Lịch sử hình thành Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Long Hồ, Vĩnh LongTheo Quyết định 400/CP của Thủ tướng Chính phủ Ngân hàng nông nghiệp ViệtNam được thành lập v
Trang 1PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN – LONG HỒ
3.1 Giới thiệu về huyện Long Hồ và tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên huyện Long Hồ
Huyện Long Hồ là một trong 7 huyện - thị của Tỉnh Vĩnh Long, có diện tíchđất tự nhiên là 19298,76 ha Trong đó:
Diện tích đất nông nghiệp: 14448,82 ha
Ngoài ra, Long Hồ có khí hậu ấm áp và lượng mưa dồi dào Toàn huyện có33.593 hộ với 154 ngàn người và hơn 82 ngàn lao động trong đó lao động nôngnghiệp chiếm 50 ngàn người, chiếm 32,46% Số hộ có cơ sở sản xuất kinh doanh là6.279 hộ, trong đó hộ cơ sở thương nghiệp, dịch vụ 5.161 hộ và hộ cơ sở sản xuấtcông nghiệp - tiểu thủ công nghiệp là 833 hộ Lực lượng lao động trong nông thôn dồidào với tinh thần cần cù, chịu khó từ đó đã góp phần nâng cao sản lượng nông nghiệp,phát triển kinh tế của huyện
Trang 23.1.2 Tình hình kinh tế trên địa bàn huyện Long Hồ
3.1.2.1 Ngành trồng trọt
Bảng 1: Tình hình sản xuất lúa huyện Long Hồ
%Diện tích gieo trồng cả năm Ha 20064,70 19.240,60 -4,11
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp tình hình kinh tế-xã hội huyện Long Hồ 2006)
Cây lúa: Nhìn chung năm 2006, tổng diện tích lúa gieo trồng cả năm của huyện
19240,6 ha, giảm 4,11% so với diện tích gieo trồng năm 2005 Từ đó dẫn đến tổng sảnlượng lúa cả năm giảm 8,09%, tương đương 7.456 tấn Nguyên nhân là do diện tíchgieo trồng các vụ lúa đông xuân, vụ hè thu, cả vụ thu đông đều giảm so với năm 2005.Trong đó:
Vụ Đông xuân: diện tích gieo trồng giảm 1,48%, tức 107,14 ha làm cho sản lượng
lúa giảm 4,66% Nguyên nhân là do bà con chuyển mục đích sử dụng đất lên thổ cư,lên líp trồng màu, trồng cây lâu năm, đào ao nuôi cá…Mặt khác do lúc sạ bị ảnhhưởng mưa muộn làm chết giống, bà con phải sạ lại nhiều lần, sâu bệnh, dịch hại pháttriển mạnh, lúc lúa trổ bị mưa gió gây bệnh lép hạt…
Vụ Hè thu: Bên cạnh, sản lượng vụ hè thu cũng giảm đáng kể dẫn đến tổng sản
lượng lúa của toàn huyện năm 2006 giảm Toàn huyện gieo trồng và thu hoạch được6.853,33 ha đạt 102% so kế hoạch, so vụ hè thu năm trước giảm gần 2% hay giảm 135
Trang 3ha Năng suất bình quân chung của vụ ước đạt 42,85 tạ/ha giảm 1,19 tạ/ha so với vụ
hè thu năm 2005 Nguyên nhân do bà con thực hiện chương trình trồng màu trên đấtruộng, nuôi thuỷ sản, bán đất làm gạch, trồng cỏ, chuyển mục đích sử dụng…
Vụ Thu đông: Toàn huyện sản xuất được 5267,6 ha giảm 9,99% so với vụ thu
đông năm 2005 hay bằng 584,9 ha Nguyên nhân giảm là do bà con hiểu được tác hại
về sâu bệnh từ vụ thu đông để lại cho vụ chính (vụ đông xuân) nên không sản xuất vụ
3 mà xới nền chuẩn bị cho vụ đông xuân Do lợi nhuận từ vụ thu đông không cao nên
bà con chuyển sang trồng màu hoặc bán đất gạch để cải tạo đất
Cây hàng năm: Ước diện tích thu hoạch rau các loại tháng 12/2006 đạt 87,5 ha
tăng 6,71% so cùng kỳ Sản lượng thu hoạch rau màu các loại cả năm ước đạt 21.531tấn tăng 11,15% so năm 2005
Cây lâu năm: Ước tính sản lượng thu hoạch trái cây các loại tháng 12/2006 đạt
5984 tấn tăng 1,98% so cùng kỳ, luỹ kế 12 tháng năm 2006 đạt 80399 tấn tăng17,64% so cùng kỳ Phát huy thế mạnh đạt được đồng thời do tác động giá cả tăng và
ổn định từ đầu năm ngành nông nghiệp cùng bà con nhà vườn có bước chuẩn bị chuđáo trong việc gia cố tu bổ bờ bao, cống bọng cho mùa lũ tới Việc cải tạo vườn tạp,vườn già cỏi kém hiệu quả ngày càng được quan tâm phát triển mạnh cũng như khâuđầu tư chăm sóc, áp dụng thành công các tiến bộ khoa học kỹ thuật
3.1.2.2 Ngành chăn nuôi
Bảng 2: Số lượng đàn chăn nuôi toàn huyện 2005, 2006 Chỉ tiêu Đơn vị 2005 2006 2006/2005 Tổng đàn gia súc gia cầm Con 620.098 374.542 -39,60
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp tình hình kinh tế-xã hội huyện Long Hồ 2006)
Tổng đàn gia súc gia cầm trên địa bàn huyện giảm 39,60% trong năm 2006 haygiảm 245.556 con Trong đó:
Trang 4Đàn gia súc giảm 12,1% tương đương 5.091 con Đàn bò tăng mạnh đến 37,56%tức tăng 1.236 con, đàn dê của huyện tăng 1,26% bằng 15 con so cùng kỳ, đàn trâugiảm 3 con, đàn heo giảm mạnh đến 6.339 con
Đàn gia cầm của huyện giảm mạnh 41,6% tương đương 240.465 con Đây có thểxem là một biến động lớn đối với ngành chăn nuôi của huyện Trong tổng đàn giacầm, đàn vịt giảm 35,30%, đàn gà lại giảm đến trên 45% từ đó đã ảnh hưởng rất lớnđến tỷ trọng của tổng đàn gia súc gia cầm của huyện
3.1.2.3 Ngành thuỷ sản
Ước sản lượng thu hoạch tháng 12/2006 đạt 780,5 tấn tăng 1,6% so cùng kỳ,luỹ kế cả năm 2006 đạt 9.799,6 tấn tăng 27,9% so năm 2005 Nguyên nhân, do nhucầu xuất khẩu cá tra, cá ba sa tăng mạnh, thị trường xuất khẩu các nước trên thế giớiđược mở rộng, doanh nghiệp sản xuất chế biến mở rộng sản xuất tăng mạnh 6 thángđầu năm, sang quý 3 tình hình nuôi cá xuất khẩu trên địa bàn có phần giảm do ảnhhưởng tình hình trong khu vực thị trường tiêu thụ không ổn định, giá bán giảm mạnh,các doanh nghiệp ép giá người nuôi…
3.1.2.4 Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ:
Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn huyện năm 2006 ước đạt 439477 triệuđồng Trong đó khu công nghiệp Hoà Phú ước đạt 225.993 triệu đồng Do khu côngnghiệp Hoà Phú từng bước đi vào sản xuất ổn định hơn, thu hút trên 9.000 công nhântrong và ngoài tỉnh Bên cạnh một số doanh nghiệp đang đầu tư và đi vào hoạt động
ổn định hơn như công ty Đỗ Lộc, Tỷ Xuân, Tân Hải, Á Châu…
Thương mại dịch vụ: tổng mức lưu chuyển hàng hoá và doanh thu dịch vụ xãhội năm 2006 trên địa bàn huyện tăng trưởng khá cao so cùng kỳ Ước tính tổng mứclưu chuyển hàng hoá và doanh thu dịch vụ đạt 750.467 triệu đồng tăng 19,48% socùng kỳ
Nguyên nhân là do trên địa bàn huyện hiện nay, mạng lưới chợ nông thônkhông ngừng mở rộng, hình thành nhiều chợ ở các xã, đáp ứng được nhu cầu tiêudùng của người dân Kết hợp với hiệu quả đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, tạo điều kiệngiao thông thuận tiện hơn, trao đổi hàng hoá thuận tiện hơn…
3.2 Khái quát Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn huyện Long Hồ, Tỉnh Vĩnh Long
Trang 53.2.1 Lịch sử hình thành Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Long Hồ, Vĩnh Long
Theo Quyết định 400/CP của Thủ tướng Chính phủ Ngân hàng nông nghiệp ViệtNam được thành lập với 100% vốn ngân sách cấp là ngân hàng quốc gia đa năng, nay
là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có trụ sở chính đặt tại
Hà Nội, mỗi thành phố, mỗi tỉnh đều có chi nhánh trực thuộc khu vực, ban lãnh đạo vàđiều hành trong các chi nhánh do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thônViệt Nam bổ nhiệm chỉ đạo quản lý
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Vĩnh Long đặt tại trungtâm thị xã Vĩnh Long với 15 chi nhánh được đặt ở các huyện Tại khóm 5 Thị trấnLong Hồ, chi nhánh NHNo&PTNT Long Hồ là một ngân hàng tư nhân hoạt động dướihình thức “đi vay để cho vay”, mọi hoạt động và sự phát triển của ngân hàng nôngnghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Long Hồ đều thông qua sự quản lý và điềuhành của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Long
Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Long Hồ ra đời vào năm 1988trong điều kiện đất nước hoàn toàn được giải phóng, thống nhất và đang gặp nhiềukhó khăn Qua quá trình hoạt động, Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển NôngThôn huyện Long Hồ đã dần khẳng định vị trí và vai trò của mình trong xây dựng vàphát triển kinh tế cho huyện nhà, giúp cho đời sống vật chất của người dân được nângcao và không ngừng phát triển Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông ThônLong Hồ luôn lấy chữ tín làm phương châm hoạt động, làm mục tiêu phấn đấu, phongcách làm việc của cán bộ ngân hàng luôn được đào tạo kịp thời để mang đến chokhách hàng những gì tiện ích nhất, tốt đẹp nhất
Ngày nay, với nhu cầu ngày càng cao về vốn để sản xuất, tái sản xuất của nền kinh
tế, số lượng khách hàng có nhu cầu vay vốn ngày càng tăng và để tạo điều kiện thuậnlợi cho khách hàng khi giao dịch cùng ngân hàng cũng như để tăng lợi nhuận chongân hàng, Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Long Hồ với 4 chinhánh cấp 3 đang hoạt động tại các xã Hoà Ninh, An Bình, Cầu Đôi, Phú Quới và cócác phòng giao dịch nhỏ đặt tại các xã Phước Hậu, Thanh Đức…
Trang 63.2.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng của các bộ phận:
3.2.2.1 Cơ cấu tổ chức:
Hình 2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn huyện Long Hồ 3.2.2.2 Chức năng của các bộ phận:
Ban giám đốc: Giám đốc ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
huyện Long Hồ do Giám đốc ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnhVĩnh Long bổ nhiệm trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh tại ngânhàng mọi hoạt động dưới sự lãnh đạo của Ban giám đốc
Phó Giám đốc phụ trách chi nhánh cấp 3: Trực tiếp quản lý và điều hành
mọi hoạt động của 4 chi nhánh cấp 3
Trang 7 Phó Giám đốc: Trực tiếp quản lý và điều hành mọi hoạt động của phòng
kinh doanh, phòng kế toán, phòng ngân quỹ, phong hành chính và bảo vệ
Giám định viên: Có nhiệm vụ kiểm soát nội bộ trong quá trình thực hiện
chế độ theo quy chế của pháp luật
Phòng kinh doanh: Trong đó Trưởng phòng có nhiệm vụ xây dựng kế
hoạch tháng, quý, năm và phụ trách chi tiêu cho các Chi nhánh, cán bộ tín dụng, Giámsát công việc của cán bộ tín dụng đồng thời báo cáo và đề xuất ý kiến của Phòng vớiBan giám đốc Cán bộ tín dụng được phân công mỗi người phụ trách một địa bàn (xã)
và trực tiếp ở địa bàn thực hiện thẩm định, cho vay, đôn đốc và xử lý nợ khi đến hạn
Phòng kế toán: Hạch toán và theo dõi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
trong hoạt động ngân hàng, đại diện phòng là trưởng phòng chịu trách nhiệm mọi hoạtđộng của phòng kế toán dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phó giám đốc
Các chi nhánh cấp 3: Hoạt động như một ngân hàng cùng hệ thống và
trực tiếp chịu sự chỉ đạo, giám sát của ngân hàng huyện
3.2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng qua 3 năm
Trong ba năm qua (2004-2006), trước những thử thách và cơ hội, chi nhánh NHNo
& PTNT huyện Long Hồ với sự nỗ lực không ngừng của mình đã vượt qua khó khăn
và đã đạt được những kết quả khả quan Điều đó được thể hiện trong bảng báo cáo kếtquả hoạt động kinh doanh của trong ba năm như sau:
Bảng 3: Biến động doanh thu, chi phí, lợi nhuận qua các năm
ĐVT: Triệu đồng
Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền % Số tiền %
Doanh thu 27.817 31.667 36.434 3.850 13,84 4.767 15,05Chi phí 19.703 23.088 25.011 3.385 17,18 1.923 8,33Lợi nhuận 8.114 8.579 11.323 465 5,73 2.744 31,99
(Nguồn: Bảng cân đối tài khoản chi tiết 2004, 2005, 2006 - Phòng Kế toán NHN 0 & PTNT
huyện Long Hồ, Tỉnh Vĩnh Long)
Trang 82004 2005 20060
500010000150002000025000300003500040000
NămTriệu đồng
Hìn
h 3: Biểu đồ biến động doanh thu, chi phí và lợi nhuận
qua các năm 2004-2006 3.2.3.1 Doanh thu
Bảng 4: Biến động doanh thu
(Nguồn: Bảng cân đối tài khoản chi tiết 2004, 2005, 2006 - Phòng Kế toán NHN 0 & PTNT
huyện Long Hồ, Tỉnh Vĩnh Long)
Trang 9chủ yếu Bên cạnh, thu từ hoạt động dịch vụ chỉ chiếm 0,14% bằng 39 triệu đồng DoHuyện nằm bao quanh thị xã Vĩnh Long phải cạnh tranh gay gắt với các tổ chức tíndụng khác trên địa bàn và do tính đặc thù của Ngân hàng là hoạt động tín dụng nênkhoản thu từ dịch vụ chiếm tỷ trọng rất nhỏ, cũng như các khoản thu từ kinh doanhngoại hối chỉ đạt 18 triệu đồng tức 0,06% trong tổng doanh thu Ngoài ra còn cáckhoản thu khác (95 triệu đồng) cũng chỉ 0,34%.
Năm 2005, tổng doanh thu đạt 31.667 triệu đồng tăng 3.850 triệu đồng so vớinăm 2004, đạt 108,87% so với kế hoạch Trong năm 2005, nền kinh tế nói chung vàsản xuất nông nghiệp của huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long nói riêng có rất nhiều biếnđộng, chịu ảnh hưởng rất lớn từ thiên tai, dịch bệnh diễn biến bất thường Nhưng vớichủ trương, chính sách đúng đắn của đảng và Nhà nước, cũng như sự hướng dẫn vàtháo gỡ những vướng mắc một cách kịp thời trong quá trình hoạt động của Ngân hàngnên đã khắc phục được những khó khăn và đạt được chỉ tiêu kế hoạch đề ra Bên cạnhthu từ hoạt động tín dụng tăng 3580 triệu đồng tức 12,94% so với năm 2004, thu từdịch vụ tăng đáng kể đạt 79 triệu đồng tăng 102,56% so với năm 2004, thu từ kinhdoanh ngoại hối tăng 66,67% và thu khác tăng đáng kể đạt 218 triệu đồng so với nămtrước Nhìn chung hoạt động kinh doanh của Ngân hàng đã đạt những kết quả tốt gópphần nâng cao vai trò của Ngân hàng trong việc phát triển nền sản xuất nông nghiệpcủa huyện nhà
Sang năm 2006, tổng doanh thu của Ngân hàng tiếp tục tăng và có tốc độ tăngnhanh hơn so với năm 2005 đạt 36.334 triệu đồng, tức tăng 14,74% đạt 105,7% so với
kế hoạch Tỉnh giao Trong đó, thu từ hoạt động tín dụng tăng đạt 35.323 triệu đồng
Do trong năm 2006, hoạt động cho vay ngày càng được chú trọng và quan tâm từNgân hàng cấp trên nên doanh số cho vay tăng Mặt khác, ngoài hoạt động tín dụngthu lợi nhuận, Ngân hàng còn tăng cường đầu tư vào hoạt động kinh doanh ngoại hốinên đã làm cho các khoản thu ngày càng tăng góp phần tăng tổng thu nhập cho Ngânhàng Tuy nhiên các khoản thu từ dịch vụ, kinh doanh ngoại hối còn chiếm tỷ trọng rấtnhỏ trong tổng nguồn thu nên Ngân hàng cần chú trọng hơn nữa các hoạt động dịch
vụ như: tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho khách hàng gửi tiền (cả nội tệ và ngoại tệ),kinh doanh ngoại tệ…trong những năm tới, để tăng thêm nguồn thu và tạo ra nhiều lợinhuận cho Ngân hàng hơn
Trang 10TT (%) Số tiền % Số tiền % Tổng chi 19.703 100,00 23.088 100,00 25.011 100,00 3.385 17,18 1.923 8,33
Chi HĐTD 15.909 80,74 18.827 81,54 19.182 76,69 2.918 18,34 355 1,89
Chi khác 3.649 18,52 4.129 17,88 5.672 22,68 480 13,15 1.543 37,37
(Nguồn: Bảng cân đối tài khoản chi tiết 2004, 2005, 2006 - Phòng Kế toán NHN 0 & PTNT
huyện Long Hồ, Tỉnh Vĩnh Long)
Nhìn chung, chi phí hoạt động của Ngân hàng qua 3 năm đều tăng Năm 2004,tổng chi phí là 19.703 triệu đồng, trong đó chi phí chi cho hoạt động tín dụng là15.909 triệu đồng, chiếm 80,74%, chi dịch vụ với tỷ lệ 0,71% tổng chi phí và chi khácchỉ chiếm 18,52% (3.649 triệu đồng) Sang đến năm 2005, tổng chi phí là 23.088 triệuđồng, tăng 3.385 triệu đồng so với năm 2004 Trong đó, chi hoạt động tín dụng là18.827 triệu đồng, tăng 2.918 triệu đồng, tương ứng 18,34% so với năm 2004 Thếnhưng chi dịch vụ lại giảm 18 triệu đồng, tương ứng tỷ lệ giảm 12,86% so với năm
2004 Chi khác cũng tăng, tăng 480 triệu, tương ứng với tỷ lệ tăng 13,15% so với năm
2004 Nguyên nhân là do trong năm 2005, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, giávật tư nông nghiệp, giá cả vật liệu xây dựng tăng vọt, từ đó nhu cầu vốn của người dântăng dẫn đến khoản chi hoạt động tín dụng cũng tăng Mặt khác, năm 2005 hoạt độngkinh doanh của ngân hàng ngày càng mở rộng kinh doanh ngoại hối nên khoản chinày tăng gấp đôi so với năm 2004 Nhưng nhìn chung thì khoản chi tín dụng vẫnchiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng chi phí, từ đó thấy được hoạt động tín dụng củaNgân hàng vẫn là chủ yếu
Trong năm 2006, tổng chi phí lại tiếp tục tăng, với số tiền 25.011 triệu đồng,tăng 1.923 triệu đồng, với tốc độ tăng 8,33%, trong đó chi phí hoạt động tín dụngchiếm 76,69% với số tiền 19.182 triệu đồng, tăng 355 triệu đồng, tương ứng tăng1,89%, do đến thời điểm này, Huyện Long Hồ vẫn là vùng đất đầy tiềm năng pháttriển về công-nông nghiệp, thương mại-dịch vụ nên nhu cầu vốn của khách hàng vẫn
Trang 11tăng, số lượng món vay tăng lên, thế nên tổng chi phí cho các món vay cũng tăng.Mặc dù tổng chi phí tăng thế nhưng tỷ lệ tăng của chi phí là 8,33% nhỏ hơn rất nhiều
so với tốc độ tăng của doanh thu (14,74%) Do đó, trong năm này hoạt động của Ngânhàng vẫn thu được lợi nhuận cao
3.2.3.3 Lợi nhuận
Có thể nói thông qua lợi nhuận của Ngân hàng qua 3 năm đã trả lời cho câuhỏi: Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng có ngày càng hiệu quả hơn haykhông?
Qua số liệu đã phân tích ở trên, mặc dù chi phí tăng qua các năm nhưng Ngânhàng vẫn thu được lợi nhuận đáng kể và còn tăng qua các năm từ đó giúp Ngân hàngduy trì hoạt động kinh doanh của mình tốt hơn Năm 2004, lợi nhuận thu được là8.114 triệu đồng, sang năm 2005 là 8.579 triệu đồng, tăng 465 triệu đồng so với năm
2004 Nguyên nhân là do sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng nhằm thu hútkhách hàng huy động vốn, ngân hàng cũng đã tăng lãi suất huy động vốn để đáp ứngnhu cầu khách hàng và mở thêm phòng giao dịch ở các xã cho những khách hàng ở xanên đã nâng chi phí tăng cao với tốc độ tăng 17,18% tăng nhanh hơn so với tốc độtăng của doanh thu (13,84%) Nhưng nhìn chung năm 2005, Ngân hàng vẫn thu đượclợi nhuận nhưng tăng không cao Đến năm 2006, lợi nhuận của Ngân hàng đã tăng lênmột con số đáng khích lệ, đạt 11.323 triệu đồng, tăng 2.744 triệu đồng, tương ứng tỷ
lệ tăng 31,99% so với năm 2005 Năm 2006, Ngân hàng tiếp tục quán kiệt nghị quyếtcủa huyện uỷ, chủ trương của ngành và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của huyện
để có phương án cho vay phù hợp với các thành phần kinh tế, chú trọng cho vaydoanh nghiệp vừa và nhỏ, mạnh mẽ đầu tư cho vay hộ sản xuất, kinh doanh dịch vụ từ
đó đã góp phần tăng lợi nhuận cho Ngân hàng
Qua kết quả hoạt động ba năm 2004-2006 của Ngân hàng, ta thấy mặc dù thịtrường có biến động, nhưng bằng sự nỗ lực, Ngân hàng vẫn vượt qua và đạt kết quảkhả quan Nguồn thu chủ yếu của Ngân hàng là thu lãi cho vay (trên 90%) Điều đóchứng minh rằng hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại doanh thu chủ yếu củaNgân hàng, các khoản thu dịch vụ và thu khác thì biến động lúc tăng lúc giảm nhưngchỉ chiếm tỷ trọng không đáng kể trong doanh thu của Ngân hàng, đây cũng chính là
Trang 12tiềm năng chưa khai thác của Ngân hàng, và đáng được Ngân hàng quan tâm trongthời gian tới
Để có được kết quả như vậy là nhờ có sự nỗ lực của ban giám đốc và toàn thểcán bộ công nhân viên của NHNo & PTNT huyện Long Hồ đã chấp hành tốt mọi chủtrương, đường lối, chính sách của Đảng cũng như sự chỉ đạo của Ngân hàng cấp trên;cùng với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương các cấp trên địa bàn, quan tâm, giúp
đỡ, xem công tác tín dụng là biện pháp hàng đầu trong chính sách khuyến nông củaHuyện Tất cả các yếu tố trên giúp Ngân hàng hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hộicủa Huyện đề ra, cũng như cạnh tranh với các Ngân hàng khác trên địa bàn
3.2.4 Định hướng hoạt động kinh doanh trong năm 2007
Nguồn vốn huy động: tăng trưởng từ 18-20% so với năm 2006
Tổng dư nợ tăng trưởng 10-12% so với năm 2006, trong đó dư nợ trung,dài hạn chiếm từ 30-35% tổng dư nợ
Chất lượng tín dụng: nợ xấu chiếm tối đa 1% tổng dư nợ
Về tài chính: thu tối thiểu bằng năm 2006
3.3 Phân tích hoạt động tín dụng của Ngân hàng
Trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ Ngân hàng nào, nguồn vốn luôn giữ vai tròquan trọng, mang tính chất quyết định đối với hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Long Hồ hoạt động
theo phương châm “đi vay để cho vay” Vì vậy để tìm hiểu về hoạt động tín dụng chovay hộ sản xuất nông nghiệp của Ngân hàng trước tiên phải đi vào tìm hiểu về tìnhhình huy động vốn để hiểu rõ về khả năng cho vay cũng như trả lời cho câu hỏi: Tìnhhình huy động vốn của ngân hàng có đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra và có tăng trưởng quacác năm hay không?
Trang 13TT (%) Số tiền % Số tiền %
0
248.975 100,0
0 4.646 1,99 10.929 4,59
(Nguồn: Phòng Kế toán NHN 0 & PTNT huyện Long Hồ, Tỉnh Vĩnh Long)
Ghi chú: + TG: tiền gửi
+ TGTCTD: tiền gửi tổ chức tín dụng+ TGTT: tiền gửi thanh toán
+ TGTK: tiền gửi tiết kiệm+ CCTG: chứng chỉ tiền gửi+ Vốn ĐC: Vốn điều chuyển
0 50000 100000 150000 200000 250000 300000
233400 238046 248975
Vốn huy động Vốn điều chuyển Tổng nguồn vốn
Năm Triệu đồng
Hình 4: Biểu đồ biến động vốn huy động, vốn điều chuyển
và tổng nguồn vốn.
Trang 14Năm 2004, nguồn vốn huy động của Ngân hàng nhìn chung có chuyển biến tíchcực, mở rộng được khách hàng mới với mức lãi suất nội ngoại tệ từng bước được cảithiện phù hợp hơn Kết quả đạt được từ sự cố gắng của tập thể Ngân hàng là lượngvốn huy động chiếm tỷ trọng 32,50% tổng nguồn vốn, tương đương 75.856 triệu đồng.Trong tổng nguồn vốn, tiền gửi kho bạc đạt 26.016 triệu đồng chiếm tỷ trọng11,15% Bên cạnh, tiền gửi tiết kiệm chiếm 9,29% tổng nguồn vốn, loại tiền gửi nàyhuy động được khá nhiều từ vốn nhàn rỗi của người dân nên đã góp phần tăng đáng kểnguồn vốn huy động cho Ngân hàng
Trong năm 2004, các ngành kinh tế trọng điểm của Huyện đều có mức tăng trưởngcao (theo báo cáo tình hình kinh tế xã hội Huyện 2004), các doanh nghiệp vừa và nhỏngày càng được chú trọng phát triển, các hợp tác xã sản xuất rau an toàn dần xuất hiện
và đi vào hoạt động ngày càng hiệu quả hơn.Vì thế nhu cầu giao dịch cũng bắt đầutăng giữa các thành phần, đơn vị kinh tế với nhau, chính vì vậy khoản tiền gửi kháchhàng tăng lên đáng kể đạt 20.512 triệu đồng Đây là dạng đầu tư không nhằm mụcđích sinh lời mà để thanh toán, chi trả trong kinh doanh Và là nguồn vốn có thể huyđộng được nhiều hơn trong tương lai khi mà nhu cầu giao dịch càng tăng
Ngoài ra, hình thức huy động vốn của Ngân hàng còn đa dạng hơn thông qua việcphát hành các loại giấy tờ có giá Đây cũng là nguồn vốn lớn của Ngân hàng để đápứng nhu cầu cho vay Năm 2004, phát hành giấy tờ có giá đạt 7.468 triệu đồng bằng3,2% tổng nguồn vốn
Năm 2005 Chi nhánh huy động được 97.834 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 41,10%tổng nguồn vốn, tương ứng với tốc độ tăng là 28,97% so với năm 2004 Nguồn vốnhuy động tăng cho thấy đời sống của người dân được nâng cao và chi nhánh hoạt động
có hiệu quả hơn Đó là nhờ vào sự gia tăng của tiền gửi thanh toán, đây là khoản tiềngửi rất lớn từ khách hàng với tốc độ tăng trưởng 53,12% so với năm 2004 Trong năm,nền công nghiệp của huyện phát triển không ngừng với sự phát triển ngày càng mạnh
mẽ của khu công nghiệp Hoà Phú đã tạo nguồn thu lớn cho Huyện và tăng nhu cầuthanh toán trong các đơn vị kinh doanh Hình thức này nhằm thu hút và huy động
được vốn thanh toán và thường thay đổi theo nhu cầu của khách hàng
Trang 15Để thu hút và huy động được vốn nhàn rỗi trong dân cư, bên cạnh tiền gửi thanhtoán, tiền gửi tiết kiệm trong dân cư cũng chiếm tỷ trọng ngày càng nhiều với tốc độtăng trưởng đạt 32,31% chiếm 12,06% trong tổng nguồn vốn Sự tăng trưởng với tốc
độ cao của hai loại tiền gửi này chứng tỏ uy tín của Ngân hàng ngày càng được nângcao, lượng tiền nhàn rỗi trong nhân dân ngày một tăng đã được tập hợp lại để giúpnhững người thiếu vốn, cần vốn
Ngoài ra, sự tăng trưởng của các loại giấy tờ có giá cũng chiếm tỷ trọng đáng kểtrong tổng nguồn vốn với tốc độ tăng trưởng đạt 33,13% và đã làm tăng thêm nguồnvốn đáp ứng cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Nhìn chung, năm 2005, nguồn vốn huy động của Ngân hàng đạt kết quả khả quanvới tốc độ tăng trưởng 28,97% so năm trước Nguồn vốn huy động ngoại tệ là sảnphẩm mới của Ngân hàng nhưng với quyết tâm cao của từng cán bộ Ngân hàng trongviệc thực hiện chỉ tiêu kế hoạch được giao đồng thời thông qua công tác tuyên truyền,tiếp thị, quảng cáo đã góp phần quảng bá thương hiệu AgriBank của Ngân hàng NôngNghiệp và Phát triển Nông thôn Huyện Long Hồ, Tỉnh Vĩnh Long
Sang năm 2006 thì tổng nguồn vốn đạt 248.975 triệu đồng, tăng 10.929 triệu đồng,tương ứng tăng 4,59% so năm 2005 Tuy nguồn vốn huy động có giảm 8,07% so vớinăm 2005 nhưng do Ngân hàng đã nhận lượng vốn điều chuyển từ chi nhánh cấp trêntăng 13,43% nên tổng nguồn vốn của Ngân hàng vẫn tăng trong năm 2006 Năm 2006,
do nhu cầu vốn tăng nên lượng giấy tờ có giá được phát hành ngày càng nhiều đã làmtăng tỷ trọng của loại tiền này lên 13.779 triệu đồng với tốc độ tăng trưởng 38,59%.Hơn nữa lãi suất kỳ phiếu cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm nên thu hút người dânmua các giấy tờ có giá
Nguyên nhân nguồn vốn huy động giảm trong năm 2006 là do trong năm có nhiềubiến động ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của huyện như dịch bệnh, thiên tai, giá cảmột số mặt hàng tăng vọt, giá cả hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng, vật liệu nôngnghiệp đều tăng nên nhu cầu sử dụng tiền mặt của người dân tăng, các doanh nghiệplớn còn rơi vào tình trạng thiếu vốn đầu tư nên lượng vốn huy động ngày càng giảmtrong năm 2006 Mặt khác, khu vực Long Hồ rất sôi động cạnh tranh quyết liệt vàngày càng gay gắt, các ngân hàng và tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh từ lâu đãhướng mạnh về thị trường Long Hồ Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đã làm giảm các
Trang 16khoản huy động từ tiền gửi thanh toán đến tiền gửi tiết kiệm Đây là 2 nguồn huy độnglớn của Ngân hàng nên đã làm cho nguồn vốn huy động giảm đáng kể trong năm 2006Tóm lại, đã có thể trả lời câu hỏi: Tình hình huy động vốn của ngân hàng có đạtchỉ tiêu kế hoạch đề ra và có tăng trưởng qua các năm hay không? Nhìn chung, tìnhhình huy động vốn của Ngân hàng đã đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra qua các năm nhưng
do một số nguyên nhân khách quan nên đã ảnh hưởng đến nguồn vốn này trong năm
2006 nhưng chỉ biến động nhẹ Ngân hàng đã có nhiều chuyển biến tốt trong nhậnthức và tổ chức thực hiện ở từng chi nhánh, có cố gắng trong việc tiếp cận và tranh thủ
sự hỗ trợ của chính quyền, đoàn thể, ban ngành trong công tác huy động vốn để huyđộng các khoản tiền nhàn rỗi của dân cư, tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng, các hộ muabán kinh doanh… huy động theo các sản phẩm hiện có như tiết kiệm, chứng chỉ tiềngửi dài hạn, Agribank cup và các loại hình tiết kiệm dự thưởng của Tỉnh, TrungƯơng…
3.3.2 Phân tích hoạt động tín dụng
Để có thể xem xét tình hình hoạt động tín dụng của Ngân hàng cần xét đến cácchỉ tiêu về doanh số cho vay, doanh số thu nợ, tình hình dư nợ kinh doanh và cả nợquá hạn qua 3 năm 2004-2006 để trả lời cho một số câu hỏi cần kiểm định, trước tiêncần xét đến doanh số cho vay hộ sản xuất nông nghiệp
3.3.2.1 Doanh số cho vay
Doanh số cho vay hộ sản xuất nông nghiệp có tăng qua các năm hay không? Đểtrả lời cho câu hỏi trên cần đi sâu tìm hiểu về doanh số cho vay của Ngân hàng NôngNghiệp và Phát triển Nông thôn Huyện Long Hồ, Tỉnh Vĩnh Long qua các năm 2004,
2005, 2006
Do phần lớn người dân trong Huyện sống bằng nghề nông nên Chi nhánh chủyếu tập trung vào cho vay hộ sản xuất nông nghiệp, mà thời hạn cho vay chỉ là chovay ngắn hạn và cho vay trung hạn (chưa cho vay dài hạn đối với hộ sản xuất nôngnghiệp) Tùy theo đối tượng mà Ngân hàng có thể cho vay từ 70%-90% tổng chi phíthực hiện phương án sản xuất kinh doanh và căn cứ vào từng món vay cụ thể
Trang 17Bảng 7: Tổng doanh số cho vay hộ sản xuất nông nghiệp
TT (%) Số tiền % Số tiền %
Năm Triệu đồng
Hình 5: Biểu đồ biến động Tổng doanh số cho vay
qua 3 năm 2004-2006
Qua biểu đồ, cho thấy tổng doanh số cho vay năm 2004 đạt 221.804 triệu đồng.Trong đó, doanh số cho vay ngắn hạn đạt 194.335 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 87,62%tổng doanh số cho vay Doanh số cho vay trung hạn đạt 27.469 triệu đồng, chiếm12,38% Sang năm 2005, tổng doanh số cho vay tăng đáng kể với tốc độ 27,56% là282.939 triệu đồng Cụ thể như sau: cho vay ngắn hạn là 252.758 triệu đồng, chiếmphần lớn doanh số cho vay với tỷ trọng 89,33% tổng doanh số cho vay hộ sản xuấtnông nghiệp, so với năm 2004 thì tăng 58.423 triệu đồng, tương ứng tốc độ tăng30,06% và cho vay trung hạn là 30.181 triệu đồng, chiếm 10,67%, tăng 2.712 triệuđồng, tương ứng tốc độ 9,87% Đến năm 2006 doanh số cho vay hộ sản xuất nôngnghiệp đạt 283.593 triệu đồng, trong đó cho vay ngắn hạn đạt 264.091 triệu đồng, tăng11.333 triệu đồng, tương ứng tăng 4,48% so với năm 2005 Cho vay trung hạn đạt
Trang 1819.502 triệu đồng, và có chiều hướng giảm 10.679 triệu đồng, ứng tốc độ giảm35,38% so với năm 2005.
a) Doanh số cho vay ngắn hạn hộ sản xuất nông nghiệp
Nhìn vào biểu đồ ở trên, doanh số cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng rất caotrong tổng doanh số cho vay của Ngân hàng Để thấy được tỷ trọng của từng thànhphần trong tổng doanh số cho vay ngắn hạn, chúng ta sẽ tiến hành phân tích từngkhoản mục trong doanh số cho vay ngắn hạn như sau:
Bảng 8: Doanh số cho vay ngắn hạn hộ sản xuất nông nghiệp
TT (%) Số tiền % Số tiền %
Trồng trọt 1.154 0,60 1.941 0,77 2.047 0,78 787 68,20 106 5,46Chăn nuôi 9.091 4,70 33.572 13,28 49.622 18,79 24.481 269,29 16.050 47,81KTTH 184.090 95,00 217.245 85,95 212.422 80,44 33.155 18,01 -4.823 -2,22
Tổng 194.335 100,00 252.758 100,00 264.091 100,00 58.423 30,06 11.333 4,48
(Nguồn: Bảng cân đối tài khoản chi tiết 2004, 2005, 2006 - Phòng Kế toán NHN 0 & PTNT
huyện Long Hồ, Tỉnh Vĩnh Long) Ghi chú: KTTH (Kinh tế tổng hợp)
Từ thực tiễn sản xuất nông nghiệp Huyện Long Hồ cho thấy, tín dụng ngắn hạnthật sự đã đáp ứng được nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn bị thiếu hụt của bà con nôngdân tại địa bàn huyện Cho vay hộ sản xuất nông nghiệp đạt được kết quả cao vàkhông ngừng phát triển Hoạt động cho vay hộ sản xuất nông nghiệp là hoạt động diễn
ra thường xuyên tại NHNo & PTNT huyện Long Hồ Tỉnh Vĩnh Long
Doanh số cho vay ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh số chovay của Ngân hàng, bởi vì thực tế tại huyện Long Hồ hầu hết nhu cầu vay vốn củangười dân là để bổ sung nguồn vốn tạm thời thiếu hụt, mục đích xin vay là để mua congiống, cây giống, phân bón, thuốc trừ sâu, cải tạo vườn, mua máy phục vụ cho sảnxuất nông nghiệp…Trong đó, cho hộ sản xuất nông nghiệp vay để làm Kinh tế tổnghợp luôn chiếm phần lớn trong cho vay ngắn hạn Ngoài ra, các hình thức cho vaykhác như trồng trọt, chăn nuôi, tuy chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng cũng rất quan trọng,ngân hàng luôn tìm cách để nâng cao doanh số cho vay của các đối tượng này Cụ thểnhư sau:
Trang 19Trong năm 2005 tốc độ tăng trưởng đạt 68,20% so với năm 2004 Sang năm
2006, doanh số cho vay tiếp tục tăng và đạt 2.047 triệu đồng, chiếm 0,78% trongdoanh số cho vay ngắn hạn với tốc độ tăng trưởng là 5,46% so với năm 2005 Nguyênnhân là do ngày nay, rau màu là loại thực phẩm thiết yếu không thể thiếu trong bữa ăngia đình, trong thời gian qua một số dịch bệnh xuất hiện trên động vật nên nhu cầuthực phẩm từ thịt gia súc, gia cầm giảm mạnh mà thay vào đó là sự gia tăng nhu cầu
về các loại rau quả tươi, sạch, an toàn từ đó đã thúc đẩy ngành trồng trọt của Huyệnkhông ngừng phát triển Trong thời gian qua Huyện cũng đã có các chính sách khuyếnkhích người dân trồng rau sạch và sự hướng dẫn tận tình của cán bộ phòng Nôngnghiệp nên người dân đã áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng trọt, đã làmdoanh thu hàng năm tăng lên, cải thiện được đời sống người dân Từ đó, người dântích cực trồng trọt và đòi hỏi phải có vốn, bà con đã tìm đến Ngân hàng để vay vốn, vìvậy mà doanh số cho vay của Ngân hàng tăng lên
@ Cho vay ngành chăn nuôi
Tuy tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm diễn biến phức tạp nhưngnhờ sự chỉ đạo đúng đắn của chính quyền địa phương trong việc hạn chế và giải quyếtvấn đề dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm nên phần nào đã kiềm chế được dịch bệnh
và ổn định việc chăn nuôi của Huyện Và đây cũng là đối tượng được Ngân hàng quantâm đầu tư theo chỉ đạo về phát triển đàn vật nuôi trong Tỉnh Cụ thể:
Năm 2004 doanh số cho vay của đối tượng này đạt 9.091 triệu đồng, chiếm4,7% trong tổng doanh số cho vay ngắn hạn, năm 2005 doanh số cho vay đạt 33.572triệu đồng, tăng 24.481 triệu đồng, với tốc độ tăng trưởng 269,29% so năm 2004
Trang 20Nguyên nhân do trong năm 2005, mặc dù tổng sản lượng ngành chăn nuôi có giảm,trong đó đàn heo, đàn gia cầm giảm mạnh nhưng bù lại đàn bò, đàn dê của Huyện cóbước tăng trưởng cao do bò, dê là loài gia súc dễ nuôi, giá bán giảm không đáng kể,chỉ đầu tư về con giống, không phải tốn chi phí cho thức ăn và cho hiệu quả kinh tếkhá
Đến năm 2006, doanh số cho vay trong lĩnh vực này tiếp tục tăng với tốc độtương đối cao đạt 49.622 triệu đồng, tăng 47,81% so năm 2005 Tốc độ tăng có hướnggiảm là do trong năm 2006 số lượng đàn gia súc, gia cầm do bị ảnh hưởng của dịchcúm gia cầm nên đàn gia súc, gia cầm có khuyên hướng giảm đáng kể, tuy có sựhướng dẫn chỉ đạo giải quyết của chính quyền địa phương các cấp nhưng do tâm lýcủa người chăn nuôi vẫn thật sự chưa an tâm về tình hình dịch bệnh cũng như khi đầu
tư vào lĩnh vực này nên tiến độ khôi phục đàn gia súc, gia cầm còn chậm từ đó ảnhhưởng làm giảm tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay ngắn hạn trong lĩnh vực này
@ Cho vay Kinh tế tổng hợp
0 50000 100000 150000 200000 250000 300000
184090
217245 212422194335
252758 264422
DSCV KTTH DSCV Ngăn han
Năm
Hình 6: Biểu đồ biến động doanh số cho vay Kinh tế tổng hợp
Từ bảng số liệu trên cho thấy trong tổng doanh số cho vay ngắn hạn thì cho vaytrong lĩnh vực Kinh tế tổng hợp chiếm tỷ trọng cao nhất với từ trên 80% doanh số chovay ngắn hạn trở lên Cụ thể, trong năm 2004, doanh số cho vay trong lĩnh vực nàychiếm đến trên 90% trong tổng doanh số cho vay ngắn hạn đạt 184.090 triệu đồng vàtiếp tục tăng đáng kể ở năm sau với tốc độ tăng trưởng 18,01% Hình thức KTTH này
đã giúp bà con tăng thêm thu nhập, làm ăn ngày càng thu được nhiều lợi nhuận nên bàcon đã mạnh mẽ đầu tư vào lĩnh vực này trong năm 2005 với doanh số cho vay đạt
Triệu đồng
Trang 21217.245 triệu đồng, tương ướng tăng 33.155 triệu đồng so với năm 2004 Sang năm
2006 tuy con số này có hướng giảm nhưng không đáng kể Do trong năm 2006 tiến độthực hiện chương trình chuyển dịch kinh tế triển khai chậm và có chựng lại, thiên tai,giá cả một số hàng nông sản không ổn định, thị trường tiêu thụ bấp bênh… nên đã ảnhhưởng làm giảm doanh số cho vay trong lĩnh vực này
Cho vay theo hình thức này mang đến nhiều thuận lợi cho Ngân hàng và kháchhàng Ngân hàng sẽ giảm bớt thời gian và chi phí vì giảm được thủ tục vay nhiều lầncủa hộ sản xuất nông nghiệp trong cùng một hộ; còn đối với hộ sản xuất thì chủ độnghơn, linh hoạt hơn trong việc sử dụng đồng vốn vay sao cho đạt lợi nhuận cao nhất
Cả Ngân hàng và nông dân sẽ giảm được rủi ro khi đầu tư Kinh tế tổng hợp (bao gồmtrồng trọt, chăn nuôi, nuôi cá, buôn bán nhỏ kết hợp lại với nhau để đạt hiệu quả trongsản xuất nông nghiệp, các đối tượng này có thể tương trợ cho nhau trong quá trình sảnxuất và cùng phát triển), như thế rủi ro sẽ được phân bổ không tập trung vào đối tượngnhất định nào
b) Doanh số cho vay trung hạn hộ sản xuất nông nghiệp
Bên cạnh doanh số cho vay ngắn hạn, doanh số cho vay trung hạn cũng chiếm
tỷ trọng không nhỏ trong tổng doanh số cho vay, tuy nhỏ hơn cho vay ngắn hạn nhưngcũng góp phần vào nguồn thu nhập của Ngân hàng
Bảng 9: Doanh số cho vay trung hạn hộ sản xuất nông nghiệp
(Nguồn: Bảng cân đối tài khoản chi tiết 2004, 2005, 2006 - Phòng Kế toán NHN 0 & PTNT
huyện Long Hồ, Tỉnh Vĩnh Long) Ghi chú: + Máy NN: máy nông nghiệp
+ DSCV: doanh số cho vay
Trang 22Qua 3 năm, doanh số cho vay trung hạn hộ sản xuất nông nghiệp không ổnđịnh, tăng trong năm 2005 là 2.712 triệu đồng so với năm 2004 nhưng sang năm 2006lại giảm xuống còn 19.502 triệu đồng, tương đương giảm 10.679 triệu đồng Nguyênnhân giảm doanh số cho vay trung hạn là do sự giảm sút đáng kể của cho vay máy NN
và các khoản cho vay khác Và sự biến động cụ thể từng món vay như sau:
@ Cho vay trồng trọt trung hạn
05000100001500020000250003000035000
NămTriệu đồng
Hình 7: Biểu đồ biến động doanh số cho vay trồng trọt
Như đã phân tích ở trên, doanh số cho vay trung hạn chỉ chiếm tỷ trọng nhỏtrong tổng doanh số cho vay Nhưng doanh số cho vay trồng trọt trung hạn lại chiếm
tỷ trọng tương đối cao trong doanh số cho vay trung hạn Do trong thời gian qua trongHuyện đã hoàn thành công tác đê bao, gia cố tu bổ bờ bao, cống bọng cho mùa lũ tới
để chống lũ bảo vệ vườn cây ăn trái, giúp bà con yên tâm hơn trong việc đầu tư cải tạovườn, xoá bỏ những giống cây có giá trị kinh tế thấp mà thay bằng các loại cây có tínhchiến lược của địa phương, tạo ra năng suất và sản lượng cao phục vụ nhu cầu trongnước và xuất khẩu Việc cải tạo vườn tạp, vườn già cỏi kém hiệu quả ngày càng đượcquan tâm phát triển mạnh cũng như việc đầu tư chăm sóc, áp dụng các tiến bộ khoahọc kỹ thuật vào sản xuất nâng cao năng suất và sản lượng
Năm 2004, doanh số cho vay trồng trọt, cải tạo vườn đạt 4.444 triệu đồng,chiếm 16,18% trong tổng doanh số cho vay trung hạn hộ sản xuất nông nghiệp Năm
2005, doanh số này là 6.728 triệu đồng, tăng trên 50% bằng 2.284 triệu đồng so vớinăm trước