Điều kiện quan trọng: thiên Tác động nhau, thành là môi trường tự nhiên > Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố bao quanh sinh vật có giới hạn là một phần thạch quyển “l ớp đá trầm tí
Trang 1MÔI TRƯỜNG VÀ
SỨC KHỎE
BỘ MÔN Y HỌC MÔI TRƯỜNG VÀ LAO ĐỘNG
Trang 2MỤC TIÊU HỌC TẬP
Định nghĩa các khái niệm, định nghĩa về môi trường và sức khỏe, mối liên quan giữa môi trường và sức khỏe
Mô tả những yếu tố nguy cơ môi trường chính có ảnh hướng tới sức khỏe con người, biện pháp giảm hoặc phòng ngừa
Trang 3Kỹ thuật học
Sự ra đời,
sự sống,
tử vong
và môi trường
Những vấn đề lớn hiện nay về ô nhiễm
Các phương hướng bảo vệ môi trường
HIEU QUA
Tham khảo
NOI DUNG
Trang 4HÌNH 1 ĐƯỜNG CONG TỶ LỆ SỐNG SÓT 1955 – 2025 (WHO 1998)
Trang 5- Trái đất là một thiên thể trong vũ trụ trong hệ
> bề mặt trái đất thuận lợi cho sinh vật phát sinh và phát triển Điều kiện quan trọng: thiên
Tác động nhau, thành là môi trường tự nhiên
> Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố bao quanh sinh vật có giới hạn là một phần thạch quyển “l ớp đá trầm tích, một phần của khí quyển (hết tầng bình lưu (khoảng 25 - 30km)”
Trang 6Sinh quyển bao gồm toàn bộ vật chất sống
xung quanh trái đất.
1 Sinh vật trên trái đất kết hợp với môi trường tạo ra các hệ sinh thái
2 là tập hợp có giới hạn nhất định, gồm các
phần tử có chức năng liên quan là: khí hậu, thổ nhưỡng, năng lượng mặt trời.
3 Hệ sinh thái:
- là hệ thống các mối quan hệ độc lập, biến
động trong các cơ thể sống và môi trường vật
lý của chúng
- ó là thực thể có giới hạn đã đạt được các cơ
chế tự ổn định, cân bằng nội tại này đã tiến hóa qua nhiều thể kỷ
Trang 7Hệ sinh thái
Hệ sinh thái hình thành một trật tự: sự
quang hợp thành các hydrat carbon, tiếp đến các động vật sử dụng các thực vật, xác động vật và thực vật thành các hợp chất vô cơ và khép kín vòng tuần hoàn
các nguyên tố: N, C, P, S để cân bằng
sinh thái.
Trang 8Hệ sinh thái
Trong trật tự hình tháp này số lượng các sinh vật cấp thấp bao giờ cũng nhiều
hơn các sinh vật cấp cao
- Con người (sinh vật cao nhất) có khả
năng sử dụng các thành phần trong hệ
sinh thái làm thức ăn
- Hệ sinh thái ổn định, không loại trừ
nhau, nếu không nguồn thức ăn cung
cho loài ăn thịt sẽ không tồn tại
- Những hệ sinh thái ổn định và cân bằng
sẽ tồn tại lâu nhấtlà điều kiện sống của sinh vật, đồng thời sinh vật làm cho môi trường thêm phong phú và đa dạng
Trang 91.1 Định nghĩa về môi trường
và sức khỏe
Theo OMS ( 1946 ): "Sức khỏe
là một trạng thái hoàn toàn
khỏe mạnh về thể chất, tâm lý
và xã hội mà không chỉ là
không có bệnh tật hay khuyết tật"
Chức năng của cơ quan và hệ
thống cơ thể của người luôn
cân bằng với môi trường
Trang 10Môi trường là “tất cả mọi thứ bên ngoài cơ thể vật chủ con người” Nó có thể được phân chia thành môi trường
Trang 11Vật chất di truyền của người là một
trong những yếu tố chính, xác định xem người ấy bị ảnh hưởng như thế nào khi bị phơi nhiễm đối với môi
trường
- Con người có yếu tố nguy cơ, mẫn cảm khác nhau (Jedrychowski và
Krzyzanowski, 1995).
Trang 12Môi trường ô nhiễm và suy thái tác động lớn cuộc sống và sức khỏe con người Theo OMS:
- 94% tiêu chảy liên quan đến môi
trường và một số yếu tố nguy cơ
như nước uống không an toàn, vệ
sinh cá nhân và môi trường sống
kém
nước đang phát triển có đóng góp
của ô nhiễm không khí
- 1,5 triệu tử vong hàng năm do
nhiễm trùng đường hô hấp vì tác
động xấu của môi trường
- 500.000 tử vong hàng năm do sốt rét, có thể tránh nhờ quản lý môi
trường
Trang 131.2 Mối tương tác con người với
môi trường:
- Phải thực hiện việc bảo vệ và
nâng cao sức khỏe con người
nhằm bảo đảm tính nguyên vẹn của hệ thống tự nhiên “môi
trường lành mạnh”
thuộc vào xã hội trong việc kiểm soát những tương tác giữa các
hoạt động con người và môi
trường (hình 2)
Trang 14Mức độ và tính chất các hoạt động con người
Sức khỏe cộng đồng: TỐT/KHÔNG
Môi trường địa lý Môi trường sinh học
HÌNH 2 Mối tương tác giữa các hoạt động của con người, môi trường địa lý, môi trường sinh học và sức khỏe cộng đống
Trang 151.2 Mối tương tác giữa con người
với môi trường
trường lý học và sinh học từ môi
trường nhà ở, nơi làm việc đến
môi trường vùng, quốc gia và toàn cầu
- Sức khỏe người phụ thuộc vào
duy trì khí hậu ổn định và tài
nguyên môi trường an toàn (đất, nước ngọt, không khí sạch)
OMS diễn tả mối tương tác:
Trang 16Mức độ và tính chất các hoạt động con người:
1- Sức khỏe cộng đồng
2- Môi trường địa lý
3- Môi trường sinh học
Trang 17Hoạt động của con người được hiểu
-SX nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp
-SX và tiêu thụ năng lượng, tiêu thụ nước
và xử lý các chất thải, quá trình đô thị
Trang 18sức khỏe con người được gắn kết chặt
chẽ với môi trường vật lý và xã hội theo
gây bệnh sinh học và các véc tơ truyền
bệnh cũng như ổ chứa, các tác nhân lý
học và hóa học trong một môi trường độc lập với các hoạt động của con người như: chất thải công nghiệp, chất thải y sinh,
chất thải phóng xạ
Trang 19Sức khỏe con người chịu ảnh
hưởng bởi các yếu tố kinh tế xã
hội, kiểm soát sử dụng các tài
nguyên Khi một người bị đói hoặc được ăn đầy đủ, hoặc ăn quá dư
thừa, vấn đề không chỉ phụ thuộc vào tình trạng nguồn lực của cá
nhân mà còn phụ thuộc vào các
yếu tố kinh tế xã hội
ảnh hưởng tới các vấn đề như việc thực hành nông nghiệp dẫn đến
việc sử dụng đúng hoặc sử dụng sai các nguồn lực như thế nào, và liệu nguồn thực phẩm an toàn, đủ chất dinh dưỡng, giá cả hợp lý.
Trang 20Sức khỏe môi trường cũng liên
quan tới lý thuyết và thực hành về việc đánh giá, hiệu chỉnh, kiểm
soát và ngăn ngừa những yếu tố
đó trong môi trường có thể ảnh
hưởng tiêu cực tới sức khỏe của
thế hệ hiện tại và những thế hệ
tương lai” (WHO 1993).
Trang 21ĐẠO ĐỨC “N âng cao SK người+BV môi
vậy xâm phạm tới quyền lợi và tự do của
họ cũng làm giảm khả năng trong việc
duy trì sức khỏe
- Một tiêu cực khác là bất kỳ hành động nào nhằm bảo vệ môi trường và duy trì
tính thống nhất của hệ sinh thái đều
được cho là đúng, bất kể tác động của nó đối với hoạt động và sức khỏe của con
người
Trang 221.3 Khả năng thích nghi con người
Con người sống phụ thuộc môi trường để Thỏa mãn nhu cầu
Trang 232 VẤN ĐỀ LỚN VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở TG
2.3.3 Thay đổi khí hậu do hiệu ứng nhà kính
2.3.4 Những ảnh hưởng của sự ấm lên toàn cầu 2.5 Mưa Axit
2.4 Khí ozon và tầng ozon:
2.6 Dân số tăng nhanh, tài nguyên dần cạn kiệt: 2.7 Cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường ở nông thôn trên thế giới:
Trang 24Nhiễm bẩn môi trường do công nghiệp:
Trong quá trình công nghiệp hóa, con người đã gây tác hại cho môi
trường ở hai mặt:
+ Khai thác đất, rừng, tài nguyên thiên nhiên, làm cạn dần các tài
nguyên thiên nhiên
+ Gây ô nhiễm môi trường sống, như không khí, nước, đất là những điều kiện tồn tại của bản thân con người
Nhiễm bẩn môi trường do công nghiệp từ lâu đã trở thành một vấn đề lớn trong bảo vệ sự trong sạch môi trường sống của nhiều nước trên thế giới và khu vực đặc biệt là ở những thành phố công nghiệp phát triển Người ta đã tính rằng ở một nước công nghiệp phát triển như ở Pháp,
thiệt hại do nhiễm bẩn không khí chiếm tới 1% tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Nền công nghiệp ở nước ta cũng dẫn tới hàng loạt hậu quả nghiêm trọng
về môi trường Ô nhiễm môi trường công nghiệp tuy chưa rộng nhưng đã gây ảnh hưởng không tốt tại các thành phố và khu công nghiệp, các
dòng sông gần các nhà máy lớn Khu công nghiệp Thượng Đình (Hà Nội) thải ra lượng bụi, hơi, khí độc vượt tiêu chuẩn cho phép từ 7 - 15 lần Nhà máy xi măng Hoàng Thạch thời kỳ bị hỏng bộ phận lọc bụi tĩnh điện đã thải ra gần 100 tấn bụi, nồng độ khí SO2 lên tới 1,67 - 2,61mg/m3 (tiêu chuẩn cho phép là 0,05mg/m3 ngày)
Sau nhiễm bẩn không khí là nước của nhiều sông, suối, ao, hồ ngày càng
bị ô nhiễm do nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp Người ta đặt
334 trạm giám sát nước ở 59 nước trên thế giới thì thấy rằng 10% số
sông được kiểm tra tình hình nhiễm bẩn Đó là chưa kể tới các loại chất thải công nghiệp khác trong mỗi con sông cũng còn khá lớn Có lẽ chính
vì sự ô nhiễm này nên theo con số thống kê những năm giữa thập kỷ 80 chỉ có 42% người dân trong vùng nông thôn và 75% dân ở vùng thành phố trên thế giới được cấp nước sinh hoạt sạch
Ở nước ta, khu công nghiệp Việt Trì thải ra sông 35.706m3 nước thải
hàng năm chứa tới 400 tấn HCl, 1300 tấn NaOH Nước sông Đồng Nai
cũng bị ô nhiễm nặng bởi khu công nghiệp Biên Hòa, hàm lượng phenol lên tới 7mg/l; chất tẩy rửa 250mg/l, HCl từ 40mg/l, Crom 0,7mg/l
Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh có lượng nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp rất lớn, thành phần rất phức tạp, độ nhiễm bẩn đã vượt quá khả năng tự làm sạch của các con sông chảy qua thành phố
Trang 25Sự hủy hoại của rừng:
Hiện nay, sự hủy hoại của rừng được coi là một trong những nguyên nhân lớn nhất làm thay đổi môi trường sống của con người Người ta
đã thống kê mỗi năm trên thế giới mất đi khoảng 15 triệu hecta
rừng Riêng ở các nước vùng nhiệt đới, nạn phá rừng ngày càng tăng mỗi năm vừa qua tàn phá 11 triệu hecta Trong đó có 7,3 triệu hecta
là rừng rậm
Mất rừng có nghĩa là mất đi toàn bộ sản phẩm của rừng phục vụ cho con người Mất rừng còn làm tăng xói mòn đất đai, tăng lũ lụt, giảm thấp mực nước ngầm, mất khả năng điều hòa khí hậu và chống gió bão cũng như chống ô nhiễm không khí Hiện nay, diện tích đất
được che phủ bởi thảm thực vật rừng ở nước ta đang ngày càng bị
co hẹp, diện tích đất trồng đồi trọc tăng lên, nhiều suối bị cạn, đời sống bà con các dân tộc bị thiếu đói do mất rừng
Nạn phá rừng không chỉ làm cho đất trồng trọt bị xói mòn trầm
trọng mà còn làm thay đổi môi trường thiên nhiên, môi trường động vật trong khu vực Chỉ tính riêng tác hại của nạn phá rừng ảnh
hưởng tới lượng phù sa bị tải qua các con sông trong mùa lũ cũng có thể thấy hàng năm ở nước ta đã mất đi một lượng đất không nhỏ, trong đó phần lớn là đất trồng trọt Theo con số của các nhà khoa học và môi trường thì trong mùa lũ cho phép mỗi m3 nước sông
chuyên chở 3 - 5kg phù sa là hợp lý Nhưng ở nước ta, do nạn phá rừng trong những năm qua vẫn còn tiếp tục nên hầu hết các sông trong mùa lũ đều chuyên chở tới 10kg phù sa/m3 nước, thậm chí ở nhiều sông miền Trung số lượng này còn cao hơn nữa
Chính tình trạng chặt phá rừng, gây mất đất này đang làm nhiều
người lo ngại đến tương lai của trẻ em những đầu thế kỷ 21 Người
ta tính rằng, nếu đến năm 2050 nước ta có khoảng 120 triệu dân thì diện tích trồng trọt tính theo đầu người sẽ giảm đi còn 1/2 diện tích bình quân như hiện nay Thí dụ ở Thái Bình hiện nay hơn 400m2/đầu người thì đến lúc đó chỉ còn 200m2/đầu người Đó là chưa kể nếu tốc
độ phá rừng, xói mòn đất như hiện nay thì lúc đó con số này còn
thấp hơn nữa Và bài toán lúc đó được đặt ra là đất trồng trọt ít,
người đông sẽ dẫn đến đáp ứng nhu cầu về lương thực, thực phẩm
sử dụng thiết yếu hàng ngày sẽ giảm (trong khi mức tăng về nhu cầu và sản xuất hàng năm của thế giới khoảng 3,5 – 5% mỗi năm)
Đó là chưa kể đến chính tình trạng phá rừng còn ảnh hưởng đến thời tiết, khí hậu, chăn nuôi, cấu tạo vỏ trái đất trong vùng và khu vực
Trang 262.3 Khí hậu trái đất đang thay đổi do hiệu ứng nhà kính:
2.3.1 Sự hình thành cacbon dioxit (CO 2 ) trong khí quyển
Một lượng cacbon dioxit (CO2) rất lớn do đốt nhiên liệu than, củi và do
hô hấp của động vật thải vào khí quyển Người ta đã ước tính rằng
riêng đốt than đá mỗi năm đã thải vào khí quyển hơn 2,5.1013 tấn CO2 Qua một số tỷ năm lượng cacbon dioxit do núi lửa phun ra ước tính
bằng 40.000 lần lượng CO2 có trong khí quyển hiện nay Rất may là không phải toàn bộ khí CO2 này lưu tồn trong khí quyển Khoảng một nửa đã được thực vật và nước biển hấp thụ Phần CO2 được nước biển hấp thụ sẽ được kết tủa và hòa tan trong biển Các thực vật dưới biển giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì và cân bằng CO2 giữa khí
quyển và bề mặt đại dương
Do vậy, còn một phần khí CO2 trên sẽ lưu giữ trong khí quyển Đối với thực vật, nồng độ CO2 có ảnh hưởng tốt, tăng cường độ phì nhiêu và khả năng quang hợp, nhất là trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng
ẩm Nhưng với nồng độ đậm đặc thì CO2 là chất ô nhiễm nguy hại
Cacbon dioxit chủ yếu lưu động ở tầng đối lưu
Trang 27gian vũ trụ Bức xạ của mặt trời là
bức xạ sóng ngắn nên nó dễ dàng
xuyên qua các lớp khí CO2 chiếu
xuống trái đất Ngược lại, bức xạ
nhiệt từ mặt đất phát vào vũ trụ là bức xạ sóng dài, nó không có khả
năng xuyên qua lớp CO2 và bị hấp thụ bởi khí CO2 và hơi nước trong khí
quyển, do đó nhiệt độ của khí quyển bao quanh trái đất sẽ tăng lên và sẽ dẫn đến làm gia tăng nhiệt độ mặt trái đất
Hiện tượng này gọi là hiệu ứng "nhà kính" vì với khí cacbon dioxit ở đây có tác dụng tương tự như lớp kính giữ nhiệt của nhà kính trồng rau xanh
trong mùa đông, chỉ khác là nó ở quy
mô toàn cầu
Trang 282.3.3 Thay đổi khí hậu do hiệu ứng nhà kính
Sự thay đổi khí hậu toàn cầu sẽ xảy ra khi có những thay đổi về cân bằng nhiệt xảy ra tồn tại trong hành tinh
Nhiệt độ tăng có thể dẫn tới sự ấm nóng toàn cầu và các điều kiện khí hậu xáo trộn, và sự giảm nhiệt có thể dẫn tới tình trạng lạnh, mùa
đông kéo dài hơn, và làm tăng lượng nước được giữ lại trong các tảng băng ở địa cực
Nhiệt độ của trái đất tăng lên sẽ là nguyên nhân làm tan lớp băng bao phủ ở Bắc cực, do đó sẽ làm tăng mực nước biển Nếu toàn bộ băng giá ở hai cực trái đất tan ra thì mực nước toàn bộ các đại dương sẽ
tăng cao thêm và tất cả các thành phố làng mạc nằm ở vùng đồng bằng thấp, bờ biển thấp đều bị chìm dưới nước biển
Theo Stephan Keckes (nhà sinh học biển của Nam Tư, Giám đốc trung tạm đại dương và vùng biển của chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc) thì mực nước biển sẽ dâng lên 1,5 - 3m trong vòng 30 năm tới, nếu không tránh được hiện tượng "nhà kính"
Theo Plass (1956), nếu nồng độ CO2 trong khí quyển tăng gấp đôi thì nhiệt độ trung bình của bề mặt trái đất sẽ tăng lên 3,6 độ C
Trang 292.3.3 Thay đổi khí hậu do hiệu ứng nhà kính
Số liệu quan trắc đã cho thấy trong khoảng từ năm 1865 đến năm
1940, nhiệt độ trung bình năm của mặt đất đã lên khoảng 0,5 độ C Sau năm 1940 sự nóng lên của toàn trái đất đã có hiện tượng giảm bớt, nhưng riêng ở Bắc Âu và Bắc Mỹ nhiệt độ mặt trái đất vẫn tiếp tục tăng từ năm 1940 đến 1980 ít nhất là khoảng 0,11 độ C
Theo tài liệu khí hậu quốc tế thì nhiệt độ của trái đất đã tăng lên gần 0,4 độ C trong vòng 134 năm lại đây, đáng lưu ý là 3 năm nóng nhất
Trang 302.3.4 Những ảnh hưởng của sự ấm lên toàn cầu.
Khi nhiệt độ môi trường tăng sẽ gây ra các vấn đề sức khỏe có liên quan đến nhiệt, các thảm họa tự nhiên và thời tiết, những thay đổi về sự phân bố các véc tơ truyền bệnh và kết quả dẫn tới các mô hình bệnh tật truyền nhiễm, sản lượng mùa màng giảm sút và ngập lụt Ngoài ra còn có nhiều vấn đề sức khỏe gián tiếp
Không giống như những giai đoạn thay đổi khí hậu nhanh chóng trước đó, loài người hiện nay phụ thuộc vào một
hệ thống nông nghiệp, thương mại, giao tiếp phức tạp, mà hệ thống này đang có nguy cơ bị sụp đổ Sự sụp đổ về mặt xã hội dẫn tới những hành vi bạo lực cũng có thể bị tác động bởi tình trạng thiếu hụt lương thực hoặc sự nóng bức kéo dài
Mỗi năm, số ngày có nhiệt độ nóng nhất ở những thành phố lớn trên thế giới có thể tăng lên, và các bước sóng nhiệt có thể kéo dài hơn Ảnh hưởng của sự kiện này lên tỉ lệ tử vong là ở dạng lan truyền, ảnh hưởng tới tất cả các nguyên nhân tử vong chứ không chỉ là các nguyên nhân về bệnh tim mạch Nhiệt độ trong mùa hè chỉ tăng
2 0 C cũng có những ảnh hưởng nghiêm trọng, điều này đã được chứng minh trong một nghiên cứu về các ca tử vong do bệnh tim mạch liên quan tới nhiệt độ ở những thành phố lớn của bang Missouri từ 1979 tới 1987 Tại những thành phố này, vào tháng 7 năm 1980, một đợt nóng kéo dài xuất hiện, nhiệt độ vượt quá nhiệt độ cao nhất của những ngày bình thường là 31 0 C và kéo dài trong 21 ngày và vượt quá 38 0 C vào một số ngày nhất định
Cứ khoảng 4.000 cư dân thì có một người bệnh đột quỵ, và cứ 1.400 người thì có 1 người xuất hiện các chứng bệnh liên quan tới tim mạch có thể dẫn tới tử vong hoặc bắt buộc phải nhập viện Người ta ước tính rằng trong đợt nắng nóng này có khoảng 300 ca tử vong do các bệnh liên quan tới tim, và gần một nửa trong số đó là các ca đột quỵ (Jones và cộng sự 1982)