện tim ba cầuMáy cắt đốt PTMáy hút dịchĐèn mổBàn mổ
Lị hấp
Tủ sấyMáy nha Dụng cụ nhaBàn sinhDụng cụ sản khoaDụng cụ mổMáy phát điệnMáy đốt điệnKính hiển viMáy quang phổMáy elisa
010201010101080404020201020201020202020101
Trang 1027
28
Máy li tâmMáy HCTMáy tính CTBC
010101
(Nguồn: Bệnh viện huyện Krôngpăc tháng 10/2008)
Ngoài ra,bệnh viện cũng trang bị thêm hai máy hấp thanh trùng dung tích mỗi máy
Trang 113.1.1 Nguồn gốc
NTBV phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau như:
- Sinh hoạt của bệnh nhân,người nuôi bệnh nhân,cán bộ và công nhân viên của bệnh viện
- Pha chế thuốc
- Tẩy khuẩn
- Lau chùi phòng làm việc
- Phòng bệnh nhân…
3.1.1.1.Nước thải sinh hoạt của bệnh viện
Nước thải sinh ra từ các phòng vệ sinh bệnh nhân,từ các căn tin,nhà bếp bệnhviện,khu vệ sinh của nhân viên cán bộ,thân nhân người bệnh,…Thành phần nước thảitương tự nước thải sinh hoạt từ các cụm dân cư đô thị khác:có chứa các chất cặn bã vàcác chất hữu cơ hòa tan (thông số chỉ tiêu BOD và COD),các chất dinh dưỡng (nitơ,phốtpho) và vi trùng.Chất lượng nước thải sinh hoạt này vượt quá tiêu chuẩn cho phép
do đó có khả năng gây ô nhiễm hữu cơ,làm giảm lượng ôxy hòa tan (DO) vốn rất quantrọng đối với đời sống thủy sinh vật tại nguồn tiếp nhận
3.1.1.2 Nước thải từ hoạt động khám và điều trị bệnh
Mỗi khu khám và điều trị bệnh có những dịch vụ khám và điều trị y khoa khácnhau,tùy theo các bệnh viện có các yêu cầu công việc riêng.Các bệnh viện lớn thường
có các khu khám và điều trị với nước thải có mức độ ô nhiễm vi sinh gây bệnh,cặn lơlững,các chất hữu cơ cao hàm lượng BOD và COD cao hơn trong nước thải sinh hoạt.Nhìn chung NTBV đặc trưng là chứa nhiều mầm bệnh đặc biệt là các bệnh truyềnnhiễm
Trang 12Nước thải khu giải phẩu bệnh lý (mô học):chứa máu,bệnh phẩm,dịch cơ thể chấtkhử trùng như formaladehyl
Nước thải khu xét nghiệm:chứa nhiều vi trùng gây bệnh khác nhau
Ngoài ra nước thải còn có khả năng nhiễm xạ từ các khu X-Quang, rửa phim Việc xử lý nước thải bị nhiễm phóng xạ rất khó khăn và tốn kém (do chu kỳ phânhủy các chất phóng xạ khá lâu).Trong điều kiện hiện nay không đề cập đến loại nướcthải này mà chỉ xử lý tính chất sơ bộ trong toàn bộ dây chuyền xử lý NTBV
Nước thải khu điều trị vật lý:chứa nhiều hợp chất hữu cơ halogen hóa (AOX).Nước thải khoa truyền máu,huyết thanh học,khoa sản,…chứa nhiều huyết thanh
và bệnh phẩm,hóa chất vô cơ kim loại nặng (Hg),các chất đệm,photphate,chất oxy hóa,dầu mỡ…
Nước thải từ các khu nghiên cứu,chứa các chất ô nhiễm:
- Chất oxy hóa tẩy trùng môi trường: peroxides (H2O2)
- Dầu mỡ từ các ống bơm chân không, các thiết bị quay…
- Kim loại loại nặng trong các thuốc thử phân tích
- Các dung môi hữu cơ,huyết thanh và dịch cơ thể, thuốc tẩy
Nguồn nước thải này có hàm lượng BOD5 và COD thấp hơn khu khám điều trịnhưng trên mức trung bình của nước thải sinh hoạt
3.1.1.3 Nước thải từ phòng giặt tẩy của bệnh viện
Các phòng giặt tẩy của bệnh viện sản xuất đặt trưng khăn trải giường,các áo choàng
và áo cho phòng thí nghiệm.Nước thải này chứa một lượng chính các chất vô cơ,chấtbéo,dầu mỡ,thuốc tẩy chứa kiềm gây sự biến đổi pH…
Trang 133.1.2 Thành phần, tính chất nước thải bệnh viện
Các thành phần chính gây ô nhiễm môi trường do NTBV gây ra là:
- Các mầm bệnh sinh học khác trong máu,mủ,dịch,đờm,phân của người bệnh;
- Các loại hóa chất độc hại từ cơ thể và chế phẩm điều trị,thậm chí cả chất phóngxạ
Theo kết quả phân tích của các cơ quan chức năng,80% nước thải từ bệnh viện
là nước thải bình thường (tương tự nước thải sinh hoạt) chỉ có 20% là những chất thảinguy hại bao gồm chất thải nhiễm khuẩn từ các bệnh nhân,các sản phẩm của máu,cácmẫu chẩn đoán bị hủy,hóa chất phát sinh từ trong quá trình giải phẫu,lọc máu, hútmáu,bảo quản các mẫu xét nghiệm,khử khuẩn.Với 20% chất thải nguy hại này cũng đủ
để các vi trùng gây bệnh lây lan ra môi trường xung quanh.Đặc biệt,nếu các loại thuốcđiều trị bệnh ung thư hoặc các sản phẩm chuyển hóa của chúng…không được xử lýđúng mà đã xả thải ra bên ngoài sẽ có khả năng gây quái thai,ung thư cho những ngườitiếp xúc với chúng
3.2 Tác động môi trường của chất thải bệnh viện
3.2.1 Tác động đến môi trường nước
NTBV sẽ gây ra những ô nhiễm đặc trưng như sự ô nhiễm do khả năng phân hủysinh học các chất,quá trình tích lũy sinh học và lan truyền các chất qua chuỗi thứcăn,gây độc tố sinh thái.Vì trong nước thải ngoài những dược phẩm điều trị bệnh là
Trang 14những chất có hoạt tính còn có những chất bổ trợ tổ hợp sắc tố.Nhiều loại thuốc đượcbài tiết ra ngoài mà không được cơ thể chuyển hóa.Theo Kumerer-2001,tỷ lệ bài tiết rangoài thuốc kháng sinh là 75%.Một vấn đề chủ yếu của NTBV đó là cách xả thải.Nhưnguồn thải ở đô thị một số bệnh viện không có HTXL,hoặc có nhưng hoạt động kémhiệu quả nước thải đỗ thẳng trực tiếp vào cống thoát đô thị mà không qua quá trình xử
lý sơ bộ gây nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường
GVHD:TS.Đặng Viết Hùng Trang 14
SVTH:Trần Lê Lam Phương
MSSV:09B1080055
Nước thải từ việc khám và điều trị
bệnh (máu, nước tiểu, phân, dung
môi, dung dịch axit, kiềm, thuốc
thử, nguyên tố phóng xạ, chất tẩy
trùng)…
Sự phân phối sử dụng thuốc trong bệnh nhân
Sự bài tiết của người bệnh với phần dư của thuốc (thuốc và một phần đã chuyển hóa)
Trang 15Hình 3.1 - Mô tả vấn đề môi trường của NTBV
+ Đặc điểm nguy hại về mặt sinh học và hóa học của NTBV
- Ô nhiễm về mặt vi sinh
Những nghiên cứu về mặt vi sinh NTBV đã chứng minh được sự hiện diện cácmầm bệnh và tập nhiễm kháng lại thuốc kháng sinh.Những virus chỉ thị sự ô nhiễmnước mặt cũng được tìm thấy ở NTBV như Enterroviruses gây bệnh sởi và viêm màngnảo,virus hạch.Số lượng vi sinh vật của NTBV cao hơn mức xả thải rất nhiều,khoảng2.4.103-3.105 MPN/100 ml (Emmanuel, 2001) gây ra ô nhiễm vi sinh cho nguồn tiếpnhận.Bùn thải sinh ra từ NTBV mang rất nhiều vi sinh vật gây bệnh cho người.Điềunày chứng tỏ NTBV là nguồn lây bệnh nguy hiểm cho con người nếu như không xử lýtriệt để.Theo WHO (Mara&Caincross, 1989),bùn thải sau xử lý nên chứa không quá
1000 Fecal coliform/100g và 1 trứng giun sán/kg,sau đó được chôn vào các hào sâu và
Trang 16- Tính chất độc hại của độc tính sinh thái
Những nghiên cứu,kiểm tra tế bào đối với NTBV đã chỉ ra rằng nguồn thải này cókhả năng gây đột biến (Gartiseretal., 1996) và nguồn gốc gây đột biến này tìm ẩn nàyvẫn đang được nghiên cứu.Tổng lượng NTBV được xem là có độc tính cao khi kiểmtra với Daphnia và vi khuẩn phát quang Độc tính cao do sự hiện diện hợp chất hữu cơhalogen,là kết quả của việc sử dụng NaOCl và những hợp chất iod với số lượng lớn đểkhử trùng nguồn thải bệnh viện (Emmanuel, 2002)
- Sự phân hủy sinh học của thuốc
Từ những năm 1980,các dữ liệu về sự hiện diện của dược phẩm trong nước mặt vànguồn thải HTXL nước đã được báo cáo (Richardson &Browron,1985;Kumereretal.,1977).Dược phẩm dành cho người và động vật nuôi gồm thuốc khángsinh,hormones,thuốc giảm đau và những loại thuốc khác,khi một người hay động vật
sử dụng thuốc,thì từ 50%-90% thuốc có được bài tiết ra ngoài mà không chuyển đổi Hàm lượng thuốc kháng sinh ciprofloxacin từ 3-87g/l được tìm thấy trongNTBV,đây là nồng độ có độc tính cao (Hartmann et al,1998) Theo Halling-Sorensen(1998) cho rằng 30% thuốc được sản xuất từ năm 1992-1995 là những chất ưa mỡ,tantrong dầu mà không tan trong nước.Nghĩa là chúng qua màng tế bào và hoạt động bêntrong tế bào.Các phần dư của thuốc và các dạng chuyển hóa của chúng được thải ra
Trang 17ngoài qua nước thải.Các phần tử này không phân hủy sinh học mà đi vào môi trường
và tác động lên cấu trúc sinh học và sinh vật nước
+ Dịch tễ học
Nhiễm khuẩn bệnh viện là một trong những mối quan tâm lớn của Việt Nam vànhiều quốc gia trên thế giới.Có nhiều nguyên nhân gây nhiễm khuẩn ảnh hưởng đếnsức khỏe con người mà chủ yếu là vệ sinh các buồng bệnh,dụng cụ y tế không được xử
lý đúng,việc sử dụng dụng cụ vệ sinh không đúng cách,vấn đề phân loại rác,sátkhuẩn
NTBV là một ỗ vi trùng khổng lồ và cực kỳ nguy hiểm vì chúng là nguồn chứa các
vi trùng,vi khuẩn gây bệnh,nhất là bệnh truyền nhiễm như thương hàn,tả lỵ…làm ảnhhưởng đến sức khỏe cộng đồng
Các vi sinh vật gây ra nhiễm trùng chủ yếu là:
- Các vi khuẩn 90%
- Các virus 8%
- Nấm 1%
Những vi khuẩn gây bệnh chính:
- Tụ cầu vàng:nhọt,áp xe chúng có trong không khí,các chất lỏng,trên mặt đất
- Liên cầu khuẩn Agalactae B:truyền bệnh do:bàn tay,đồ vật – dụng cụ
- Liên cầu khuẩn ở phân (S.faecalis):truyền bệnh tại chổ,bàn tay,bề mặt,đất
- Liên phế cầu:truyền bệnh theo đường không khí
- Vi khuẩn đường ruột:hiện nay,đây là những mầm bệnh thường hay gây ra nhấtnhiễm trùng đường hô hấp (khoa hồi sức và phòng mổ)
- Loại vi khuẩn Pseudemonacees:vi khuẩn chính:vi khuẩn gây mủ-những vi khuẩn
Trang 18có bào tử: Tetani, Perfringens vô trùng các đồ vật – dụng cụ bằng nồi hấp
3.2.2 Tác động đến môi trường không khí
Những chất thải như máu,dịch,nước tiểu có hàm lượng chất hữu cơ cao,phân hủynhanh nếu không được xử lý đúng mức,không chỉ gây bệnh mà còn mùi hôi thối,làm ônhiễm không khí xung quanh.Nhưng hầu hết các bệnh viện tọa lạc tại các khu dâncư,nên vấn đề ô nhiễm không khí sẽ gây tác động đến đời sống của người dân trongvùng
Ô nhiễm không khí từ quá trình phân hủy chất thải tạo ra các khí ô nhiễm.Thànhphần chính rác thải gồm hai thành phần sau:O và H,ngoài ra còn có các nguyên tố khácnhư O, N, S… kim loại nặng,hợp chất hữu cơ chứa halogen, nước …Chính vì thế sảnphẩm sau khi cháy tạo ra CO2 và H2O còn có:
- Các chất chỉ thị ô nhiễm: bụi,SOx,NOx,CO…
3.3 Các phương pháp xử lý nước thải bệnh viện
3.3.1 Phương pháp cơ học
XLNT bằng phương pháp cơ học nhằm mục đích:
- Tách các chất không hòa tan,những vật chất lơ lửng có kích thước lớn (rác, nhựa,
Trang 19dầu mỡ,cặn lơ lửng,các tạp chất nổi…) ra khỏi nước thải.
- Loại bỏ cặn nặng như sỏi,cát,mảnh kim loại,thủy tinh…
- Điều hòa lưu lượng và nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải
Xử lý cơ học là giai đoạn chuẩn bị và tạo điều kiện thuận lợi cho các quá trình xử
lý hóa lý và sinh học
3.3.1.1 Song chắn rác
Song chắn rác thường được làm bằng kim loại,đặt ở cửa vào kênh dẫn.Tùy theokích thước khe hở,song chắn rác được phân thành loại thô,trung bình và mịn.Song chắnrác thô có khoảng cách giữa các thanh từ 60 – 100 mm và song chắn rác mịn có khoảngcách giữa các thanh từ 10 – 25 mm.Rác có thể lấy bằng phương pháp thủ công hoặcthiết bị cào rác cơ khí
+ Lắng bùn hoạt tính
Bề lắng có nhiệm vụ lắng các hạt cặn lơ lửng (bể lắng đợt 1) hoặc cặn được tạo ra
Trang 20từ quá trình keo tụ tạo bông.Theo chiều dòng chảy,bể lắng được phân thành bể lắngngang và bể lắng đứng.
Bể lắng ngang:dòng nước chảy theo phương ngang qua bể với vận tốc không lớnhơn 0,01m/s và thời gian lưu nước t=1,5-2,5h.Bể lắng ngang thường được sử dụng khilưu lượng nước lớn hơn 15.000m3/ngày
Đối với bể lắng đứng,nước chuyển động theo phương thằng đứng từ dưới lên vớitốc độ dâng từ 0,5-0,6m/s.Thời gian lưu nước t=45-120 phút.Hiệu suất lắng của bể lắngđứng thường thấp hơn bể lắng ngang từ 10-20%
3.3.1.3.Lọc
Dùng để tách các phần tử lơ lững phân tán trong nước thải với kích thước tươngđối nhỏ sau bể lắng,bằng cách cho nước thải đi qua các vật liệu lọc như cát,thạchanh,than cốc,than bùn,…
Quá trình lọc chỉ áp dụng cho các công nghệ xử lý nước tái sử dụng và cần thu hồimột số thành phần quí hiếm có trong nước thải.Các loại bể lọc được phân loại như sau:
Do đặc điểm công nghệ sản xuất của một số ngành công nghiệp,lưu lượng và nồng
độ nước thải thường không đều theo các giờ trong ngày Sự dao động lớn về lưu lượng
và nồng độ dẫn đến những hậu quả xấu về chế độ công tác của HTXL.Khi hệ số khôngđiều hòa k >1,4 thì xây dựng bể điều hòa để các công trình xử lý làm việc với lưulượng đều trong ngày,khắc phục những sự cố vận hành do sự dao động về nồng độ và
Trang 21lưu lượng của nước thải gây ra và nâng cao hiệu suất của các quá trình xử lý sinh học.
Có hai loại bể điều hòa:
- Bể điều hòa lưu lượng và chất lượng nằm trực tiếp trên đường chuyển động củadòng chảy
- Bể điều hòa lưu lượng là chủ yếu,có thể nằm trực tiếp trên đường vận chuyển củadòng chảy hay nằm ngoài đường đi của dòng chảy
- Tùy theo điều kiện đất đai và chất lượng nước thải, khi mạng lưới thu gom làmạng lưới cống chung thì ta thường áp dụng để điều hòa lưu lương để tích trữ đượclượng nước sau cơn mưa.Khi ở các mạng thu gom là hệ thống cống riêng và ở nhữngnơi có chất lượng nước thải thay đổi,ta thường áp dụng bể điều hòa cả lưu lượng vàchất lượng.Bể điều hòa thường được đặt trước bể lắng I
Để đảm bảo chức năng điều hòa lưu lượng và chất lượng nước thải,ta cần bố trítrong bể hệ thống, thiết bị khuấy trộn để san bằng nồng độ các chất bẩn cho toàn bộ thểtích nước thải có trong bể và để ngăn ngừa cặn lắng, pha loãng nồng độ các chất độchại nếu có,nhằm loại trừ hiện tượng bị sốc về chất lượng khi đưa nước vào xử lý sinhhọc
3.3.2 Phương pháp xử lý hóa học – hóa lý
Cơ sở của phương pháp hóa lý là các phản ứng hóa học diễn ra giữa chất ô nhiễm
và các hóa chất thêm vào.Các phương pháp hóa lý thường được sử dụng là ôxy hóa vàtrung hòa.Đi đôi với các phương pháp này còn kèm theo các quá trình kết tủa và nhiềuhiện tượng khác
Nói chung bản chất của quá trình XLNT bằng phương pháp hóa lý là áp dụng cácquá trình vật lý và hóa học để loại bớt các chất ô nhiễm mà không thể dùng quá trìnhlắng ra khỏi nước thải.Các công trình tiêu biểu của việc áp dụng phương pháp hóa họcbao gồm:
Trang 223.3.2.1 Trung hòa
Nước chứa axit hoặc kiềm cần được trung hòa đưa về pH trung tính (6,5-8,5) trướckhi sử dụng cho các công trình kế tiếp.Trung hòa nước có thể thực hiện bằng nhiềucách:
- Bổ sung các tác nhân hóa học
- Lọc nước axit qua vật liệu có tác dụng trung hòa
- Hấp thụ khí axit bằng nước kiềm hoặc hấp thụ ammoniac bằng nước axit
Việc lựa chọn phương pháp trung hòa là tùy thuộc vào thể tích và nồng độ củanước và chi phí hóa chất sử dụng
3.3.2.2 Bể keo tụ, tạo bông
Quá trình keo tụ tạo bông được ứng dụng để loại bỏ các chất rắn lơ lững và các hạtkeo có kích thước rất nhỏ (10-7-10-8 cm).Các chất này tồn tại ở dạng khuếch tán vàkhông thể loại bỏ bằng quá trình lắng vì tốn rất nhiều thời gian.Để tăng hiệu quả lắng,giảm bớt thời gian lắng của chúng thì ta thêm vào nước thải một số hóa chất như phènnhôm,phèn sắt,polymer,…Các chất này có tác dụng kết dính các chất khuếch tán trongdung dịch thành các hạt có kích cỡ và tỷ trọng lớn hơn nên sẽ lắng nhanh hơn
Các chất keo tụ dùng là phèn nhôm:Al2(SO4)3.18H2O,NaAlO2,Al2(OH)3Cl,KAl(SO4)2.12H2O,NH4Al(SO4)2.12H2O;phèn sắt:Fe2(SO4)3.2H2O,FeSO4.7H2O,FeCl3
hay chất keo tụ không phân ly, dạng cao phân tử có nguồn gốc thiên nhiên hay tổnghợp
Trong khi tiến hành quá trình keo tụ, tạo bông cần chú ý:
- pH của nước thải
- Bản chất của hệ keo
Trang 23- Sự có mặt của các ion trong nước.
- Thành phần của các chất hữu cơ trong nước
- Nhiệt độ
Các phương pháp keo tụ có thể là keo tụ bằng chất điện ly,keo tụ bằng hệ keongược dấu.Trong quá trình XLNT bằng chất keo tụ,sau khi kết thúc giai đoạn thủyphân các chất keo tụ (phèn nhôm,phèn sắt,phèn kép),giai đoạn tiếp theo là giai đoạnhình thành bông cặn.Để cho quá trình tạo bông cặn diễn ra thuận lợi người ta xây dựngcác bể phản ứng đáp ứng các chế độ khuấy trộn.Bể phản ứng theo chế độ khuấy trộnđược chia làm 2 loại: thủy lực và cơ khí.Thông thường,sau khi diễn ra quá trình keo tụtạo bông, nước thải sẽ được đưa qua bể lắng để tiến hành loại bỏ các bông cặn có kíchthước lớn được hình thành
Phương pháp keo tụ có thể làm trong nước và khử màu nước thải vì sau khi tạobông cặn,các bông cặn lớn lắng xuống thì những bông cặn này có thể kéo theo các chấtphân tán không tan gây ra màu
3.3.2.3 Tuyển nổi
Tuyển nổi là phương pháp được áp dụng tương đối rộng rãi nhằm loại bỏ các tạpchất không tan,khó lắng.Trong nhiều trường hợp,tuyển nổi còn được sử dụng để táchcác chất tan như chất hoạt động bề mặt
Bản chất của quá trình tuyển nổi ngược lại với quá trình lắng và cũng được ápdụng trong trường hợp quá trình lắng xảy ra rất chậm và rất khó thực hiện.Các chất lơlững như dầu,mỡ sẽ nổi lên trên bề mặt của nước thải dưới tác dụng của các bọt khí tạothành lớp bọt có nồng độ tạp chất cao hơn trong nước ban đầu.Hiệu quả phân riêngbằng tuyển nổi phụ thuộc kích thước và số lượng bong bóng khí Kích thước tối ưu củabong bóng khí là 15 - 30.10-3mm.Các phương pháp tạo bọt khí:
+ Tuyển nổi với việc tách các bọt khí ra khỏi dung dịch
Trang 24Biện pháp này được sử dụng rộng rãi với nước chứa các chất bẩn nhỏ vì nó chophép tạo bọt khí rất nhỏ.Thực chất của biện pháp này là tạo ra một dung dịch quá bảohòa không khí.Sau đó không khí được tách ra khỏi dung dịch ở dạng các bọt cực nhỏ
và lôi kéo các chất bẩn nổi lên trên mặt nước:
- Tuyển nổi chân không
- Tuyển nổi không áp lực
- Tuyển nổi áp lực
+ Tuyển nổi với việc cung cấp khí nén qua tấm xốp, ống châm lỗ
- Tuyển nổi với thổi khí nén qua các vòi
- Tuyển nổi với phân tán không khí qua tấm xốp
Nhược điểm của phương pháp này là dễ tắc nghẽn và cần có bình nén khí
+ Tuyển nổi với việc dùng các chất tạo bọt (tuyển nổi hóa học)
Mục đích để có kích thước bọt ổn định trong quá trình tuyển nổi
Chất tạo bọt có thể là dầu thông, phenol, ankyl, sunfat natri, cresol CH3C6H4OH.Điều cần lưu ý là trọng lượng hạt không được lớn hơn lực kết dính với bọt khí vàlực nâng của bọt khí
3.3.2.4.Phương pháp hấp phụ
Hấp phụ là phương pháp tách các chất hữu cơ và khí hòa tan ra khỏi nước thảibằng cách tập trung các chất đó trên bề mặt chất rắn (chất hấp phụ) hoặc bằng cáchtương tác giữa các chất bẩn hòa tan với các chất rắn (hấp phụ hóa học)
3.3.2.5 Trích ly
Trích ly là phương pháp tách các chất bẩn hòa tan ra khỏi nước thải bằng dung môinào đó nhưng với điều kiện dung môi đó không tan trong nước và độ hòa tan chất bẩn
Trang 25trong dung môi cao hơn trong nước.
Ngoài ra còn có các phương pháp khác như:
- Chưng bay hơi là chưng nước thải để các chất hòa tan trong đó cùng bay lên theo
hơi nước
- Trao đổi ion là phương pháp thu hồi các cation và anion bằng các chất trao đổi
ion (ionit) các chất trao đổi ion là các chất rắn trong thiên nhiên hoặc vật liệu nhựanhân tạo.Chúng không hòa tan trong nước và trong dung môi hữu cơ,có khả năng traođổi ion.Phương pháp trao đổi ion cho phép thu được những chất quí trong nước thải vàcho hiệu suất xử lý khá cao
- Tinh thể hóa là phương pháp loại bỏ các chất bẩn khỏi nước ở trạng thái tinh thể.
Ngoài các phương pháp hóa lý kể trên,để xử lý – khử các chất bẩn trong nước thảingười ta còn dùng các phương pháp như:khử phóng xạ,khử khí,khử mùi,khử muốitrong nước thải
3.3.2.6 Khử trùng
Nước sau khi xử lý bằng phương pháp sinh học còn có thể chứa khoảng 105-106 vikhuẩn trong 1ml nước.Hầu hết các loại vi khuẩn có trong nước thải không phải là vitrùng gây bệnh,nhưng không loại trừ khả năng tồn tại của chúng.Nếu xả nước thải ranguồn cấp nước, hồ nuôi cá thì khả năng lan truyền bệnh sẽ rất lớn.Do vậy,cần phải cóbiện pháp khử trùng nước thải trước khi thải ra nguồn tiếp nhận.Các phương pháp khửtrùng nước thải phổ biến hiện nay là:
- Dùng clo hơi qua thiết bị định lượng clo
- Dùng hypoclorit canxi dạng bột (Ca(ClO)2) hòa tan trong thùng dung dịch 3-5%rồi định lượng vào bể khử trùng
- Dùng hypoclorit natri;nước javen (NaClO)
Trang 26- Dùng ozon được sản xuất từ không khí do máy tạo ozon tạo ra.Phương pháp nàythì cần chi phí khá cao.
- Dùng tia UV do đèn thủy ngân áp lực thấp sinh ra.Phương pháp này cũng cầnphải lưu ý về tính kinh tế của nó
Trong các phương pháp trên thì phương pháp dùng Clo hơi và các hợp chất củaClo là được sử dụng phổ biến vì chúng được ngành công nghiệp dùng nhiều,có sẵn vớigiá thành chấp nhận được và hiệu quả khử trùng cao nhưng cần phải có thêm các côngtrình đơn vị như trạm cloratơ (khi dùng clo hơi),trạm clorua vôi (khi dùng cloruavôi),bể trộn,bể tiếp xúc.Tuy nhiên,những năm gần đây các nhà khoa học đã đưa rakhuyến cáo nên hạn chế dùng clo để khử trùng nước thải với lý do sau:
- Lượng clo dư khoảng 0,5 mg/l trong nước thải để đảm bảo an toàn và ổn định choquá trình khử trùng sẽ gây hại đến cá và các vi sinh vật nước khác
- Clo kết hợp với hydro cacbon thành các chất có hại cho môi trường sống
Ngoài các phương pháp hóa lý nêu trên còn có các phương pháp khác như:hấpphụ,trích ly,bay hơi,trao đổi ion,tinh thể hóa,cô đặc,khử hoạt tính phóng xạ,khử màu,…Với mỗi phương pháp đều có lợi điểm và nhược điểm.Do đó,tùy theo mức độ xử lýnước thải và mức độ yêu cầu xử lý của từng ngành công nghiệp cụ thể mà ta có thể lựachọn những phương pháp thích hợp
3.3.3.Phương pháp sinh học
Phương pháp sinh học được ứng dụng để xử lý các chất hữu cơ hòa tan có trongnước thải cũng như một số chất vô cơ như:H2S,sulfide,ammonia, …dựa trên cơ sở hoạtđộng của vi sinh vật.Vi sinh vật sử dụng chất hữu cơ và một số khoáng chất làm thức
ăn để sinh trưởng và phát triển.Một cách tổng quát,phương pháp xử lý sinh học có thểphân thành 2 loại :
- Phương pháp kỵ khí:sử dụng nhóm vi sinh vật kỵ khí, hoạt động trong điều kiện
Trang 27+ Bể xử lý bằng lớp bùn kỵ khí với dòng nước đi từ dưới lên (UASB)
Đây là một trong những quá trình kỵ khí ứng dụng rộng rãi nhất trên thế do hai đặcđiểm chính sau :
- Cả ba quá trình phân hủy-lắng bùn-tách khí được lắp đặt trong cùng một côngtrình
- Tạo thành các loại bùn hạt có mật độ vi sinh vật rất cao và tốc độ lắng vượt xa sovới bùn hoạt tính hiếu khí dạng lơ lửng
Bên cạnh đó,quá trình xử lý sinh học kỵ khí UASB còn có những ưu điểm so vớiquá trình bùn hoạt tính hiếu khí như:
- Ít tiêu tốn năng lượng vận hành
- Ít bùn dư nên giảm chi phí xử lý bùn
- Bùn sinh ra dễ tách nước
- Nhu cầu dinh dưỡng thấp nên giảm chi phí bổ sung dinh dưỡng
- Có khả năng thu hồi năng lượng từ khí Methane
Trang 28+ Bể lọc kỵ khí
Bể lọc kỵ khí là một bể chứa vật liệu tiếp xúc để xử lý chất hữu cơ chứa carbontrong nước thải.Nước thải được dẫn vào bể từ dưới lên hoặc từ trên xuống,tiếp xúc vớilớp vật liệu trên đó có vi sinh vật kỵ khí sinh trưởng và phát triển.Vì vi sinh vật đượcgiữ trên bề mặt vật liệu tiếp xúc và không bị rửa trôi theo nước sau xử lý nên thời gianlưu của tế bào sinh vật rất cao (khoảng 100 ngày)
+ Quá trình xử lý hiếu khí với vi sinh vật sinh trưởng dạng lơ lửng
Trong quá trình bùn hoạt tính,các chất hữu cơ hòa tan và không hòa tan chuyển hóathành bông bùn sinh học – quần thể vi sinh vật hiếu khí – có khả năng lắng dưới tácdụng của trọng lực.Nước chảy liên tục vào bể aeroten,trong đó khí được đưa vào cùngxáo trộn với bùn hoạt tính cung cấp ôxy cho vi sinh vật phân hủy chất hữu cơ.Dướiđiều kiện như thế,vi sinh vật sinh trưởng tăng sinh khối và kết thành bông bùn.Hỗn hợpbùn và nước thải chảy đến bể lắng đợt 2 và tại đây bùn hoạt tính lắng xuống đáy.Mộtlượng lớn bùn hoạt tính (25 – 75% lưu lượng) tuần hoàn về bể aeroten để giữ ổn địnhmật độ vi khuẩn,tạo điều kiện phân hủy nhanh chất hữu cơ.Lượng sinh khối dư mỗingày cùng với lượng bùn tươi từ bể lắng 1 được dẫn tiếp tục đến công trình xử lý bùn.Một số dạng bể ứng dụng quá trình bùn hoạt tính lơ lửng như:Bể aeroten thôngthường,bể aeroten xáo trộn hoàn chỉnh, mương ôxy hóa, bể hoạt động gián đoạn
+ Quá trình xử lý hiếu khí với vi sinh vật sinh trưởng dạng dính bám
- Bể lọc sinh học
Bể lọc sinh học chứa đầy vật liệu tiếp xúc,là giá thể cho vi sinh vật sống bám.Vậtliệu tiếp xúc thường là đá có đường kính trung bình 25 – 100 mm,hoặc vật liệu nhựa cóhình dạng khác nhau, …có chiều cao từ 4 – 12 m.Nước thải được phân bố đều trên mặtlớp vật liệu bằng hệ thống quay hoặc vòi phun.Quần thể vi sinh vật sống bám trên giáthể tạo nên màng nhầy sinh học có khả năng hấp phụ và phân hủy chất hữu cơ chứa
Trang 29trong nước thải.Quần thể vi sinh vật này có thể bao gồm vi khuẩn hiếu khí, kỵ khí vàtùy tiện, nấm,tảo,và các động vật nguyên sinh, …rong đó vi khuẩn tùy tiện chiếm ưuthế.
Phần bên ngoài lớp màng nhầy (khoảng 0,1 – 0,2 mm) là loại vi sinh hiếu khí.Khi
vi sinh phát triển,chiều dày lớp màng ngày càng tăng, vi sinh lớp ngoài tiêu thụ hếtlượng ôxy khuếch tán trước khi ôxy thấm vào bên trong.Vì vậy,gần sát bề mặt giá thểmôi trường kỵ khí hình thành.Khi lớp màng dày,chất hữu cơ bị phân hủy hoàn toàn ởlớp ngoài,vi sinh sống gần bề mặt giá thể thiếu nguồn cơ chất, chất dinh dưỡng dẫn đếntình trạng phân hủy nội bào và mất đi khả năng bám dính.Nước thải sau xử lý được thuqua hệ thống thu nước đặt bên dưới.Sau khi ra khỏi bể,nước thải vào bể lắng đợt hai đểloại bỏ màng vi sinh tách khỏi giá thể.Nước sau xử lý có thể tuần hoàn để pha loãngnước thải đầu vào bể lọc sinh học,đồng thời duy trì độ ẩm cho màng nhầy
- Bể lọc sinh học tiếp xúc quay (RBC)
RBC bao gồm các đĩa tròn polystyren hoặc polyvinyl chloride đặt gần sát nhau.Đĩa nhúng chìm một phần trong nước thải và quay ở tốc độ chậm.Tương tự như bể lọcsinh học,màng vi sinh hình thành và bám trên bề mặt đĩa.Khi đĩa quay,mang sinh khốitrên đĩa tiếp xúc với chất hữu cơ trong nước thải và sau đó tiếp xúc với ôxy.Đĩa quaytạo điều kiện chuyển hóa ôxy và luôn giữ sinh khối trong điều kiện hiếu khí.Đồngthời,khi đĩa quay tạo nên lực cắt loại bỏ các màng vi sinh không còn khả năng bámdính và giữ chúng ở dạng lơ lửng để đưa sang bể lắng đợt hai
3.3.3.2 Phương pháp sinh học tự nhiên
Cơ sở của phương pháp này là dựa vào khả năng tự làm sạch của đất và nguồnnước Việc xử lý nước thải được thực hiện trên các công trình:
- Cánh đồng tưới
Dẫn nước thải theo hệ thống mương đất trên cánh đồng tưới,dùng bơm và ống
Trang 30phân phối phun nước thải lên mặt đất.Một phần nước bốc hơi,phần còn lại thấm vàođất để tạo độ ẩm và cung cấp một phần chất dinh dưỡng cho cây cỏ sinhtrưởng.Phương pháp này chỉ được dùng hạn chế ở những nơi có khối lượng nước thảinhỏ,vùng đất khô cằn xa khu dân cư,độ bốc hơi cao và đất luôn thiếu độ ẩm.
Ở cánh đồng tưới không được trồng rau xanh và cây thực phẩm vì vi khuẩn,virútgây bệnh và kim loại nặng trong nước thải chưa được loại bỏ sẽ gây tác hại cho sứckhỏe của người sử dụng các loại rau và cây thực phẩm này
- Xả nước thải vào ao, hồ, sông suối
Nước thải được xả vào những nơi vận chuyển và chứa nước có sẵn trong tự nhiên
để pha loãng chúng và tận dụng khả năng tự làm sạch của các nguồn nước tự nhiên.Khi lưu lượng và tổng hàm lượng chất bẩn trong nước thải nhỏ so với lượng nướccủa nguồn tiếp nhận,ôxy hòa tan có trong nước đủ để cấp cho quá trình làm sạch hiếukhí các chất hữu cơ
- Hồ sinh học hiếu khí
Có diện tích rộng,chiều sâu cạn.Chất hữu cơ trong nước thải được xử lý chủ yếunhờ sự cộng sinh giữa tảo và vi khuẩn sống ở dạng lơ lửng.Ôxy cung cấp cho vi khuẩnnhờ sự khuếch tán qua bề mặt và quang hợp của tảo.Chất dinh dưỡng và CO2 sinh ratrong quá trình phân hủy chất hữu cơ được tảo sử dụng.Hồ hiếu khí có hai dạng: (1) cómục đích là tối ưu sản lượng tảo, hồ này có chiều sâu cạn 0,15 – 0,45m; (2) tối ưulượng ôxy cung cấp cho vi khuẩn, chiều sâu hồ này khoảng 1,5m.Để đạt hiệu quả tốt cóthể cung cấp ôxy bằng cách thổi khí nhân tạo
- Hồ sinh học tùy tiện
Trong hồ tùy tiện tồn tại 03 khu vực:(1) khu vực bề mặt, nơi đó chủ yếu vi khuẩn
và tảo sống cộng sinh;(2) khu vực đáy,tích lũy cặn lắng và cặn này bị phân hủy nhờ vikhuẩn kỵ khí;(3) khu vực trung gian,chất hữu cơ trong nước thải chịu sự phân hủy của
Trang 31vi khuẩn tùy tiện.Có thể sử dụng máy khuấy để tạo điều kiện hiếu khí trên bề mặt khitải trọng cao.Tải trọng thích hợp dao động trong khoảng 70 – 140 kg BOD5/ha ngày.
- Hồ sinh học kỵ khí
Thường được áp dụng cho xử lý nước thải có nồng độ chất hữu cơ cao và cặn lơlửng lớn,đồng thời có thể kết hợp phân hủy bùn lắng.Hồ này có chiều sâu lớn,có thểsâu đến 9 m.Tải trọng thiết kế khoảng 220 – 560 kg BOD5/ha ngày
3.3.3.3 Xử lý cặn
+ Bể tự hoại
Bể tự hoại là công trình đồng thời làm hai chức năng: lắng và phân hủy cặn lắng.Cặn lắng giữ lại ở trong bể từ 3 – 6 tháng,dưới tác động của các vi sinh vật kỵ khí cácchất hữu cơ được phân hủy, một phần tạo thành các chất khí,phần khác tạo thành cáchợp chất vô cơ.Nước thải lắng trong bể tự hoại với thời gian 1 – 3 ngày,nên đạt đượchiệu quả lắng cao.Song bể tự hoại cũng có nhiều nhược điểm.Kích thước bể lớn so vớikhối lượng nước thải.Ngòai ra các chất khí được tạo thành trong quá trình phân hủybốc lên mang theo các hạt cặn đã lắng.Những hạt cặn này một phần sẽ tạo thành màngdày 0.3 – 0.4m (có khi tới 1m) trên mặt nước ở trong bể,gây khó khăn cho quảnlý,phần khác khi giải phóng khỏi các chất khí nó lại rơi xuống.Quá trình lên xuống củacác hạt cặn đó làm giảm một phần hiệu suất xử lý.Thường nước thải ra khỏi bể tự hoại
có bão hòa chất khí H2S (hyđro sulfuria) và có phản ứng acid.Việc tiếp tục xử lý nướcthải này trở nên khó khăn.Chính vì những nhược điểm như vậy mà hiện nay bể tự hoại
ít được sử dụng.Nó thường chỉ áp dụng để làm sạch nước thải cho các ngôi nhà đứngriêng lẻ hoặc một nhóm nhà khi lưu lượng Q < 25 m3/ngày đêm.Song bể tự hoại vẫncòn sử dụng nhiều ở nước ta.Qua quản lý,nghiên cứu nhằm giải quyết những vấn đề cảitạo hệ thống thoát nước hiện nay ở Hà Nội và các thành phố khác sẽ thay đổi dần dầncấu tạo và cách sử dụng nhằm khắc phục những nhược điểm kể trên
Trang 323.4 Một số quy trình công nghệ xử lý nước thải bệnh viện
3.4.1 Hệ thống xử lý nước thải Trung Tâm Y Tế Quận 2 - Tp.HCM
Hệ thống xử lý nước thải Trung Tâm Y Tế Quận 2 được thiết kế với công suất 60
m3/ngày đêm.Tiêu chuẩn nước thải sau xử lý đạt TCVN 5945-1995 loại A.Tính chấtcủa nước thải đầu vào được nêu trong bảng sau:
Bảng 3.1 - Hàm lượng và tải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải của
Trung Tâm Y Tế Quận 2
STT Chất ô nhiễm Hàm lượng (mg/l) TCVN 5945-1995 Loại A
Trang 33Trong đó:
1: Thiết bị lược rác 6: Bồn lọc áp lực
2: Hố gom 7: Bể khử trùng
3: Bể điều hòa 8: Hố chứa bùn
4: Bể sinh học hiếu khí 9: Sân phơi bùn
5: Bể lắng đứng đợt hai 10: Máy thổi khí
Nước sau xử lý đạt tiêu chuẩn TCVN 5945-1995 loại A.Công trình xử lý này
được xây dựng trước năm 2000.(Nguồn: Trung Tâm Y Tế Quận 2 – Tp.HCM
3.4.2 Hệ thống xử lý nước thải Bệnh Viện Đa Khoa Tư Nhân An Sương
Bệnh viện Đa khoa tư nhân An Sương được thiết kế với công suất 80 m3/ngàyđêm Tiêu chuẩn xả thải là TCVN 5945-1995 loại B.Với tính chất nước thải đầuvào là:
Bảng 3.2 - Hàm lượng các chất ô nhiễm trong nước thải Bệnh Viện Đa Khoa
Tư Nhân An Sương
STT Chất gây ô nhiễm Hàm lượng(mg/l) TCVN 5945 – 1995
(Loại B)
Trang 347 8
NTBV
Mang đi chôn lấp
Trang 354: Bể sinh học dính bám 2 8: Máy thổi khí
Nước thải sau xử lý đạt tiêu chuẩn TCVN 5945-1995 loại B cho phép thải ra
cống thoát nước thải thành phố.Công trình XLNT này được xây dựng trước năm
2000 (Nguồn: Bệnh viện Đa khoa tư nhân An Sương)
CHƯƠNG 4 :LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ XỬ LÝ
4.1 Địa điểm xây dựng trạm xử lý
Bệnh viện huyện Krôngpăc
Địa chỉ : 148 Lê Duẩn – Thị trấn Phước An – Huyện Krôngpăc – Tỉnh Đăclăk
4.2 Đặc tính của nước thải:
4.2.1.Công suất trạm xử lý
Bệnh viện có tổng cộng 105 giường bệnh và trên 50 bác sỹ,y tá.Lấy tiêu chuẩn thảinước cho mỗi giường bệnh là 700 m3/ngày.đêm
Vậy lượng nước thải của cả bệnh viện là:
105 giường 0,7 m3/giường.ngày.đêm= 73,5 m3/ngày.đêm
Nhưng hiện bệnh viện đang có kế hoạch mở rộng,nâng cấp thêm giường bệnh nên
ta chọn công suất tính toán,thiết kế là 100 m3/ngày.đêm
Trang 36Vậy: Công suất thiết kế cho trạm xử lý nước thải bệnh viện huyện Krôngpăc – tỉnh
Daclak là 100 m3/ngày.đêm
4.2.2.Thành phần và tính chất của nước thải
Nước thải đầu vào có nồng độ các chất ô nhiễm được thể hiện qua các thong số cơbản sau:
Bảng 4.1 - Thành phần và tính chất nước thải bệnh viện huyện Krôngpăc
(Nguồn:Bệnh viện huyện Krôngpăc)
4.3 Tiêu chuẩn thải sau khi xử lý
Nước sau khi xử lý đạt tiêu chuẩn thải theo TCVN 7382:2004,mức II
Bảng 4.2 - Gía trị giới hạn các thông số và nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải bệnh viện theo TCVN 7382:2004
I
TCVN Mức II
Trang 37STT Thông số Đơn vị TCVN Mức
I
TCVN Mức II
Bệnh viện nằm trên diện tích lớn,xung quanh có trồng cây xanh,bố trí đất cho trạm
xử lý nước thải có thể làm bằng bê tong cốt thép.Kết cấu đất trong khu vực bền vữngnên có thể thiết kế hệ thống âm dưới đất,nổi hoặc nửa âm nửa nổi
Bệnh viện có nhân viên bảo trì điện,am hiểu về điện công nghiệp có thể nắm bắtđược nguyên lý và vận hành hệ thống tốt nên có thể thiết kế hệ thống hoạt động dựatrên nguyên tắc tự động
Tuy nhiên,việc đầu tư kinh phí để xây dựng và lắp đặt trạm xử lý nước thải còn hạnchế,cần phải xem xét kinh phí đầu tư.Lựa chọn phương pháp xử lý có suất đầu tư hợplý
Niên hạn của trạm xử lý cũng là yếu tố quan trọng hang đầu.Chọn phương án cóniên hạn sử dụng thiết bị từ 15-20 năm
Các thiết bị: bơm,máy thổi khí …có tuổi thọ cao,chi phí bảo hành,bảo trì thấp
4.5.Công nghệ xử lý được đề xuất
4.5.1.Cơ sở đề xuất công nghệ xử lý
Dựa vào các yếu tố cơ bản sau:
Trang 38- Công suất của trạm xử lý;
- Tiêu chuẩn xả nước thải vào nguồn tiếp nhận;
- Điều kiện mặt bằng và đặc điểm địa chất thủy văn của khu vực;
- Dựa vào các công trình thực tế đã có đối với các nguồn nướcthải có tính chất tương tự
4.5.2 Các phương án xử lý nước thải bệnh viện
Từ những yếu tố cơ bản trên có thể đề xuất 2 phương án để xử lý nước thải bệnh viện,và so sánh chọn một phương án thích hợp và có hiệu quả kinh tế-kỹ thuật để tính toán chi tiết các công trình đơn vị trong phương án xử lý đó
Trang 39Phương án 1
Nước thải bệnh viện
Bùntuần hoàn
Sân phơi bùn
Nguồn tiếp nhận
Bể lắng 1
Sân phơi bùn
Trang 40Hình 4.1 – Sơ đồ dây chuyền công nghệ phương án 1
+ Thuyết minh sơ đồ công nghệ phương án 1
Nước thải từ các khoa của bệnh viện theo mạng lưới thoát nước riêng,nước chảy qua mương dẫn có đặt song chắn rác,ở đây nước thải sẽ được loại bỏ các chất hữu cơ hoặc những chất có kích thước lớn như bao ni lông,ống chích,bông băng,vải vụn,…nhằm tránh gây tắc nghẽn các công trình phía sau.Sau đó nước thải được dẫn vào bể điều hòa để ổn định lưu lượng và nồng độ,tránh hiện tượng quá tải vào các giờ cao điểm,do đó giúp hệ thống xử lý làm việc ổn định và giảm kích thước các công trình đơn vị tiếp sau.Trong bể điều hòa có bố trí hệ thống thổi khí nhằm xáo trộn hoàn toàn nước thải không cho cặn lắng trong bể đồng thời cung cấp O2 để giảm một phần BOD.Sau đó nước thải chảy vào bể lắng 1 nhằm lắng cặn lơ lửng và một phần
BOD.Sau đó nước thải sẽ được đưa vào bể Aerotank thực hiện quá trình phân hủy hiếu khí các chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học ở dạng hòa tan và dạng lơ
lửng.Trong bể Aerotank được cấp khí và khuấy trộn nhằm tăng hàm lượng oxy hòa tan
và quá trình oxy hóa các chất hữu cơ trong nước thải.Sau đó nước thải chảy vào bể lắng 2 để lắng cặn sinh học và bùn hoạt tính.Từ bể lắng 2 nước chảy sang bể khử trùng
để loại các vi sinh vật gây bệnh trước khi thải vào nguồn tiếp nhận
Bùn hoạt tính từ bể lắng 2 một phần tuần hoàn lại vào bể Aerotank,phần còn lại được dẫn vào bể nén bùn.Tại bể nén bùn,bùn được tách nước để làm giảm độ ẩm của bùn, phần nước tách từ bùn sẽ được tuần hoàn vào bể điều hòa.Phần bùn từ bể nén bùn
sẽ được vận chuyển ra sân phơi bùn để khử hoàn toàn nước và bùn này có thể sử dụng
để làm phân bón
+ Ưu điểm của phương án 1