Đánh giá những thuận lợi của doanh nghiệp xây dựng tư nhân vừa và nhỏ khi tham gia các công trình dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các doanh
Trang 1Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện Luận văn
Trương Công Bằng
Trang 2
Với tình cảm sâu sắc, chân thành, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả các cá nhân và cơ quan đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể quý thầy, cô giáo và các cán bộ công chức của Trường Đại học Công nghệ TP.Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tôi về mọi mặt trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Ngô Quang Tường - người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tận tình tôi trong suốt thời gian
học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan ban ngành tại Thành phố Hồ Chí Minh
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, đóng góp cho tôi những ý kiến quý báu để hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè và người thân trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu luận văn này
Học viên thực hiện Luận văn
Trương Công Bằng
Trang 31 Tính cấp thiết của đề tài
Vốn đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước là một nguồn lực tài chính hết sức quan trọng của đất nước đối với phát triển kinh tế xã hội của cả nước cũng như từng địa phương Hiện nay không ít các doanh nghiệp xây dựng phá sản
vì không có việc làm, nhiều dự án bị đóng băng vì thiếu vốn đầu tư… Bên cạnh đó còn không ít các doanh nghiệp xây dựng tư nhân còn bám trụ được trong thời buổi kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng Để tránh tình trạng hàng loạt các doanh nghiệp phá sản thì nhà nước cần có chính sách như thế nào, giải pháp ra sao để giúp các doanh nghiệp thoát khỏi tình hình hiện này, nhất là các doanh nghiệp công ty xây dựng đang thi công các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước
Trước những thách thức trên, nhà nước cần có những chính sách hợp lý để
hổ trợ các doanh nghiệp phát triển bền vững Vì vậy đề tài: “Nghiên cứu những
thuận lợi của doanh nghiệp xây dựng tư nhân vừa và nhỏ khi tham gia các dự án thuộc vốn ngân sách nhà nước” được chọn làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp thu thập số liệu; phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu; phương pháp phân tích nhân tố, hồi quy tương quan, ANOVA, thống kê mô tả Tất cả các phương pháp này dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, tiếp cận đối tượng nghiên cứu theo quan điểm: khách quan, toàn diện, phát triển và hệ thống
3 Kết quả nghiên cứu và đóng góp luận văn
Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận, hành lang pháp lý để các doanh nghiệp xây dựng vừa và nhỏ có thể tham gia tốt các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước Đánh giá những thuận lợi của doanh nghiệp xây dựng tư nhân vừa và nhỏ khi tham gia các công trình dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các doanh nghiệp xây dựng khi tham gia các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách tại khu vực TP.HCM Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp xây dựng khi tham gia các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách tại khu vực TP.HCM
Trang 4So the state should have the appropriate policies to support the development
of sustainable enterprises Topic: "Look at the advantages of private enterprises to
build participation of small and medium projects in the state budget" is selected
as the master thesis
2 Research Methodology
This thesis uses the research methods: data collection methods; methods of synthesis and processing of data; methods of factor analysis, correlation regression, ANOVA, descriptive statistics All these methods are based on the methodology of dialectical materialism, access research object in view: objective, comprehensive, and system development
3 The results of the study and contributed essays
Thesis has codified the theoretical issues, the legal framework for businesses
to build small and can participate good projects in the state budget Review the advantages of private enterprises to develop small and medium joining the project funded by the state budget and the criteria to assess the effects of the construction firms participating in the project under budget in HCM City Recommend measures
to improve the efficiency of enterprises participating in the construction project under budget in HCM City
Trang 5Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH x
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Bối cảnh của vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Tính cấp thiết của đề tài 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3.1 Mục tiêu chung 3
1.3.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Đóng góp và dự kiến của nghiên cứu 4
1.6 Kết cấu đề tài và khung nghiên cứu 5
1.6.1 Kết cấu đề tài 5
1.6.2 Khung nghiên cứu 6
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 7
2.1 Định nghĩa các khái niệm quan trọng 7
2.2 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế thị trường 8
2.3 Đầu tư phát triển sử dụng vốn ngân sách nhà nước 10
2.4 Tổng quan cơ sở lý thuyết 17
2.5 Những thuận lợi của Doanh nghiệp xây dựng tư nhân nhỏ và vừa khi tham gia các dự án thuộc vốn ngân sách nhà nước 21
Trang 62.5.2 Nhóm yếu tố về hệ thống thông tin quản lý 22
2.5.3 Nhóm yếu tố về chính sách 23
2.5.4 Nhóm yếu tố về nguồn vốn thực hiện dự án 23
2.5.5 Nhóm yếu tố về năng lực các bên tham gia dự án 24
2.5.6 Nhóm yếu tố về năng lực của CĐT 24
2.6 Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết 25
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 27
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Phương pháp nghiên cứu 28
3.2 Qui trình nghiên cứu 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 32
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
4.1 Giới thiệu khái quát kinh tế thành phố Hồ Chí Minh 33
4.2 Định hướng phát triển kinh tế thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 - 2016 34
4.3 Tầm vóc của các DNXDVVN tại thành phố Hồ Chí Minh 35
4.3.1 Tình hình phát triển của các DNXDVVN tại Thành phố 35
4.3.2 Những mặt hạn chế của các doanh nghiệp xây dựng vừa và nhỏ 37
4.3.3 Vai trò của các doanh nghiệp xây dựng vừa và nhỏ đối với TP.Hồ Chí Minh 40
4.4 Kết quả khảo sát đánh giá của doanh nghiệp xây dựng tư nhân vừa và nhỏ khi tham gia các dự án thuộc vốn ngân sách nhà nước 42
4.4.1 Đặc điểm của mẫu khảo sát 42
4.4.2 Kiểm định Cronbach’s Alpha với các thang đo lý thuyết 45
4.4.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 49
4.4.4 Đánh giá của doanh nghiệp xây dựng tư nhân vừa và nhỏ khi tham gia các dự án thuộc vốn ngân sách nhà nước 53
4.4.5 Phân tích hồi quy 57
4.5 Kết quả các giả thiết và mô hình nghiên cứu 61
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 65
Trang 75.1 Định hướng phát triển doanh nghiệp xây dựng vừa và nhỏ thành phố Hồ Chí
Minh giai đoạn 2011 - 2016 66
5.2 Kiến nghị chính sách 66
5.2.1 Nhóm yếu tố về chính sách 67
5.2.2 Nhóm yếu tố về nguồn vốn thực hiện dự án 69
5.2.3 Đối với nhóm yếu tố môi trường bên ngoài 70
5.2.4 Nâng cao mức độ phổ biến hệ thống thông tin quản lý cho tất cả các cấp ngân sách, đặc biệt là phổ biến thông tin quy hoạch và pháp luật về đầu tư xây dựng 74
5.2.5 Nâng cao năng lực của nhà thầu thi công và các nhà tư vấn dự án 75
5.2.6 Nâng cao năng lực CĐT ở tất cả các cấp ngân sách 77
5.4 Kết luận và kiến nghị 79
5.4.1 Kết luận 79
5.4.2 Kiến nghị 80
5.5 Đóng góp của đề tài 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 86
Trang 85 DNNN Doanh nghiệp nhà nước
6 DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
7 DNTN Doanh nghiệp tư nhân
8 DNXDVVN Doanh nghiệp xây dựng nhỏ và vừa
Trang 9Số hiệu Tên bảng Trang
Bảng 2.1: Quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ 7
Bảng 4.1: Danh mục công trình thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước 37
mà các doanh nghiệp xây dựng vừa và nhỏ tham gia năm 2014 37
Bảng 4.2: Đặc điểm vị trí trong dự án đã tham gia 42
Bảng 4.3: Thời gian đơn vị đã tham gia trong lĩnh vực xây dựng 43
Bảng 4.4: Đặc điểm số lần tham dự huấn luyện nghiệp vụ liên quan hoạt động xây dựng (quản lý dự án, thiết kế, giám sát, thi công) của mẫu khảo sát 43
Bảng 4.5: Thông tin chung về dự án 45
Bảng 4.6: Cronbach’s Alpha của các biến trong thang đo những thuận lợi của doanh nghiệp xây dựng tư nhân vừa và nhỏ khi tham gia các dự án thuộc vốn ngân sách nhà nước 46
Bảng 4.7: Kiểm định KMO and Bartlett's Test 49
Bảng 4.8: Kết quả phân tích nhân tố 51
Bảng 4.9: Đánh giá của doanh nghiệp xây dựng tư nhân vừa và nhỏ 54
khi tham gia các dự án thuộc vốn ngân sách nhà nước 54
Bảng 4.9: Ma trận hệ số tương quan 58
Bảng 4.10: Mô hình tóm tắt sử dụng phương pháp Enter 59
Bảng 4.11: Kiểm định về sự phù hợp của mô hình hồi quy 59
Bảng 4.12: Kết quả phân tích hồi quy đa biến 60
Trang 10Số hiệu Tên sơ đồ, biểu đồ, hình Trang
Sơ đồ 1.1: Khung nghiên cứu luận văn 6
Sơ đồ 3.1: Quy trình nghiên cứu 29
Hình 4.1: Mô hình nghiên cứu được rút ra theo kết quả nghiên cứu 64
Biểu đồ 4.1: Đặc điểm loại công trình của dự án 44
Biểu đồ 4.2: Đặc điểm nhóm dự án doanh nghiệp tham gia 44
Hình 2.1: Nội dung của dự án đầu tư xây dựng 15
Hình 2.2: Quan hệ giữa các nhân tố tác động và tiêu chí thành công dự án 17
Hình 2.3: Mô hình nghiên cứu đề xuất 26
Trang 11CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1 Bối cảnh của vấn đề nghiên cứu
Vốn đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước là một nguồn lực tài chính hết sức quan trọng của đất nước đối với phát triển kinh tế xã hội của cả nước cũng như từng địa phương Nguồn vốn này không những góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật mà nó còn góp phần vào việc định hướng đầu tư góp phần quan trọng trong việc thực hiện những vấn đề xã hội… Do đó nguồn vốn ngân sách nhà nước là một nguồn vốn hết sức quan trọng của đất nước
Công cuộc phát triển kinh tế và xã hội của đất nước bao giờ cũng gắn liền với vấn đề đầu tư và xây dựng, trong đó đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách Trong thời gian qua nhà nước cũng có nhiều văn bản pháp luật, chính sách và
cơ chế góp phần tạo môi trường pháp lý cho việc quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước Bên cạnh đó việc quản lý nhà nước còn nhiều hạn chế và bất cập, một số chính sách cơ chế chưa hợp lý và phù hợp, chồng chéo lẫn nhau, thiếu và chưa đồng bộ dẩn tới tình trạng các doanh nghiệp công ty xây dựng khi tham gia các đề án thuộc nguồn vốn ngân sách lại gặp nhiều khó khăn
Trong thời buổi kinh tế đang trong giai đoạn khó khăn bất động sản lại lâm vào tình trạng đóng băng, dẩn tới các doanh nghiệp công ty xây dựng cũng lâm vào tình trạng càng khó khăn hơn, đặt biệt là các doanh nghiệp, công ty xây dựngthi công các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước
Hiện nay không ít các doanh nghiệp xây dựng phá sản vì không có việc làm, nhiều dự án bị đóng băng vì thiếu vốn đầu tư… Bên cạnh đó còn không ít các doanh nghiệp xây dựng tư nhân còn bám trụ được trong thời buổi kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng Để tránh tình trạng hàng loạt các doanh nghiệp phá sản thì nhà nước cần có chính sách như thế nào, giải pháp ra sao để giúp các doanh nghiệp thoát khỏi tình hình hiện này, nhất là các doanh nghiệp công ty xây dựng đang thi công các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước
Trang 121.2 Tính cấp thiết của đề tài
Trong năm 2012 và 2013 các doanh nghiệp ngành xây dựng phải đối mặt với nhiều khó khăn lớn Cụ thể, tới 15.296 trên tổng số hơn 50.000 doanh nghiệp ngành xây dựng thông báo thua lỗ
Số doanh nghiệp dừng hoạt động hoặc giải thể cũng lên tới 2.637 doanh nghiệp, trong đó có 2.110 doanh nghiệp xây dựng, 527 doanh nghiệp kinh doanh bất động sản So với cùng kỳ năm 2011, tỷ lệ doanh nghiệp giải thể, dừng hoạt động của ngành xây dựng tăng 9,4%; trong đó doanh nghiệp xây dựng tăng 6,2%, công ty kinh doanh bất động sản tăng 24,1% [17]
Không chỉ vậy, đối với các Tổng công ty nhà nước do Bộ xây dựng quản lý, tình hình cũng không khả quan hơn Năm 2012, tăng trưởng các doanh nghiệp này đều có chiều hướng giảm so với năm 2011 Tổng giá trị sản xuất kinh doanh ước đạt 158.338 tỷ đồng, bằng 98,2% so với kế hoạch năm và bằng 94% so với năm 2011.Tổng giá trị đầu tư ước đạt 17.807 tỷ đồng, tương đương 88,97% kế hoạch năm 2012 Doanh thu ước đạt 135.374,6 tỷ đồng, bằng 97% kế hoạch năm 2012 Đây mới là cụ thể thống kê được công bố, bên cạnh đó vẫn có những doanh nghiệp bám trụ được trong thời buổi kinh tế hiện nay Như vậy điều đặt ra ở đây là vì sao
các doanh nghiệp lại đua nhau giải thể
Như vậy doanh nghiệp xây dựng cần phải làm gì để thoát khỏi tình trạng kinh tế khó khăn như hiện nay Đặc biệt là các doanh nghiệp xây dựng đang tham gia các dự án có nguồn vốn ngân sách nhà nước Liệu các doanh nghiệp vừa và nhỏ
có bám trụ được trong thời buổi kinh tế thị trường như hiện nay hay không Nhà nước cần có chính sách nào giúp các doanh nghiệp không
Hiện tại, doanh nghiệp Nhà nước đóng góp trên 33% GDP Tính toán cho thấy, với quy mô nền kinh tế khoảng 176 tỷ USD, đóng góp của khu vực này khoảng
58 tỷ USD Đến năm 2015, căn cứ mức tăng trưởng kế hoạch 6%, tổng GDP Việt Nam ước lên khoảng 197 tỷ USD Như vậy, 20% GDP của khu vực doanh nghiệp Nhà nước sẽ tương đương gần 40 tỷ USD, tức giảm 18 tỷ USD so với hiện nay [17]
Trang 13Theo số liệu thống kê thì doanh nghiệp nhà nước chưa thật sự đóng vai trò chủ đạo trong sư nghiệp phát triển của đất nước mà thay vào đó doanh nghiệp ngoài nhà nước lại chiếm tỷ lệ % cao về việc góp phần tăng trưởng GDP hàng năm cho đất nước cho nên nhà nước cần sự quan tâm đến các doanh nghiệp ngoài nhà nước
để các doanh nghiệp có thể phát triển được, góp phần thúc đẩy nền kinh tế ngày một phát triển hơn Như vậy doanh nghiệp xây dựng tư nhân vừa và nhỏ đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển đất nước, xây dựng đất nước đặc biệt là xây dựng các công trình, dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước Tuy vậy hiện nay quy mô của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang có xu hướng thu hẹp, nhiều doanh nghiệp phải ngừng hoạt động chính Vì vậy nhà nước cần có những chính sách hợp
lý để hổ trợ các doanh nghiệp phát triển bền vững
Hàng năm nhà nước đầu tư vào sự phát triển nền kinh tế và cơ sở hạ tầng không ít nhưng liệu việc đầu tư của nhà nước có thực sự có hiệu quả không, các doanh nghiệp tham gia các nguồn đầu tư này có làm tốt vai trò của mình không, nhất là các doanh nghiệp xây dựng hiện nay đang thực hiện các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách mà nhà nước phân bổ hiện nay
Nhận thức được tầm quan trọng đó, đề tài: “Nghiên cứu những thuận lợi
của doanh nghiệp xây dựng tư nhân vừa và nhỏ khi tham gia các dự án thuộc vốn ngân sách nhà nước” được chọn làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 14tiêu đánh giá hiệu quả của các doanh nghiệp xây dựng khi tham gia các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách tại khu vực TP.HCM
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp xây dựng khi tham gia các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách tại khu vực TP.HCM
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những thuận lợi của doanh nghiệp xây dựng tư nhân vừa và nhỏ khi tham gia các dự án thuộc vốn ngânsách nhà nước
- Đối tượng khảo sát là các doanh nghiệp xây dựng tư nhân vừa và nhỏ (thi công, thiết kế, tư vấn…) trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Các doanh nghiệp xây dựng ngoài nhà nước tham
gia thực hiện các công trình dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước tại khu vực TP.HCM
- Phạm vi về thời gian: Tiến hành khảo sát doanh nghiệp xây dựng tư nhân tháng 12/2014 và đề xuất các giải pháp đến năm 2016
- Quan điểm nghiên cứu: Nghiên cứu đứng trên quan điểm là doanh nghiệp
xây dựng tư nhân
1.5 Đóng góp và dự kiến của nghiên cứu
Về mặt học thuật
Đề tài đưa ra một quy trình từ khảo sát, đánh giá của các doanh nghiệp, công
ty xây dựng thông qua bảng câu hỏi, phỏng vấn;
Ứng dụng phân tích nhân tố để nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công của các doanh nghiệp xây dựng tư nhân khi tham gia thực hiện các công trình
dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước tại khu vực TP.HCM
Về mặt thực tiễn
Đề tài hệ thống hóa một số chính sách, nghị định của nhà nước về việc hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng tư nhân vừa và nhỏ khi tham gia các dự án thuộc vốn ngân sách nhà nước tại khu vực TP.HCM
Trang 15Đề tài tổng hợp được những khó khăn và vướng mắt chung của các doanh nghiệp hiện nay khi tham gia các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách như: Vốn đầu
tư, nguồn vốn, năng lực của doanh nghiệp
Đề tài cũng nêu ra những chính sách bất cập của nhà nước chưa thật sự thỏa đáng đối với tình hình kinh tế hiện nay như: Hình thức thanh toán, tạm ứng vốn,thủ tục hồ sơ giấy tờ còn nhiều bất cập…
Nhận dạng các nhấn tố ảnh hưởng đến sự thành công của các doanh nghiệp xây dựng và rút ra được các yếu tố thuận lợi đối với các doanh nghiệp xây dựng khi gia thực hiện các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước tại khu vực TP.HCM
Từ đó giúp các doanh nghiệp có thể tham khảo trước khi muốn tham gia các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách trong giai đoạn khó khăn hiện nay
Từ các yếu tố trên tác giả đề xuất các giải pháp nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp xây dựng vừa và nhỏ hiện nay có thể tham gia và thực hiện tốt các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn TP.HCM
1.6 Kết cấu đề tài và khung nghiên cứu
1.6.1 Kết cấu đề tài
Đề tài được kết cấu gồm 5 chương
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của doanh nghiệp xây dựng tư nhân
vừa và nhỏ khi tham gia các dự án thuộc vốn ngân sách nhà nước
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kiến nghị giải pháp và kết luận
Trang 161.6.2 Khung nghiên cứu
Sơ đồ 1.1: Khung nghiên cứu luận văn
Giới thiệu đề tài
- Bối cảnh nghiên cứu
- Tính cấp thiết của đề tài
- Mục tiêu, đối tượng, phạm vi
Tổng quan cơ sở lý thuyết
Mô hình nghiên cứu
- Định nghĩa các khái niệm
- Tổng quan cơ sở lý thuyết
- Mô hình nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu
- Xây dựng thang đo và bảng hỏi
- Phân tích hồi quy
Kiến nghị giải pháp và kết luận
- Kiến nghị giải pháp
- Kết luận
Trang 17CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 2 sẽ trình bày định nghĩa các khái niệm quan trọng, tổng quan cơ sở
lý thuyết và mô hình nghiên cứu, các giả thuyết cho nghiên cứu
2.1 Định nghĩa các khái niệm quan trọng
Theo Luật Doanh nghiệp 2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên
riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”
Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP: [5] Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở
kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Bảng 2.1: Quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ Quy mô
Tổng nguồn vốn
Số lao động
Công nghiệp và xây
dựng
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người
Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ
Dự án: theo tài liệu hướng dẫn Viện Quản lý dự án (PMI) định nghĩa: “Dự
án là một nỗ lực tạm thời được thực hiện để tạo ra một sản phẩm hay dịch vụ duy nhất Tạm thời nghĩa là mọi dự án đều có một thời gian kết thúc xác định Duy nhất
có nghĩa là sản phẩm hay dịch vụ là khác nhau trong một số cách phân biệt từ tất cả các sản phẩm hoặc dịch vụ tương tự”
Trang 18Tại Việt Nam, dự án xây dựng được Luật Xây dựng định nghĩa là “Sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm công trình công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, nông nghiệp và các công trình khác”
Tiến độ hoàn thành dự án xây dựng: được đo lường bằng thời gian thực tế
hoàn thành một dự án đầu tư xây dựng công trình tính từ khi có chủ trương đầu tư đến khi nghiệm thu bàn giao, đưa vào sử dụng
Vốn ngân sách: là vốn đầu tư XDCB trong NSNN, bao gồm ngân sách cấp,
quận, phường
Các bên tham gia dự án: là tổ chức, cá nhân tham gia trực tiếp và xuyên suốt
quá trình thực hiện dự án Đối với nghiên cứu này, ngoài CĐT, các bên tham gia dự
án bao gồm: Nhà thầu chính thi công xây dựng công trình, cá nhân Tư vấn Thiết kế,
cá nhân Tư vấn Giám sát, cá nhân Tư vấn QLDA Một số các đối tượng khác như
Tư vấn Kiểm định chất lượng, Kiểm toán, các nhà cung cấp thiết bị và cơ quan quản
lý nhà nước cũng tham gia dự án nhưng ở những công đoạn khác nhau trong quá trình thực hiện do đó không phải là đối tượng của nghiên cứu này
2.2 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế thị trường
Theo số liệu thống kê, nước ta hiện nay có khoảng trên 90% tổng số doanh nghiệp là DNNVV với các hình thức: DNNN, DNTN, công ty TNHH, công ty cổ phần…; DNNVV đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế nước ta, thể hiện ở một số mặt sau:
- Tạo việc làm cho người lao động, góp phần ổn định xã hội: Đây là thế mạnh rõ rệt của DNNVV và là nguyên nhân chủ yếu khiến ta phải đặc biệt chú trọng phát triển DNNVV ở nước ta hiện nay
- DNNVV cung cấp một khối lượng lớn, đa dạng phong phú về sản phẩm, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế: Với số lượng đông đảo trong nền kinh tế, DNNVV tạo ra một khối lượng sản phẩm đáng kể cho xã hội Mặt khác, do đặc tính
Trang 19linh hoạt, mềm dẻo, DNNVV có khả năng đáp ứng những nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú và độc đáo của người tiêu dùng, đặc biệt là những sản phẩm có tính chất linh tinh, lặt vặt không thích hợp với các DN lớn
- DNNVV góp phần khai thác tiềm năng phong phú trong dân: Dựa trên những ưu thế của DNNVV như thành lập với số vốn ít, thu hồi vốn nhanh, sử dụng các tiềm năng về nguồn vốn lao động và nguyên vật liệu sẳn có ở địa phương, sử dụng các sản phẩm phụ hoặc phế phẩm, phế liệu của các DN lớn, DNNVV thu hút được một khối lượng lớn về vốn nhàn rỗi của các tầng lớp dân cư, đồng thời thu hút được nhiều lao động vào tham gia sản xuất mà không đòi hỏi trình độ cao hay mất nhiều thời gian đào tạo
- Bảo đảm cho nền kinh tế năng động hơn: Do yêu cầu vốn ít, qui mô nhỏ, DNNVV có nhiều khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng sản xuất, đổi mới công nghệ,… Đối với DN lớn, DNNVV còn có thể làm đại lý, vệ tinh, tiêu thụ hàng hóa hoặc cung cấp vật tư đầu vào với giá rẻ hơn, góp phần hạ giá thành, nâng cao hiệu quả sản xuất cho DN lớn
- Góp phần vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Ở các nước cũng như ở Việt Nam, các DN lớn thường tập trung ở các thành phố và các trung tâm công nghiệp, nơi có cơ sở hạ tầng phát triển, nhưng lại không đáp ứng được tất cả yêu cầu của nền kinh tế như lưu thông hàng hóa, dịch vụ, phát triển ngành nghề truyền thống, tiểu thủ công nghiệp, giải quyết lao động … gây mất trạng thái cân đối nghiêm trọng về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giữa thành thị với nông thôn, giữa các vùng trong một quốc gia
Chính sự phát triển DNNVV là phương tiện quan trọng trong việc tạo lập sự cân đối giữa các vùng Nó giúp cho vùng sâu, vùng xa, các vùng nông thôn có thể khai thác được tiềm năng của vùng, địa phương để phát triển các ngành sản xuất, dịch vụ, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các thành phần kinh tế, giữa các ngành và các vùng lãnh thổ, đặt biệt là khu vực nông nghiệp và nông thôn
Trang 202.3 Đầu tư phát triển sử dụng vốn ngân sách nhà nước
2.3.1 Những khái niệm chung
Đầu tư phát triển bằng vốn Nhà nước là việc sử dụng phần vốn ngân sách Nhà nước dành cho đầu tư phát triển, vốn vay nước ngoài của Chính phủ và vốn hỗ trợ phát triển chính thức của nước ngoài cho Chỉnh phủ và Chính quyền các cấp, vốn tín dụng đầu tư của các ngân hàng quốc doanh và vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước, dùng để đầu tư vào các khâu then chốt và cần thiết của nền kinh tế quốc dân, các dự án đầu tư có hiệu quả, các ngành kinh tế mũi nhọn có vị trí quyết định đến sự hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá Những ngành này cần một lượng vốn đầu tư lớn, thời gian xây dựng và thu hồi vốn dài… Đầu tư phát triển bằng vốn Nhà nước chủ yếu được tiến hành theo kế hoạch Nhà nước, nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ
Căn cứ vào khả năng thu hồi vốn trực tiếp của dự án đầu tư và tính chất nguồn vốn, hiện tại Nhà nước định ra ba hình thức đầu tư phát triển đó là: Cấp phát đầu tư, tín dụng đầu tư và doanh nghiệp tự đầu tư
2.3.2 Vai trò của đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước
Đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước là bộ phận cấu thành trong toàn bộ vốn đầu tư toàn xã hội, mặc dù thường chiếm tỷ trọng không cao, song đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách Nhà nước có vai trò quan trọng đặc biệt thể hiện trên các mặt sau:
- Đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước là công cụ kinh tế quan trọng để Nhà nước trực tiếp tác động đến quá trình kinh tế, xã hội, điều tiết vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước Bằng việc cung cấp những dịch vụ công cộng như hạ tầng kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng…mà các thành phần kinh tế khác không muốn, không thể hoặc không được đầu tư; Các
dự án đầu tư từ ngân sách Nhà nước được triển khai ở các vị trí quan trọng then chốt nhất nhằm đảm bảo cho nền kinh tế xã hội phát triển ổn định
- Đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước là công cụ để Nhà nước chủ động
Trang 21điều chỉnh tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế: Về mặt cầu: Đầu tư phát triển trong đó có đầu tư từ ngân sách Nhà nước sẽ tạo ra khả năng kích cầu tiêu dùng trong sản xuất, thúc đẩy lưu thông, tạo công ăn việc làm, thu nhập Về mặt cung: Khi các dự án hoàn thành đưa vào sử dụng, năng lực mới của nền kinh tế tăng lên tác động làm tăng tổng cung trong dài dạn, kéo theo tăng sản lượng tiềm năng, giá
cả sản phẩm giảm
- Đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước là công cụ để Nhà nước chủ động điều chỉnh cơ cấu kinh tế ngành, vùng, lãnh thổ: Thông qua đầu tư các Chương trình dự án ở vùng sâu vùng xa về giao thông, y tế, giáo dục…giúp cho các vùng này có điều kiện giao thông thuận lợi, nhân dân được giáo dục nâng cao dân trí, chăm sóc sức khoẻ tạo điều kiện phát triển vùng
Thông qua các dự án đầu tư phát triển của mình Nhà nước có thể điều chỉnh giúp ngành nghề này phát triển, hạn chế ngành nghề khác không có lợi
- Đầu tư phát triển từ NSNN tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế và cho toàn nền kinh tế phát triển Vốn đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước được coi là vốn mồi để thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước vào đầu tư phát triển Chẳng hạn có đường giao thông thuận lợi thì thị trường hàng hoá có điều kiện phát triển,
cơ sở hạ tầng kinh tế phát triển sẽ tạo khả năng to lớn để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá giáo dục, y tế, du lịch…
- Đầu tư phát triển từ NSNN có vai trò mở đường cho sự phát triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ, chăm sóc sức khoẻ của nhân dân
2.3.3 Dự án đầu tư xây dựng
2.3.3.1 Khái niệm
Sản phẩm đầu tư xây dựng là các công trình xây dựng đã hoàn thành (bao gồm cả việc lắp đặt thiết bị công nghệ ở bên trong) Sản phẩm xây dựng là kết tinh của các thành quả khoa học - công nghệ và tổ chức sản xuất của toàn xã hội ở một thời kỳ nhất đinh Nó là một sản phẩm có tính chất liên ngành, trong đó những lực lượng tham gia chế tạo sản phảm chủ yếu: các chủ đầu tư, các doanh nghiệp nhận thầu xây lắp, các doanh nghiệp tư vấn xây dựng, các doanh nghiệp sản xuất thiết bị
Trang 22công nghệ, vật tư thiết bị xây dựng, các doanh nghiệp cung ứng, các tổ chức dịch vụ ngân hàng và tài chính, các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan
2.3.3.2 Bản chất của các dự án xây dựng
Dự án xây dựng hàm chứa bản chất lưỡng tính: một mặt dự án xây dựng là tập hợp các hồ sơ và bản vẽ thiết kế, trong đó bao gồm các tài liệu pháp lý, quy hoạch tổng thể, kiến trúc, kết cấu, công nghệ tổ chức thi công v.v…được giải quyết đối với công trình xây dựng; mặt khác, đây là môi trường hoạt động phù hợp với những mục đính đã được đặt ra, nghĩa là một quá trình xây dựng có định hướng đối với các công trình mới hoặc cải tạo đối với các công trình hiện hữu đang sản xuất
Xuất phát từ tầm quan trọng của yếu tố thời gian, nhiều dự án xây dựng có vốn đầu tư không lớn, nhưng thời điểm giành cơ hội cạnh tranh bán sản phẩm của chủ đầu tư ra ngoài thị trường lại cấp bách, do vậy, mà công tác quản lý dự án xây dựng đảm bảo đưa công trình vào hoạt động đúng hạn có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong kinh doanh
Về chất lượng dự án xây dựng có thể không sai sót, nhưng điểm chủ yếu đối với chất lượng công trình là độ tin cậy và bền vững cao Những dự án như vậy chúng ta thường gặp ở những nhà máy hóa chất, khí gas hoặc điện nguyên tử
Khởi đầu dự án xây dựng có thể được tính từ thời điểm xuất vốn đầu tư để thực hiện công trình Tuy nhiên trước đó người ta có thể còn phải chờ đợi, cân nhắc các phương án và lựa chọn chúng, nhưng dù sao thì dự án vẫn tồn tại một cách trừu tượng cho đến khi hiện diện một quá trình thực thi thực tế
Kết thúc dự án xây dựng được tính vào thời điểm bàn giao công tình đưa vào
sử dụng và vận hành sản xuất ra sản phẩm đạt công suất thiết kế Trong điều kiện thị trường, chủ đầu tư kỳ vọng không chỉ ở công trình đang xây dựng, mà điều chính yếu là kết quả từ công trình xây dựng mang lại nguồn thu và lợi nhuận như thế nào sau khi đưa công trình vào sản xuất kinh doanh Bởi vậy, chủ đầu tư xem sự vận hành của công trình trong tương quan với những mục đích kinh doanh của mình Chính vì thế mà chủ đầu tư hết sức thận trọng xem xét các yếu tố chi phí trong toàn bộ dự án Thật vậy, khoản chi phí trực tiếp cho quá trình vận hành công
Trang 23trình có thể giảm đáng kể do việc tăng chi phí ban đầu ở giai đoạn xây dựng
2.3.3.3 Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng
Dự án đầu tư xây dựng có các đặc điểm chủ yếu sau:
a Dự án đầu tư xây dựng có tính đa mục tiêu/mục đích
Trong mỗi dự án nói chung và dự án đầu tư xây dựng công trình nói riêng thường chứa đựng nhiều mục tiêu khác nhau, các mục tiêu ấy có thể không đồng hướng thậm chí mâu thuẫn nhau Tính đa mục tiêu của dự án là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên sự phức tạp trong quản lý dự án xây dựng
b Dự án đầu tư xây dựng công trình có tính duy nhất
Mỗi công trình xây dựng đều có những đặc điểm kiến trúc, kết cấu, địa điểm xây dựng, không gian và thời gian xây dựng không giống nhau đặc điểm này tạo ra tính duy nhất của dự án xây dựng
c Dự án đầu tư xây dựng công trình chịu sự ràng buộc về thời gian và chi phí nguồn lực
Thời gian thực hiện dự án, thời điểm khởi công và kết thúc và tổng mức chi phí cho việc thực hiện dự án đã được xác định Thường các yêu cầu về thời gian và chi phí thực hiện dự án xây dựng là hạn hẹp vì các chủ đầu tư dự án luôn muốn có những công trình chất lượng cao nhưng chi phí thấp và được thực hiện trong một thời gian ngắn
d Dự án đầu tư xây dựng công trình luôn tồn tại trong một môi trường không chắc chắn (tiềm ẩn nhiều rủi ro)
Các công việc của dự án đầu tư xây dựng công trình, do đặc điểm của sản phẩm và sản xuất xây dựng, thường được thực hiện trong một môi trường (tự nhiên, kinh tế, xã hội,…) tiềm ẩn nhiều rủi ro, bất trắc
2.3.3.4 Nội dung của dự án đầu tư xây dựng - Trình tự lập dự án đầu tư xây dựng
a Nội dung tổng quát của một dự án đầu tư xây dựng
Dự án đầu tư bao gồm kế hoạch chi tiết, cụ thể việc triển khai thực hiện các hoạt động đầu tư nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong một khoảng thời gian nhất
Trang 24định
Trước hết, dự án đầu tư phải thể hiện rõ mục tiêu đầu tư là gì, mục tiêu của
dự án là các mục tiêu cần đạt được khi thực hiện dự án Cụ thể là khi thực hiện dự
án sẽ mang lại những lợi ích gì cho đất nước nói chung và cho bản thân chủ đầu tư nói riêng Có thể là mục tiêu dài hạn, trung hạn, ngắn hạn, mục tiêu chiến lược hay trước mắt Mục tiêu trước mắt được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế cụ thể như năng lực sản xuất, quy mô sản xuất hay hiệu quả kinh tế Mục tiêu dài hạn có thể là các lợi ích kinh tế, xã hội do dự án mang lại
Hai là, nguồn lực và cách thức để đạt được mục tiêu, bao gồm cả các điều kiện và biện pháp vật chất để thực hiện như vốn, nhân lực, công nghệ Các hoạt động: là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự án để tạo ra các kết quả nhất định Những nhiệm vụ hoặc hành động này cùng với một lịch biểu và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch làm việc của dự
án Các nguồn lực: gồm có vật chất, tài chính và con người cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho dự án
Ba là, với khoảng thời gian bao lâu thì mục tiêu có thể đạt được, và các kết quả dự kiến của dự án Các kết quả: đó là những kết quả cụ thể, có thể định lượng, được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu của dự án
b Nội dung cụ thể
Các dự án quan trọng quốc gia, lập dự án đầu tư bao gồm hai bước là lập báo cáo đầu tư xây dựng công trình (Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi) và lập dự án đầu
tư xây dựng công trình (Báo cáo nghiên cứu khả thi)
Các dự án nhóm A, B, C chỉ phải lập dự án đầu tư (báo cáo nghiên cứu khả thi) trừ trường hợp công trình chỉ yêu cầu lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật Đó là: công trình xây dựng cho mục đích tôn giáo, các công trình xây mới, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng (không bao gồm tiền sử dụng đất) trừ trường hợp người quyết định đầu tư thấy cần thiết và yêu cầu phải lập dự
Trang 25án đầu tư xây dựng công trình
Nội dung dự án đầu tư xây dựng công trình (Báo cáo nghiên cứu khả thi) bao gồm thuyết minh và phần thiết kế cơ sở
Nội dung dự án đầu tư xây dựng có thể được trình bày qua sơ đồ sau:
Hình 2.1: Nội dung của dự án đầu tư xây dựng
Nguồn: Đỗ Phú & ctg, Quản trị dự án đầu tư (2009), NXB Thống kê
c Trình tự lập dự án đầu tư
Chất lượng của dự án đầu tư phụ thuộc vào cách chia giai đoạn lập dự án đầu
tư và chất lượng của từng giai đoạn, việc lập dự án đầu tư phải tuân theo trình tự quy định Hiện nay, trình tự lập dự án đầu tư được thực hiện như sau
- Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư;
- Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường;
- Tiến hành điều tra, khảo sát và lựa chọn địa điểm xây dựng;
Nội dung DAĐT XD
Thuyết minh
Các bản vẽ: giải pháp kiến trúc, hình khối kết cấu chính, mặt bằng, mặt cắt, mặt đứng
Các giải pháp kỹ thuật, giải pháp XD
Giải pháp công nghệ Trang thiết bị Vật liệu XD chủ yếu
Trang 26- Lập dự án đầu tư;
- Gửi hồ sơ dự án và văn bản trình đến người có thẩm quyền quyết định đầu
tư, tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan thẩm định dự án đầu tư;
2.3.3.5 Vai trò của dự án đầu tư xây dựng
- Đối với chủ đầu tư:
+ Dự án đầu tư là một căn cứ quan trọng nhất để nhà đầu tư quyết định có nên tiến hành đầu tư dự án này hay không
+ Dự án đầu tư là công cụ để tìm đối tác trong và ngoài nước liên doanh bỏ vốn đầu tư cho dự án
+ Dự án đầu tư là cơ sở để xây dựng kế hoạch thực hiện đầu tư, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra quá trình thực hiện dự án
+ Dự án đầu tư là căn cứ quan trọng để theo dõi, đánh giá và có điều chỉnh kịp thời những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện và khai thác công trình
+ Dự án đầu tư là căn cứ quan trọng để soạn thảo hợp đồng liên doanh cũng như để giải quyết các mối quan hệ tranh chấp giữa các đối tượng trong quá trình thực hiện dự án
- Đối với nhà tài trợ (Các ngân hàng thương mại):
Dự án đầu tư là căn cứ quan trọng để các cơ quan này xem xét tính khả thi của dự án, từ đó sẽ đưa ra quyết định có nên tài trợ cho dự án hay không và nếu tài trợ thì tài trợ đến mức độ nào để đảm bảo rủi ro ít nhất cho nhà tài trợ
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước:
+ Dự án đầu tư là tài liệu quan trọng để các cấp có thẩm quyền xét duyệt, cấp giấy phép đầu tư
+ Dự án đầu tư là căn cứ pháp lý để toà xem xét, giải quyết khi có sự tranh chấp giữa các bên tham gia đầu tư trong quá trình thực hiện dự án
Với vai trò quan trọng như vậy, không thể coi việc lập dự án đầu tư là việc làm chiếu lệ, đảm bảo thủ tục đầu tư, để đi tìm đối tác, xin cấp vốn, vay vốn, xin giấy phép đầu tư mà phải coi đây là một công việc nghiên cứu và phân tích, đánh giá dự án một cách nghiêm túc theo khoa học lập dự án, chứa đựng giá trị trí tuệ
Trang 27sáng tạo Đó thực sự phải là sản phẩm lao động khoa học của những nhà tư vấn có kinh nghiệm chuyên môn, chữ tâm và đạo đức nghề nghiệp
2.4 Tổng quan cơ sở lý thuyết
Lim và Mohamed (1999) đã đưa ra một khung khái niệm thể hiện mối quan
hệ giữa các tiêu chí của một dự án thành công với một bên là tập hợp các nhân tố tác động vào sự thành công của dự án được tóm tắt qua Hình 2.2; [45]
Hình 2.2: Quan hệ giữa các nhân tố tác động và tiêu chí thành công dự án [45]
Nguồn: Lim C S and Mohamed M Z (1999)
Liên quan đến các tiêu chí đánh giá sự thành công của dự án có nhiều quan
điểm khác nhau tùy vào cách đánh giá và lựa chọn loại dự án của nhà nghiên cứu Trong nghiên cứu của Cao Hào Thi (2006) đã tổng quan các nghiên cứu trước và cho thấy những tiêu chí này có thể là “quá trình thực hiện, giá trị nhận thức của dự án và
sự hài lòng của khách hàng với sản phẩm cuối cùng” (Cao Hào Thi, 2006), hay “năm trong bảy tiêu chí chính đo lường sự thành công dự án thường xuyên được sử dụng là hiệu suất kỹ thuật, hiệu quả thực hiện, những tác động đến nhà quản lý và tổ chức (chủ yếu là sự hài lòng khách hàng), sự phát triển cá nhân, năng lực của tổ chức và hiệu suất kinh doanh” (Cao Hào Thi, 2006), hay “sự thành công dự án được định nghĩa là hoàn thành một hoạt động trong sự ràng buộc về thời gian, chi phí và hiệu suất” (Cao Hào Thi, 2006) Nguyễn Thị Minh Tâm (2008) trong một nghiên cứu của mình về các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động chi phí dự án xây dựng tại Việt Nam đã trích từ Chan (2001) bảng tổng hợp các nghiên cứu trước đây tại Phụ lục 1
Các tiêu chí của dự án thành công
Trang 28cho thấy tiến độ dự án cùng với chi phí dự án và chất lượng là ba tiêu chí quan trọng nhất đánh giá sự thành công của dự án
Liên quan các nhân tố tác động đến sự thành công của dự án, Belassi và Tukel (1996) đã tổng hợp 7 danh sách về các nhân tố tác động đến sự thành công của dự án từ các nghiên cứu trước tại Phụ lục 2 Tuy nhiên, ngoài ra còn có các yếu
tố không liên quan nhà QLDA và tổ chức nhưng cũng có ảnh hưởng đến sự thành công dự án, đó là các yếu tố về đặc trưng dự án, thành viên tham gia và môi trường bên ngoài dự án (Cao Hào Thi, 2006) Belassi và Tukel (1996) đã nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công dự án vào 04 phạm vi: dự án, nhà QLDA và thành viên tham gia, tổ chức và môi trường bên ngoài, đồng thời giải thích các mối quan
hệ qua lại giữa các nhóm yếu tố Các yếu tố ảnh hưởng đến thành công của dự án cũng có thể thay đổi tùy theo từng giai đoạn của vòng đời dự án (Pinto & Prescott, 1988) Mối quan hệ giữa các yếu tố thành công của dự án và các yếu tố ảnh hưởng
sự thành công của dự án sau đó được Westerveld (2002) mô tả cụ thể hơn bằng việc tổng hợp các yếu tố thành công của dự án và các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của dự án từ các nghiên cứu trước, sau đó phát triển nên mô hình dự án xuất sắc (Project Excellence Model) trên cơ sở mô hình của Quỹ quản lý chất lượng Châu Âu EFQM (European Foundation of Quality Management) Westerveld (2002) cho rằng không có một tiêu chuẩn thống nhất để xác định một dự án thành công và các tiêu chí quyết định sự thành công của dự án, điều này còn tùy thuộc vào đặc trưng của từng dự án, từ đó đề xuất mô hình linh hoạt hơn xem xét mối quan hệ trực tiếp giữa các yếu tố quyết định sự thành công dự án đến các yếu tố của một dự
án thành công bao gồm cả mối quan hệ giữa các nhóm yếu tố và ảnh hưởng của đặc trưng dự án lên các mối quan hệ
Kết quả nghiên cứu tại Việt Nam: Đến năm 2006, qua kết quả từ các nghiên
cứu trước trên thế giới, Cao Hào Thi (2006) đã xây dựng mô hình nghiên cứu đối với 239 dự án cơ sở hạ tầng tại Việt Nam và khẳng định các nhóm nhân tố ảnh hưởng tới sự thành công dự án là năng lực nhà QLDA, năng lực các thành viên tham gia và môi trường bên ngoài với mức độ tác động bị ảnh hưởng bởi đặc trưng
Trang 29dự án là giai đoạn hoàn thành và thực hiện trong vòng đời dự án Nguyễn Quý Nguyên & Cao Hào Thi (2010) qua phân tích 150 dự án xây dựng dân dụng khu vực phía Nam đã kết luận có 4 nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến thành công dự án là
sự hỗ trợ từ tổ chức kết hợp năng lực điều hành của nhà QLDA, năng lực các thành viên tham gia, môi trường bên ngoài, năng lực nhà QLDA và nhân tố gián tiếp là đặc điểm CĐT và ngân sách dự án Lưu Minh Hiệp (2009) qua nghiên cứu 100 dự
án trên địa bàn TP.HCM cho thấy các yếu tố chính sách, kinh tế/tài chính, điều kiện
tự nhiên, tình trạng trộm cắp/tội phạm đã ảnh hưởng đến rủi ro của dự án (bao gồm tiến độ và chi phí), tác động của các nhóm yếu tố đến biến phụ thuộc mạnh hay yếu trong tương quan với đặc trưng dự án chỉ có ý nghĩa đối với các dự án lớn (trên 10 triệu USD) Nguyễn Thị Minh Tâm (2009) qua phân tích 216 dự án xây dựng tại TP.HCM phản ánh có 6 nhân tố ảnh hưởng đến biến động chi phí dự án là năng lực bên thực hiện, năng lực bên hoạch định dự án, sự gian lận và thất thoát, kinh tế, chính sách và tự nhiên Tuy nhiên, các nghiên cứu tại Việt Nam chủ yếu được thực hiện chung cho các loại dự án và chưa thể hiện tính đặc thù của các dự án sử dụng vốn NSNN với CĐT là các cơ quan nhà nước, chịu ràng buộc nhiều về chính sách, thủ tục và vấn đề phân cấp quản lý đầu tư cũng như phân cấp về nguồn vốn
Tóm lại, tổng hợp vai trò của tiến độ trong sự thành công dự án và các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công dự án qua các nghiên cứu trước kết hợp các quy định pháp luật đối với dự án sử dụng NSNN tại Việt Nam và ý kiến các chuyên gia là cơ
sở lý thuyết để hình thành mô hình nghiên cứu đối với các dự án sử dụng nguồn vốn NSNN trong đề tài này
Lê Thanh Nhàn (2012) đã thực hiện Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ tại Đại học Quốc Gia Hà Nội với đề tài: “Quản lý đầu tư xâu dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước” Kết quả nghiên cứu: Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận đầu
tư nói chung là việc bỏ vốn đầu tư và tiến hành hoạt động xây dựng cơ bản và các yếu tố ảnh hưởng: Cách quản lý - cách thực hiện - sự phân bổ nguồn vốn đầu tư - thuận lợi và khó khăn - đưa ra giải pháp nhằm nâng cao quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước
Trang 30Hồ Thanh Khánh (2011) đã thực hiện Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ tại Đại học Quốc Gia Hà Nội với đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước của Huyện Bình Sơn - Quảng Ngãi” Kết quả nghiên cứu: Tác giả đã phân tích đánh giá kết quả và thực trạng đầu tư, tìm ra được những tồn tại và hạn chế, và tìm ra được những nguyên nhân của những tồn tại và hạn chế
đó Đồng thời đề xuất các giải pháp nhăm hoàn thiện quản lý vốn đầu tư từ xây dựng cơ bản của nguồn vốn ngân sách
Và mới đây Phan Phúc (2012) đã thực hiện Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ tại Đại học Kinh tế Huế với đề tài: “Giải pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn ngân sách nhà nước Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô” Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Công tác quản lý đầu tư xây dựng tuy đạt được những kết quả khả quan trong bước đầu hình thành và xây dựng phát triển Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô; nhiều dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn NSNN tại Khu kinh tế hoàn thành đưa vào hoạt động, khai thác đã phát huy hiệu quả Các
dự án, công trình xây dựng hạ tầng kỹ thuật sử dụng vốn NSNN đã được triển khai theo quy hoạch, làm nền tảng cho phát triển nhiều mặt kinh tế - xã hội trên địa bàn Khu kinh tế, tạo môi trường đầu tư và phục vụ tốt cho các dự án trong và ngoài nước đầu tư vào Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô Tuy vậy, vấn đề tiến độ thực hiện dự án sử dụng vốn NSNN chậm, khả năng giải ngân thấp so với yêu cầu, công tác thanh quyết toán kéo dài, công trình chậm được đưa vào sử dụng dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp, vốn NSNN sử dụng chậm phát huy Với yêu cầu về quy mô đầu tư lớn hơn trong vài năm tới, nếu vẫn vận hành hệ thống như hiện nay thì chắc chắn không đạt yêu cầu về hiệu quả tổng hợp không chỉ kinh tế mà còn là môi trường và
xã hội tại Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô
Đánh giá thực trạng tiến độ thực hiện các dự án đầu tư sử dụng vốn NSNN tại Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô trong giai đoạn 2009-2011 cho thấy:
Bên cạnh đó còn có những nguyên nhân ít ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự án đầu tư xây dựng như: Công tác phân cấp quản lý đầu tư và xây dựng, Công tác lập và quản lý quy hoạch, Công tác thanh quyết toán và giá xây dựng,
Trang 31Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng và Công tác giám sát, đánh giá đầu tư Việc chậm tiến độ thực hiện của các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn NSNN tại Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô làm giảm hiệu quả đầu tư không những
về mặt kinh tế mà còn tác động tiêu cực đến nhiều mặt môi trường, văn hóa, xã hội khác trên địa bàn Đây là một vấn đề bức xúc, trăn trở của các cấp lãnh đạoThừa Thiên Huế, Ban Quản lý Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô Việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn NSNN và các nguồn vốn khác tại Khu kinh tế là yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với đầu tư phát triển Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô theo định hướng của Chính phủ và Nghị quyết củaủy đã đề ra
2.5 Những thuận lợi của Doanh nghiệp xây dựng tư nhân nhỏ và vừa khi tham gia các dự án thuộc vốn ngân sách nhà nước
Phần này trình bày về mô hình lý thuyết áp dụng cho nghiên cứu bao gồm biến phụ thuộc là thuận lợi của Doanh nghiệp xây dựng tư nhân nhỏ và vừa khi tham gia
các dự án thuộc vốn ngân sách nhà nước và các yếu tố yếu tố thuận lợi của doanh
nghiệp xây dựng tư nhân nhỏ và vừa khi tham gia các dự án thuộc vốn ngân sách nhà nước đồng thời phát biểu các giả thuyết và đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất
Căn cứ vào các nghiên cứu trước kết hợp với quy định và đặc thù các dự án
sử dụng vốn NSNN tại Việt Nam, nghiên cứu đã đề xuất 6 giả thuyết với 27 yếu tố đại diện, những thuận lợi của Doanh nghiệp xây dựng tư nhân nhỏ và vừa khi tham gia các dự án thuộc vốn ngân sách nhà nước
2.5.1 Nhóm yếu tố về môi trường bên ngoài
Trong nghiên cứu này, nhóm yếu tố về môi trường bên ngoài bao gồm các yếu tố ngoài tầm kiểm soát của các bên tham gia dự án là kinh tế và tự nhiên
Yếu tố về kinh tế: Theo BS 6079-3 (2000) nhóm yếu tố về kinh tế ảnh hưởng
đến rủi ro trong quá trình thực hiện dự án bao gồm: sự biến động tỷ giá, tính không bền vững của lãi suất, lạm phát, sự thiếu hụt nguồn vốn và thất bại trong việc đạt mục tiêu tổng doanh thu Theo Patrick et al (1996) (dẫn trong Lưu Minh Hiệp, 2009) nhóm yếu tố kinh tế tác động đến dự án gồm: chính sách tiền tệ, thuế, lạm phát, lãi suất và tỷ giá Tuy nhiên, đối với các dự án ngân sách, nguồn vốn thực hiện
Trang 32được ngân sách bố trí hàng năm, CĐT không phải vay vốn vì vậy yếu tố lãi suất, mục tiêu doanh số chỉ có ý nghĩa đối với năng lực tài chính của nhà thầu Các dự án
từ ngân sách của địa phương ít sử dụng thiết bị nhập khẩu, vì vậy yếu tố tỷ giá cũng
sẽ không ảnh hưởng Lạm phát và giá vật liệu xây dựng là một vì khi lạm phát tăng/giảm sẽ làm giá vật liệu xây dựng tăng/giảm theo, do đó yếu tố kinh tế duy nhất còn lại là trượt giá vật liệu xây dựng
Yếu tố về tự nhiên: Đối với các dự án xây dựng, yếu tố tự nhiên có thể ảnh
hưởng là thời tiết khu vực thực hiện dự án, các thiên tai như bão lớn/lũ/động đất/sóng thần (BS 6079-3, 2000) Ngoài ra, theo Nguyễn Thị Minh Tâm (2009) và ý kiến các chuyên gia thì yếu tố địa chất công trình cũng là một yếu tố tự nhiên có thể ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án vì việc điều chỉnh thiết kế, xử lý nền móng tại hiện trường sẽ mất nhiều thời gian khi địa chất thay đổi đột biến so với kết quả khảo sát Do đó, các yếu tố tự nhiên sẽ bao gồm 2 yếu tố đại diện là thời tiết tại công trình và địa chất tại công trình
Trên cơ sở đó, nhóm yếu tố về môi trường bên ngoài bao gồm:
- Trượt giá vật liệu xây dựng;
- Thời tiết tại công trình;
- Địa chất tại công trình
2.5.2 Nhóm yếu tố về hệ thống thông tin quản lý
Theo Võ Văn Châu, 2010 (Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định
Xây dựng): “Đặc trưng các dự án ngân sách là được quản lý theo mạng lưới ngang
- dọc, do đó việc phổ biến thông tin sử dụng chung về quy hoạch và địa chất khu vực dự án là hai yếu tố ảnh hưởng lớn đến tiến độ thực hiện dự án” Một đặc điểm
khác biệt giữa các dự án sử dụng vốn NSNN so với vốn tư nhân là chịu sự chi phối mạnh bởi hệ thống pháp luật xây dựng từ trung ương đến địa phương nên việc phổ biến kịp thời chính sách cũng ảnh hưởng nhất định đến tiến độ hoàn thành dự án Trên cơ sở đó, nhóm yếu tố về hệ thống thông tin quản lý bao gồm:
- Mức độ phổ biến các quy định về quản lý đầu tư và xây dựng;
- Mức độ phổ biến thông tin quy hoạch khu vực dự án;
Trang 33- Mức độ phổ biến thông tin địa chất khu vực dự án;
2.5.3 Nhóm yếu tố về chính sách
Cao Hào Thi (2006) cho rằng yếu tố chính sách là một trong 9 yếu tố thuộc nhóm yếu tố môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến sự thành công của dự án Một số tác giả theo tổng hợp tại Phụ lục 2 như Pinto và Slevin (1989) hay Morris và Hough (1987) cũng cho rằng môi trường chính sách là một yếu tố ảnh hưởng đến thành công dự án Theo BS 6079-3 (2000), 7 yếu tố về chính sách bao gồm: những thay đổi bất ngờ trong quy định quản lý, thay đổi chính sách thuế, sự quốc hữu hóa, thay đổi chính phủ, chiến tranh và địch họa, quyền sở hữu, chi phí bồi thường Tại Việt Nam, hệ thống chính trị ổn định, không xảy ra tình trạng quốc hữu hóa, chiến tranh, địch họa và đình công, nguồn vốn thực hiện dự án từ NSNN nên chính sách thuế gần như không ảnh hưởng Những yếu tố chính sách còn lại chủ yếu liên quan trực tiếp đến những quy định về quản lý đầu tư và xây dựng đối với nguồn vốn NSNN
Do đó, các yếu tố chính sách đại diện cho nhóm là:
- Mức độ ổn định chính sách về đầu tư và xây dựng;
- Mức độ ổn định chính sách về tiền lương;
- Mức độ ổn chính chính sách về đấu thầu;
- Mức độ ổn định chính sách về hợp đồng
2.5.4 Nhóm yếu tố về nguồn vốn thực hiện dự án
Olusegun et.al (1998) cho rằng nguồn vốn là một yếu tố ảnh hưởng mạnh đến tiến độ thực hiện dự án hay Belassi & Tukel (1996) đã chứng minh sự sẵn có nguồn lực (bao gồm tài chính) có vai trò quan trọng hàng đầu trong các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của dự án xây dựng trên hầu hết các lĩnh vực Tại Việt Nam, trong điều kiện nền kinh tế đang chuyển theo hướng thị trường, nhu cầu sử dụng vốn ngày càng cao, theo lý thuyết hành vi thì nhà thầu sẽ không triển khai thi công theo tiến độ nếu nguồn vốn không được bố trí kịp thời hoặc việc thanh toán chậm sau khi nhà thầu hoàn thành khối lượng Mức độ quan trọng của nguồn vốn đối với các dự án XDCB đã được khẳng định qua quyết tâm của chính phủ trong cải
Trang 34thiện việc bố trí vốn tại Hội nghị toàn quốc về đầu tư XDCB tháng 3/2010 (Thiện Thuật, 2010) Ngoài việc bố trí vốn, hoàn thành chứng từ thanh toán cũng là một yếu tố góp phần giúp việc thanh toán cho nhà thầu được nhanh chóng Căn cứ những nhận định trên, nhóm yếu tố về nguồn vốn thực hiện dự án bao gồm các yếu
tố đại diện sau:
- Sự sẵn có nguồn vốn của dự án trong kế hoạch ngân sách;
- Sự kịp thời trong hoàn tất chứng từ thanh toán;
- Sự kịp thời thanh toán sau khi hoàn tất chứng từ
2.5.5 Nhóm yếu tố về năng lực các bên tham gia dự án
Đối với các bên tham gia dự án, Cao Hào Thi (2006) đã tách riêng yếu tố năng lực của nhà QLDA và năng lực của các bên còn lại là hai nhóm yếu tố có ảnh hưởng đến sự thành công của dự án Chan và đ.t.g (2004) (dẫn trong Nguyễn Thị Minh Tâm, 2009) cho rằng năng lực của CĐT, Tư vấn, Nhà thầu thi công, Nhà cung cấp thiết bị có ảnh hưởng lớn đến thành công của dự án Đối với các dự án từ NSNN, việc QLDA có thể được thực hiện theo một trong 2 hình thức là CĐT tự QLDA hoặc thuê tư vấn QLDA nhưng CĐT vẫn là người chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật về các quyết định 7, nhà QLDA chỉ đóng vai trò như cá nhân tư vấn thiết kế, giám sát Do tầm ảnh hưởng lớn nên yếu tố năng lực CĐT được tách riêng để xem xét, nhóm yếu tố năng lực các bên tham gia dự án còn lại gồm:
- Năng lực cá nhân Tư vấn Thiết kế;
- Năng lực cá nhân Tư vấn Giám sát;
- Năng lực cá nhân Tư vấn QLDA;
- Năng lực nhân sự của Nhà thầu chính;
- Năng lực tài chính của Nhà thầu chính;
- Năng lực máy móc thiết bị của Nhà thầu chính
2.5.6 Nhóm yếu tố về năng lực của CĐT
Vai trò CĐT đối với các dự án ngân sách tại Việt Nam tương tự như vai trò nhà QLDA trong các nghiên cứu trước Pinto và Slevin (1989) (trích trong Cao Hào Thi & Nguyễn Quý Nguyên, 2010) đã chứng tỏ nhà QLDA có tầm quan trọng đối
Trang 35với sự thành công của dự án với “các kỹ năng cần thiết không chỉ về mặt kỹ thuật chuyên môn mà cả về khả năng quản trị”, Zwikael và Globerson (2006) (trích trong Cao Hào Thi, 2010) cho rằng “năng lực của nhà quản lý đóng vai trò quan trọng từ khi lập kế hoạch cho đến khi kết thúc dự án” Belassi và Tukel (1996) (trích trong Cao Hào Thi, 2010) khẳng định đây là nhóm yếu tố có ảnh hưởng lớn đến sự thành công của dự án, bao gồm các yếu tố: “khả năng phân quyền; khả năng thương thảo; khả năng phối hợp; khả năng ra quyết định; khả năng nhận thức về vai trò và trách nhiệm của nhà quản lý” Ngoài những yếu tố trên, CĐT các dự án sử dụng nguồn vốn NSNN tại Việt Nam còn phải đảm bảo khả năng về am hiểu pháp luật và khả năng báo cáo thống kê tình hình thực hiện dự án lên cấp trên hay cấp quản lý về kế hoạch, ngân sách có liên quan Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các yếu tố đại diện cho năng lực CĐT bao gồm:
- Khả năng phối hợp thực hiện hợp đồng;
- Khả năng am hiểu pháp luật xây dựng;
- Khả năng am hiểu chuyên môn kỹ thuật;
- Khả năng ra quyết định theo thẩm quyền;
- Khả năng giải quyết rắc rối của dự án;
- Khả năng báo cáo thống kê tình hình dự án;
- Khả năng nhận thức vai trò, trách nhiệm quản lý
2.6 Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết
Độ mạnh tác động của 6 nhóm yếu tố nêu trên tạo sự thuận lợi cho doanh nghiệp xây dựng tư nhân vừa và nhỏ khi tham gia các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước
Mô hình nghiên cứu đề xuất như sau:
Trên cơ sở 6 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án với 27 yếu
tố đại diện nêu trên, mô hình nghiên cứu đề xuất như Hình 2.3 với 6 giả thuyết tương ứng như sau:
Giả thuyết H1: Độ ổn định môi trường bên ngoài càng cao thì doanh nghiệp
xây dựng tư nhân vừa và nhỏ thuận lợi để hoàn thành dự án xây dựng
Trang 36Giả thuyết H2: Độ phổ biến hệ thống thông tin quản lý càng kịp thời và rộng
rãi thì doanh nghiệp xây dựng tư nhân vừa và nhỏ thuận lợi để hoàn thành dự án xây dựng
Giả thuyết H3: Độ ổn định của môi trường chính sách càng cao thì doanh
nghiệp xây dựng tư nhân vừa và nhỏ thuận lợi để hoàn thành dự án xây dựng
Giả thuyết H4: Độ sẵn sàng về nguồn vốn cung cấp cho dự án càng cao thì
doanh nghiệp xây dựng tư nhân vừa và nhỏ thuận lợi để hoàn thành dự án xây dựng
Giả thuyết H5: Năng lực các bên tham gia dự án càng cao thì doanh nghiệp
xây dựng tư nhân vừa và nhỏ thuận lợi để hoàn thành dự án xây dựng
Giả thuyết H6: Năng lực CĐT càng cao thì doanh nghiệp xây dựng tư nhân
vừa và nhỏ thuận lợi để hoàn thành dự án xây dựng
Hình 2.3: Mô hình nghiên cứu đề xuất
Nhóm yếu tố môi trường
Trang 37KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trong chương này, luận văn đã hệ thống hóa lý luận cơ bản và thực tiễn về các vấn đề liên quan đến những thuận lợi của doanh nghiệp xây dựng tư nhân vừa
và nhỏ khi tham gia dự án thuộc vốn ngân sách nhà nước
Trên cơ sở những lý thuyết được chọn, một mô hình nghiên cứu và 6 giả thuyết về những thuận lợi của doanh nghiệp xây dựng tư nhân vừa và nhỏ khi tham gia dự án thuộc vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, được đưa ra để xem xét Dựa vào các giả thuyết và mô hình nghiên cứu này, tác giả tiếp tục thực hiện chương tiếp theo là đề xuất các phương pháp nghiên cứu cho phù hợp với lý thuyết này
Trang 38CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đây là chương xác định phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn, giúp xác định được phương pháp tiếp cận vấn đề, cũng như qui trình để thực hiện nghiên cứu luận văn
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Khi thực hiện một nghiên cứu, người nghiên cứu có thể chọn giữa hai phương pháp: phương pháp định tính và phương pháp định lượng hoặc cả hai Phương pháp định tính bao hàm việc gạn lọc thông tin từ một vài cuộc điều tra và quan sát, trong khi đó phương pháp định lượng đòi hỏi người nghiên cứu phải thu thập thông tin từ việc điều tra nghiên cứu thị trường ví dụ thông qua các bảng câu hỏi (Halvorsen, 1992)
Nghiên cứu này được tiến hành thông qua hai gia đoạn chính: (1) nghiên cứu
sơ bộ định tính nhằm xây dựng bảng câu hỏi thăm dò ý kiến khách hàng; (2) nghiên cứu định lượng nhằm thu thập, phân tích dữ liệu thăm dò, cũng như ước lượng và kiểm định mô hình Toàn bộ qui trình nghiên cứu được trình bày như hình 3.1
Nghiên cứu định tính nhằm mục đích hiệu chỉnh, bổ sung thang đo các khái niệm nghiên cứu, xây dựng bảng câu hỏi thăm dò ý kiến doanh nghiệp cho phù hợp với điều kiện của Tp.HCM Từ mục tiêu nghiên cứu đã xác định, cơ sở lý thuyết, tác giả đã xây dựng bảng câu hỏi thăm dò ý kiến khách hàng sơ bộ lần 1 Tuy nhiên, bảng câu hỏi sơ bộ lần 1 chắc chắn chưa phù hợp Vì vậy, bước tiếp là nghiên cứu định tính với việc khảo sát 20 doanh nghiệp tại Tp.HCM và tiếp tục hiệu chỉnh Kết quả của bước này là xây dựng được một bảng câu hỏi thăm dò chính thức dùng cho nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định lượng chính thức được thực hiện tại các doanh nghiệp xây dựng vừa và nhỏ tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh Theo Hair & ctg (1998), để phân tích nhân tố khám phá (EFA) với ít nhất 5 mẫu trên 1 biến quan sát Bên cạnh
đó, để tiến hành phân tích hồi qui một cách tốt nhất, Tabachnick & Fidell (1996) cho rằng kích thước mẫu cần phải đảm bảo theo công thức:
Trang 39n ≥ 8m +50 Trong đó, n là cở mẫu; m số biến độc lập của mô hình
Trên cơ sở đó, tác giả tiến hành thu thập dữ liệu với cỡ mẫu là 150 Phương pháp chọn mẫu được tiến hành theo phương pháp thuận tiện, ngẫu nhiên và đảm bảo tương đối theo đúng yêu cầu cho mục tiêu nghiên cứu Phương pháp thu thập dữ liệu bằng bảng câu hỏi và thăm dò ý kiến doanh nghiệp xây dựng tại Tp.HCM, phát bảng câu hỏi cho các doanh nghiệp điền vào phiếu
3.2 Qui trình nghiên cứu
Qui trình nghiên cứu được thực hiện theo Hình 3.1
Sơ đồ 3.1: Quy trình nghiên cứu
- Phân tích hồi quy
Kết quả nghiên cứu
Trang 40Bước 1: Xây dựng thang đo
Qui trình xây dựng thang đo trong nghiên cứu này dựa vào qui trình do Churchill (1979) đưa ra và được kiểm định bằng cronbach’s alpha Thang đo được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết đã đề cập ở chương 2;
Bước 2: Nghiên cứu định tính
Bước này nhằm mục đích bổ sung và hiệu chỉnh thang đo cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, sau khi thực hiện bước này, thang đo sẽ được dùng để nghiên cứu định lượng sơ bộ
Bước 3: Nghiên cứu định lượng sơ bộ
Thang đo sau khi đã được hiệu chỉnh và bổ sung bằng nghiên cứu định tính, căn cứ vào thang đo sơ bộ này tác giả tiến hành khảo sát thử với 20 doanh nghiệp để điều chỉnh và hoàn thiện bảng câu hỏi Các thang đo này được điều chỉnh thông qua hai kỹ thuật chính, (1) phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha (Cronbach 1951) và (2) phân tích yếu tố khám phá EFA Trước tiên các biến có hệ số tương quan giữa các biến và tổng (item-total correlation) dưới 0,30 trong phân tích Cronbach’s Alpha sẽ bị loại bỏ Tiếp theo, các biến quan sát có trọng số (Factor loading) nhỏ hơn 0.50 trong EFA sẽ tiếp tục loại bỏ và kiểm tra tổng phương sai trích (≥50%) (Nunnally & Burnstein 1994) Các biến còn lại (thang đo hoàn chỉnh)
sẽ được đưa vào bảng câu hỏi dùng cho nghiên cứu định lượng chính thức
Bước 3: Nghiên cứu định lượng chính thức
Thang đo chính thức được dùng cho nghiên cứu định lượng Kết quả thu thập
số liệu sẽ được đưa vào phân tích hồi quy đa biến nhằm kiểm định các giả thuyết và
mô hình nghiên cứu đã đặt ra
Phân tích độ tin cậy (hệ số Cronbach Alpha) để xem kết quả nhận được đáng tin cậy ở mức độ nào Độ tin cậy đạt yêu cầu ≥ 0,8 Tuy nhiên, theo Hoàng Trọng và các đồng nghiệp (2005) thì Cronbach Alpha từ 0,6 trở lên cũng có thể sử dụng được trong trường hợp khái niệm đang nghiên cứu là mới hoặc mới đối với người được phỏng vấn trong bối cảnh nghiên cứu (trường hợp của đề tài - nghiên cứu khám phá) nên khi kiểm định sẽ lấy chuẩn Cronbach Alpha ≥ 0,6