Theo Peter S.Rose: ''Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấpmột danh mục các dich vụ tài chính da dạng nhất-đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm vàcác dịch vụ thanh toán và thực hiệ
Trang 1PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI( NHTM)
1.1.1 Khái niệm
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử pháttriển của nền sản xuất hàng hoá.Ngân hàng thương mại(NHTM) ra đời là kết quảcủa một quá hình thành và phát triển lâu dài, phù hợp và gắn liền với tiến trình pháttriển của nền sản xuất hàng hoá Nó được coi là sản phẩm của nền sản xuất hànghoá, là một bộ phận không thể tách rời và tồn tại như một tất yếu trong nền kinh tếhiện đại
Vậy NHTM là gì? Nó hoạt động như thế nào? Chức năng của nó là gì?Xung quanh vấn đề này có rất nhiều quan diểm khác nhau
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học trên thế giới thì NHTM là mộtdoanh nghiệp hoạt động và kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và tín dụng
Theo Peter S.Rose: ''Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấpmột danh mục các dich vụ tài chính da dạng nhất-đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm vàcác dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳmột tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.''
Theo luật các tổ chức tín dụng của Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ NghĩaViệt Nam:''Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngânhàng với nội dung thương xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tíndụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.''
Chức năng của NHTM :
-Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính vưói hoạtđộng chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại tổchức và cá nhân trong nền kinh tế:(1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi
Trang 2tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là nhữngngười cần bổ sung vốn; và (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức làthu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hoá, dịch vụ và dovậy họ có tiền để tiết kiệm sự tồn tại hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độclập với ngân hàng Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ hai sang nhóm thứnhất nếu cả hai cung có lợi Ngân hàng thương mại đã thực hiện chức năng này, dovậy nó đã làm tăng tiết kiệm cho việc đầu tư ngoài ra nó còn cung cấp những thôngtin cụ thể quan trọng chinh xác và đối xứng.
- NHTM có khả năng tạo phương tiện thanh toán: Theo quan điểm hiệnđại, đại lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận Thứ nhất là tiền giấy trong lưuthông(Mo) Thứ hai là số dư trên tài khoản tiền gửi giao dịch của khách hàng tạingân hàng Thứ ba là tiền gửi trên các tài khoản, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳhạn do vậy không phải như ngân hàng của người thợ vàng - tạo phương tiện thanhtoán thông qua việc phát hành các giấy nợ với khách hàng hay in tiền kim loại,ngân hàng ngày nay khi mà điều kiện thanh toán qua ngân hàng phát triển ngàycàng nhanh, ngân hàng và khách hàng nhận thấy nếu họ có được số dư trên tàikhoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả được để có được hàng hoá và các dịch
vụ theo yêu cầu Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toáncủa khách hàng tăng lên, khách hàng có thể mua hàng hoá và dịch vụ Do đó, bằngviệc cho vay ( hay tạo tín dụng), các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán(tham gia tạo M1 Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phương tiện thanh toán khicác khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sởcho vay Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thìtạo nên khoản thu ( tức làm tăng số dư tiền gửi) của một khách hàng khác tại mộtngân hàng khác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới Trong khi không một ngânhàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống ngân
Trang 3hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi (tạo phương tiện thanh toán) gấp bội thôngqua hoạt động cho vay (tạo tín dụng)
- NHTM là một trung gian thanh toán: Ngân hàng trở thành trung gianthanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia Thay mặt khách hàng, ngânhàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch vụ Để việc thanh toán nhanhchóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hìnhthức thanh toán như thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ…cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khikhách hàng cần Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông quangân hàng Trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán Công nghệ thanhtoán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi quy mô sử dụng công nghệ đó càngđược mở rộng Vì vậy, công nghệ thanh toán hiện đại qua ngân hàng được các nhàquản lý tìm cách áp dụng rộng rãi Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hoá gópphần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong mộtquốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới Các trung tâm thanh toánquốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả thanh toán qua ngân hàng, biến ngânhàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả phục vụ đắc lực chonền kinh tế toàn cầu
1.1.2 Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Huy động vốn
Đây là nghiệp vụ đầu tiên, là sự khởi tạo cho hoạt động của ngân hàng.Cho vay được cai là hoạt động sinh lời cao do đó các ngân hàng đã tìm kiếm mọicách để huy động vốn cho vay với chức năng này ngân hàng đóng vai trò là nhân
tố tập hợp các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội thông qua các hình thức:
- Nhận tiền gửi của các cá nhân và tổ chức kinh tế Đây là nguồn tiền chiếm tỉ lệchủ yếu trong cơ cấu nguồn vốn huy động của ngân hàng
Trang 4- Nguồn đi vay: Trong quá trình kinh doanh, đôi khi NHTM có thể cũng lâm vàotình trạng thiếu hụt vốn tạm thời để đáp ứng nhu cầu thanh toán chi trả hay nhu cầuvay vốn của khách hàng NHTM có thể vay ngân hàng nhà nước, vay các tổ chứctín dụng khác, vay trên thị trường liên ngân hàng… đây là nguồn vốn rất cần thiết
và quan trọng, vì nó đáp ứng được kịp thời và đảm bảo cho hoạt động của ngânhàng diễn ra một cách liên tục
1.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn
Vốn huy động được sẽ được ngân hàng đầu tư vào các khoản mục tài sảnkhác nhau, nhằm đạt được mục tiêu mà ngân hàng đề ra.Nhìn chung sẽ được sửdụng vào các hoạt động sau:
-Hoạt động tín dụng: hoạt động này đem lại lợi nhuận chủ yếu cho các ngân hàng,
nó chiếm tỷ trọng chủ yếu và là hoạt động cơ bản của một ngân hàng Tuy nhiên
nó lại chứa đựng nhiều rủi ro, ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động của ngân hàng
- Các hoạt động đầu tư khác: Hoạt động này rất đa dạng và góp phần làm tăngthêm thu nhập cho các ngân hàng Đó là hình thức ngân hàng tham gia vào hoạtđộng góp vốn, mua cổ phần của các công ty, liên doanh liên kết, mua bán chứngkhoán, cổ phiếu, trái phiếu nhằm đa dạng hoá danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro,đem lại nhiều lợi nhuận cho các ngân hàng,
1.1.2.3 Các hoạt động khác
NHTM thực hiện các uỷ nhiệm của khách hàng trong giao dịch thanhtoán, chuyển tiền, thu hộ, tư vấn , môi giới và nhận một khoản thu nhập về việclàm trung gian đó
1.2 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NHTM
1.2.1Khái niệm
1.2.1.1 Khái niệm và phân loại tín dụng
Trang 5Khó có thể đưa ra một định nghĩa rõ ràng về tín dụng Vì vậy tuỳ theogóc độ nghiên cứu mà ta có thể xác định nội dung của thuật ngữ này.
Tín dụng(credit) xuất phát từ chữ la tinh là credo( tin tưởng, tín nhiệm).Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng dược hiểu theo nhiều nghĩa khac nhau;ngay cả trong quan hệ tài chính, tuỳ theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tíndụng có một nội dung riêng Trong quan hệ tài chính, tín dụng có thể hiểu theo cácnghĩa sau:
-Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệmsang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịchquỹ từ người cho vay sang người đi vay
-Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sảntrên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể Như một công ty công nghiệp hoặc thươngmại bán hàng trả chậm cho một công ty khác, trong trường hợp này người bánchuyển giao hàng hoá cho bên mua và sau một thời gian nhất định theo thoả thuậnbên mua phải trả tiền cho bên bán Phổ biến hơn cả là giao dịch giữa ngân hàng vàcác tổ chức tài chính khác với các doanh nghiệp và cá nhân thể hiện dưới hình thứccho vay, tức là ngân hàng cấp tiền cay cho bên đi vay và sau một thời hạn nhấtđịnh người đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi
-Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chínhcung cấp cho khách hàng
-Trong một số ngữ cảnh cụ thể thuật ngữ tín dụng đồng nghĩa với thuậtngữ cho vay
Mục đích của chương này là xem xét tín dụng như là một chức năng cơbản của ngân hàng, vì vậy trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngânhàng thì tín dụng được hiểu như sau: Tín dụng là một giao dịch về tài sản( tiềnhoặc hàng hoá) giữa bên cho vay( ngân hàng và các định chế tài chính khác) vàbên đi vay( cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên đi vay
Trang 6chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoảthuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên chovay khi đến hạn thanh toán.
Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên
cơ sở hoàn trả và có các đặc trưng sau:
Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng bao gồm hai hình thức là chovay( bằng tiền) và cho thuê( bất động sản và động sản) Trong những năm 1960 trở
về trước hoạt động tín dụng của ngân hàng chỉ có cho vay bằng tiền Xuất phát từtính đặc thù đó mà nhiều lúc thuật ngữ tín dụng và cho vay được coi là đồng nghĩavới nhau Từ những năm 1970 trở lại đây, dịch vụ cho thuê vận hành và cho thuêtài chính đã được các ngân hàng hoặc các định chế tài chính khác cung cấp chokhách hàng
Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giaotài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúnghạn đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trin tín dụng
Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nóicách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài phần vốn gốc Để thực hiệnđược nguyên tắc này phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ lạm phát, haynói cách khác phải xác định lãi suất thực dương( lãi suất thực = lãi suất danhnghĩa- tỷ lệ lạm phát) Tuy nhiên vì lãi xuất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khácnhau, nên trong một số trường hợp cụ thể lãi xuất danh nghĩa có thể thấp hơn tỷ lệlạm phát, ngoại lệ này chỉ tồn tại trong một giai đoạn ngắn
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng tiền vay được cấp trên cơ sở cam kếthoàn trả vô điều kiện Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tíndụng như hợp đồng tín dụng, khế ước… thực chất là lệnh phiếu, trong đó bên đivay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán
Trang 7Dựa vào các tiêu thức khác nhau chúng ta có thể phân chia tín dụng thànhcác loại sau
- Căn cứ theo mục đích sử dụng: Theo tiêu chuẩn này cho vay được phânbiệt dựa vào mục đích sử dụng vốn vay để làm gì Ví dụ : Cho vay mua sắm bấtđộng sản, cho vay phục vụ cho lĩnh vực công nghiệp và thương mại, cho vay nôngnghiệp…
-Căn cứ theo thời hạn cho vay: Cho vay theo thời hạn là việc tín dụngcấp dựa vào thời hạn của khoản vay Đó là cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dàihạn
- Căn cứ theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng: Theo hình thức nàytín dụng được phân chia dựa vào tiêu thức khả năng bảo đảm hoàn trả cả gốc và lãiđối với khoản vay Đó là cho vay có bảo đảm, cho vay không có bảo đảm hoặc chovay có sự bảo lãnh của bên thứ ba
- Căn cứ theo phương pháp hoàn trả: Theo hình thức này cho vay củaNHTM căn cứ vào cách thức chi trả vốn gốc và lãi cho ngân hàng Ví dụ: Cho vay
có thời hạn, cho vay không có thời hạn…
-Căn cứ theo xuất xứ tín dụng: Là việc tín dụng được cấp dựa vào sự tiếpxúc trực tiếp hay không trực tiếp giữa người cho vay và người trả nợ Gồm có chovay trực tiếp và cho vay gián tiếp
1.2.1.2 Khái niệm tín dụng trung dài hạn
Tín dụng trung dài hạn là một bộ phận của tín dụng ngân hàng, nó là hìnhthức tín dụng phân theo thời hạn
Theo quy định hiện nay của ngân hàng nhà nước Việt Nam, cho vaytrung hạn có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm Tín dụng trung hạn chủ yếu được
sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, côngnghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ vớithời gian thu hồi vốn nhanh Trong nông nghiệp, chủ yếu cho vay trung hạn để đầu
Trang 8tư vào các đối tượng sau: Máy cày, máy bơm nước, xây dựng các vườn cây côngnghiệp như cà phê, điều…
Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, cho vay trung hạn còn là nguồn hìnhthành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanhnghiệp mới thành lập
Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa
có thể lên đến 20-30 năm, một số trường hợp cá biệt có thể lên đến 40 năm
Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cấp để đáp ứng các nhu cầu dàihạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vậ tải có quy mô lớn, xây dựngcác xí nghiệp mới
1.2.2 Đặc điểm của tín dụng trung dài hạn.
1.2.2.1 Độ rủi ro cao.
Do khối lượng vốn đầu tư lớn, thời gian đầu tư dài, thu hồi vốn chậm nên
độ rủi ro của một khoản tín dụng trung dài hạn là cao Kết quả của một dự án đầu
tư chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Sự phân tích và xác định của ngân hàng về cácrủi ro này là có hạn Các ngân hàng cũng không thể khắc phục hết được các rủi ronày Khi khoản cho vay dài hạn thời gian đầu tư dài, có rất nhiều sự thay đổi trongmôi trường kinh tế: Như những thay đổi về chính sach, thị trường, thiên tai, chiếntranh…Khiến cho dự án bị thua lỗ hoặc không có khả năng thu hồi vốn
1.2.2.2 Lợi nhuận từ các khoản cho vay trung dài hạn là lớn.
Khi độ rủi ro của các dự án càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng mà nhà đầu tưmong đợi càng nhiều Không nằm ngoài quy luật này các khoản tín dụng trung dàihạn của ngân hàng thường mang lại cho ngân hàng các khoản thu nhập lớn Biểuhiện cụ thể đó là lãi xuất các khoản cho vay tín dụng trung dài hạn rất cao Có đặcđiểm này là do để bù đắp cho những chi phí trong việc huy động những nguồn vốnphục vụ cho hoạt động cho vay trung dài hạn, chi phí bù đắp rủi ro
1.2.2.3 Vốn đầu tư lớn, thời gian dài, thu hồi vốn chậm.
Trang 9Nếu như tín dụng ngắn hạn tài trợ chủ yếu cho các tài sản lưu động củadoanh nghiệp và được hoàn trả trong thời hạn ngắn( dưới 1năm) thì tín dụng trungdài hạn phần lớn tài trợ cho bất động sản, công cụ lao động, hay đổi mới công nghệcủa doanh nghiệp Do đó việc tài trợ này còn đòi hỏi một khối lượng vốn lớn, thờigian đầu tư dài Những khoản tín dụng trung dài hạn này thì nguồn trả nợ gốc vàlãi chủ yếu dựa vào khấu hao và lợi nhuận của dự án đầu tư Trong khi đó ngânhàng phải bỏ vốn trong suốt thời gian xây dựng dự án và chỉ tín hành thu hồi vốnđầu tư khi dự án đi vào hoạt động và đạt kết quản, dẫn đến thời hạn thu hồi vốnchậm.
1.2.3 Phân loại tín dụng trung dài hạn.
1.2.3.1 Căn cứ vào đồng tiền cho vay.
Tín dụng trung dài hạn bằng bản tệ: Là việc cho vay bằng đồng nội tệ
Tín dụng trung dài hạn bằng ngoại tệ nhằm cấp tín dụng cho ngườ vay cónhu cầu thanh toán các công trình xây dựng cơ bản, các khoản chi phí có liên quanđến nước ngoài bằng đồng ngoại tệ
1.2.3.2 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn trung dài hạn.
Tín dụng trung dài hạn phục vụ cho tiêu dùng là loại tín dụng cấp cho các
cá nhân để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, các phương tiệnsinh hoạt, phương tiện đi lại…
Tín dụng trung dài hạn phục vụ cho sản xuất kinh doanh: Là loại tín dụngcấp cho các tổ chức kinh tế để tín hành sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hoá
1.2.3.3 Căn cứ vào tính chất có đảm bảo.
Tín dụng trung dài hạn có đảm bảo là loại tín dụng khi cho vay bên chovay đòi hỏi người vay phải có tài sản đảm bảo
Trang 10Tín dụng trung dài hạn không có đảm bảo: Là loại tín dụng ma khi chovay bên cho vay không đòi hỏi người vay phải có tài sản đảm bảo Việc cho vayđược tín hành trên cơ sở lòng tin uy tín của bản thân khách hàng.
1.2.3.4 Căn cứ vào cách thức hoàn trả.
Tín dụng trung dài hạn có kỳ hạn trả nợ đều nhau theo tháng, quý, năm làloại tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ
Tín dụng trung dài hạn có kỳ hạn trả nợ một lần là loại tín dụng mà bênvay phải hoàn trả cả gốc và lãi một lần vào thời điểm kết thúc khoản vay
Tín dụng trung dài hạn có kỳ hạn trả nợ có tính thời vụ là loại tín dụng
mà người vay có thể hoàn trả vốn gốc và lãi bất cứ khi nào khi có khả năng, có thunhập
1.2.3.5 Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của đối tượng xin vay.
Tín dụng trung dài hạn đầu tư trong nước: Là loại tín dụng ngân hàng cấpcho người vay nhằm thực hiện các dự án đầu tư trong nước
Tín dụng trung dài hạn tài trợ xuất nhập khẩu: Tín dụng loại này co thểchia ra thành
Tín dụng người cung cấp: Là loại tín dụng trung dài hạn của ngân hàngtài trợ cho các nhà cung cấp máy móc, thiết bị, công cụ để xuất khẩu
Tín dụng người mua: Là ngân hàng cấp tín dụng cho người mua các máymóc thiết bị của nước ngoài
Trên đây là một số cách thức phân loại tín dụng trung dài hạn mà tuỳtheo từng điều kiện cụ thể mỗi ngân hàng có thể phân chia theo những tiêu thứckhác nhau phục vụ cho hoạt động của mình
1.2.4 Vai trò của tín dụng trung dài hạn
Tín dụng trung dài hạn là quan hệ tín dụng giữa khách hàng và ngânhàng.Chức năng của ngân hàng là đem lại lợi ích cho cả người tiết kiệm và ngườiđầu tư Các bên tham gia vào quan hệ tín dụng trên cơ sở tự nguyện và cùng có lợi
Trang 11Ngoài ra tham gia vào quan hệ này còn đem lại lợi ích cho chinh ngân hàng.Khôngchỉ có vậy ngân hàng và doanh nghiệp là hai chủ thể quan trọng hàng đầu trongnền kinh tế quốc dân, do đó việc nâng cao hiệu quả hoạt động của hai chủ thể nàygóp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế.Ngày nay với sự ra đời và pháttriển mạnh mẽ của các ngân hàng thương mại, ta có thể thấy tín dụng trung dài hạn
có vai trò quan trọng như thế nào đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.Hoạtđộng tín dụng trung dài hạn của ngân hàng như là công cụ để khai thác và độngviên có hiệu quả nhất lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư phục vụ cho quá trình táisản xuất xã hội, phù hợp với quá trình vận động cảu vốn
1.2.4.1 Đối với doanh nghiệp
- Tín dụng trung dài hạn tạo điều kiện cho việc ứng dụng tín bộ khoa học
kỹ thuật: ngày nay khi mà khoa học kỹ thuật đã đạt đượ những thành tựu rực rỡ,đặc biệt là những thành tựu trong những nghành khoa học ứng dụng đã tạo ra thời
cơ cũng như ngững thách thức đối với sự tồn tại và phát triển của một tổ chức trênthị truờng
Tuy việc ứng dụng này là rất cần thiết, song mọi doanh nghiệp đều gặpphải khó khăn đó là chi phí bỏ ra ban đầu lớn, bản thân vốn tự có của doanh nghiệplại có hạn Trong hoàn cảnh đó, tín dụng ngân hàng, đặc biệt là tín dụng trung vàdài hạn đã có những tác động hỗ trợ tích cực trong việc ứng dụng khoa học kỹthuật vào hoạt động sản xuất kinh doanh Từ đó doanh nghiệp không ngừng nângcao được vị thế trên thị trường, hiệu quả của doanh nghiệp - qua đó nâng cao chấtlượng hoạt động tín dụng của NHTM
- Tín dụng trung dài hạn là nguồn tài trợ giúp doanh nghiệp có điềukiện mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường
Bất cứ doanh nghiệp nào cũng muốn mở rộng sản xuất đi kềm theo đó là
mở rộng thị trường hoạt đọng của mình Mở rộng hoạt đọng sản xuất kinh doanhkhông phải là hoạt đọng mà donah nghiệp có thể tín hành nhanh chóng một sớm
Trang 12một chiều mà còn tuỳ thuộc vào rất nhiều yêu tố trong đó quan trọng là cần cónguồn vốn dài hạn Để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn đó, doanh nghiệp có thể huyđộng vốn dưới nhiều hình thức như:
- Tự tích luỹ vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpmình Nguồn vốn này nó có ưu tiên là nó giúp doanh nghiệp giảm được chi phí,giảm bớt được sự phụ thuộc vào bên ngoài nhưng nó có hạn chế là doanh nghiệpkhông thể tích luỹ một lượng vốn lớn trong một thời gian ngắn Hơn nữa doanhnghiệp chỉ có thể tích luỹ khi doanh nghiệp đang hoạt động có hiệu quả, có lợinhuận, có thể tiếp tục đầu tư.Phát hành cổ phiếu, trái phiếu: Doanh nghiệp có thểhuy động được vốn trung dài hạn để tín hành sản xuất kinh doanh thông qua việcphát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu Nếu doanh nghiệp phát hành cổ phiếu, các cổđông cũ phải phân chia quyền kiểm soát mới nếu các cổ đông cũ không mua hếtlượng cổ phiếu mới phát hành Nếu phát hành trái phiếu thì không phải doanhnghiệp nào cũng có thể bán trái phiếu trên thị trường được vì còn phụ thuộc vàonhiều vấn đề khác như uy tín của doanh nghiệp trên thị trường Các nhà đầu tư chỉmua trái phiếu dài hạn của doanh nghiệp khi họ thực sự tin tưởng vào doanhnghiệp mà yếu tố này không phải doanh nghiệp muốn là có Hơn nữa khi phát hành
cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp phải chịu chi phí giao dịch cao, chi phí pháthành, lệ phí bảo hiểm, lệ phí đăng kí Với lợi thế đặc thù, tín dụng trung dài hạncủa ngân hàng được các doanh nghiệp ưa thích để bổ xung vốn cho quá trình sảnxuất kinh doanh Đặc biệt đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay, nhu cầu vốn xâydựng cơ bản là rất lớn trong khi các nhà kinh doanh chưa tích luỹ được nhiều, chưa
có nhiều thời gian để tích luỹ vốn, tâm lí của công chúng chưa muốn đầu tư trựctiếp vào các doanh nghiệp thì tín dụng trung dài hạn là một nguồn vốn quan trọngđối với doanh nghiệp nhằm cải tín kỹ thuật mở rộng sản xuất
- Góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả:
Trang 13Trong thời hạn của khoản vay, ngân hàng thực hiện chức năng giám sáthoạt động sử dụng vốn với tư cách là chủ sở hữu vốn cho vay đối với các doanhnghiệp Ngân hàng căn cứ vào các nguyên tắc tín dụng, hướng các doanh nghiệp sửdụng vốn đúng mục đích có hiệu quả, đôn đốc khách hàng vay vốn trả gốc và lãiđúng thời hạn thoả thuận đã ký trong hợp đồng tín dụng Khác với vốn tự có làkhông phải trả chi phí vốn, vốn vay ngân hàng phải chịu những điều kiện ràngbuộc về lãi suất, thời hạn và mục đích sử dụng tiền vay nên các doanh nghiệp vayvốn phải có sự tính toán chi phí sản xuất hợp lý, tốc độ vòng quay vốn nhanh Đểđảm bảo trả nợ ngân hàng đúng hạn và có lợi nhuận giữ lại Mặt khác, trong quátrình kiểm tra giám sát sử dụng vốn vay, ngân hàng sẽ giúp doanh nghiệp phát hiệnnhững nhược điểm, sai sót từ đó có biện pháp khắc phục kịp thời nhằm hạn chế rủi
ro có thể xảy ra đối với doanh nghiệp cũng như rủi ro liên quan đối với ngân hàngthương mại Có thể nói rằng, tín dụng ngân hàng đã ràng buộc trách nhiệm giữangười sở hữu và người sử dụng vốn, từ đó nâng cao năng lực quản lý vốn và quátrình sản xuất kinh doanh Đó chính là việc giúp cho nguồn vốn đầu tư đem lại hiệuquả cao
-Tín dụng trung dài hạn là trợ thủ đắc lực của doanh nghiệp trong việcthoả mãn và chớp cơ hội kinh doanh Nhiều doanh nghiệp khi có các dự án đầu tưnhưng không có nguồn vốn để đáp ứng do lượng vốn cần đầu tư nhiều và thời giandài Nên không thể thực hiện được các dự án này Cũng có những dự án nhiềudoanh nghiệp biết và có cơ hội thực hiện nhưng không có nguồn vốn để đáp ứng,
do đó các dự án này cũng không thực hiện được Tín dụng trung dài hạn giúpdoanh nghiệp thoả mãn lượng vốn đầu tư cho các dự án và chớp các cơ hội kinhdoanh Ngoài ra khi các doanh nghiệp đi vay vốn trung dài hạn tại NHTM, họ cóthể điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, nghĩa là họ có thể trả nợ sớm hơn thời gian quy địnhtrong hợp đồng tín dụng khi họ không cần đến vốn trung dài han nữa Ngược lại
Trang 14khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc trả nợ tại một thời điểm nhất định nào
đó thì có thể xin ngân hàng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ
Việc trả nợ vốn vay trung dài hạn cũng được xây dựng theo một sự phânchia ổn định và hợp lý, do đó doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm các nguồntrả nợ một cách dễ dàng hơn
1.2.4.2 Đối với ngân hàng
Hoạt động của NHTM truyền thống là nghiệp vụ nhân tiền và gửi và chovay để thực hiện cho vay, NHTM phả tập trung vốn nhàn rỗi trong xã hội và trên
cơ sở nguồn vốn đố bổ sung nhu cầu tamh thời thiếu hụt về vốn của các doanhnghiệp, các tổ chức kinh tế hặc của các cá nhân trong quá trình sản xuất kinhdoanh Trong quá trình phát triển m du cho có sự thay đổi nào có thể ảnh hưởngđến hoạt động của NHTM nhưng hoạt động tín dụng vẫn luôn là hoạt động cơ bản
Tín dụng trung dài hạn là một hình thức tín dụng ngân hàng, nó có vai tròquan trọng đối với hoạt động của ngân hàng
- Tín dụng Ngân hàng tạo ra lợi nhuận cho NHTM Không có hoạt độngtín dụng thì không thể có NHTM
Các NHTM là những trung gian tài chính lớn nhất, đóng vai trò quantrọng trong việc khơi nguồn vốn từ những nơi chưa có điều kiện sinh lời đem chovay ở những nơi có cơ hội sinh lời Như vậy, hoạt đọng chủ yếu của NHTM mộtmặt thu hút các nguồn vấn tiền tệ nhàn rỗi trong xã hội, mặt khác phân phối nódưới hình thức cho vay để thu lợi nhuận NHTM hoạt động theo 3 nghiệp vụ chính:nghiệp vụ nợ( huy động tạo nguồn vốn), nghiệp vụ có( cho vay đối với nền kinh tế)
và nghiệo vụ trung gian
Ba nghiệp vụ trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mặc dù cả 3 nghiệp
vụ đền quan trọng trong hoạt động vủa một ngân hàng thương mại, nhưng nghiệp
vụ cho vay vẫn đóng vai trò quan trọng nhất vì đó là nghiệp vụ đem lại lợi nhuậnchủ yếu cho ngân hàng Việc cho vay thường mang lại lợi tức cao nhưng mức độ
Trang 15rủi ro trong nghiệp vụ cho vay thường cao hơn các loại dịch vụ hoặc ngành sảnxuất dịch vụ khác Bởi vậy, các Ngân hàng nếu muốn tồn tại và phát triển buộcphải tìm nhiều biện pháp thực hiện việc đầu tư vốn nhằm bảo đảm thu được hiệuquả cao, đồng thời giảm rủi ra đến mức thấp nhất Việc đầu tư vốn là một nghiệp
vụ chủ yếu nhưng cũng rất phức tạp đối với các NHTM Khi tiến hành cho vay,các Ngân hàng đều phải tính toán cẩn trọng và phải tôn trọng những nguyên tắc tíndụng nhất định Tuy nhiên, đối tượng vay vốn rất đa dạng và Ngân hàng trên thực
tế không thể lường trước được hết mọi rủi ro
- Tín dụng trung dài hạn vừa mang lại lợi nhuận đồng thời nâng cao khảnăng cạnh tranh của ngân hàng
Tín dụng trung dài hạn là hoạt động mang tính chiến lược của cácNHTM Với những khởn tín dụng trung dài hạn coá quy mô lớn, lãi suất cao manglại lợi nhuận cao cho ngân hàng, đồng thời thu hút khách hàng đến với ngân hàngminh nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường
- Khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng của mình trong tương lai,tạo điều kiện để ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động của mình và ngày càngkhẳng định vai trò, vị thế của mình trong nền kinh tế Khi ngân hàng không đadạng hoá hoạt động cho vay, đa dạng hoá khách hàng, thời hạn vay tiền thì ngânhàng không thể đứng vững được trong nền kinh té thị trường với sự cạnh trong gaygắt của các ngân hàng khác
- Mặt khác tín dụng trung dài hạn còn là cách thức khả thi để giải quyếtnguồn vốn huy động còn dư thừa tại mỗi NHTM, đồng thời là cách để ngân hànggọi vốn có hiệu quả, thu được lợi nhuận qua đó phát triển hoạt động của mình, tăngcường khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác
- Thông qua tín dụng trung dài hạn, ngân hàng thực hiện chức năng xã hộicủa mình Thực hiện nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng đã thể hiện vai trò người tài