ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP KHẢO SÁT TỈ LỆ MẠT CƯA VÀ LỤC BÌNH LÀM CƠ CHẤT TRỒNG NẤM BÀO NGƯ XÁM Ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC Chuyên Ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC Giảng viên hướng dẫn : GVC.Th.S Nguyễ
Trang 1ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT TỈ LỆ MẠT CƯA VÀ LỤC BÌNH LÀM CƠ CHẤT
TRỒNG NẤM BÀO NGƯ XÁM
Ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Chuyên Ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Giảng viên hướng dẫn : GVC.Th.S Nguyễn Thị Sáu Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thuý Liễu MSSV: 107111084 Lớp: 07DSH01
TP Hồ Chí Minh, năm 2011
Trang 2PHIẾU GIAO ĐỀ TÀI ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
1 Họ và tên sinh viên
Nguyễn Thị Thuý Liễu MSSV: 107111084 Lớp: 07DSH01 Ngành : Công Nghệ Sinh Học
4 Các yêu cầu chủ yếu :
- Tổng quan tài liệu, thông tin cơ bản
- Nắm được kỹ thuật quy trình cơ bản trồng nấm bào ngư xám
- Xử lý số liệu bằng phần mềm máy tính
- Biết cách thảo luận kết quả từ các số liệu, dữ liệu thu thập được
- Cách viết bài báo cáo hoản chỉnh
5 Kết quả tối thiểu phải có:
1) Xác định được nghiệm thức tối ưu nhất trong thí nghiệm
2) Xây dựng quy trình trồng nấm bào ngư xám trên hỗn hợp mạt cưa cao su và lục bình với nghiệm thức tốt nhất
3) Viết được bài báo cáo hoàn chỉnh
Ngày giao đề tài: 01/04/2011 Ngày nộp báo cáo: 12/07/2011
Trang 3GIẤY CAM ĐOAN
Tôi tên là Nguyễn Thị Thuý Liễu, sinh viên trường Đại Học Kỹ Thuật Công Nghệ Tp Hồ Chí Minh, Khoa Môi Trường Và Công Nghệ Sinh Học, lớp 07DSH01
Tôi xin cam đoan tất cả các số liệu trích dẫn trong bài làm của tôi là trung thực được lấy từ quá trình nghiên cứu thực tế tại trại Nấm Bảy Yết (xã Tân Thới Nhì, Huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh) Tự tôi đã thực hiện tất cả các nội dụng trong đồ án của mình, không sao chép bất cứ đồ án dưới bất kỳ hình thức nào
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước ban chủ nhiệm khoa Môi trường Và Công nghệ Sinh học, trước ban giám hiệu trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ Tp.Hồ Chí Minh về lời cam đoan của mình
Tp.Hồ Chí Minh, 30/6/2011
Người viết
Nguyễn Thị Thuý Liễu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn được sự
hỗ trợ rất lớn từ nhiều người Xin tỏ lòng biết ơn đến :
Ban chủ nhiệm khoa Môi Trường và Công Nghệ Sinh Học, các Thầy
Cô trong bộ môn Công Nghệ Sinh Học, trường Đại học Kỹ Thuật Công Nghệ TP.HCM đã trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản, và chuyên ngành làm nền móng để tôi thực hiện đề tài và làm tốt công việc sau này
GVC.Th.S Nguyễn Thị Sáu, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, góp
ý cho tôi hoàn thành đồ án
Ông Phan Văn Yết, chủ trại nấm Bảy Yết, cùng với các Cô Chú ở trại nấm đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành tốt nhất đồ án
Ba Mẹ đã động viên, tạo mọi điều kiện tốt nhất để con học tập trong thời gian qua
Các bạn trong tập thể lớp 07DSH01, nhóm làm đề tài, các bạn làm cùng ở trại nấm Bảy Yết đã giúp đỡ, ủng hộ, khuyến khích trong thời gian qua
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến những sự giúp đỡ đó
Tp.HCM, tháng 6 năm 2011
Nguyễn Thị Thuý Liễu
Trang 5SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu i
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH iv
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Các kết quả đạt được 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 4
1.1 Giới thiệu về nấm bào ngư xám 4
1.1.1 Phân loại sinh học của nấm bào ngư xám 4
1.1.2 Đặc điểm hình thái 4
1.1.3 Đặc điểm sinh thái 6
1.1.4 Giá trị dinh dưỡng 9
1.1.5 Giá trị kinh tế 12
1.1.6 Tình hình nuôi trồng nấm bào ngư xám 12
1.2 Mạt cưa cao su- nguồn cơ chất tốt để trồng nấm 13
1.2.1 Thành phần dinh dưỡng trong mạt cưa 13
1.2.2 Kỹ thuật trồng nấm bào ngư trên mạt cưa cao su 14
1.3 Lục bình 23
1.3.1 Mô tả 23
1.3.2 Giá trị kinh tế của lục bình 24
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM 28
2.1 Vật liệu 28
2.2 Phương pháp 28
2.2.1 Chuẩn bị giống 28
Trang 6SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu ii
2.2.2 Chuẩn bị cơ chất 29
2.2.3 Hấp khử trùng 31
2.2.4 Cấy meo 32
2.2.4 Nuôi ủ bịch phôi 32
2.2.5 Đưa ra nhà trồng 33
2.2.6 Tính hiệu suất sinh học 33
2.3 Cách bố trí các nghiệm thức 34
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Thời gian ăn tơ đầy bịch 35
3.1.1 Tốc độ lan tơ của NT1 35
3.1.2 Tốc độ lan tơ ở NT2 37
3.1.3. Tốc độ lan tơ NT3 39
3.1.4 Tốc độ lan tơ NT4 40
3.1.5 So sánh tốc độ lan tơ của 4 nghiệm thức 42
3.2 Thời gian ra quả thể 43
3.3 Hiệu suất sinh học 46
3.3.1 Đối với NT1 46
3.3.2 Đối với NT2 46
3.3.3 Đối với NT3 47
3.3.4 Đối với NT4 47
3.4 Hiệu quả kinh tế 48
3.4.1 Nuôi trồng nấm bào ngư xám trên 100% mạt cưa cao su 49
3.4.2 Nuôi trồng nấm bào ngư xám trên 30% lục bình + 70% mạt cưa cao su 50
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52
1 Kết luận 52
2 Đề nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
PHỤ LỤC BẢNG XỬ LÝ SỐ LIỆU BẰNG PHẦN MỀM 55
Trang 7SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu iii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 1 Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng của nấm bào ngư xám 7
Bảng 1 2 Tỷ lệ % chất khô của 1 số loại nấm 10
Bảng 1 3 Giá trị dinh dưỡng của nấm bào ngư 10
Bảng 1 4 Hàm lượng vitamin và chất khoáng của 1 số loài nấm 10
Bảng 1 5 Hàm lượng các loại vitamin có trong nấm bào ngư xám 11
Bảng 1 6 Thành phần dinh dưỡng của mạt cưa cao su 14
Bảng 1 7 Ảnh hưởng cơ chất khác nhau lên thành phần dinh dưỡng của nấm bào ngư 25
Bảng 3 1 Tốc độ lan tơ NT1 35
Bảng 3 2 Tốc độ lan tơ NT2 37
Bảng 3 3 Tốc độ lan tơ NT3 39
Bảng 3 4 Tốc độ lan tơ của NT4 40
Bảng 3 5 Thời gian lan tơ đầy bịch cơ chất 42
Bảng 3 6 Thời gian ra quả thể 43
Bảng 3 7 Hiệu suất sinh học của NT1 46
Bảng 3 8 Hiệu suất sinh học ở NT2 46
Bảng 3 9 Hiệu suất sinh học NT3 47
Bảng 3 10 Hiệu suất sinh học NT4 47
Bảng 3 11 Hiệu suất sinh học 48
Bảng 3 12 Tổng thời gian của 1 quy trình nuôi trồng của từng nghiệm thức 48
Bảng 3 13 Chi phí đầu tư cho NT1 49
Bảng 3 14 Chi phí đầu tư cho NT2 50
Trang 8SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu iv
DANH MỤC HÌNH
Hình 1 1 Nấm bào ngư xám P.sajor-caju 4
Hình 1 2 Chu kỳ sinh trưởng của nấm bào ngư 5
Hình 1 3 Các giai đoạn phát triển của nấm bào ngư 5
Hình 1 4 Máy sàn mạt cưa 15
Hình 1 5 Hai loại ống cổ 16
Hình 1 6 Lò hấp 17
Hình 1 7 Meo hạt 18
Hình 1 8 Meo cọng 18
Hình 1 9 Các giai đoạn ăn tơ của nấm bào ngư xám 20
Hình 1 10 Quy trình sản xuất nấm bào ngư trên mạt cưa cao su 22
Hình 1 11 Cây lục bình 23
Hình 2 1 Cân 28
Hình 2 2 Lục bình trước và sau khi phơi 28
Hình 2 3 Meo giống 29
Hình 2 4 Lục bình sau khi ngâm nước vôi 30
Hình 2 5 Tỉ lệ phối trộn theo NT2 30
Hình 2 6 Tỉ lệ phới trộn theo NT3 31
Hình 2 7 Trước khi đưa bịch phôi hấp 31
Hình 2 8 Cấy meo 32
Hình 2 9 Nhà ủ 32
Hình 2 10 Tơ ăn trắng bịch đem ra nhà trồng 33
Hình 3 1 Biểu đồ tốc độ lan tơ NT1 35
Hình 3 2 Tơ ăn được khoảng 3 tuần 36
Hình 3 3 Tơ ăn đầy bịch phôi 37
Hình 3 4 Biểu đồ tốc độ lan tơ NT2 38
Hình 3 5 Tơ ở NT2 38
Hình 3 6 Biểu đồ tốc độ lan tơ NT3 39
Hình 3 7 Tơ ở NT3 40
Trang 9SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu v
Hình 3 8 Biểu đồ tốc độ lan tơ NT4 41
Hình 3 9 Bịch phôi NT4 42
Hình 3 10 Quả thể ra lần đầu tiên 44
Hình 3 11 Màu bịch phôi vào lần thu hái lần 2 45
Hình 3 12 Màu bịch phôi thi thu hái lần lần 3 45
Trang 10SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 1
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành sản xuất nấm ăn đã hình thành và phát triển trên thế giới từ hàng trăm năm nay Hiện nay, có rất nhiều loại nấm được biết đến và được trồng nhân tạo Trồng nấm không chỉ đem lại giá trị kinh tế, giá trị dinh dưỡng, dược liệu mà còn giải quyết vần đề ô nhiễm môi trường do các loại phế thải trong nông – lâm nghiệp
Thực tế là nước ta có nguồn nguyên liệu trồng nấm rất sẵn như: rơm rạ, mạt cưa, thân cây gỗ, thân lõi ngô, bông phế loại của các nhà máy dệt, bã mía của các nhà máy đường, lục bình trên các sông suối,… rất thuận lợi cho việc nuôi trồng nấm ăn Mặt khác, thị trường tiêu thụ của nấm ngày càng mở rộng, người dân biết đến các giá trị của nấm nhiều hơn, do đó nhu cầu sản xuất và tiêu thụ ngày càng tăng
Việt Nam phấn đấu đạt mục tiêu đến năm 2020, có thể sản xuất được 1 triệu tấn nấm Với sự đầu tư và tạo điều kiện của các nhà khoa học, doanh nghiệp, ngành nuôi trồng nấm ngày càng có điều kiện phát triển [Phương Liên, 2010]
Trong các loại nấm được nhiều nuôi trồng nhiều nhất ở nước ta có nấm bào ngư, là 1 loại có giá trị dinh dưỡng, năng suất và hiệu quả kinh tế cao Nấm bào ngư thích hợp với nhiều loại cơ chất là nguồn phế thải trong sản xuất nông - công – lâm nghiệp Đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng, kinh tế và giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường
Trong các loại cơ chất trồng nấm bào ngư, mạt cưa cao su là trong nguồn cơ chất thông dụng phổ biến, đặc biệt là ở niềm Nam nước ta Với nhiều đặc tính tốt như dễ phối trộn, đầy đủ dinh dưỡng, tiện lợi khi đóng bịch nên ngày càng được sử dụng nhiều Nhưng hiện nay nguồn mạt cưa ngày càng khan hiếm do cây cao su ngày càng có giá, diện tích thanh lý ngày càng ít, làm cho giá của mạt cưa ngày càng cao, đẩy giá thành sản xuất lên cao
Trong khi đó, lục bình là cây ngoại lai với tốc độ phát triển cực nhanh, gây hại cho môi trường thuỷ sinh và hệ sinh thái Lục bình vừa là nguồn cung cấp đạm đồng thời cũng là nguồn cung cấp cellulose, rất thích hợp để trồng nấm
Trang 11SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 2
Thử nghiệm kết hợp 2 cơ chất là mạt cưa và lục bình để trồng nấm bào ngư nhằm nâng cao hiệu quả nâng suất và giá trị kinh tế, bên cạnh đó còn giải quyết vấn
đề ô nhiễm môi trường của mạt cưa và lục bình là lí do tôi chọn đề tài : “Khảo sát tỉ
lệ mạt cưa và lục bình làm cơ chất trồng nấm bào ngư xám”
Trồng nấm bào ngư trên hỗn hợp rơm và lục bình cũng được nghiên cứu và thử nghiệm ngoài thực tế như sự nghiên cứu của M.Nageswaran và Lê Duy Thắng
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài khảo sát tỉ lệ mạt cưa và lục bình làm cơ chất trồng nấm bào ngư xám, nhằm tận dụng nguồn mạt cưa thải và lục bình trên các sông suối để nuôi trồng nấm bào ngư xám, đồng thời tìm ra 1 công thức tỉ lệ thích hợp khi kết hợp lục bình và mạt cưa cao su Từ đó, có thể giới thiệu mô hình trồng nấm bào ngư xám trên lục bình và mạt cưa cho người nông dân Qua đó, có thể góp phần giải quyết vấn đề xâm lấn của lục bình ở các kênh rạch, sông suối
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Ban đầu thử nghiệm trồng nấm bào ngư xám trên cơ chất mạt cưa cao su có
bổ sung lục bình với các tỉ lệ khác nhau
So sánh hiệu quả thu được từ việc trồng nấm theo 4 nghiệm thức thông qua các chỉ tiêu là tốc độ lan tơ, thời gian thu quả thể, hiệu suất sinh học, hiệu quả kinh
Trang 12SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 3
Từ đó, đưa ra 1 nghiệm thức tối ưu nhất trồng nấm bào ngư xám trên mùn cưa có phối trộn lục bình, có thể giới thiệu cho người nông dân ở vùng có lục bình
để tận dùng nguồn cellulose này
5 Phương pháp nghiên cứu
Bằng phương pháp thực nghiệm trên mô hình nhỏ nuôi trồng trực tiếp nấm
bào ngư xám trên 4 nghiệm thức khác nhau, so sánh đối chiếu số liệu thu được, sử dụng phần mềm stactaphic để xử lý số liệu
Sau 12 tuần thực hiện đề tài (từ 1/4 đến 30/6/201) tại trại nấm Bảy Yết (Hóc Môn – Thành phố Hồ Chí Minh), thử nghiệm quy trình nuôi trồng nấm bào ngư xám trên hỗn hợp mạt cưa cao su và lục bình Khảo sát các chỉ tiêu tốc độ lan tơ, thời gian thu quả thể, hiệu suất sinh học
6 Các kết quả đạt được
Sau 12 tuần thực nghiệm đề, xét về mặt thống kê với mức ý nghĩa α=0,05 nghiệm thức 1 và 2 có tốc độ ra tơ tương tự nhau, thời gian ra quả thể lần đầu thì nghiệm thức 1 khác với nghiệm thức còn lại, hiệu suất sinh học ở nghiệm thức 1 và
2 là tương tự nhau Nhận thấy tỉ lệ lục bình và mạt cưa cho hiệu suất cao đó là tỉ lệ 30% lục bình và 70% mạt cưa
Trang 13SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Giới thiệu về nấm bào ngư xám
1.1.1 Phân loại sinh học của nấm bào ngư xám
- Giới nấm : Mycota hay Fungi
ngư chủ yếu bắc đầu hơn 20 năm nay với nhiều chủng loại : P.florida, P.ostreatus, P.sajor-caju, P.cystidiosus… với những tên gọi thông thường như nấm bào ngư
trắng, nấm bào ngư xám, nấm bào ngư Nhật…
Nấm bào ngư có đặc điểm chung là tai nấm dạng phễu lệch, phiến mang bào
tử kéo dài xuống tận chân, cuống nấm gần gốc có lớp lông mịn Tai nấm bào ngư còn non có màu sắc sậm hoặc tối hơn nhưng khi trưởng thành màu trở nên sáng hơn
Chu trình sống của nấm bào ngư cũng giống các loài nấm đảm khác, bắt đầu
từ đảm bào tử hữu tính, nẩy mầm cho hệ sợi tơ dinh dưỡng (sơ và thứ cấp) Kết thúc bằng việc hình thành cơ quan sinh sản là tai nấm Tai nấm sinh ra các đảm bào tử và chu trình lại tiếp tục
Đảm bào tử hữu tính hệ tơ sơ cấp hệ tơ thứ cấp nụ nấm tai nấm
bào tử
Hình 1 1 Nấm bào ngư xám P.sajor-caju
Trang 14SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 5
Hình 1 2 Chu kỳ sinh trưởng của nấm bào ngư Quả thể nấm bào ngư phát triển qua nhiều giai đoạn dựa theo hình dạng tai nấm mà có tên gọi cho từng giai đoạn
a Nụ nấm b dùi trống c phễu d phễu lệch e lá lục bình
- Dạng san hô : quả thể mới tạo thành, dạng sợi mãnh hình chùm
Hình 1 3 Các giai đoạn phát triển của nấm bào ngư
Trang 15SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 6
- Dạng dùi trống : mũ xuất hiện dưới dạng khối tròn còn cuống phát triển cả
về chiều ngang và chiều dài nên đường kính cuống và mũ không khác nhau bao nhiêu
- Dạng phễu : mũ mở rộng trong khi cuống còn ở giữa
- Dạng bán cầu lệch : cuống lớn nhanh một bên và bắt đầu lệch so với vị trí trung tâm của mũ
- Dạng lá lục bình : cuống ngừng tăng trưởng trong khi mũ vẫn tiếp tục phát triển, bìa mép thẳng đến dợn sóng
Từ giai đoạn phễu sang phễu lệch sang bán cầu lệch có sự thay đổi về chất (giá trị dinh dưỡng tăng), còn từ giai đoạn phễu lệch sang dạng lá có sự nhảy vọt về khối lượng (trọng lượng tăng), sau đó giảm dần Vì vậy thu hái nấm bào ngư nên chọn lựa tai nấm vừa chuyển sang dạng lá.[Nguyễn Lân Dũng, 2009], [Lê Duy Thắng, 2006]
Nấm bào ngư xám P.sajor-caju có quả thể phẳng, lúc già mới cong lại, mũ
nấm có hình tròn, nữa tròn, hình thận, có đường kính 5-15 cm hay lớn hơn, màu trắng tro hoặc xám Thịt nấm dày vừa phải, màu trắng Cuống nấm màu trắng, trên
to dưới nhỏ, dài 3-10 cm, gốc cuống có lông nhung Lúc đầu nấm bào ngư xám được trồng chủ yếu ở Ấn Độ, sau nhập vào Việt Nam, Trung Quốc…[Nguyễn Lân Dũng, 2008]
1.1.3 Đặc điểm sinh thái
Nấm bào ngư thuộc loại phá gỗ, sống hoại sinh Phần lớn cơ chất chứa nguồn cellulose, đa số trường hợp đều chứa lượng cellulose thấp hơn 50%, còn lại là lignin, hemicellulose và khoáng [Lê Duy Thắng, 2006]
Nấm bào ngư tiêu thụ rất mạnh lignin, nhất là thời gian khởi đầu của việc tạo quả thể Tỷ lệ C/N là 20-30 và không quá 50 Đối với nguồn khoáng, chủ yếu các muối vô cơ thì tác dụng lên sự tăng trưởng không nhiều Ngoài ra sư tăng trưởng và phát triển của nấm phụ thuộc rất lớn vào yếu tố môi trường như: nhiệt độ, độ ẩm, pH… [Lê Duy Thắng, 2006]
Trang 16SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 7
1.1.3.1 pH
pH môi trường ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của nấm bào ngư và hầu hết các loại nấm ăn khác do pH ảnh hưởng đến hoạt tính enzyme, đến khả năng hòa tan của các hợp chất pH thích hợp cho hầu hết các loại nấm phá gỗ là 4,5 – 5,5 Nấm bào ngư có thể chịu được sự dao động của pH tương đối tốt, pH môi trường có thể giảm xuống 4,4 hoặc tăng lên 9, tơ nấm vẫn mọc được Tuy nhiên pH thích hợp đối với hầu hết các loài nấm bào ngư trong khoảng 5,0 – 6,0, pH thấp làm quả thể không hình thành và ngược lại pH quá kiềm tai nấm bị dị hình [Lê Duy Thắng, 2006]
1.1.3.2 Nhiệt độ
Nhiệt độ ảnh hưởng đến hoạt tính enzyme do đó ảnh hưởng đến trao đổi chất
và sinh trưởng của nấm Đối với nấm bào ngư có biên độ nhiệt độ tương đối rộng Nấm bào ngư xám là loại ưa nhiệt, thích hợp với khí hậu của các tỉnh phía Nam
Bảng 1 1 Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng của nấm bào ngư xám
Nhiệt độ thích hợp cho tăng trưởng tơ
Nhiệt độ thích hợp cho ra nấm
Nhiệt độ cho phép sản xuất
25 - 300C 250C 30 ± 50C
(Theo Lê Duy Thắng, 2006) Nhiệt độ đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển quả thể Nhiệt độ cao chân nấm dài, mũ nấm mỏng, ngược lại nhiệt độ thấp thì chân nấm ngắn và mũ nấm dày hơn [Lê Duy Thắng, 2006] Nhiệt độ trong quá trình hình thành nụ nấm có tính quyết định đến năng suất của nấm
1.1.3.3 Độ ẩm
Độ ẩm có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình nuôi trồng nấm bào ngư Nấm bào ngư có đến 80 – 90% trọng lượng nước, do đó dễ bị mất nước, cơ chất nuôi nấm cũng vậy Do đó nếu bị mất nước quá nhiều sẽ ảnh hưởng đến năng suất
và cả chất lượng của nấm
Trang 17SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 8
Độ ẩm thích hợp khi phối trộn cơ chất là 50 – 65%, nếu độ ẩm cơ chất quá cao, trên 75% sẽ cản trở sự sinh trưởng của sợi nấm và tăng mức độ nhiễm của
Trichoderma
Trong thời kì tưới đón nấm, độ ẩm không khí không được dưới 70%, tốt nhất
ở 70 – 95% Độ ẩm thấp hơn 70% quả thể bị vàng và khô mép Ở 50% nấm ngừng phát triển và chết, dạng bán cầu lệch và lá bị khô mặt và cháy vàng ở bìa mép mũ nấm Ngược lại độ ẩm cao (95%) chưa hẳn đã tốt cho nấm, tai nấm dễ bị nhũn và rũ xuống [Lê Duy Thắng, 2006]
1.1.3.4 Ánh sáng
Ánh sáng chỉ cần thiết cho việc tạo nụ nấm Ánh sáng tốt nhất là khoảng
2000 lux, cường độ ánh sáng quá mạnh sẽ ngăn cản việc hình thành nụ nấm, còn ánh sáng yếu chân nấm dài ra và mũ hẹp [Lê Duy Thắng, 2006]
1.1.3.5 Không khí
Nấm là sinh vật hiếu khí, sử dụng oxy và nhả khí carbonic, nhất là trong thời gian hình thành quả thể Quá trình nẩy mầm của bào tử và tăng trưởng tơ nấm bào ngư Nhật có liên quan đến nồng độ CO2 cao (22%), nhưng khi đến giai đoạn hình thành quả thể thì nồng độ CO2 phải giảm và lượng oxy tăng lên Nếu không mũ nấm sẽ hẹp lại trong khi chân dài ra, dẫn đến tai nấm bị di dạng Vì vậy nhà nuôi trồng nấm phải thoáng khí
1.1.3.6 Nguồn dinh dưỡng carbon
Nguồn carbon thích hợp cho sợi nấm bào ngư phát triển bao gồm các monosaccharide, oligosaccharide và polysaccharide, như đường glucose, saccharose, galactose, tinh bột, cellulose Nồng độ đường thích hợp cho sợi nấm sinh trưởng trong môi trường lỏng từ 3 – 5% Ở giai đoạn mầm quả thể, sự tăng trưởng phụ thuộc rất nhiều vào nguồn dinh dưỡng carbon và nồng độ đường cao
1.1.3.7 Nguồn dinh dưỡng nitơ
Một trong những nhu cầu cần đạm của nấm bào ngư là tổng hợp enzyme cellulose để phân giải cellulose Vì vậy để nuôi trồng nấm có năng suất cao cần bổ sung đạm
Trang 18SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 9
Tỷ lệ C/N cũng rất quan trọng đối với sinh trưởng của sợi nấm, tỷ lệ C/N thích hợp với nấm bào ngư là 20-30
1.1.3.8 Khoáng chất và vitamin
Trong môi trường nuôi nấm nhất thiết phải có các nguyên tố khoáng Trong đó:
- Phospho cần thiết để tổng hợp ATP, nucleic acid, phospholipid
- Kali là nguyên tố khoáng đóng vai trò cofactor trong nhiều enzyme
- Lưu huỳnh cũng rất cần thiết cho nấm bào ngư Nguồn cung cấp lưu huỳnh thường là MgSO4 Lưu huỳnh tham gia trong cấu tạo các aminoacid chứa lưu huỳnh như cystein, methionin và tham gia tạo nên vòng chứa 5 nguyên tử lưu huỳnh của lenthionin
- Ma-giê tham gia hoạt hóa nhiều enzyme nên cần thiết cho quá trình trao đổi chất Nồng độ magne thích hợp là 0,001M
Ngoài ra các nguyên tố khoáng khác như mangan, đồng, kẽm, molypden cũng không thể thiếu đối với sinh trưởng của nấm
Hầu hết nấm có khả năng tự tổng hợp các vitamine cần thiết Và vitamine B1
(thiamine) kích thích sợi nấm sinh trưởng, kích thích hình thành mầm quả thể [Lê Duy Thắng, 2006]
1.1.4 Giá trị dinh dưỡng
Nấm được xem là 1 loại rau đặc biệt, có hàm lượng đạm thấp hơn thịt cá nhưng lại cao bất cứ 1 loại rau củ nào Nấm ăn rất giàu lysin và leucin là 2 loại acid amine ít có trong ngũ cốc, chất lượng đạm của nấm không thua gì đạm động vật Nấm bào ngư nhiều đường hơn nấm rơm, nấm mỡ và nấm đông cô Cung cấp năng lượng tối thiểu, thích hợp với những người ăn kiêng
Trang 19SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 10
Bảng 1 2 Tỷ lệ % chất khô của 1 số loại nấm
Độ ẩm Protein Lipid Hydratcarbon Tro Calo
Chỉ số acid amine không thay thế EAI (essential acid amine index) được so sánh với các acid amine không thay thế của trứng gà
Giá trị sinh học (biological value) BV = 1,09 x EAI – 11,7
Giá trị dinh dưỡng (nutritional index) NI = EAI x tỷ lệ protein (%)/ 100
Bảng 1 3 Giá trị dinh dưỡng của nấm bào ngư Chỉ số acid amine không thay thế EAI 65,24 Giá trị sinh học BV 59,41 Giá trị dinh dưỡng NI 17,57
(Theo Nguyễn Lân Dũng) Bảng 1 4 Hàm lượng vitamin và chất khoáng của 1 số loài nấm
(Đơn vị tính là mg/100g chất khô) Acid
nicotinic Riboflavin Thiamin
Acid ascorbic Iron Canxi Phosphorus Trứng 0,1 0,31 0,4 0 2,5 50 210 Nấm
mỡ 42,5 3,7 8,9 26,5 8,8 71 912
Trang 20SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 11
B2
Acid pantotenic
Acid folic
Ngoài ra trong nấm còn có 1 số chất ức chế sự phát triển của một số loại vi
khuẩn như Staphylococus aureus, Mycobacterium phlei, Bacillus subtilis … vòng
ức chế vi khuẩn ở nấm bào ngư non còn cao hơn ở nấm trưởng thành [Nguyễn Lân Dũng, 2009]
Ở bào ngư còn phát hiện chất kháng sinh gọi là pleurotin, và 1 số hợp chất khác như β-1,3 glucan, mannose, uronic acid [Lê Duy Thắng, 2006]
Nấm bào ngư kháng virus, tăng sức đề kháng, giảm lượng cholestorol, điều hoà áp suất máu…
Trang 21SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 12
1.1.5 Giá trị kinh tế
Nghề trồng nấm được phát triển ở các nước đang phát triển vì:
- Tận dụng được nguồn phế thải, phụ phẩm trong nông – lâm nghiệp những nguyên vật liệu này rẻ, thậm chí là không tốn kém
- Giải quyết vấn đề thiếu ăn, thiếu đạm
- Tận dụng được sức người, thay thế cho máy móc đắt tiền
1.1.6 Tình hình nuôi trồng nấm bào ngư xám
1.1.6.1 Trên thế giới
Hiện này, người ta đã biết có khoảng 2.000 loài nấm ăn được, trong đó có 80 loại nấm ăn ngon và được nghiên cứu nuôi trồng nhân tạo Các nước trên thế giới hiện nay tập trung nghiên cứu và sản xuất nấm mỡ, nấm hương, nấm bào ngư, nấm rơm là chủ yếu Khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu trồng nấm theo phương pháp công nghiệp, thường có công suất cao từ 200-1000 tấn/ năm được cơ giới hoá cao Ở Châu Á, sản xuất theo quy mô vừa và nhỏ, đặc biệt thường ở dạng quy mô dạng gia đình Đến năm 2005 tổng sản lượng Nấm trên thế giới đạt khoảng 20 triệu tấn, riêng Trung quốc chiếm 50% sản lượng toàn thế giới Tốc độ tăng trưởng của Nấm năm sau cao hơn năm trước là 5% [Phương Liên, 2010]
Nấm bào ngư được trồng khá rộng rãi ở các nước Đông Nam Á, Ấn Độ, Châu Âu, Châu Phi Đây là 1 trong 3 loại nấm được trồng nhiều nhất trên thế giới Tuỳ vào điều kiện của từng nơi mà nấm bào ngư được trồng trên những cơ chất khác nhau Có nhiều nguồn nguyên liệu để trồng nấm bào ngư: cùi bắp, vỏ đậu, rơm, vỏ cà phê, lau sậy, mạt cưa, lục bình…
Ở các nước Châu Á sử dụng cơ chất chủ yếu là rơm rạ Ở Châu Âu sử dụng thân cây lúa mạch, trong khi các nước ở Đông Nam Á sử dụng cơ chất chủ yếu là mạt cưa cao su.Ở Châu Phi tận dụng nguồn phế thải trong nông nghiệp như cà phê, thân lục bình, bã mía…[Q.A.Mandeel, 2005]
1.1.6.2 Trong nước
Ở Việt Nam, tổng sản lượng các loài nấm ăn và dược liệu năm 2009 đạt trên 250.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 60 triệu USD chủ yếu là mộc nhĩ, nấm rơm,
Trang 22SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 13
nấm mỡ Ngược lại, chúng ta nhập khẩu khá nhiều loại nấm như: nấm đùi gà, nấm kim châm, trân châu, ngọc châm, linh chi, nấm hương, đông trùng hạ thảo… từ Trung Quốc, Đài Loan Ở Việt Nam, tổng sản lượng các loài nấm ăn và dược liệu năm 2009 đạt trên 250.000 tấn [Phương Liên]
Ước tính cả nước có trên 40 triệu tấn nguyên liệu phế phẩm nông lâm nghiệp
và nếu chỉ cần sử dụng khoảng 10-15% lượng nguyên liệu này để nuôi trồng nấm đã
có thể tạo ra trên 1 triệu tấn nấm/năm và hàng trăm ngàn tấn phân hữu cơ Vì thế, phát triển nghề sản xuất nấm ăn, nấm dược liệu còn có ý nghĩa lớn trong việc giải quyết ô nhiễm môi trường Mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam có thể sản xuất được
1 triệu tấn nấm [Phương Liên]
Ở nước ta chủ yêu trồng nấm bào ngư trên mạt cưa cao su Vì dễ chế biến, bổ sung chất dinh dưỡng, thuận tiện cho việc chăm sóc Ngoài mạt cưa cao su ra còn trồng trên rơm, bã mía…
1.2 Mạt cưa cao su- nguồn cơ chất tốt để trồng nấm
1.2.1 Thành phần dinh dưỡng trong mạt cưa
Cây cao su là 1 cây công nghiệp được trồng chủ yếu ở các tỉnh Cao Nguyên
và Đông Nam Bộ của nước ta như Daklak, Gia Lai, Kom Tum, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước… mỗi năm có lượng lớn cao su được thanh lý để trồng mới, gỗ cao su được sử dụng làm đồ dùng nội thất Lượng lớn mạt cưa không được xử lý gây ô nhiễm môi trường Những năm gần đây, mạt cưa cao su được tận dụng để trồng nấm bào ngư
Giá trị dinh dưỡng trong mạt cưa cao su là rất cao, rất thích hợp cho việc trồng nấm Mạt cưa cao su vẫn có thể trồng nấm mà không cần bổ sung thêm bất kỳ chất chất dinh dưỡng nào
Trang 23SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 14
Bảng 1 6 Thành phần dinh dưỡng của mạt cưa cao su
- Thuận tiện cho việc chăm sóc và thu hái
- Thời gian thu hái ngắn lại
Phương pháp phổ biến khi sử dụng mạt cưa là dạng túi, có quá trình hấp khử trùng
Mạt cưa mới sẽ có màu vàng tươi, không thể sử dụng ngay, đối với nấm bào ngư cần ủ mạt cưa từ 10-15 ngày Sau khi ủ, mạt cưa sẽ có màu nâu nhạt, trong khối mạt cưa toả nhiệt khá nóng
Dàn mỏng khối mạt cưa dày khoảng 10-15 cm, tưới ẩm bằng nước vôi và được phối trộn với các chất dinh dưỡng khác như vôi bột, MgSO4 0,3 %, tro bếp (tận dụng Kali) công thức phối trộn tuỳ theo điều kiện của cơ sở Mạt cưa được xới đảo trộn thật đều Vôi giúp cho quá trình phân huỷ các chất diễn ra nhanh hơn
và điều hoà độ ẩm
Độ ẩm lúc này có thể đạt 60%, khi vắt 1 nắm mạt cưa vào trong lòng bàn tay, bóp mạnh Nếu không thấy nước rịn ra ở kẽ tay, khi thả ra không bời rời là được
Trang 24SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 15
Màu mạt cưa càng sậm thì lượng nước càng cao, nguyên liệu thiếu nước vẫn tốt hơn nguyên liệu dư nước vì nó sẽ gây hiếm khí làm chết tơ
Sàn mạt cưa thành đống, việc sàn này giúp loại bỏ dăm vụn của gỗ, than, giúp cho nguyên liệu được trộn đều thêm 1 lần nữa Mạt cưa được để nguyên đống
để ủ thêm ít nhất là ngày nữa
Việc ủ đống giúp cho :
- Nguyên liệu có điều kiện thấm nước đều, lượng nước dư được loại bỏ
- Các vi sinh vật có lợi như xạ khuẩn sẽ phân huỷ một số thành phần khó phân huỷ trong nguyên liệu
- Quá trình phân huỷ làm nhiệt độ đống ủ sẽ tăng lên còn giúp diệt bớt những mầm bệnh có trong nguyên liệu
Thời gian ủ chỉ nên kéo dài không quá 3 ngày, vì khi lúc này nhiệt độ đống ủ giảm, cơ chất có nhiều thức ăn đơn giản tạo điều kiện cho nấm mốc, vi sinh vật phát triển tranh giành chất dinh dưỡng màu của mạt cưa thay đổi, từ nâu đỏ sang xanh nhạt [Lê Duy Thắng, 2006]
Hình 1 4 Máy sàn mạt cưa
Trang 25SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 16
1.2.2.2 Đóng bịch
Đóng bịch tới đâu xới mạt cưa đến đó, nhằm giữ nhiệt cho đóng mạt cưa Bịch đóng vừa tay, không quá mềm và không phù bịch, không quá thấp, không quá cao, cổ bịch được kéo căng, cột thun Trọng lượng mỗi bịch có thể đạt từ 1-1,3kg
+ Bịch mềm: khi vận chuyển vào lò, ra lò làm bịch bị lỏng, mạt cưa rời ra + Bịch phù: quá cứng, khó cấy meo sau này (đối với meo cọng), khi vào vỉ rất khó
+ Bịch thấp: không hiểu quả kinh tế
Dùng 1 thanh sắt có đầu nhọn, dài khoảng 12-15cm, đâm thẳng từ trên trên xuống, giúp cho việc cấy giống sau này dễ dàng hơn nhất là khi ta cấy meo cọng
Sử dụng bông phế thải (loại không thấm nước) để nhét lỗ, nhét vừa đủ chặt, không
Hình 1 5 Hai loại ống cổ
Trang 26SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 17
quá sâu, trên nút cổ vẫn còn thấy 1 phần đầu bông Nút bông phải gọn, nếu không hơi nước khi hấp sẽ thấm vào bịch, làm bịch quá ướt, khó ăn tơ
1.2.2.3 Hấp khử trùng
Lò hấp là dạng cải biến của phương pháp hơi nước lưu thông Đun nước trong chảo gang sôi, thấy hơi nước bay là là ở ngoài cửa, thì đóng kín cửa, theo dõi nhiệt độ Khi nhiệt độ trong lò lên 100oC, châm nước, giữ lửa để nhiệt 100oC trong
4 giờ Sau đó để nguội trong lò Nếu lấy quá sớm bịch còn khá nóng dễ bị bể bịch,
lấy trễ bịch dòn, dính lại làm rách bịch
1.2.2.4 Cấy meo giống
Sau 1 ngày ra lò bắt đầu cấy meo giống, không nên để lâu quá 3 ngày, như vậy sẽ làm chua môi trường, lúc này nấm mốc sẽ phát triển mạnh Phạm vi làm việc sạch sẽ, luôn giữ miệng chai chứa giống và miệng bịch phôi trong khoảng 10-15 cm quanh ngọn lửa đèn cồn Đèn cồn để trên bề mặt được cố định, tránh đèn bị đổ khi cấy, có thể gây phỏng, lượng cồn trong đèn phải đủ cấy xong chai hoặc bịch meo giống, ngọn lửa đèn cồn cao vừa phải Đây là việc tương đối đơn giản nhưng rất quan trọng, nếu không cẩn thận, thao tác không nhanh rất dễ nhiễm nấm mốc, đặc biệt là mốc cam Có thể sử dụng meo đang cọng hay dạng hạt
Hình 1 6 Lò hấp
Trang 27SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 18
+ Đối với meo cọng : dạng thường dùng là cọng mì Trước khi cấy, dùng kìm hoặc ben hơ qua ngọn lửa đèn cồn, rút nút bông, đâm lỗ vào Hơ kìm qua ngọn lửa đèn cồn 1 lần nữa, gấp lấy cọng meo đâm vào lỗ vừa tạo Không đưa cọng vào quá sâu trong mạt cưa, sẽ làm ngạt tơ, chừa 1 đoạn khoàng 1cm trên bề mặt mạt cưa Hơ nút bông vào nút lại như ban đầu Thao tát phải nhanh, gọn Một chai meo cọng có cấy được 50 bịch phôi, nếu là dạng bịch cấy được nhiều hơn, 70-80 bịch Meo để trong bịch dễ nhiễm khi cấy, do xé miệng bịch rộng
+ Đối với meo hạt : thường dùng lúa hay bắp Lúa dễ cấy hơn bắp Rút nút bông, hơ miệng chai qua ngọn lửa đèn cồn, cho 1lượng vừa đủ (thường là vừa tới miệng cổ), hơ nút bông qua đèn cồn, nút lại, ấn nhẹ nút bông vào trong và hạt ăn vào mạt cưa Một chai meo thường cấy khoảng 60 bịch
1.2.2.5 Nuôi ủ tơ
Theo dõi tơ: sau khi cấy xong, các bịch phôi nhanh chóng được chuyển sang nhà ủ, Thời gian ủ bịch nấm bào ngư thường khoảng 25-30 ngày Có thể chất giàn khoảng 3 lớp Nhà ủ cần:
- Thoáng và sạch
- Ít sáng nhưng không quá tối
- Không mưa, không bị gió lùa
- Cách ly khỏi khu vực sinh hoạt gia đình và không cùng khu với nấm đang thu hái hoặc đã thu xong
Hình 1 8 Meo hạt Hình 1 7 Meo cọng
Trang 28SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 19
Bào ngư rất nhanh ăn tơ, 3-5 ngày thấy trên miệng bịch có tơ xuất hiện Trong những ngày đầu cũng là lúc các loại nấm mốc phát triển, nếu bịch phôi nhiễm mốc nhanh chóng cách ly
+ Mốc cam: Loại mốc này thường thấy nhiều ở nút bông ướt, ở những túi bị
vỡ hoặc rách túi nilon Thường lây nhiễm bề mặt Đối với bào ngư trắng và bào ngư xám, nhanh chóng vượt qua mốc cam, vẫn ăn tơ bình thường chỉ hơi chậm so với các bịch không nhiễm Cần cách ly và nuôi ủ riêng đối với các bịch phôi bị nhiễm mốc cam Nếu nhiễm quá nhiều mốc, lúc này mốc cam làm chua môi trường làm chết tơ, chỉ còn cách hấp
+ Mốc xanh (Trichoderma, Penicillium, Verticillium) , mốc đen (Cladosporium, Botrytis christalina): xâm nhập bào tử vào túi cơ chất, phát hiện
càng sớm càng tốt, cách ly nhanh chóng, tơ chết hoàn toàn … Ban đầu sợi nấm đều
có màu trắng nhưng sau khi cấy giống 3- 7 ngày thì các khuẩn ty của các loại nấm này chuyển sang màu xanh lục, xanh lam, màu đen, nâu Ở các bịch nấm sò nhiễm mốc xanh ở trong, nhìn sợi bên ngoài trắng kín khi đem treo sau 7- 10 ngày sợi bị vàng lại và chết Đối với những bịch phôi bị nhiễm mốc đen và mốc xanh phải hấp lại và cấy giống khác
Các loại bào tử nấm mốc đều có rất nhiều trong không khí, khi nhiễm vào cơ chất chúng nảy mầm thành hệ sợi cạnh tranh dinh dưỡng, tiết ra độc tố ức chế và tiêu diệt hệ sợi nấm ăn hoặc chúng cạnh tranh nguồn oxy và xâm nhiễm vào cơ chất Nguyên nhân chủ yếu là do quá trình thao tác kỹ thuật:
+ Hấp khử trùng chưa đạt yêu cầu
+ Môi trường cơ chất quá ướt
+ Cấy giống bị nhiễm từ giống hoặc bào tử nấm dại từ không khí
+ Phòng ươm nuôi bịch nấm có nhiệt độ cao ẩm ướt, vệ sinh chưa đạt yêu cầu
Cũng có thể do vệ sinh lò không kỹ trước khi hấp, vệ sinh nơi cấy không đạt yêu cầu Ngoài ra còn có 1 số nguyên nhân khác tơ không ra:
Trang 29SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 20
+ Không ăn tơ : do mạt cưa quá ẩm, hoặc quá khô, nén chưa chặt hoặc quá chặt
+ Bịch xuất hiện “đậu đen” do mạt cưa chứa quá nhiều chất dinh dưỡng Thời gian ủ tơ phụ theo vào giống, dao động từ 25-35 ngày là tơ ăn kín đầy bịch Bào ngư là loại ăn tơ 2 lần, lúc đầu bào ngư ăn tơ có dạng mảnh, màu hơi hồng, sau đó ăn tơ thêm 1 lần nữa, có màu trắng
a Bịch phôi mới cấy
b Bịch phôi ăn tơ được 1 tuần có màu hồng nhạt phần ăn tơ
c Bịch phôi ăn tơ toàn bộ có màu trắng
1.2.2.6 Đem ra nhà tưới – thu nấm
Sau khi tơ nấm ăn đầy bịch, nên để màu trắng đồng loạt, trên bề mặt xuất hiện đốm trắng nhỏ, hệ tơ già thì đem ra nhà tưới Vệc gây stress cho hệ tơ như ánh sáng, độ ẩm, nhiệt độ kích thích việc tạo quả thể
Mỗi ngày tưới khoảng 3-4 lần, sao cho độ ẩm môi trường không khí nơi trồng nấm đạt trên 85-90% là tốt Trong giai đoạn này nấm rất cần độ ẩm, nếu thiếu nước, nấm sẽ cằn cỗi, nhẹ cân, ăn rất dai Ngược lại nếu tưới nước quá nhiều, nấm
sẽ có màu vàng, thối rữa Nên thu hoạch nấm vào buổi sáng, hái nấm đủ độ tuổi sẽ
Hình 1 7 Các giai đoạn ăn tơ của nấm bào ngư xám
Trang 30SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 21
đạt năng suất và chất lượng cao nhất Khi thấy mũ nấm mỏng và căng rộng ra, mép
mũ hơi quằn xuống là thu hái Mép mũ cong lên là nấm già
Sau 7-10 ngày nấm bắt đầu xuất hiện mầm nhỏ, màu trắng, rồi nụ nhỏ Đối với nấm bào ngư từ lúc xuất hiện nụ đến lúc thu hái được khoảng 1 ngày Thời gian thu hái đợt sau đó cách đợt trước khoảng 7-10 ngày
Trang 31SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 22
Hình 1 8 Quy trình sản xuất nấm bào ngư trên mạt cưa cao su
Trang 32SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 23
Loài : E crassipes (Water Hyacinth)
Loài này có tên bèo tây trong tiếng Việt vì có
nguồn gốc nước ngoài đưa vào Còn tên bèo Nhật Bản
vì có người cho là mang từ Nhật về Lộc bình do
cuống lá phình lên giống lọ lộc bình
Lục bình nước có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Nam Mỹ, những năm gần đây nhanh chóng lan rộng ra Trung Mỹ, Bắc Mỹ (California và các bang miền Nam), Châu Phi, Ấn Độ, châu Á, Australia, và New Zealand.[Tom Hargreaves]
1.3.1 Mô tả
- Rễ bèo trông như lông vũ sắc đen buông rủ xuống nước, dài đến 1m
- Thân : thân bèo mô xốp phát triển, túi khí chưa đầy khí nên là loài thực vật thảo, mọc thẳng đứng hoặc trôi dạt theo nước
- Lá : tròn hoặc hình trứng, phía dưới cuống lá phình to ra Dạng lá hình tròn, màu xanh lục, láng và nhẵn mặt Lá cuốn vào nhau như những cánh hoa Cuống lá
nở phình ra như bong bóng xốp ruột giúp cây bèo nổi trên mặt nước Ba lá đài giống như ba cánh Lá bèo luôn xanh đậm, mọc thành hình hoa thị, bốn mùa có cuống mọc lên thành hình phao nổi xem giống như chiếc lộc bình
- Hoa : Mùa hạ nở hoa, hoa tự đòng có 6-12 hoa, cánh hoa màu tím, điểm chấm màu lam, loa kèn, chẽ 6 Nhuỵ hoa sắc vàng Dò hoa đứng thẳng đưa hoa vươn cao lên khỏi túm lá
Bèo tây có sức sinh sản rất mạnh, ảnh hưởng rất lớn đối với hệ thực vật thuỷ sinh cùng chung sống Trong môi trường thuận lợi, một cây mẹ có thể đẻ cây con, tăng số gấp đôi mỗi 2 tuần Cây sinh sản vô tính bằng thân bò là chủ yếu, nhưng
Hình 1 9 Cây lục bình
Trang 33SVTH: Nguyễn Thị Thuý Liễu 24
vẫn có sinh sản bằng hạt Hạt có thể sống tới 15 năm trong đất và xâm nhiễm trở lại, ngay cả khi toàn bộ cây lục bình trưởng thành đã bị tiêu diệt Lục bình sống và phát triển mạnh cả ở nơi nước đứng và nước chảy và càng phát triển tốt ở trong nước bị ô nhiễm chất hữa cơ Nó nhanh chóng tạo thành 1 thảm dày gây cản trở sự
di chuyển của tàu bè, tưới tiêu, thuỷ lợi Những thảm dày cạnh tranh quyết liệt với thực vật thuỷ sinh bản địa, cản trở dòng chảy, giảm hàm lượng oxy, tạo điều kiện tốt cho muỗi phát triển Lục bình là vấn đề môi trường và kinh tế đối với quốc gia
có khí hậu cận nhiệt đới hay nhiệt đới [Kathy Hamel], [Tom Hargreaves]
Nước lục bình phát triển ở hồ, suối, ao, sông, mương, kênh, khu vực tù túng Lục bình hấp thụ chất dinh dưỡng trực tiếp từ nước và đã được sử dụng trong xử lý nước thải Chúng phát triển nhanh nhất trong nước giàu chất dinh dưỡng Thảm lục bình mới được hình thành từ rễ cửa cây mẹ, nhờ gió và dòng nước giúp nó phân bố rộng rãi, tạo thành liên kết vững chắc trong nước và bùn Việc sử dụng thuốc diệt cỏ
để kiểm soát lục bình là phổ biến [Kathy Hamel]
1.3.2 Giá trị kinh tế của lục bình
1.3.2.1 Trồng nấm:
Lục bình là nguồn nguyên liệu giàu chất xơ, ít được sử dụng làm thức ăn cho gia súc cũng là nguồn cơ chất tốt cho nấm phát triển Những nghiên cứu trước đây cho thấy, nấm được trồng trên lục bình mất 30 ngày để thu hái quả thể lần đầu tiên,
và thời gian thu hái lần 2 và 3 cách nhau 10 ngày [Phan Phùng Sanh]
Khoảng 60-80% chi phí trồng nấm được chi cho việc chuẩn bị cơ chất và hấp khử trùng So với mạt cưa, lục bình hoàn toàn không tốn kèm, có sẵn trong tự nhiên, năng suất nấm thu được khi trồng trên lục bình 1,2 tấn nấm/ 1 tấn nguyên liệu Lục bình sau khi được trồng nấm, được phân giải linocellulose rất thích hợp cho việc nuôi trùn hoặc giun đất Mùn do trùn, giun đất tạo ra thích hợp làm phân bón cho cây trồng Giun, trùn thích hợp nuôi gà, phân bón được dùng làm phân bón hoặc biogas [Kathy Hamel]
Năm 1994 Margaret Tagwira đặt ra để thử nghiệm nuôi trồng nấm trên lục bình tại Đại học châu Phi Mutare và trình bày một bài báo khoa học đầu tiên báo