1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SINH lý LAO ĐỘNG và mệt mỏi TRONG LAO ĐỘNG (y học môi TRƯỜNG và LAO ĐỘNG)

77 168 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 309 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu sinh lý học là ngành khoa học chuyên nghiên cứu chức năng của các cơ quan và hệ thống cơ quan trong cơ thể thì sinh lý lao động là ngành khoa học nghiên cứu sâu về trạng thái của cơ

Trang 1

SINH LÝ LAO ĐỘNG VÀ

MỆT MỎI TRONG LAO

ĐỘNG

Trang 2

1 SINH LÝ LAO ĐỘNG

1.1 Định nghĩa

1.2 Đối tượng nghiên cứu của SLLĐ

1.3 Mục tiêu nghiên cứu của SLLĐ

1.4 Ứng dụng SLL Đ trong lao động và đời sống

1.5 Phân loại lao động Đặc điểm lao động thể lực

và trí óc

1.6 Các biến đổi sinh lý trong lao động

Trang 3

2 MỆT MỎI TRONG LAO ĐỘNG

2.1 Định nghĩa về mệt mỏi

2.2 Cơ chế của mệt mỏi

2.3 Các yếu tố gây mệt

2.4 Các dấu hiệu của mệt mỏi

2.5 Phân biệt mệt sinh lý và mệt quá sức

2.6 Các biện pháp phòng tránh mệt quá sức.

Trang 5

Phần thứ nhất: SINH LÝ LAO ĐỘNG

Loài người được hoàn thiện như ngày nay

là kết quả của quá trình lao động lâu dài và thích nghi của con người

Sự thích nghi được thể hiện qua các hoạt động chức năng sinh lý của cơ thể

Nếu sinh lý học là ngành khoa học chuyên nghiên cứu chức năng của các cơ quan và hệ thống cơ quan trong cơ thể thì sinh lý lao động là ngành khoa học nghiên cứu sâu về trạng thái của

cơ thể trong lao động.

Trang 7

1.2 Đối tượng nghiên cứu của SLLĐ:

→ quá trình lao động của con người + các biểu hiện sinh lý của chính họ - các phản ứng của cơ thể nhằm thực hiện nhiệm vụ lao động nào đó.

SLLĐ vừa là môn lý thuyết, vừa là môn thực hành Các nghiên cứu của SLLĐ phát triển theo hai hướng:

- Nghiên cứu các quy luật sinh lý chung đặc trưng cho trạng thái hoạt động lao động của cơ thể

Trang 8

- Nghiên cứu các dạng hoạt động sản xuất cụ thể để khái quát được các đặc điểm tác động của chúng và hợp lý

hoá tổ chức lao động nhằm cải thiện trạng thái sinh lý của người lao động SLLĐ phối hợp với một số ngành liên quan khác như nhân trắc học,

écgônômi, cơ sinh học, tâm lý lao

động để đánh giá toàn diện tác động của điều kiện lao động đến con người.

Trang 9

1.3 Mục tiêu nghiên cứu của Sinh lý lao động:

Bảo vệ sức khoẻ cho người lao động trong phạm vi khả năng và

giới hạn của con người.

Khả năng của con người không phải là vô hạn về thể lực và trí tuệ VD: - Con người có thể thiết kế và vận hành những xe xúc đất đá với trọng lượng của một gầu xúc có thể nặng tới vài tấn, nhưng khả năng mang vác của con người cũng chỉ được vài chục kg.

Trang 10

- Con người có thể thiết kế ra máy tính với khả năng tính vài chục vạn phép tính trong một giây, nhưng khả năng tính toán của con người cũng chỉ được vài phép tính trong một phút

Do đó, việc tổ chức bất kỳ một loại hoạt động lao động (kể cả vui chơi, giải trí, thể thao ), đều phải dựa trên khả năng và giới hạn của con người để con người có thể hoạt động có hiệu quả nhất, phòng tránh các nguy cơ có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ.

Trang 11

1.4 Ứng dụng SLL Đ trong lao động và đời sống.

1.4.1 Đánh giá mức độ nặng nhọc và phân loại lao động

Trong lao động thể lực, các thông số: nhịp tim, huyết áp, tiêu hao năng lượng, tần số hô hấp cho nhiều thông tin về trạng thái chức năng của cơ

thể

Người ta thường sử dụng các thông số trên (hoặc mức độ thay đổi của các thông số trên sau lao

động so với khi nghỉ ngơi) để đánh giá mức độ

nặng nhọc lao động của một công việc nào đó

Thông qua mức độ nặng nhọc của lao động, người ta phân loại công việc theo các mức khác nhau

Trang 12

Phân loại lao động theo tiêu hao năng lượng

Nhẹ Vừa Hơi nặng Nặng Rất nặng Cực nặng (1) (2) (3) (4) (5) (6 )

Tiêu hao năng lượng trong 1 phút (Kcal/ph)

Trang 13

Phân loại gánh nặng lao động theo một số chỉ số sinh lý

Mức độ

gánh nặng

lao động

Tiêu thụ ô-xy (lít/phút)

Thông khí phổi (lít/phút)

Nhiệt độ trực tràng ( 0 C)

Mạch trong lao động (nhịp/phút)

38 – 38,538,5 – 39

Trang 14

1.4.2 Đánh giá mức độ phù hợp của công cụ, máy móc, thiết bị với khả năng thể lực của con người:

Dựa vào mức độ thay đổi của các thông số sinh lý (tiêu hao năng lượng, nhịp tim), có thể gián tiếp đánh giá mức độ phù hợp của công

cụ, máy móc với con người Ví dụ:

- Khi sử dụng một công cụ nào đó quá to hoặc quá nặng, tiêu hao năng lượng sẽ càng lớn, nhịp tim cũng tăng

- Nếu hai loại công cụ hoặc máy có cùng chức năng và năng suất như nhau, máy nào đòi hỏi tiêu hao năng lượng ít hơn, máy đó có hiệu quả hơn (về năng lượng tiêu hao).

Trang 15

1.5 Phân loại lao động Đặc điểm lao động thể lực và trí óc.

1.5.1 Phân loại lao động.

+ Theo mức độ hoạt động của các cơ.

- Lao động thể lực: cuốc, đào đất, đào than, bổ củi, xây tường, trộn vữa

- Lao động trí óc: viết truyện, viết kịch bản, soạn nhạc, lập trình cho máy vi

tính, nghiên cứu khoa học, thiết kế

Trang 16

+Theo vai trò hay mức độ hiện đại của các công cụ hay phương tiện sản xuất:

- Lao động thủ công: đan mây tre, đan len, thêu ren, hàng mỹ nghệ

- Lao động cơ giới (hoặc bán cơ giới): lái máy kéo, hàn, tiện, nguội

- Lao động tự động.

Trang 17

+ Theo số người tham gia.

- Lao động độc lập (bưu tá, nhân viên gác trực )

- Lao động theo nhóm hay công đoạn, theo cụm gồm 2-3 người hoặc nhiều người

Ví dụ: sản xuất đồ mỹ nghệ có nhóm cưa, nhóm bào, nhóm đánh bóng, ghép hình.

- Lao động dây chuyền (lắp các đồ điện tử cho đồng hồ, máy thu hình, máy tính, sản xuất đồ hộp, bánh kẹo ).

+ Theo mức độ thay đổi độ giãn của cơ.

- Lao động tĩnh (giữ vật nặng, đứng gác nghiêm ).

- Lao động động cần có sự vận động của các bộ phận của cơ thể trong không gian.

Trang 18

+ Theo tư thế của người lao động.

- Tư thế đứng (hàn, tiện, nguội, cưa xẻ gỗ ).

- Tư thế ngồi (may, đánh máy chữ hoặc sử dụng máy vi tính )

- Tư thế vừa đứng vừa ngồi (khi vận hành máy thì làm ở tư thế đứng, khi không cần vận hành thì ngồi theo dõi máy ).

- Tư thế nằm (thợ sửa chữa gầm xe ô-tô, đường ống ).

Trang 19

+ Theo đặc điểm bố trí và mức độ cách ly với môi trường bên ngoài.

- Trong nhà (tất cả các công việc được thực hiện trong nhà).

- Ngoài trời (xây dựng, đường dây, làm muối ).

- Cách ly (phòng mổ, phòng vô trùng, phòng X quang, phòng điều trị các bệnh truyền nhiễm, các công việc mang tính chất quân sự bí mật ).

Trang 20

1.5.2 Một số đặc điểm cơ bản của lao động thể lực và lao động trí óc.

+ Lao động thể lực:

- Có sự tham gia tích cực của hệ vận động (của nhiều nhóm cơ).

- Tiêu hao năng lượng lớn.

- Tần số nhịp tim tăng đáng kể so với khi nghỉ ngơi.

- Tăng bài tiết mồ hôi, đặc biệt trong lao động thể lực nặng và ĐK môi trường có nhiệt độ cao.

- Huyết áp có thể tăng hoặc giảm.

Trang 21

+ Lao động trí óc:

- Hoạt động vận động không đáng kể, có ít các nhóm cơ tham gia vào hoạt động vận động Chủ yếu là sự tham gia của các cơ duy trì tư thế của cơ thể và một số nhóm

cơ chính của tay.

- Tiêu hao năng lượng không lớn.

- Tần số mạch, huyết áp không tăng, hoặc tăng không đáng kể.

- Căng thẳng thần kinh - thị giác (giảm khả năng chuyển hướng chú ý, kéo dài thời gian phản xạ).

Trang 22

1 6 Các biến đổi sinh lý trong lao động

1.6.1 Hệ tim-mạch

Mạch là một chỉ số sinh lý mang nhiều

thông tin và được nghiên cứu để áp dụng trong:

- Đánh giá trạng thái chức năng và khả năng thích nghi của cơ thể.

- Đánh giá mức độ gánh nặng lao động.

- Đánh giá mức độ phù hợp của máy móc với khả năng sinh lý.

Trang 23

- Mạch trong lao động (working pulse):

Là mạch trung bình đo được trong lao động

Loại lao động thể lực nặng, LĐ trong điều kiện nhiệt độ môi trường rất cao (các lò luyện thép, gang, đúc ), mạch trung bình trong lao động khá cao: 100-120 nhịp/ph

Trang 24

Mạch tức thời trong lao động của công

nhân có thể lên tới 140-150 nhịp/ph; Mạch của diễn viên xiếc làm động tác đu bay trên cao có thời điểm lên tới 250 lần/ph.

- Mạch do lao động (work pulse):

Là mạch tăng lên do lao động so với khi nghỉ ngơi, yên tĩnh

Được đo bằng hiệu của mạch trong và trước lao động

VD: mạch khi nghỉ là 70 nhịp/ph, mạch trong lao động là 110 nhịp/ph

→ Mạch do lao động là 40 nhịp/ph.

Trang 25

Phương pháp đo mạch

Ở trạng thái nghỉ yên tĩnh, có thể

trực tiếp bắt mạch ở động mạch quay, hoặc đếm tần số nhịp tim trên điện

tâm đồ trong thời gian 3 phút liên tục Trong trường hợp bắt mạch bằng

tay, có thể lấy mạch trong 30 giây, từ giây thứ 15 đến 45 của mỗi phút ; sau

đó nhân đôi để có giá trị mạch của

từng phút, rồi cộng lại lấy giá trị trung bình

Trang 26

Đối với mạch hồi phục, có thể làm tương tự Tùy mục đích mà lấy

mạch hồi phục trong ba phút đầu hoặc lấy mạch hồi phục liên tục

cho đến khi hồi phục hoàn toàn

Tuy nhiên, trong lao động,

Trang 27

Với sự tiến bộ kỹ thuật, nhiều dụng cụ mới đã ra đời như:

- Dụng cụ đo nhịp tim kiểu đồng hồ đeo tay,

- Máy ghi điện tim cá nhân bằng băng mini

- Các loại máy ghi điện tim từ xa cho phép không những đo được tần số nhịp tim bất kỳ lúc nào, mà có thể theo dõi cả các đối tượng không được phép hoặc không thể tiếp cận

Trang 28

Giới hạn mạch cho phép trong lao động

Karrasch và Muller (1951) đã nghiên cứu giới hạn trên của gánh nặng lao động là : Chỉ

số này không được tăng một cách vô hạn, và khi ngừng việc thì mạch hồi phục phải trở về mức nghỉ ngơi ban đầu trong thời gian 15 phút.

Nghiên cứu Rohmert và Hettinger (1970) cũng đã kết luận: mạch chênh lệch trước và trong lao động chỉ nên là 40 nhịp/ph.

Theo ý kiến của nhiều tác giả, với loại lao động trung bình: Nếu tiêu hao năng lượng trong lao động tăng lên 1 Kcal/ph, thì mạch chỉ được tăng lên 10 nhịp/ph.

Trang 29

Giới hạn thời gian cho lao động thể lực

theo chỉ số nhịp tim

Tần số nhịp tim

(nhịp/ph) Loại lao động

Giới hạn thời gian lao động

cho phép (h)

Tần số nhịp tim tối

ưu (nhịp/ph)

12011095100

1101009095

100908590

85 – 95

75 – 85

75 – 82

80 - 87

Trang 30

Để tiện cho việc theo dõi mạch trong lao động, lấy mạch khi nghỉ cũng như mạch trong lao động ở

tư thế ngồi

Đối với công việc làm liên tục, giới hạn mạch tăng so với khi ngồi nghỉ không quá 35 nhịp/ph ở nam giới và 30 nhịp/ph ở phụ nữ

Trang 31

Nói chung, nhiều tác giả cho thấy để duy trì khả năng lao động liên tục trong cả ca, mạch trong lao động chỉ nên khoảng ≤ 100 -110 nhịp/min.

Tuy nhiên, trong đời sống và lao động có những công việc rất nặng cả về thể lực cũng như căng thẳng thần kinh tâm lý → nhịp tim dao động rất lớn

để đáp ứng nhu cầu ô-xy cho cơ thể

Trang 32

Mạch hồi phục

Sau lao động, mạch sẽ dần dần trở về mức ban

đầu → Mạch hồi phục (MHP)

MHP thường được đo trong 3 phút ngay sau khi

dừng công việc, vào các thời điểm từ giây thứ 15 đến

45 của phút thứ 1, thứ 2 và thứ 3, sau đó kết quả được nhân đôi.

Thời gian để mạch trở về mức ban đầu tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố:

- Khả năng hệ tim - mạch của cá thể.

- Thời gian thực hiện công việc đó.

Trang 33

- Tính chất công việc được thực hiện và điều kiện môi trường khi phục hồi.

Trong sinh lý lao động, người ta thường dùng chỉ

số mạch hồi phục và thời gian hồi phục của mạch:

- Đánh giá khả năng thích nghi với lao động thể lực của một cá thể;

- Đánh giá ảnh hưởng của gánh nặng lao động đến trạng thái chúc năng của người lao động.

Trang 34

Phản ứng của hệ tim-mạch đối với gánh nặng lao động

Dưới tác động của gánh nặng lao động, hệ tim - mạch có thể có các loại phản ứng sau:

- Phản ứng kiểu trương lực bình thường

- Phản ứng kiểu tăng trương lực

- Phản ứng kiểu giảm trương lực

- Phản ứng loạn trương lực

- Phản ứng bậc thang

Trang 35

- Phản ứng kiểu trương lực bình thường : mạch tăng,

HA max tăng và HA min hơi giảm, tăng hiệu số HA

Sau lao động, mạch, HA hồi phục nhanh

→ cơ thể thích ứng tốt với lao động

- Phản ứng kiểu tăng trương lực : HAmax tăng mạnh HAmin không thay đổi, hoặc hơi tăng, tần số mạch tăng cao Thời gian phục hồi của mạch và HA chậm → ít gặp,

có thể gặp ở những người HA cao sẵn hoặc có RL chức năng TKTV, do mệt quá sức.

Trang 36

- Phản ứng kiểu giảm trương lực : HA max tăng ít, HA min không đổi hoặc tăng ít ; Mạch tăng cao, quá trình hồi phục mạch, HA kéo dài Phản ứng này thường gặp ở những vận động viên bị mệt quá sức.

- Phản ứng loạn trương lực : HA max tăng cao, HA min thấp

và rất khó xác định Thời gian hồi phục của mạch, HA chậm → biểu hiện RLTKTV, hưng phấn cao của các

trung khu vận mạch, giảm trương lực mạch máu.

Trang 37

- Phản ứng bậc thang : HA max ở phút thứ 1 sau lao động tăng ít hơn so với phút thứ 2 và 3 trong lúc đó mạch bắt đầu giảm, hiện tượng này do RL phân bố máu, liên quan đến trạng thái mệt mỏi của cơ tim, sự sút kém chức năng hệ thống tim-mạch.

* Trong các loại phản ứng trên, trừ loại đầu, các loại còn lại được xem như biểu hiện xấu về trạng thái chức năng của hệ tim - mạch và có rối loạn cơ chế điều hòa tuần hoàn.

Trang 38

1.6.2 Hệ hô hấp

Trong hoạt động lao động, nhịp độ

và biên độ hô hấp đều tăng nhằm

cung cấp ô xy và thải carbonic.

Bình thường nhịp hô hấp khoảng

20 lần/phút Trong lao động có thể tăng lên 40 lần/phút

Thể tích khí lưu thông qua bộ máy

hô hấp trong một nhịp thở ở điều

kiện bình thường là 400 - 500ml

Trong lao động, có thể tăng lên 1 lít.

Trang 39

Đáp ứng của hệ hô hấp thay đổi tuỳ thuộc vào gánh

nặng lao động:

- Lao động nhẹ: 0,12 - 0,2 lít không khí/phút/kg cân nặng.

- Lao động nặng 0,3 - 0,5 lít không khí/phút/kg cân nặng

Người lao động thể lực có cân nặng 50 kg bình thường cần 6 lít không khí/phút Lao động nặng cần tới 15 - 20 lít không khí trong 1 phút

Trong quá trình lao động do tiêu thụ nhiều ôxy

và thải nhiều carbonic nên khả năng trao đổi khí phế nang mao mạch, hệ số sử dụng ô xy cũng tăng lên đáng kể

Trang 40

Đường huyết sẽ hồi phục lại mức bình

thường sau khi nghỉ ngơi, ăn uống

Trang 41

Bình thường dự trữ đường trong máu là

%).

Trang 42

1.6.4 Hệ bài tiết

Trong quá trình lao động, lượng mồ hôi được thoát ra có khi tới 3 hoặc 4 lít/ca lao động) → gây nên hiện tượng mất nước, điện giải (Trong 1g mồ hôi có 0,98g nước + 0,02g muối vô cơ

và sản phẩm chuyển hoá) và là tiền đề cho các rối loạn sinh lý, dẫn đến các tình trạng bệnh lý Lượng nước tiểu cũng giảm.

Hiện tượng giãn mạch ngoại biên làm cho lượng máu qua thận cũng thay đổi tuỳ theo cường độ lao động và sự mệt mỏi do lao động

Trang 43

1.6.5 Thần kinh

- Diễn biến của hoạt động thần kinh trong lao động là một quá trình từ ức chế thụ động lúc mới bắt tay vào công việc

- Sau đó cơ thể thích nghi, hệ thần kinh chuyển sang giai đoạn hưng phấn, làm việc thoải mái, năng suất lao động cao Quá trình này dài hay ngắn tuỳ thuộc vào sức khỏe và công việc cũng như môi trường lao động

- Sau quá trình hưng phấn là sự mệt mỏi của thần kinh, biểu hiện bằng hiện tượng ức chế: độ dẫn truyền giảm, ngưỡng đáp ứng thần kinh tăng lên Đây là hiện tượng ưc chế bảo vệ.

Trang 44

1.6.7 Tiêu hao năng lượng và ôxy trong lao động

Trong lao động, đặc biệt là lao động cơ bắp, cần huy động nhiều

O2 để sinh năng lượng

Do hệ thống cơ chiếm đến 42% trọng lượng cơ thể nên trong lao động cơ bắp, tiêu hao năng lượng

có thể tăng lên hàng nghìn Kcal/24 giờ

Trang 45

Hoạt động của cơ chia làm 2 giai đoạn.

- Giai đoạn đầu không cần sự có mặt của O 2 , năng lượng chủ yếu được giải phóng từ các dây nối giầu năng lượng như ATP, ADP

- Giai đoạn 2 là giai đoạn chuyển hóa axit lactic cho năng lượng và giải phóng CO 2 và H 2 O Giai đoạn này cần đủ O 2 Việc cung cấp O 2 phụ thuộc vào sự tiêu hao năng lượng, sẽ kéo theo hiện tượng gia tăng

các hoạt động hô hấp và thần kinh.

Ngày đăng: 04/03/2021, 17:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w