ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN ÁI XUÂN TRUYỀN THÔNG VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN CÁC ĐÀI TRUYỀN THANH HUYỆN Ở VĨNH LONG
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN ÁI XUÂN
TRUYỀN THÔNG VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
DO SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN CÁC ĐÀI TRUYỀN THANH HUYỆN Ở VĨNH LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Vĩnh Long - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN ÁI XUÂN
TRUYỀN THÔNG VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
DO SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN CÁC ĐÀI TRUYỀN THANH HUYỆN Ở VĨNH LONG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới
sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái Các số liệu thống kê, kết quả nghiên cứu là trung thực, khách quan và chưa được ai công
bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây Luận văn có
sử dụng, phát triển, kế thừa một số tư liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu từ các sách, giáo trình, tài liệu có liên quan đến nội dung đề tài
Tác giả luận văn
Trần Ái Xuân
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn Cao học, tôi đã nhận được sự chỉ dẫn nhiệt tình của các Thầy, Cô Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Tôi vô cùng biết ơn và xin được gửi lời cám ơn chân thành đến toàn thể quý Thầy, Cô giáo Đặc biệt, tôi xin được ngỏ lời tri ân sâu sắc nhất đến PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái – người đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất nhiều để tôi có thể hoàn thành luận văn như hôm nay Trong quá trình làm việc cùng nhau, tôi học hỏi được nhiều điều tốt đẹp từ Cô Một lần nữa, xin được gửi đến Cô lòng kính trọng và biết ơn chân thành nhất
Ngoài ra, cũng xin được dành lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp – những người đã luôn đồng hành cùng tôi, ủng hộ, động viên tinh thần, hỗ trợ tìm tư liệu trong quá trình viết luận văn để tôi có thể thuận lợi hoàn thành chương trình đào tạo sau đại học của mình
Trong quá trình thực hiện đề tài chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế, sai sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp trân quý từ phía Hội đồng khoa học, quý Thầy, cô và bạn bè, đồng nghiệp để tôi có thể hoàn thiện luận văn của mình được tốt hơn
Xin chân thành cám ơn!
Vĩnh Long, tháng 11 năm 2020
Tác giả luận văn
Trần Ái Xuân
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 12
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 14
7. Kết cấu luận văn 15
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN BÁO CHÍ 16
1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 16
1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề tuyên truyền bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp 23
1.3 Vai trò của báo chí trong tuyên truyền về ô nhiễm môi trường 27
1.4 Cơ sở lý luận về văn hóa và mối quan hệ truyền thông giữa vùng văn hóa Nam Bộ và báo chí địa phương 30
Tiểu kết chương 1 33
Chương 2: KHẢO SÁT VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN 3 ĐÀI TRUYỀN THANH HUYỆN Ở VĨNH LONG 34
2.1 Giới thiệu về 3 đài trong diện khảo sát 34
2.2 Nội dung phản ánh trên các đài truyền thanh về thực trạng ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp 39
2.3 Các hình thức chuyển tải thông tin 46
2.4 Đánh giá thành công và hạn chế, nguyên nhân thành công và hạn chế của các đài 64
Trang 6Tiểu kết chương 2 76
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀI TRUYỀN THANH HUYỆN TRONG TRUYỀN THÔNG VỀ VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở VĨNH LONG 77
3.1 Những vấn đề đặt ra 77
3.2. Nhóm giải pháp tích cực định hướng truyền thông trong thời gian tới 78
Tiểu kết chương 3 97
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 107
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GS.TS Giáo sƣ – Tiến sĩ PGS.TS Phó giáo sƣ – Tiến sĩ PT-TH Phát thanh – Truyền hình
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long THVL Truyền hình Vĩnh Long
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH
1 Bảng biểu:
Bảng 2.1 Lượng rác thải thuốc bảo vệ thực vật được thu gom trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long từ năm 2015-2019
Bảng 2.2 Tổng hợp số lượng chương trình và thời lượng phát sóng từ năm
2015-2019 của ba đài khảo sát
Bảng 2.3 Kết quả khảo sát công chúng nghe truyền thông về ô nhiễm môi
trường do sản xuất nông nghiệp
Bảng 2.4 Kết quả khảo sát nội dung truyền thông về ô nhiễm môi trường do
sản xuất nông nghiệp
Bảng 2.5 Kết quả khảo sát mức độ tác động của nội dung truyền thông về ô
nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp đến thính giả
Bảng 2.6 Kết quả khảo sát ý kiến đề xuất của công chúng
Bảng 2.7 Kết quả khảo sát mức độ nghe đài phát thanh của công chúng
Biểu đồ 2.3 Số lượng tin, bài, chuyên mục truyền thông về ô nhiễm môi
trường do sản xuất nông nghiệp ở 3 đài khảo sát
Biểu đồ 2.4 Tỷ lệ tin, bài có âm thanh và không có âm thanh
Biểu đồ 3.1 Những lĩnh vực thông tin mà thính giả quan tâm
3 Hình ảnh
Hình 2.1 Nông dân vứt vỏ chai, bao bì thuốc bảo vệ thực vật trên đồng ruộng Hình 3.1 Vĩnh Long xây dựng các hố chứa rác thải thuốc bảo vệ thực vật
Trang 9Hình 3.2 và 3.3 Liên kết với công ty Insee thu gom và xử lý rác thải thuốc bảo
vệ thực vật đúng quy định
Hình 3.4 Mô hình “Cùng nông dân bảo vệ môi trường” do Chi cục trồng trọt
và bảo vệ thực vật tỉnh Vĩnh Long thực hiện
Hình 3.5 Mô hình trồng rau trong nhà lưới
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ô nhiễm môi trường đã và đang là vấn đề bức xúc quan trọng luôn được các cấp, các ngành ở nước ta đặc biệt quan tâm và tìm giải pháp khắc phục Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường ở một quốc gia như: ô nhiễm môi trường do phát triển công nghiệp, tác nhân phóng
xạ, khói bụi, phương tiện giao thông, chất thải, rác thải sinh hoạt,… Ngoài những nguyên nhân trên còn có một tác nhân “thầm lặng” được ngành chuyên môn đánh giá là dù không tác động tức thì đến môi trường nhưng về lâu về dài mức độ nghiêm trọng của nó đối với môi trường tự nhiên là không hề nhỏ
- Đó chính là sản xuất nông nghiệp
Theo thống kê của Bộ Tài nguyên – Môi trường, hàng năm, cả nước phát sinh hơn 23 triệu tấn rác thải sinh hoạt, hơn 7 triệu tấn chất thải rắn công nghiệp, hơn 630.000 tấn chất thải nguy hại – trong đó, có hơn 100.000 tấn hóa chất bảo vệ thực vật được sử dụng trong quá trình canh tác
và sản xuất nông nghiệp So với tổng lượng rác thải hàng năm thì số lượng rác thải do sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ không nhiều Tuy nhiên, chúng ta hãy thử nghĩ, cứ mỗi năm hơn 100.000 tấn mà kéo dài từ năm này qua năm nọ và không có giải pháp khắc phục triệt để thì hậu quả của nó đối với môi trường là vô cùng lớn
Sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nước ta, với trên 70% dân số cả nước là nông dân, hàng năm đóng góp khoảng 24% GDP và 30% giá trị xuất khẩu của cả nước Kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn tăng trưởng tương đối
ổn định khoảng 4,5% năm đã góp phần làm thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn, giúp xoá đói, giảm nghèo, cải thiện mức sống cho người dân và cải
Trang 11thiện đáng kể cơ sở hạ tầng nông thôn Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được là vấn đề môi trường bị ô nhiễm nặng đã gây bức xúc xã hội
và ngày càng đe dọa đến sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp và môi trường nông thôn ở nước ta
Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đã và đang mở ra cho nền nông nghiệp nước ta rất nhiều cơ hội cũng như thách thức Nếu như trước đây, người nông dân Việt Nam sản xuất nông nghiệp chủ yếu theo phương thức tiểu nông, với hình ảnh cốt lõi:“con trâu đi trước, cái cày theo sau”,… Thì ngày nay, để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh
tế, công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, đáp ứng yêu cầu
là một trong những nước xuất khẩu gạo, nông sản lớn của thế giới; đòi hỏi người nông dân Việt Nam phải thay đổi thói quen, tập quán canh tác độc canh cây lúa thành xen canh, luân canh, chuyên canh, thâm canh sản xuất nhiều loại cây trồng nhằm đa dạng hóa các sản phẩm nông sản của quốc gia, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường trong nước và quốc tế
Để các sản phẩm nông nghiệp đạt năng suất, chất lượng, sản lượng cao thì không thể nào sản xuất chỉ dựa vào các yếu tố tự nhiên như trước nữa,
mà thay vào đó cần phải có sự tác động và sử dụng các chất hóa học như: phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật hay thậm chí là thuốc kích thích tăng trưởng, tăng trọng,… Các chất hóa học nếu dùng với liều lượng vừa phải và đúng thời điểm trong quá trình sản xuất thì sẽ mang lại hiệu quả cao như: giúp tăng năng suất, chất lượng, sản lượng cây trồng; làm to cây, đẹp quả, màu sắc bắt mắt, tăng trọng lượng,…, nâng khả năng cạnh tranh của nông sản Việt trên thị trường quốc tế Tuy nhiên, có một bộ phận không nhỏ người nông dân vì muốn thu được lợi nhuận kinh tế cao nên đã muốn rút ngắn thời gian sinh trưởng và phát triển của cây, muốn cây mau ra hoa đậu trái, muốn cây cho năng suất cao hơn bình thường,…, đã không ngần ngại sử dụng
Trang 12quá liều thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kích thích tăng trưởng, phân bón hóa học hơn cho cây Điều đó dẫn đến một lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật tồn dư ngấm vào trong đất, bị thải ra ao, hồ, sông, rạch hoặc bốc hơi vào không khí gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí
Hơn thế nữa, không ít người nông dân sau khi sử dụng thuốc hóa học xong thì vứt thẳng vỏ chai chứa thuốc hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu xuống sông, rạch thay vì bỏ vào hố chứa rác Mỗi ngày một ít
sẽ dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do sản xuất nông nghiệp gây ra
Vĩnh Long là một trong những tỉnh sản xuất nông nghiệp trọng yếu của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, với tổng diện tích đất nông nghiệp chiếm gần 80% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh Thực hiện Đề án 03 của Tỉnh
ủy Vĩnh Long về “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị, hiệu quả và phát triển bền vững, giai đoạn 2014 – 2020”, ngoài cây lúa, tỉnh Vĩnh Long đang từng bước quy hoạch vùng trồng và sản xuất nhiều loại nông sản chủ lực khác, tạo sự phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu sang nước ngoài Nhiều vùng chuyên canh những loại cây đặc sản đã được quy hoạch như: khoai lang (huyện Bình Tân), chôm chôm (huyện Long Hồ), cam sành (huyện Tam Bình), bưởi (thị xã Bình Minh),… Tuy nhiên, song song với sự phát triển đó, là thực trạng ô nhiễm môi trường
do sản xuất nông nghiệp gây ra đang ngày càng gia tăng ở mức đáng báo động tại các vùng nông thôn của tỉnh Vĩnh Long
Hàng ngày, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: báo
in, tạp chí, truyền hình, phát thanh, báo điện tử…, người dân được thông tin
về tình trạng ô nhiễm môi trường ở địa phương mình Từ đó, hiểu rõ hơn về tác hại, mức độ nguy hiểm của ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp
để thay đổi thói quen, nhận thức của bản thân và cộng đồng trong việc chung
Trang 13tay bảo vệ môi trường, cũng như bảo vệ an toàn sức khỏe của chính mình Một trong những loại hình báo chí phù hợp và có tác động mạnh mẽ đến người dân vùng nông thôn chính là hệ thống Đài truyền thanh huyện, xã
Không cần tốn nhiều chi phí, những thông tin trên chiếc loa phát thanh của hệ thống đài truyền thanh cấp huyện sẽ được truyền đến tai người dân nông thôn tận xóm, ấp Hay chỉ cần một chiếc radio nhỏ bỏ túi hoặc chiếc điện thoại có chức năng nghe đài thì người nông dân có thể vừa làm đồng vừa nghe phát thanh, không tốn nhiều thời gian, không bị tác động bởi không gian địa lý xa xôi hẻo lánh, vô cùng tiện lợi Với những đặc trưng trên, đài truyền thanh cấp huyện đã và đang phát huy được lợi thế của mình trong việc truyền thông về ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp đến với người dân vùng nông thôn
Vì những lẽ trên, tác giả chọn đề tài: “Truyền thông về ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp trên các đài truyền thanh huyện ở Vĩnh Long” làm đề tài luận văn của mình
“Nghề báo nói” của tác giả Nguyễn Đình Lương, do Nhà xuất bản
Văn hoá - Thông tin in và phát hành năm 1993
Giáo trình “Báo chí phát thanh” do các tác giả của Khoa Báo chí,
Phân viện Báo chí và Tuyên truyền cùng Đài Tiếng nói Việt Nam biên soạn
Trang 14(Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2002) Giáo trình này tập trung nghiên cứu các lý thuyết , đặc điểm, vai trò liên quan đến báo chí phát thanh
Chuyên luận “Lý luận báo Phát thanh” của tác giả Đức Dũng, do Nhà
xuất bản Văn hóa - Thông tin in và phát hành năm 2003, bao gồm 9 chương, trong đó đề cập đến các vấn đề đặc trưng loại hình và các thể loại báo phát thanh
Tài liệu “Phát thanh - Truyền thanh nông thôn” do Ban Địa phương,
Đài Tiếng nói Việt Nam dịch và lưu hành nội bộ, tái bản năm 2005 Tài liệu này đã trình bày rõ các chuyên mục phát thanh, truyền thanh, các chương trình thời sự tại các vùng nông thôn trên cả nước, đồng thời cũng đưa ra các chính sách, quy định của nhà nước về các chính sách đất đai, trồng cây,…, để người dân nắm rõ
Luận văn Thạc sĩ Báo chí học: “Mạng lưới phát thanh, truyền thanh
cơ sở ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ - thực trạng và giải pháp phát triển (dựa trên tư liệu khảo sát ở Vĩnh Long và An Giang)” của tác giả Nguyễn Thị
Phước thực hiện năm 2010 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội)
Luận văn Thạc sĩ Báo chí học: “Hoàn thiện mô hình tổ chức họat động mạng lưới truyền thanh cơ sở các huyện ven biển tỉnh Bến Tre”, của
Nguyễn Thanh Lâm, bảo vệ năm 2014, tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Luận văn Thạc sĩ Báo chí học: “Đổi mới phương thức hoạt động các đài truyền thanh cấp huyện ở Cần Thơ hiện nay” của tác giả Đặng Ngọc
Nhẫn bảo vệ năm 2015 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Luận văn Thạc sĩ Báo chí học: “Hệ thống Đài Phát thanh cấp huyện trong bối cảnh bùng nổ thông tin” của tác giả Trần Thị Quỳnh An, bảo vệ
năm 2017, tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội)
Trang 15Luận văn Thạc sĩ Báo chí học: “Vai trò của Đài truyền thanh cơ sở trong truyền thông về chính sách đất đai ở các huyện ngoại thành Hà Nội (khảo sát các Đài Phát thanh Mỹ Đức, Chương Mỹ, Sóc Sơn, 2016 – 2017)”,
của tác giả Đặng Đình Sáng, bảo vệ năm 2019, tại Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội)
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu vừa nêu trên đã khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động, những ưu điểm, hạn chế của hệ thống phát thanh, truyền thanh cơ sở Thông qua đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng hoạt động, trọng tâm là chất lượng nội dung, hình thức thể hiện và đổi mới mô hình, phương thức hoạt động phù hợp trong điều kiện thực tế và tình hình phát triển phát thanh hiện nay Tuy nhiên, tác giả lại chưa tìm được nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề truyền thông về ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp trên các đài truyền thanh huyện ở Vĩnh Long nói riêng và vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung Do đó, với đề tài luận văn này, tác giả sẽ đi sâu, khảo sát và tập trung nghiên cứu thực trạng ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp ở các địa phương trong tỉnh Vĩnh Long (khảo sát huyện Bình Tân, Long Hồ và Tam Bình) Đồng thời, làm rõ vai trò truyền thông của hệ thống Đài truyền thanh cấp huyện ở từng địa phương Từ đó, nêu ra giải pháp thực hiện tốt hơn công tác thông tin, tuyên truyền trong thời gian tới
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở khung lý thuyết liên quan, luận văn sẽ khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng truyền thông về ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp trên các đài truyền thanh huyện ở Vĩnh Long Từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng việc sử dụng hệ thống truyền thanh cấp huyện này một cách có hiệu quả để truyền thông về ô nhiễm môi trường do sản xuất nông
Trang 16nghiệp đến gần với thính giả; góp phần nâng cao nhận thức và định hướng hành động đúng cho người dân
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích, tác giả xác định những nhiệm vụ nghiên cứu cụ
thể sau:
- Làm rõ khái niệm về truyền thông, truyền thanh, phát thanh, các cơ sở
lý thuyết, phương pháp luận và cơ sở thực tiễn của nghiên cứu về truyền thông ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp trên các đài truyền thanh huyện ở Vĩnh Long
- Khảo sát, phân tích, đánh giá, làm rõ thực trạng truyền thông về ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp trên các đài truyền thanh huyện ở Vĩnh Long
- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông về ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp trên các đài truyền thanh huyện ở Vĩnh Long trong thời gian tới
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu vấn đề “Truyền thông về ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp trên các đài truyền thanh huyện ở Vĩnh Long”
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Luận văn khảo sát tại 3 đài truyền thanh huyện Bình Tân, Long Hồ
và Tam Bình – mà tác giả cho là những đài huyện tiêu biểu của ba huyện
thuần nông ở tỉnh Vĩnh Long
- Thời gian khảo sát: 5 năm (2015 – 2019)
- Phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn trong lĩnh vực trồng trọt
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
Trang 17- Phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu trưng cầu ý kiến công chúng và có bảng tổng hợp kết quả điều tra ý kiến, phát phiếu khảo sát, thu thập các dữ liệu, ý kiến đánh giá của của công chúng
- Phương pháp nghiên cứu, thu thập dữ liệu tài liệu
Thu thập dữ liệu thứ cấp từ các đài truyền thanh huyện ở tỉnh Vĩnh Long như: Bình Tân, Long Hồ và Tam Bình Trong đó có các dữ liệu về quá trình hình thành và phát triển của các Đài và thực trạng vấn đề truyền thông
về ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp tại các đài truyền thanh huyện ở Vĩnh Long hiện nay
- Phương pháp thống kê, tổng hợp
Được sử dụng để sắp xếp, tổng hợp dữ liệu sơ cấp thu thập được một cách khoa học nhất, biến dữ liệu sơ cấp thành dữ liệu thứ cấp phục vụ cho quá trình phân tích thực trạng vấn đề truyền thông về ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp tại các đài truyền thanh huyện ở Vĩnh Long
- Phương pháp phân tích
Được sử dụng để phân tích và đánh giá những thành công cũng như những tồn tại liên quan đến thông tin về ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp tại các Đài truyền thanh huyện ở tỉnh Vĩnh Long, nhằm đề ra các giải pháp hoàn thiện
- Phương pháp Phỏng vấn sâu
Tác giả xây dựng bộ câu hỏi để phỏng vấn lãnh đạo các đài truyền thanh huyện ở Vĩnh Long, phỏng vấn đại diện cửa hàng bán thuốc bảo vệ thực vật và nông dân sản xuất giỏi trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long để làm rõ thực trạng ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp cũng như công tác truyền thông ở từng địa phương được thực hiện như thế nào
Trang 186 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có giá trị tham khảo về thực tiễn thông qua những số liệu chứng minh, thống kê cụ thể, xác thực về thực trạng ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp cũng như hoạt động truyền thông của các đài truyền thanh huyện ở tỉnh Vĩnh Long về vấn đề trên
- Về mặt chuyên môn: Luận văn này sẽ giúp nâng cao trình độ nhận thức cho đội ngũ làm phát thanh của các đài truyền thanh cấp huyện hiểu đúng, hiểu đủ về công tác truyền thông trong lĩnh vực môi trường – mà cụ thể
hơn là thực trạng ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp
- Về mặt xã hội: tác động nâng cao nhận thức, ý thức của người dân
đối với môi trường Từ đó, góp phần chuyển biến tích cực, thay đổi hành vi
gây ô nhiễm môi trường
- Về mặt kinh tế: một khi công tác truyền thông mang lại hiệu quả tích cực sẽ góp phần hạn chế được tình trạng ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp Như vậy, các địa phương sẽ không phải tiêu hao một khoản tiền trong ngân sách nhà nước để sử dụng cho việc khắc phục hậu quả ô nhiễm môi trường hoặc triển khai các phương án phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Trang 19Những nghiên cứu trong luận văn có thể làm cơ sở giúp cho cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung và cấp ủy, chính quyền địa phương, các phóng viên, biên tập viên, lãnh đạo Đài và người dân hiểu sâu sắc hơn về thực trạng
ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp ở địa phương mình Từ đó, có chủ trương, cơ chế chính sách, giải pháp phù hợp trong việc tuyên truyền, vận động mọi tầng lớp nhân dân chung tay bảo vệ môi trường sống ngày càng trong lành và thân thiện hơn
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, kết cấu của luận văn gồm 3 chương Cụ thể:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về truyền thông về ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp trên báo chí
- Chương 2: Khảo sát vấn đề ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp trên 3 đài truyền thanh huyện ở Vĩnh Long
- Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng đài truyền thanh huyện trong truyền thông về vấn đề ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp ở Vĩnh Long
Trang 20Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN BÁO CHÍ
1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.1.1 Truyền thông
Truyền thông theo tiếng Anh là “Communication”, nghĩa là sự truyền đạt thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc Thuật ngữ “truyền thông” có nguồn gốc từ tiếng Latin là “Communis” với nghĩa là “làm cho phổ biến, công cộng” Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con đường, phương tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng xã hội Nhờ truyền thông, giao tiếp con người tự nhiên trở thành con người xã hội Hiện nay, tùy theo góc độ tìm hiểu và nghiên cứu, các học giả đã đưa rất nhiều định nghĩa khác nhau về truyền thông
Tác giả Dương Xuân Sơn cho rằng: “Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức” [29, tr.9] Ở định nghĩa này, tác giả lưu ý đến hai khía cạnh:
Thứ nhất, truyền thông là một quá trình - có nghĩa nó không phải là một việc làm nhất thời, mà là quá trình mang tính liên tục Đây là quá trình trao đổi hoặc chia sẻ, có nghĩa là ít nhất phải có hai thực thể và không chỉ có một bên cho
và một bên nhận mà cả hai bên đều cho và nhận
Thứ hai, truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này cực
kỳ quan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông Cuối cùng, truyền thông phải đem lại sự thay đổi trong nhận thức và hành vi, nếu không mỗi việc làm sẽ trở nên vô nghĩa
Còn theo tác giả Tạ Ngọc Tấn: “Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn
Trang 21nhau” [33, tr.8] Quá trình truyền thông là quá trình hai chiều, người khởi xướng (nguồn) và người tiếp nhận đều phải tham gia vào trong hoạt động truyền thông Người làm truyền thông không thể xem cái mình biết là cái cuối cùng, mà còn phải chú ý tới phản ứng và sự trả lời của người tiếp nhận Trong quyển “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011, tập thể tác giả biên soạn cho rằng: Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức [32, tr 13]
Ở định nghĩa này có hai khía cạnh cần lưu ý:
Thứ nhất, truyền thông là một quá trình, có nghĩa nó không phải là một
việc làm nhất thời hay xảy ra trong một khuôn khổ thời gian ngắn, mà là một việc diễn ra trong một khoảng thời gian Quá trình này mang tính liên tục, vì
nó không thể kết thúc sau khi chuyển tải nội dung cần thiết, mà còn tiếp diễn sau đó
Thứ hai, truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này cực
kỳ quan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông Và cuối cùng, truyền thông phải đem lại sự thay đổi trong nhận thức và hành vi, nếu không mỗi việc làm sẽ trở nên vô nghĩa
Sách “Cơ sở lý luận báo chí”, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông,
2018, PGS.TS Nguyễn Văn Dững cho rằng: Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người với nhau để gia tăng sự hiểu biết lẫn nhau nhằm thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm hay của cộng đồng xã hội nói chung, đảm bảo sự phát triển bền vững [10, tr 20]
Trang 22Như vậy, trong luận văn này, khái niệm “truyền thông” để chỉ việc chia
sẻ những nội dung về ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp của các đài truyền thanh huyện ở Vĩnh Long với người dân ở địa phương ấy
1.1.2 Phát thanh/ Truyền thanh
PGS.TS Phạm Thành Hưng định nghĩa phát thanh như sau: “Phát thanh là một phương tiện truyền thông đại chúng dựa trên nguyên tắc kỹ thuật truyền âm thanh để chuyển tải các chương trình tin tức, tri thức, nghệ thuật tới đông đảo công chúng thính giả cũng như cho các nhóm thính giả đặc thù” [19; tr 104]
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững thì phát thanh “là kênh truyền thông đại chúng sử dụng sóng điện từ và hệ thống truyền dẫn truyền đi âm thanh tác động trực tiếp vào thính giác người tiếp nhận Thông điệp được mã hóa truyền qua kênh truyền thanh và người nhận phải có máy thu thanh mới tiếp nhận được thông điệp [8, tr 111]
Báo phát thanh được hiểu như “một kênh truyền thông, một loại hình báo chí điện tử hiện đại mà đặc trưng cơ bản của nó là dùng thế giới âm thanh phong phú và sinh động (lời nói, tiếng động, âm nhạc) để chuyển tải thông điệp nhờ sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền thanh, tác động vào thính giác (vào tai) của công chúng” [12, tr 51]
Trang 23Báo phát thanh cũng có một tên gọi khác là báo nói Theo Điều 3,
khoản 4, Luật Báo chí năm 2016 định nghĩa: “Báo nói là loại hình báo chí sử dụng tiếng nói, âm thanh, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau”
Như vậy, có thể hiểu phát thanh là một loại hình truyền thông đại chúng, trong đó nội dung thông tin được chuyển tải qua âm thanh Âm thanh trong phát thanh bao gồm ba yếu tố: lời nói, tiếng động, âm nhạc
- Truyền thanh: Truyền thanh là truyền âm thanh đi xa bằng radio hoặc
bằng đường dây đài truyền thanh, loa truyền thanh [28, tr.14]
Ở nước ta tồn tại 2 hình thức truyền thanh, gồm truyền thanh vô tuyến
- không dây và truyền thanh hữu tuyến - có dây Hệ thống truyền thanh có dây thường sử dụng tăng âm (Ampli) và hệ thống dây dẫn đến các cụm loa phóng thanh công cộng Hệ thống truyền thanh không dây là việc sử dụng máy phát sóng phát tín hiệu đến các cụm thu và loa để truyền tải âm thanh Đây là hệ thống truyền thanh ứng dụng các công nghệ điện tử, khắc phục được các nhược điểm của công nghệ hữu tuyến trước đây: vận hành, quản lý, bảo trì đơn giản; chất lượng tín hiệu thu sóng tốt; có thể lắp đặt mọi nơi (có điện lưới) trong vùng phủ sóng máy phát FM; bộ thu có thể tắt, mở theo tín hiệu điều khiển của máy phát FM và có thể lắp đặt bộ thu trong nhà dân,…
Tuy nhiên, hiện nay, phát thanh – truyền thanh không chỉ sử dụng hình thức truyền dẫn truyền thống là sóng điện từ và dây dẫn, máy phát sóng, loa truyền thanh nữa Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, hình thức phát thanh trên Internet ngày càng trở nên phổ biến Đài Tiếng nói Việt Nam thực hiện song song việc phát sóng chương trình phát thanh trên trang web chính thức của mình Trang web của nhiều Đài Phát thanh – Truyền hình cấp tỉnh cho phép thính giả nghe trực tiếp hoặc nghe lại chương trình phát thanh của đài Với các đài cấp huyện, một số đài cũng đã đăng tải chương
Trang 24trình do mình sản xuất lên trang web riêng, như: Đài Phát thanh huyện Từ Sơn (Bắc Ninh), Đài Từ Liêm (Hà Nội), Đài Kiến An, Đài Tiên Lãng (Hải Phòng)…
1.1.3 Ô nhiễm môi trường
- Môi trường:
Kalesnik là người đưa ra quan niệm đầu tiên về môi trường (1959, 1970): Môi trường (môi trường địa lý) chỉ là một bộ phận của trái đất bao quanh con người, mà ở một thời điểm nhất định xã hội loài người có quan hệ tương hỗ trực tiếp với nó Nghĩa là môi trường có quan hệ một cách gần gũi với đời sống và hoạt động sản xuất của con người
Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội khóa 13 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014: Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật
Có nhiều cách phân loại môi trường, dựa trên những tiêu chuẩn khác nhau Cách phân loại phổ biến hơn là phân chia môi trường theo thành phần
Môi trường tự nhiên gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi, sông, biển cả, không khí, động và thực vật, đất và nước,…Môi trường tự nhiên cho ta không khí thở, đất để xây nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản phục vụ cho sản xuất và tiêu thụ
Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con người Đó là luật lệ, thể chế, cam kết, quy định ở các cấp khác nhau Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác
Trang 25Sự phân chia môi trường thành các loại chỉ để phục vụ cho việc nghiên cứu và phân tích các hiện tượng phức tạp trong môi trường Trong thực tế các loại môi trường cùng tồn tại, xen lẫn vào nhau, tương tác với nhau hết sức chặt chẽ và đều ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của mỗi con người
Hiện nay, vấn đề môi trường có tính chất toàn cầu mà nhân loại quan tâm thường không phải là môi trường nói chung mà chủ yếu là môi trường tự nhiên hay còn gọi là môi trường sinh thái và ở để tài này chúng tôi cũng sử dụng thuật ngữ môi trường với ý nghĩa môi trường sinh thái
- Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị ô nhiễm,
đồng thời các tính chất vật lý, hóa học, sinh học của môi trường bị thay đổi gây tác hại tới sức khỏe con người và các sinh vật khác Ô nhiễm môi trường chủ yếu do hoạt động của con người gây ra như: sản xuất công nghiệp, sản xuất nông nghiệp, tác nhân phóng xạ, khói bụi, Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ bàn về ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất nông nghiệp gây ra
1.1.4 Nông nghiệp
- Nông nghiệp:
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản
Ở nước ta hiện nay, mặc dù đang đẩy mạnh phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa, tuy nhiên, nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của Việt Nam
Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính:
Trang 26+ Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai
+ Nông nghiệp chuyên sâu là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là
sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất
- Sản xuất nông nghiệp là hoạt động của con người vận dụng nguồn tài
nguyên sẵn có của môi trường sinh thái là đất, nước, không khí, cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm nông sản có giá trị kinh tế, phục vụ đời sống con người, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ, xuất khẩu của con người
Sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam mang tính khu vực, bởi nó chịu sự tác động mạnh mẽ của điều kiện tự nhiên, vị trí địa lí, thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng của mỗi vùng Bên cạnh đó, sản xuất nông nghiệp còn chịu ảnh hưởng bởi tính thời vụ, do sự biến thiên của thời tiết, 4 mùa Xuân – Hạ - Thu – Đông, do đó, mỗi mùa sẽ có loại cây trồng phù hợp thích ứng với điều kiện thời tiết của mùa đó Từ những đặc điểm trên đã làm nên sự đa dạng, phong phú trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, ngoài cây lúa còn có nhiều loại nông sản khác như: rau màu, cây ăn trái,
Trang 271.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề tuyên truyền bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp
Những năm qua, vấn đề ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp luôn được Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương và ngành chức năng đặc biệt quan tâm và xem là vấn đề cấp thiết trong việc bảo vệ môi trường Hệ thống quan điểm của Đảng về bảo vệ môi trường đã được hình thành và phát triển, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, được thể hiện qua văn kiện Đại hội Đảng, các chỉ thị, kêt luận, nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban
Bí thư về bảo vệ môi trường ở nước ta Cụ thể:
Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng xác định rõ phát triển các ngành kinh tế và bảo vệ môi trường: Nông - lâm - ngư nghiệp phát triển theo hướng kinh tế hàng hoá, gắn với công nghiệp chế biến, đáp ứng nhu cầu trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu, phát huy lợi thế sinh thái, bảo vệ môi trường và tài nguyên; Phát triển và hoàn chỉnh hệ thống thuỷ lợi, giải quyết về căn bản vấn
đề tưới tiêu nước cho những vùng trọng điểm lương thực và cây công nghiệp tập trung Tận dụng phân hữu cơ, tăng mức đáp ứng nhu cầu phân hoá học, tích cực phòng trừ sâu bệnh áp dụng rộng rãi công nghệ và các biện pháp sinh học trong các khâu chính của quá trình sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, hạn chế ô nhiễm môi trường và thoái hoá đất; Nhà nước quy định cụ thể quyền sở hữu, quyền và trách nhiệm sử dụng tài nguyên để chấm dứt tình trạng tài nguyên vô chủ Ban hành Luật bảo vệ thiên nhiên Giáo dục và tuyên truyền sâu rộng việc bảo vệ tài nguyên và môi trường ngay từ lứa tuổi trẻ em Xây dựng tổ chức bảo vệ tài nguyên và môi trường từ trung ương đến địa phương, kết hợp với phong trào quần chúng trong lĩnh vực này Sớm tham gia
và phối hợp hoạt động với các tổ chức quốc tế và khu vực trong việc bảo vệ tài nguyên, môi trường và cảnh quan
Trang 28Ngày 25 tháng 6 năm 1998, Đảng ban hành Chỉ thị số 36 1998
CT-TW về "Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Đây là lần đầu tiên Đảng ban hành chỉ thị về bảo
vệ môi trường, đã đề ra 4 quan điểm cơ bản: "Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Coi phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm là nguyên tắc chủ đạo kết hợp với xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên; Kết hợp phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường
và phát triển bền vững"
Đại hội toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết của Đảng tiếp tục nhấn mạnh quan điểm bảo vệ môi trường gắn với phát triển bền vững Ngoài nội dung tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường còn có thêm nội dung mới, không chỉ bảo vệ môi trường mà còn cải thiện môi trường, gắn chặt chính sách môi trường với chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng –
an ninh, coi việc cải thiện môi trường là một tiêu chí đánh giá sự phát triển
Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5-8-2008, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đặt ra mục tiêu:
“Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả
và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia
Trang 29cả trước mắt và lâu dài Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch;
xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”
Cụ thể hóa Nghị quyết số 26-NQ TW, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010 - 2020; đồng thời, phát động phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” để triển khai sâu rộng trong cả nước – trong đó có đề ra tiêu chí Môi trường là một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá xã Nông thôn mới
Kết quả sau gần 10 năm thực hiện chương trình đã góp phần hạn chế
và giảm thiểu tác động đến môi trường, đặc biệt là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp Thuốc bảo vệ thực vật được quản lý và kiểm soát chặt chẽ hơn từ khâu sản xuất đến lưu hành, hạn chế triệt để các loại thuốc có hại cho đất và cây trồng (đến năm 2020, ước giảm 30% sản phẩm thương mại thuốc bảo vệ thực vật so với năm 2018, khoảng 1.000 sản phẩm); khuyến khích doanh nghiệp và người dân tăng sản xuất và sử dụng các thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học; áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp để giảm mạnh lượng phân bón vô cơ, tăng cường sử dụng phân bón hữu cơ; việc thu gom và xử lý bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau khi sử dụng đã được thực hiện quy củ hơn, nhiều địa phương đã giao cho hội nông dân và các tổ chức chính trị - xã hội hướng dẫn, giám sát và tổ chức thực hiện với nhiều mô hình hiệu quả, như:
Trang 30Cánh đồng mẫu lớn; “Cùng nhà nông bảo vệ môi trường” của Tập đoàn Lộc Trời tại 22 tỉnh phía Nam; mô hình hố chứa rác thuốc bảo vệ thực vật,
Ngoài ra, công tác bảo vệ môi trường còn được thể hiện quyết tâm mạnh mẽ thông qua việc ban hành Nghị định số 19 2015 NĐ-CP, ngày 14-2-
2015, của Chính phủ, Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Nghị định số 57 2018 NĐ-CP, ngày 17-4-2018, của Chính phủ,
Về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn, đã đề cập các hoạt động sản xuất sạch, sử dụng năng lượng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, hạn chế phát sinh và xử lý chất thải,
Ở tỉnh Vĩnh Long, thực hiện Công văn số 70 CV-HĐND ngày
26 8 2020 của Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long giám sát
“việc thực hiện quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường theo Nghị định số 155 2016 NĐ-CP ngày 18/11/2-16 của Chính phủ tại Ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long”, trong đó có đề cập đến vấn đề xử lý rác thải thuốc bảo vệ thực vật tại các xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh Nhiều đại biểu có mặt đã thống nhất với đề xuất kiến nghị sẽ tăng số lần thu gom rác thải thuốc bảo vệ thực vật ở một số địa phương – trong đó có huyện Bình Tân, Long Hồ và Tam Bình từ 2 lần năm lên 4 lần năm và sẽ đề xuất có chính sách tài chính phù hợp, cân đối ngân sách địa phương để ưu tiên giải quyết vấn đề môi trường do rác thải thuốc bảo vệ thực vật
Ngoài ra, còn cho triển khai các Đề án về việc thu gom và xử lý rác thải ở các địa phương trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long; nhằm đánh giá lại thực trạng thu gom, xử lý rác thải trong toàn tỉnh một cách cụ thể, đồng thời đề ra mục tiêu, nhiệm vụ cho các cấp, các ngành, đoàn thể và hộ gia đình cùng nhau thực hiện tốt công tác thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt và bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau khi sử dụng
Trang 311.3 Vai trò của báo chí trong tuyên truyền về ô nhiễm môi trường
Trước hết phải khẳng định, hoạt động báo chí là hoạt động chính trị Trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, báo chí đóng vai trò quan trọng, không chỉ là vũ khí sắc bén của những người cộng sản trong tuyên truyền, thức tỉnh, giác ngộ quần chúng, giúp họ lựa chọn con đường, đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng, đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước mà còn
là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc
Báo chí luôn là “người” tiên phong, chủ động, tích cực tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, sự điều hành của Chính phủ về phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, tăng cường an ninh quốc phòng, đối ngoại; củng cố và nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; đấu tranh kiên quyết chống các tư tưởng thù địch, phản động, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân lao động Báo chí đã và đang góp phần kiến tạo bầu không khí dân chủ trong xã hội, ngày càng thể hiện tốt hơn vai trò vừa hướng dẫn dư luận xã hội, tham gia có hiệu quả phản biện xã hội và góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Để báo chí thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, những năm qua, Đảng
và Nhà nước ta luôn quan tâm, lãnh đạo báo chí, do đó, báo chí đã phát triển khá nhanh về số lượng Theo báo cáo của Ban Tuyên giáo Trung ương (tính đến ngày 30 11 2019) cả nước có 850 cơ quan báo chí, trong đó có: 179 báo (Trung ương: 83, địa phương: 96); 648 tạp chí (Trung ương: 543, địa phương: 108) và 23 cơ quan báo chí điện tử độc lập Cả nước có trên 41.000 người đang công tác tại các cơ quan báo chí (cả 4 loại hình), trong đó có 20.407 người làm báo chuyên nghiệp được cấp thẻ nhà báo Phần lớn các cơ quan báo chí hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích và định hướng chính trị, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và có bước phát triển về số lượng, trình độ, tham gia
Trang 32ngày càng tích cực vào quá trình truyền thông Các cơ quan báo chí từng bước nâng cao về chất lượng; đã thực hiện tốt chức năng là công cụ tuyên truyền của Đảng và Nhà nước, là diễn đàn của nhân dân, có những đóng góp tích cực, quan trọng vào những thành quả quan trọng, có ý nghĩa lịch sử của quá trình đổi mới đất nước
Ô nhiễm môi trường đãvà đang là vấn đề mang tính cấp thiết rất cần được quan tâm tuyên truyền Để thực hiện tốt chức năng, vai trò là cầu nối chuyển tải các chủ trương, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực môi trường và bảo vệ môi trường đến với người dân Nhằm mục đích cụ thể hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và đưa nó đến gần cuộc sống của nhân dân, báo chí có trách nhiệm:
- Chuyển tải thông tin, định hướng dư luận hiểu đúng và chấp hành tốt các chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường: Với chức năng giáo dục chính trị- tư tưởng, tuyên truyền cổ động và tổ chức tập thể, cơ quan truyền hình giữ vai trò chủ lực trong hoạt động truyền thông đại chúng, kịp thời chuyển tải chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước đến với mọi tầng lớp nhân dân; định hướng dư luận xã hội, tạo sự đồng thuận trong thực hiện chính sách, pháp luật, tôn vinh giá trị nhân văn, bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong nền kinh tế thị trường dưới
sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước
- Tác động thay đổi nhận thức, nâng cao hiểu biết của nhân dân về bảo
vệ môi trường: cơ quan truyền hình cho đăng tải, phổ biến các quy định của pháp luật, giúp người dân hiểu được chủ trương của Đảng và chính sách của nhà nước
- Tác động làm thay đổi hành vi, ý thức tuân thủ chính sách, pháp luật
về bảo vệ môi trường: Là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và các tổ chức, đoàn
Trang 33thể chính trị- xã hội, xã hội- nghề nghiệp, theo chiều thuận, cơ quan truyền hình truyền tải đường lối, chủ trương, quy định, hướng dẫn tới toàn thể Chiều thông tin này được báo chí truyền đi đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời, chính xác, tăng thêm hiệu lực tác động của chủ thể quản lý vào khách thể quản lý, làm thay đổi hành vi, ý thức tuân thủ chính sách, pháp luật
- Thực hiện chức năng phản biện xã hội xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường: Là diễn đàn của nhân dân, báo chí là kênh thông tin phản hồi quan trọng Nơi tập hợp, phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu của nhân dân đối với chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Báo chí là kênh thông tin quan trọng phản hồi ý kiến của công chúng, nhất là những đối tượng liên quan mật thiết đến việc tổ chức thực hiện, tham gia và thụ hưởng chính sách; thực hiện chức năng phản biện xã hội, đóng góp ý kiến xây dựng, hoàn thiện chế độ, chính sách, pháp luật
- Kênh kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường: Với khả năng thông tin nhanh chóng, khách quan, cơ quan truyền hình là kênh kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật Kết quả kiểm tra giám sát của báo chí thông qua điều tra, khảo sát, thu thập tư liệu, số liệu, nắm bắt phản ánh tình hình thực tiễn là nguồn thông tin quan trọng giúp các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành có thẩm quyền kịp thời điều chỉnh, bổ sung những chủ trương, chính sách theo nhiệm vụ
- Động viên, nhân rộng gương tốt trong thực hiện chính sách, pháp luật, chống tiêu cực: Báo chí có vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, cố động, lấy xây dựng, nhân rộng cái tốt để chống lại và đẩy lùi những cái xấu, những hành vi vi phạm pháp luật Báo chí một mặt tuyên truyền phổ biến chính sách, pháp luật, một mặt lên tiếng đấu tranh vì sự phát triển xã hội, góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam
Trang 34xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn
minh.[23, tr.51-56]
Bảo vệ môi trường đang ngày càng được quan tâm như một nhiệm vụ bức bách để tiếp tục duy trì sự phát triển bền vững của xã hội hiện tại và tương lai Do đó, báo chí, truyền thông được xem như một công cụ quan trọng, cơ bản, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi hành vi, nhận thức, thái độ của con người trong cộng đồng, thúc đẩy họ tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường để tạo ra kết quả có tính lan rộng
1.4 Cơ sở lý luận về văn hóa và mối quan hệ truyền thông giữa vùng văn hóa Nam Bộ và báo chí địa phương
- Khái niệm vùng văn hóa
GS.TS Trần Ngọc Thêm định nghĩa đầy đủ và chi tiết về vùng văn hóa như sau: Vùng văn hóa là một không gian lãnh thổ liên tục với hoàn cảnh tự nhiên tương đối đồng nhất ở bên trong và khu biệt với các không gian lãnh thổ liền kề bên ngoài, trong đó tồn tại một cộng đồng người thống nhất tương đối (gồm một hay nhiều tộc nhóm người), đã cùng cư trú và tiếp xúc giao lưu đồng hướng với nhau trong một thời gian đủ dài để tạo nên được một hệ thống giá trị chung đặc thù cho phép khu biệt nó với các hệ thống giá trị của những vùng có liên quan [35; tr 47]
- Các vùng văn hóa ở Việt Nam:
Những năm gần đây, việc phân vùng văn hóa trong lãnh thổ Việt Nam hiện tại được nhiều học giả bàn đến Tiêu biểu có thể kể đến như: cách phân thành 7 vùng của Ngô Đức Thịnh (1993), 8 vùng của Huỳnh Khái Vinh (1995), 9 vùng của Đinh Gia Khánh – Cù Huy Cận (1995),… Trong đó, để có cái nhìn tổng quát nhất về văn hóa vùng của nước ta thì cách phân thành 6 vùng của GS Trần Quốc Vượng vào năm 1997 được xem là hợp lý và khách quan nhất
Trang 35Theo cách phân vùng của GS Trần Quốc Vượng, nước ta có 6 vùng văn hóa gồm: Tây Bắc, Việt Bắc, Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ
Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả muốn đề cập đến lý thuyết về vùng văn hóa, mà cụ thể là vùng văn hóa Nam Bộ (hay còn gọi là Đồng bằng sông Cửu Long) - vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất nước để soi chiếu vào tỉnh Vĩnh Long – địa phương tác giả khảo sát trong luận văn, để làm rõ những nét đặc trưng riêng biệt trong thói quen, tập quán canh tác nông nghiệp của người nông dân nơi đây đã gây tác động đến môi trường tự nhiên như thế nào
- Mối quan hệ truyền thông giữa vùng văn hóa Nam Bộ và báo chí địa phương
Soi chiếu mối quan hệ vùng văn hóa Nam Bộ và báo chí địa phương
có thể thấy đây là có mối quan hệ tương quan, tác động qua lại, bổ trợ lẫn nhau Ví dụ như: báo chí được hình thành và phát triển dựa trên nhiều yếu tố nhưng cơ bản vẫn là nền tảng văn hóa; báo chí địa phương có trách nhiệm phản ánh mọi mặt của đời sống xã hội ở địa phương đó về kinh tế, chính trị, con người, đời sống sinh hoạt và văn hóa đặc trưng của con người trong vùng đất ấy,… Những nét tương đồng và khác biệt đó đã hình thành nên mối quan
hệ gắn bó mật thiết, không thể tách rời giữa báo chí địa phương và văn hóa vùng Hay nói cách khác báo chí địa phương là tấm gương phản chiếu văn hóa vùng miền và ngược lại văn hóa vùng là là một trong những yếu tố chi phối để làm nên nét đặc sắc của báo chí địa phương
Là cơ quan ngôn luận của Đảng bộ, chính quyền và là diễn đàn của nhân dân, báo chí địa phương giữ vai trò quan trọng trong việc giữ gìn sự ổn định chính trị, thúc đẩy công cuộc đổi mới về mọi phương diện, nhất là nền kinh tế, góp phần nâng cao dân trí và dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội ở địa phương
Trang 36Trong công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng, những năm qua, hệ thống báo chí địa phương nước ta đã không ngừng đổi mới, cải tiến các chuyên trang, chuyên mục, chương trình,…, phù hợp với nhu cầu của công chúng; góp phần to lớn trong việc động viên tinh thần thi đua lao động, làm việc, học tập của mọi tầng lớp nhân dân; cổ vũ những nhân tố mới, những điển hình tiên tiến, góp phần tích cực trong việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị ở địa phương; đem đến cho công chúng địa phương những thông tin bổ ích, thiết thực, gắn với cuộc sống hằng ngày của họ So với các đài, báo Trung ương và của ngành, báo đài địa phương có lợi thế nắm chắc hoàn cảnh cụ thể, phong tục tập quán địa phương, đi sâu vào từng đối tượng riêng biệt, từ đó thông tin gần gũi, góp phần tác động vào tư tưởng, tình cảm của người dân địa phương một cách trực tiếp
Trang 37Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, tác giả đã xây dựng được khung lý thuyết để giải mã các khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài như: khái niệm về truyền thông, phát thanh, truyền thanh, đài truyền thanh huyện, môi trường, ô nhiễm môi trường, nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp, ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp và phát thảo sơ lược mô hình hệ thống Đài Phát thanh Truyền thanh từ Trung ương đến địa phương
Phần tiếp theo của chương này, tác giả còn trình bày được quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề truyền thông bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp cũng như nhiệm vụ, vai trò của báo chí trong việc truyền thông
về vấn đề báo vệ môi trường hiện nay Bên cạnh đó, tác giả còn giới thuyết về
cơ sở lý luận vùng văn hóa mà cụ thể là vùng văn hóa Nam Bộ để soi chiếu vào tỉnh Vĩnh Long – nơi tác giả chọn để khảo sát trong luận văn Từ đó, làm
rõ được mối quan hệ truyền thông giữa vùng văn hóa và báo chí địa phương trong việc thông tin, tuyên truyền các vấn đề ở chính địa phương đó như: ăn, mặc, ở, đi lại, sản xuất, dân sinh - trong đó, có vấn đề ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp
Từ đó làm cơ sở để tác giả đi vào phân tích thực trạng truyền thông về vấn đề ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Long nói chung và 3 huyện khảo sát nói riêng
Trang 38Chương 2: KHẢO SÁT VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN 3 ĐÀI TRUYỀN THANH HUYỆN
Ở VĨNH LONG 2.1 Giới thiệu về 3 đài trong diện khảo sát
2.1.1 Đài truyền thanh huyện Bình Tân
Là cơ quan tuyên truyền của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Bình Tân Năm 2008, huyện Bình Tân chính thức được thành lập, trên cơ sở chia tách ra từ huyện Bình Minh cũ (nay là thị xã Bình Minh), từ đó, Đài truyền thanh huyện Bình Tân được thành lập và đi vào hoạt động – là cánh tay đắc lực giúp các cấp ủy Đảng, chính quyền huyện Bình Tân thực hiện tốt hơn công tác thông tin, tuyên truyền; góp phần đưa những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến gần hơn với nhân dân Đài truyền thanh huyện Bình Tân do Ủy ban nhân dân huyện quản lý, với tổng cộng có 10 Trạm truyền thanh cấp xã, thị trấn do Ủy ban nhân dân các xã trực tiếp quản lý
Năm 2018, Đài truyền thanh huyện Bình Tân được Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh Vĩnh Long hỗ trợ kinh phí xây dựng trụ sở làm việc mới khang trang, với diện tích 374m2 và tổng diện tích khuôn viên trên 1.200m2, tọa lạc tại khóm Thành Quới, thị trấn Tân Quới, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long; với quy mô 2 hội trường, 2 phòng lãnh đạo, 2 phòng chức năng và 1 nhà kho
Tháng 1 2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long ra quyết định về việc hợp nhất Đài truyền thanh, Trung tâm văn hóa- thông tin, Trung tâm thể dục- thể thao và bộ phận sự nghiệp của Phòng Văn hóa - Thông tin đổi tên thành Trung tâm Văn hóa – Thông tin và Thể thao huyện Bình Tân, do Ủy ban nhân dân huyện Bình Tân trực tiếp quản lý Trong đó, Đài truyền thanh huyện giờ
Trang 39chỉ còn là một tổ chuyên môn (Tổ thông tin) của Trung tâm, có chức năng, nhiệm vụ như Đài truyền thanh huyện trước đây
Bên cạnh đó, hệ thống truyền thanh huyện Bình Tân còn được trang bị một số thiết bị kỹ thuật chuyên dụng như: 1 máy phát sóng công suất 500W;
173 cụm loa không dây, với 348 loa được lắp đặt tại 10 xã, thị trấn trên địa bàn (mỗi cụm có công suất 40W); 7 camera; 13 máy vi tính có kết nối mạng Internet và mạng nội bộ với Đài Phát thanh – Truyền hình Vĩnh Long để phục
vụ công tác viết, biên tập và cộng tác tin, bài; ăng-ten chiều cao 42m, tần số 106,4 MHZ,…, đảm bảo phủ sóng phục vụ cho khoảng 98% dân số trong huyện được nghe đài
Hiện nay, Đài truyền thanh huyện Bình Tân phát sóng mỗi tuần 7 chương trình thời sự của đài huyện, khung chương trình mỗi ngày gồm: chương trình thời sự tổng hợp, chuyên mục (xây dựng Đảng, Văn hóa – xã hội, Khuyến nông, An ninh – Quốc phòng,…), ca nhạc – giải trí, thông báo – quảng cáo Đồng thời, tổ chức tiếp âm đầy đủ các chương trình phát thanh của Đài Phát thanh Vĩnh Long và Đài tiếng nói Việt Nam, với thời lượng tiếp âm
và phát sóng mỗi ngày là 180 phút
2.1.2 Đài truyền thanh huyện Long Hồ
Đài Truyền thanh huyện Long Hồ được thành lập vào ngày 19 5 1993 theo Quyết định số 285 QĐ-UBND của UBND tỉnh Vĩnh Long Qua gần 27 năm hình thành và phát triển, Đài truyền thanh huyện Long Hồ đã trải qua nhiều thăng trầm, khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ là cơ quan tuyên truyền của Đảng bộ, chính quyền và là tiếng nói của nhân dân huyện Long Hồ
Đài truyền thanh huyện Long Hồ tọa lạc trên diện tích 1.464,6m2, tại khóm 1, thị trấn Long Hồ, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long Với khuôn viên gồm: khu nhà làm việc có phòng khách, phòng phóng viên, phòng phát thanh,
Trang 40phòng họp, phòng trưởng đài, phòng phó trưởng đài, phòng sửa chữa thiết bị, phòng trực,… Để thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền, đài được trang bị các trang thiết bị kỹ thuật gồm có: 1 trụ anten cao 42m; 1 máy phát sóng 500w; 1 máy phát sóng 150w; 02 máy tăng âm 1.200w; 1 máy tăng âm 600w; 02 camera; mixer điều chỉnh âm thanh; 01 máy phát điện công suất 8,8KVA; 09 bộ máy vi tính có kết nối Internet và mạng nội bộ với Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh
Những năm qua, đài truyền thanh huyện Long Hồ luôn xác định nhiệm vụ then chốt là thông tin, tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến nhân dân, đồng thời là cầu nối phản ánh thực tế đời sống, hoạt động sản xuất của nhân dân đến với Đảng, Nhà nước tại địa phương thông qua việc sản xuất và phát sóng các chương trình truyền thanh trên sóng phát thanh FM, tần số 98,7MHz Qua đây nhằm chuyển tải kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền chỉ thị, nghị quyết của Huyện ủy, Hội đồng Nhân dân và
Ủy ban Nhân dân huyện đến với công chúng; phổ biến các kiến thức khoa học, kỹ thuật, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, gương người tốt việc tốt, điển hình tiên tiến tới nhân dân theo quy định
Hiện nay, Đài truyền thanh huyện Long Hồ phát sóng mỗi tuần 7 chương trình thời sự của đài huyện, khung chương trình mỗi ngày gồm: chương trình thời sự tổng hợp, chuyên mục, chuyên đề: "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", ca nhạc – giải trí, thông báo – quảng cáo Ngoài ra, đài còn phối hợp với Trung tâm Thông tin Nông nghiệp - Nông thôn Vĩnh Long xây dựng chương trình tuyên truyền pháp luật nông nghiệp trên sóng truyền thanh vừa tuyên truyền các chủ trương, chính sách, pháp luật về nông nghiệp đến nhân dân vừa tạo thêm thu nhập cho cán bộ, viên chức của đơn vị