LỜI CẢM ƠN Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học với đề tài “Thực trạng và giải pháp dạy học môn tiếng Việt cho trẻ điếc lớp 2 trên địa bàn Hà Nội” là kết quả của quá trình cố gắng không ngừng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ THANH TÂM
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT
CHO TRẺ ĐIẾC LỚP 2 TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Hà Nội – 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ THANH TÂM
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT CHO TRẺ ĐIẾC LỚP 2 TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học
Mã số: 60220240
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thị Hiên
Hà Nội – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố
Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2019
Học viên thực hiện
Nguyễn Thị Thanh Tâm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học với đề tài “Thực trạng và giải pháp dạy
học môn tiếng Việt cho trẻ điếc lớp 2 trên địa bàn Hà Nội” là kết quả của quá
trình cố gắng không ngừng của bản thân và được sự giúp đỡ, động viên khích
lệ của các thầy cô, bạn bè đồng nghiệp và người thân Trang viết này là lời cảm ơn tới những người đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập - nghiên cứu khoa học vừa qua
Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với TS Đỗ Thị Hiên
đã trực tiếp tận tình hướng dẫn cũng như cung cấp tài liệu thông tin khoa học cần thiết cho luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, khoa Ngôn ngữ học đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt công việc nghiên cứu khoa học của mình
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô và các trẻ điếc của hai trường đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Thanh Tâm
Trang 5DANH MỤC BẢNG, HÌNH, BIỂU ĐỒ
HÌNH
BẢNG
Bảng 1.1 Bảng phân loại mức độ điếc
Bảng 1.2 Khả năng ngôn ngữ giữa trẻ nghe nói – trẻ Điếc
Bảng 1.3 Sơ đồ bộ máy học
Bảng 2.1 Cấu trúc câu đơn giản trẻ Điếc sử dụng
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Khảo sát vốn từ vựng của trẻ điếc
Biểu đồ 3.1 So sánh kết quả học tập môn tiếng Việt sau 2 lần khảo sát của hai
cơ sở tại Hà Nội
Trang 6MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Hệ thống khái niệm cơ bản 6
1.2 Vài nét về trẻ điếc 11
1.3 Ngôn ngữ kí hiệu của người điếc 16
1.4 Ngôn ngữ kí hiệu của trẻ điếc 22
Tiểu kết chương 1 30
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT VIỆC DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT CHO TRẺ ĐIẾC LỚP 2 TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 32
2.1 Vài nét về địa bàn khảo sát 32
2.2 Kết quả khảo sát 38
Tiểu kết chương 2 61
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT THỬ NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT CHO TRẺ ĐIẾC LỚP 2 63
3.1 Đổi mới một tiết học Tập đọc 64
3.2 Kết quả quả việc thực nghiệm phương pháp học tập mới 76
Tiểu kết chương 3 80
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết và ý nghĩa khoa học của nghiên cứu
Ngôn ngữ là công cụ của tư duy và là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Nhờ có ngôn ngữ mà xã hội ngày càng phát triển Chính
vì vậy mà có thể nói ngôn ngữ “tạo hình” cho con người một cách đúng nghĩa nhất Mỗi đứa trẻ khi được sinh ra đều có một quyền lợi và nghĩa vụ đó là đến trường Trường học chính là nơi cung cấp cho trẻ những kiến thức về văn hoá, giao tiếp, kĩ năng xã hội,…Trẻ em là những đối tượng được bảo vệ, được chăm sóc và giáo dục
Trong cuốn Quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam có ghi rõ “xây
dựng và ban hành các chế độc trợ cấp, giúp đỡ tài chính, hiện vật nhằm mở trường, lớp dành cho các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, ban hành quy chế, chế độ thực hiện giáo dục phổ cập tiểu học đối với trẻ em khuyết tật Nhiệm
vụ này được giao cho Ban tổ chức cán bộ Chính Phủ, Bộ Lao Động – Thương Binh Xã Hội và Bộ Giáo Dục – Đào Tạo phối hợp thực hiện (điều 14 Nghị
định số 338/HĐBT ngày 26/10/1991 về thi hành luật phổ cập giáo dục tiểu học) Ngày nay có khá nhiều trường học, lớp học và các chương trình hỗ trợ dành cho trẻ khuyết tật Nhà nước đang ngày càng quan tâm và dành những
ưu tiên cho trẻ khuyết tật Và cũng vì những điều kiện cũng như những cố gắng vượt qua chính mình của những người khuyết tật mà đã có rất nhiều người thành công Muốn có được những thành công đó thì không chỉ có những cố gắng từ chính bản thân mà còn có cả những sự hỗ trợ của giáo dục Ngôn ngữ kí hiệu chính là một kim chỉ nam đưa người điếc đến với nền văn minh của nhân loại, giúp họ tiếp cận và xây dựng những mối quan
hệ trong xã hội
Ngôn ngữ kí hiệu đem lại cơ hội giao tiếp học tập, giao tiếp hiệu quả cho
người điếc “ Cây có gốc mới nở ngành xanh ngọn, Nước có nguồn mới bể
Trang 9rộng sông sâu” Muốn đi được tới đích thì con người ta phải có một điểm
xuất phát Đối với người điếc, muốn có sự thành công thì họ phải học tập, trau dồi từ khi còn nhỏ, họ phải cố gắng gấp mấy lần những người bình thường khác Con cái chúng ta đi học, càng lên lớp cao kiến thức sẽ càng khó hơn rất nhiều và trẻ điếc cũng phải theo học chương trình giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chỉ khác là chúng học bằng ngôn ngữ kí hiệu Ở lớp 1 kho từ vựng còn cơ bản, kiến thức ngữ pháp còn cơ bản, thêm nữa giáo viên
và phụ huynh là người nghe gặp khó khăn trong việc giảng ngôn ngữ kí hiệu cho trẻ, trẻ điếc nắm bắt kí hiệu tốt những khi chuyển những kí hiệu đó sang tiếng Việt lại rất khó khăn Bắt đầu khi vào học lớp 2 thì lượng kiến thức về ngữ pháp và vốn từ của tiếng Việt ngày càng tăng dần và mức độ trừu tượng ngày càng tăng lên Chương trình học tiếng Việt lớp 2 có nhiều tính chất mới Hiện tại ở địa bàn Hà Nội có những cơ sở, trường hỗ trợ trẻ khuyết tật tuy nhiên chất lượng rất thấp Số lượng trẻ hoàn thành chương trình học của cấp tiểu học để lên cấp 2 là rất thấp so với số lượng trẻ điếc thực tế, thường trẻ sẽ được dạy thêm nghề phụ và số lượng trẻ thực sự theo được chương trình học và lên các cấp bậc cao hơn rất thấp Đó cũng chính là “ Bức tường” ngăn trẻ điếc đến với những kiến thức văn hoá cơ sở Chính vì vậy mà chúng tôi
chọn đề tài nghiên cứu : “ Thực trạng và giải pháp dạy học môn Tiếng Việt
cho trẻ điếc lớp 2 trên địa bàn Hà Nội” để qua đó có cái nhìn khái quát và
đưa ra một số giải pháp hỗ trợ thầy cô giáo, phụ huynh và các bạn nhỏ không được may mắn
2 Mục tiêu đề tài
Tìm hiểu về thực trạng dạy học môn tiếng Việt bằng NNKH ở lớp 2 cũng như đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm hỗ trợ việc giảng dạy của thầy cô và phụ huynh có hiệu quả hơn trong quá trình giảng dạy các kĩ năng trong bộ môn tiếng Việt lớp 2 cho trẻ điếc
Trang 103 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Phương pháp dạy học môn tiếng Việt lớp 2
- Khách thể: Trẻ điếc lớp 2 (đã học xong chương trình lớp 1)
- Phạm vi: Việc giảng dạy môn tiếng Việt cho trẻ điếc lớp 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận: đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ảnh hưởng tới việc học môn tiếng Việt bằng ngôn ngữ kí hiệu ở trẻ điếc
- Chỉ ra các biện pháp dựa trên cơ sở khoa học, mang lại hiệu quả thiết thực trong việc hình thành và phát triển ngôn ngữ, phát triển kĩ năng giao tiếp, hoàn thành chương trình học các phân môn trong bộ môn tiếng Việt cho trẻ Từng biện pháp đem lại kết quả ra sao?
- Nhận xét về những thuận lợi, khó khăn dựa trên khảo sát thực trạng của phương pháp dạy và học bằng ngôn ngữ kí hiệu đang được thực hiện trong trường
- Đề xuất một số biện pháp và phương pháp trong quá trình giảng dạy môn tiếng việt cho trẻ điếc
- Đề xuất phương pháp giảng dạy hiệu quả ở môi trường trên lớp cũng như ở nhà
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Nghiên cứu, phân tích khái quát các văn bản, tài liệu, sách báo có liên quan đến đề tài nghiên cứu Thông qua phương pháp này chúng ta có thể tiếp cận thông tin nhằm nhằm xây dựng cơ sở lý luận, xác định cách thức và phương pháp nghiên cứu
Làm rõ các khái niệm cơ bản và các khái niệm công cụ cốt lõi của luận văn
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Trang 11Tìm hiểu và sàng lọc những nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn gần gũi với luận văn, thậm chí cùng vấn đề nghiên cứu đã được thực hiện từ trước để đánh giá những gì được kiểm nghiệm và khẳng định, những gì cần phải chắt
Miêu tả phương pháp dạy học: cách tiến hành, công cụ hỗ trợ…
6 Giá trị của luận văn
- Giá trị thông tin
Công trình nghiên cứu này đã cung cấp thông tin về tật điếc ( nguyên nhân, biểu hiện, phân loại) cũng như thông tin về trẻ điếc (tâm sinh lý) Đó là
cơ sở lý luận để chúng tôi có những khảo sát ban đầu cũng như đưa ra phương pháp giảng dạy kết hợp với hoạt động vui chơi và khả năng thành công của phương pháp
- Giá trị khoa học
Đề tài đã đưa ra thực trạng rõ nét nhất về việc dạy và học môn tiếng Việt cho trẻ điếc cũng như chứng minh phương pháp áp dụng hoạt động vui chơi vào việc học là có cơ sở khoa học và tính khả thi đáng tin Công trình làm sáng tỏ tình trạng dạy học môn tiếng Việt lớp 2 cho trẻ điếc và biện pháp để nâng cao hiệu quả dạy và học bằng NNKH thông qua các trò chơi giải trí
- Giá trị thực tiễn
Trang 12Kết quả của luận văn sẽ là một tài liệu quý giá giúp cho các nhà quản lý, phụ huynh, giáo viên, người hỗ trợ, đặc biệt giúp cho các nhà giáo dục viết sách giáo khoa có cái nhìn khách quan và có những định hướng chiến lược để
hỗ trợ trẻ khuyết tật trong thời gian tới để việc học tập của trẻ ngày càng được nâng cao
7 Kết cấu của đề tài: ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo,
Luận văn bao gồm
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Thực trạng dạy học môn tiếng Việt cho trẻ điếc lớp 2 trên địa
bàn Hà Nội
Chương 3: Đề xuất thử nghiệm một số giải pháp trong phương pháp dạy
học môn tiếng Việt cho trẻ điếc lớp 2
Trang 13NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Hệ thống khái niệm cơ bản
Tật điếc: Sự tiếp nhận âm thanh của bộ máy thính giác có thể không đầy
đủ và trung thực, thậm chí bị mất… Hiện tượng này có thể xảy ra ngay từ tai ngoài Trong ống tai có nhiều ráy, làm cản trở sóng âm vào màng hoặc màng nhĩ quá dày, kém rung động làm ảnh hưởng đến âm thanh nghe được Đặc biệt ở tai giữa rất hay bị viêm nhiễm (chảy mủ tai) làm cho âm thanh không thể truyền vào tai trong làm chúng ta không nghe được hoặc nghe rất ít Đặc biệt tai trong là bộ phận rất nhạy cảm với một số độc tố làm suy giảm khả năng nghe và khả năng hiểu gây ra mất thính lực nặng
Trẻ khiếm thính ( Heading impaired children): trẻ khiếm thính là những
trẻ bị suy giảm chức năng nghe ở các mức độ khác nhau, dẫn đến khó khăn trong giao tiếp và ảnh hưởng đến quá trình nhận thức của trẻ
Trường chuyên biệt ( Speacail school) : Là loại hình trường học được
thiết lập dành riêng cho những trẻ em không học trường bình thường
1.1.1 Người khiếm thính: biểu hiện, nguyên nhân, phân loại
Biểu hiện:
Người khiếm thính là người có sự suy giảm sức nghe ở các mức độ khác nhau, dẫn đến sự khó khăn trong tri giác âm thanh, trong đó có âm thanh ngôn ngữ, làm hạn chế khả năng giao tiếp bằng lời và ảnh hưởng đến quá trình nhận thức của người Hay đơn giản hơn, khi một đứa người không thể nghe được âm thanh như những đứa người cùng tuổi, chúng ta nói rằng, người bị khiếm thính Việc hình thành kĩ năng giao tiếp cho người khiếm thính, thì khó khăn lớn nhất là dạy người học nói So sánh với những người mắc khuyết tật khác và những người bình thường, người khiếm thính có những khó khăn,
Trang 14thuận lợi, được đánh giá theo các kĩ năng cần thiết cho việc hình thành hoạt động giao tiếp dưới đây:
a Lời nói: Có thể sử dụng âm thanh nhưng sẽ gặp khó khăn nghiêm trọng
khi nói
b Hiểu: Thường gặp khó khăn nghiêm trọng khi hiểu ngôn ngữ nói nhưng
có thể hiểu tình huống và cử chỉ
c Cử chỉ: Biết sử dụng cử chỉ để thể hiện
d Chơi đùa: Giống như những người cùng tuổi khác
e Sự chú ý: Giống như những người cùng tuổi khác
f Nghe: Khó khăn Mức độ nghiêm trọng của nó tùy thuộc vào sức nghe
của người khiếm thính
g Bắt chước: Giống như những người cùng tuổi khác, nhưng khó khăn
khi bắt chước âm thanh hoặc từ
h Các hoạt động thường ngày: Giống như những người cùng tuổi khác
1.1.2 Nguyên nhân
Ở người, tai là cơ quan thính giác, vì vậy, tật khiếm thính là do những khuyết tật ở tai gây nên Tuy nhiên, không giống với những tật khác, rất ít người bị khiếm thính được phát hiện kịp thời Một người khiếm thính trông hoàn toàn bình thường
Trang 15Hình 1.1 Lát cắt dọc của tai
Âm thanh từ ngoài, đập vào màng nhỉ, qua tai giữa vào ốc tai
Trang 16Hình 1.2 Sự kết nối những sợi nang lông trong ốc tai và dây thần kinh thính giác
Hình 1.3 Thần kinh thính giác chuyển tín hiệu âm thanh lên não
Phân loại
Có nhiều cách phân loại điếc, nhưng cách phân loại dựa trên tiêu chí thính lực
của người là phổ biến hơn cả
lượng lớn hơn bình thường
Điếc nặng, điếc sâu ( 70 – 90dB) Chỉ nghe được rất ít, dù có đeo máy
trợ thính
Bảng 1.1 Bảng phân loại mức độ điếc
Trang 171.1.3 Những nét đặc trưng tâm lí của người khiếm thính có ảnh hưởng tới việc phát triển ngôn ngữ kí hiệu
Những đặc điểm tâm lý của người khiếm thính cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới việc phát triển Ngôn ngữ kí hiệu, trong đó phải kể đến hai hoạt động chính của tâm lí đó là: cảm giác và tri giác
Bất kì quá trình nhận thức nào cũng bắt đầu từ hai quá trình tâm lí là cảm giác và tri giác Trong đó, cảm giác là nền tảng cảm tính của nhận thức, nó phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật còn tri giác lại là hình ảnh toàn vẹn của sự vật trong nhận thức của chúng ta Trong những dạng cảm giác khác nhau, thì cảm giác nghe và cảm giác nhìn là hai loại cảm giác cơ bản nhất trong việc thu nhận thông tin, qua đó con người mới nhận thức được thế giới Người khiếm thính do bị mất sức nghe, vì vậy, sẽ mất luôn cả những kiến thức mà họ có thể tiếp nhận được nhờ cảm giác nghe đem lại Trong đó, hậu quả nghiêm trọng nhất là việc không tiếp nhận được âm thanh lời nói Sự phá hủy tri giác về tiếng nói của người xung quanh kéo theo sự phá hủy quá trình hình thành ngôn ngữ Trong thực tế, người khiếm thính sẽ bị câm nếu không được phát hiện sớm những khó khăn về thính giác và được hỗ trợ bằng những phương pháp chuyên biệt trong việc tiếp nhận ngôn ngữ Do đó, mà với người khiếm thính, cảm giác thị giác và cảm giác vận động có vai trò đặc biệt quan trọng
xung quanh và trong việc tiếp nhận ngôn ngữ Như trên đã nhận xét, quy luật
bù trừ nhiều khi đem lại cho con người những khả năng vượt trội, trong trường hợp này, nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, cảm giác và tri giác nhìn ở người khiếm thính không kém so với người thường, thậm chí còn tích cực và tinh nhạy hơn Bởi vậy, người khiếm thính thường để ý đến chi tiết nhỏ của thế giới xung quanh mà người thường không để ý Điều này có ý
Trang 18nghĩa rất quan trọng trong việc học ngôn ngữ kí hiệu Cũng tương tự như thế với cảm giác vận động của con người
1.2 Vài nét về trẻ điếc
1.1.2 Đặc điểm về cảm giác, tri giác
Trong việc tiếp nhận ngôn ngữ, cảm giác, tri giác thì thính giác có vai trò quan trọng đặc biệt Trên cơ sở này diễn ra sự phát triển các hình thái chủ động và bị động của lời nói Nghe được tiếng nói của người xung quanh, đứa trẻ bắt chước và bập bẹ được những từ đầu tiên Nhờ lời nói, đứa trẻ nhận được những thông tin cơ bản, lĩnh hội những kiến thức và kinh nghiệm mà người lớn truyền cho Sự phá hủy tri giác về tiếng nói của những người xung quanh tự nhiên sẽ kéo theo sự phá hủy quá trình hình thành ngôn ngữ tích cực Trẻ Điếc không thể tự mình lĩnh hội được những ngôn ngữ một cách tự nhiên Sự thực là, trẻ Điếc sẽ bị câm nếu trẻ không được phát hiện sớm
Với trẻ bình thường, chúng chủ yếu dựa vào cảm giác nghe và vận động, còn tri giác là thứ yếu Với trẻ Điếc thì ngược lại, cảm giác thị giác và cảm giác vận động là hai yếu tố hình thành nên nhận thức ở trẻ Điếc; trong đó, thị giác trở thành yếu tố chủ đạo và chủ yếu nhất để hình thành tiếng nói Thậm chí có trẻ chỉ dựa vào tri giác để tiếp nhận ngôn ngữ Rất nhiều những nghiên cứu đã chứng minh được rằng cảm giác và tri giác của trẻ Điếc không hề kém
so với trẻ thường thậm chí còn nhận bén hơn Ví dụ:
- Phân biệt màu sắc: Việc phân biệt màu sắc gần giống nhau như: xanh
- tím, đỏ - da cam thì trẻ Điếc phân biệt tinh tế hơn so với trẻ bình thường
- Phân biệt người tiếp xúc: Trẻ Điếc có thể nhận thấy từng chi tiết về khuôn mặt, thân hình, cách ăn mặc, màu sắc và chất liệu của quần áo nhanh hơn trẻ bình thường
Trang 19- So sánh những bức tranh của trẻ Điếc với trẻ bình thường, chúng ta thấy bức tranh của trẻ Điếc có nội dung phong phú tỉ mỉ hơn và đặc biệt là khi
vẽ người
1.2.2 Đặc điểm về trí nhớ
Một công trình nghiên cứu quá trình ghi nhớ ba dạng từ sau của học sinh Điếc và học sinh nghe được:
- Những từ biểu thị đồ vật và hiện tượng thu nhận bằng mắt
- Những từ biểu thị chất lượng của những đồ vật thu nhận nhờ cơ quan xúc giác
- Những từ biểu thị hiện tượng âm thanh
Kết quả thu được cho thấy rằng, giữa học sinh Điếc và học sinh nghe - nói có sự khác nhau rất ít trong việc ghi nhớ những từ trong phạm vi lĩnh hội bằng mắt Và trẻ Điếc khác xa trẻ nghe được trong việc ghi nhớ những từ biểu thị âm thanh Trong khi đó, so với trẻ nghe được, trẻ Điếc ghi nhớ tốt hơn những từ biểu thị chất lượng của những đồ vật tiếp nhận nhờ xúc giác và chúng có thể ghi nhớ được những từ biểu thị những hiện tượng âm thanh Thậm chí chúng có khả năng nhớ tốt hơn người khác những từ biểu thị những
âm phát ra từ những con vật nuôi trong nhà và những từ phát ra từ tiếng máy; khó ghi nhớ những từ biểu thị những âm thanh cường độ nhỏ
1.2.3 Đặc điểm về tưởng tượng, tư duy và tính sáng tạo
Trẻ Điếc thiếu hụt ở mức lớn khả năng tưởng tượng Nguyên nhân là do quá trình hình thành ngôn ngữ ở trẻ không đầy đủ và hoàn chỉnh nên tư duy trừu tượng bị hạn chế Mặc dù thị giác của trẻ đạt mức độ cao và sống động nhưng sự hình thành tư duy bằng khái niệm quá chậm, làm chúng rất khó thoát khỏi ý nghĩ cụ thể, nghĩa đen của từ Điều đó làm khó khăn cho sự hình thành hình tượng mới
Ở trẻ Điếc, trước thời gian tiếp nhận ngôn ngữ hoặc ngay cả trong quá trình tiếp nhận ngôn ngữ đã có thời gian dừng lại ở mức độ tư duy trực quan –
Trang 20hình tượng, nghĩa là chúng suy nghĩ không bằng lời mà bằng những hình ảnh, hình tượng Sự diễn đạt bằng hình tượng được trẻ Điếc tri giác với nội dung
sự vật theo nghĩa đen của nó Cách diễn đạt đó khơi dậy ở trẻ những biểu tượng cụ thể, những hình ảnh đơn nhất, gây khó khăn cho việc mở rộng hiểu biết về hiện tượng và sự vật Bởi vậy, ta không ngạc nhiên khi hỏi trẻ Điếc
“Bàn tay vàng là gì?” trẻ sẽ trả lời “ làm bằng vàng”, “tay màu vàng” Điều đó cho thấy, trẻ Điếc không hề có khái niệm nào với những khái niệm trừu tượng, hình ảnh ẩn dụ,…
1.2.4 Khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ Điếc
Mặc dù bị khuyết tật về thính giác nhưng trí tuệ, não bộ cũng như các dây thần kinh của trẻ Điếc hoàn toàn bình thường so với trẻ nghe – nói Trẻ Điếc có bộ não và các dây thần kinh chỉ huy đều phát triển và hoạt động bình thường, trẻ Điếc vì cơ quan phân tích thính giác bị tổn thương chính vì thế việc tiếp nhận âm thanh để tiếp thu ngôn ngữ gặp khó khăn Nếu cải thiện được vấn đề này thì trẻ Điếc sẽ có điểm xuất phát rất bình thường
Đối với những trẻ mất thính giác từ nhỏ thì việc học hỏi ngôn ngữ nói là rất khó Bởi quy trình học ngôn ngữ của trẻ bị Điếc tuân thủ theo từng bước một.[18, tr.3]
=>
Nhìn Bắt chước Luân phiên
Trang 21Tiêu chí Trẻ nghe - nói Trẻ Điếc
Kỹ năng, thành tựu Biết đọc Biết viết Sử dụng NNKH Biết viết
Bảng 1.2: Khả năng ngôn ngữ giữa trẻ nghe nói – trẻ Điếc
Biết đọc, biết viết là một trong những thành tựu quan trọng trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ khi bắt đầu đi học Nếu trẻ mẫu giáo học nói và hiểu ngôn ngữ thì trẻ đầu cấp tiểu học học viết, học đọc Đọc đòi hỏi phải nắm bắt được ngữ âm và có kỹ năng giải mã bảng chữ cái Kỹ năng viết đòi hỏi trẻ hoàn thiện kỹ năng vận động tinh để có thể viết các chữ cái
Đọc phụ thuộc vào cơ chế hoạt động của bộ máy phát âm và cơ chế tạo âm thanh lời nói của bộ máy ấy đảm nhiệm Bộ máy phát âm của trẻ Điếc không
bị tổn thương nhưng trẻ lại không thể phát âm thành tiếng (xem thêm một số
đặc điểm cơ bản về tật Điếc) thay vào đó trẻ Điếc sẽ “đọc” những âm, từ đó
bằng NNHK Ở Nhân Chính và Xã Đàn giáo viên luôn luyện khẩu hình miệng cho trẻ Điếc Điều này cũng vô cùng quan trọng trong việc trẻ học từ vựng, khu biệt từ này với từ khác, những từ đồng âm nhưng khác nghĩa trong giao
tiếp (xem thêm chương 2)
Hoạt động thần kinh cấp cao và các giác quan của trẻ điếc giai đoạn từ 0
đến 8 tuổi
Khoa học thần kinh nhận thức khẳng định rõ ràng rằng hệ thống thần kinh là nơi đặc quyền cho sự phát triển tri thức và hình thành các công cụ cơ bản cho việc học tập Giống như tất cả những cơ quan khác triong cơ thể, hệ
Trang 22thống thần kinh bao gồm các bộ phận hoạt động một cách ăn khớp, hướng đến việc thu nhận kiến thức Đó cũng là vai trò của các giác quan và não bộ điều khiển các hoạt động chuyên biệt và cần thiết, ví dụ như việc tập hợp các thông tin động cơ, xử lý thông tin và tạo ra tri thức
Để hiểu rõ và nhận thức được đúng vai trò của hệ thần kinh trong việc lĩnh hội kiến thức, chúng tôi nhận thức được tầm quan trọng của việc miêu tả bộ máy học tập
Bảng 1.3 Sơ đồ bộ máy học
Các giác quan giúp khai tâm việc học và chất đầy trí nhớ Tất cả những
kí ức mà chúng ta có đều góp phần vào việc xây dựng kiến thức mới Quá trình lĩnh hội kiến thức được bắt đầu từ các kích thích đến từ một số các nhân
tố môi trường Các nhân tố này có khả năng kích hoạt các cơ quan thụ cảm giác quan khác nhau Các kích thích này kích động các giác quan và mở các cửa nhập thông tin Các giác quan trở thành cơ quan nuôi dưỡng trí thông minh và tiên phong cho việc lĩnh hội kiến thức mặc dù với bất kì người học ở
Não người
- Bán cầu não trái
- bán cầu não phải
Trang 23cấp độ hay độ tuổi nào hay ở mức độ nhận thức nào Mỗi giác quan chiếm giưa một phần đặc thù trên não ở đó những cảm nhận đến từ hệ thống thần kinh ngoại vi được lưu trữ Sự lưu trữ các cảm giác này biểu hiện dưới hình ảnh tinh thần Khi chúng ta nghe một âm thanh, chúng ta hình dung ra luôn hình ảnh nhưng chính âm thanh làm cho hình ảnh hiện ra Invanov nhận xét
“trong số các hình ảnh, tư duy cần nhất là hình ảnh thị giác Phản ảnh thị giác bao quát bối cảnh rộng hơn nhiều so với hình ảnh âm thanh và vận động và nhất là bao quát ngay từ đầu”
1.3 Ngôn ngữ kí hiệu của người điếc
1.3.1: Ngôn ngữ kí hiệu là gì?
Có nhiều tài liệu đưa ra khái niệm ngôn ngữ kí hiệu (sign language) Định nghĩa trong một số tài liệu thường gặp, ngôn ngữ kí hiệu (ngôn ngữ dấu hiệu, thủ ngữ) là ngôn ngữ chủ yếu được cộng đồng người Điếc sử dụng nhằm chuyển tải thông tin qua cử chỉ, điệu bộ cơ thể và nét mặt thay cho lời nói
Hình 1.3: Bảng chữ cái ngón tay
Trang 241.3.2 Ngôn ngữ kí hiệu ở Việt Nam
T.S Nguyễn Thị Hoàng Yến, trong luận văn Tiến Sĩ đã chỉ ra bốn biện
pháp chính cho việc giáo dục trẻ Điếc trong cuốn “Các biện pháp tổ chức
giáo dục hòa nhập nhằm chuẩn bị cho khuyết tật thính giác vào lớp 1” được
công bố năm 2001 tại trường Đại học Sư Phạm Hà Nội Các biện pháp đó là: can thiệp sớm, hệ thống hỗ trợ trẻ Điếc trong trường hợp hòa nhập, tạo môi trường thích hợp cho giáo dục hòa nhập Trong đó thì can thiệp sớm là biện pháp tốt nhất, cần nhất và có ý nghĩa nhất cho sự phát triển ngôn ngữ trẻ Điếc
từ khi còn nhỏ Bà cũng nhấn mạnh, can thiệp sớm còn mang ý nghĩa xã hội lớn như sự chia sẻ và trợ giúp cho gian đình trẻ khuyết tật.[16]
Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định tầm quan trọng của môi trường gia đình, những người hướng dẫn là các bậc cha mẹ trong việc giáo dục trẻ Điếc
là yếu tố quan trọng hàng đầu Chính vì thế việc hỗ trợ, giúp đỡ họ về việc học NNKH cũng như là hiểu sâu những kiến thức có liên quan đến tật của con
em mình là việc làm cần phải thực hiện nhanh chóng, có hiệu quả thì việc tiếp cận với trẻ Điếc mới thuận lợi
1.3.3 Một số vấn đề của ngôn ngữ kí hiệu
Ngôn ngữ kí hiệu có tính tượng hình
Khi chúng ta suy nghĩ về ngôn ngữ nói, chúng ta nhìn nhận nó như là một hệ thống “nghe - phát âm” Việc phát âm và hiểu được nghĩa thực hiện bằng sử dụng các bộ phận của cơ qua cấu âm: lưỡi, răng, môi, hơi thở, tai và nhận thức để tiếp nhận ngôn ngữ đó Khi chúng ta suy nghĩ về NNKH, chúng
ta đã nhìn nhận nó như là một hệ thống “thị giác-dùng tay”: việc “phát âm” được thể hiện bằng việc sử dụng tay, trong khi mắt tiếp nhận ngôn ngữ đó Chính bởi vì tính tượng hình về mặt thị giác đóng một vai trò quan trọng đặc biệt Do vậy, đặc điểm nổi bật của NNKH là tính tượng hình Các kí hiệu thường có tính chất biểu thị, mô phỏng các sự vật hiện tượng bằng biểu tượng
Trang 25không gian của bàn tay Khi làm dấu với tốc độ bình thường, các kí hiệu được tạo ra nhanh vừa đủ để không bị phát hiện ra đặc điểm tượng hình
Có những kí hiệu gần giống những động tác cử chỉ điệu bộ (ví dụ:ăn, uống….- Kí hiệu Hà Nội) Cũng có những kí hiệu mô tả một phần đặc điểm của sự vật, hiện tượng, hành động… (ví dụ: ông, bà, con mèo…- Kí hiệu Hà Nội) Chính vì phần lớn các kí hiệu đề tượng trưng, mô tả cho toàn bộ hoặc một phần sư vật, hiện tượng, hành động… điều này tạo nên tính tượng hình của NNKH
Ngôn ngữ kí hiệu có cấu trúc và hình thái riêng biệt
NNKH có khuynh hướng giải quyết vấn đề hình thái hộc về không gian
mà không phải vấn đề trật tự
Ví dụ: để diễn tả ý “tôi sẽ đến thăm anh”
Ngôn ngữ nói: phải theo thứ tự từng từ :Tôi/sẽ/đến/thăm/anh
NNKH: sẽ làm kí hiệu: tôi/anh/(đến) thăm/và các kí hiệu này được làm trong không gian Rõ ràng thứ tự sắp đặt các kí hiệu không theo ý diễn tiến của lời nói và không theo logic của tư duy người nghe
NNKH thường có cấu trúc ngữ pháp khác với cáu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ nói do tính ám chỉ cua rnos qui định Chẳng hạn, ngôn ngữ nói tiếng Anh có cấu trúc: chủ ngữ- động từ- bổ ngữ (S – V- O) thì NNKH Anh
có cấu trúc: chủ đề- lời dẫn (cũng tương tự vói NNKH Việt Nam) Làm kí hiệu theo cấu trúc này tức là đối tượng, sự vật có liên quan được nêu lên, nhắc đến trước, sau đó mói dẫn giải them thông tin
Ngôn ngữ kí hiệu có tính đa dạng
Tính đa dạng của NNKH trước hết thể hiện ở các hình thái đa dạng của NNKH ở các vùng, miền khác nhau trên thế giới, giữa các quốc gia, dân tộc, thậm chí giữa các địa phương thường có một số điểm giống nhau nhưng nhìn
Trang 26chung vẫn có sự khác nhau Hệ thống kí hiệu ở mỗi vùng có những đặc trưng khác nhau, tạo nên tính phong phú của vốn từ, của cách thể hiện
Tính đa dạng của NNKH còn thẻ hiện ở việc sử dụng nhiều hình thức bổ trợ kèm theo Cũng giống như những ngôn ngữ khác, trong khi sử dụng NNKH, có thể sử dụng nhiều phương tiện bổ trợ như: cử chỉ điệu bộ, chữ cái ngón tay, hình miệng…
Một số đặc trưng ngữ pháp của ngôn ngữ kí hiệu
Mỗi một ngôn ngữ đều được đặc trưng bởi một hệ thống từ vựng và các quy tắc ngữ pháp qui định sự sắp xếp các thành phần trong câu Cũng giống như bất kỳ ngôn ngữ nào khác, NNKH không chỉ vốn từ vựng/các kí hiệu phong phú mà còn có các qui tắc ngữ pháp riêng
Nhìn chung, hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới đều có các loại câu: câu tường thuật và câu hỏi Thông thường, các câu hỏi được phân biệt với câu tường thuật bằng trật tự từ, các từ để hỏi hoặc ngữ điệu Ví dụ, trong ngôn ngữ nói tiếng Anh chúng ta sử dụng trật tự từ đối lập nhau trong câu tường thuật “he can drive.” (Anh ta biết lái xe) và câu hỏi “Can he drive?” (Anh ta
có biết lái xe không?) bằng sự đảo lộn trật tự của chủ ngữ và động từ, cũng như bằng ngữ điệu Trong ngôn ngữ nói tiếng Việt, sự khác nhau giữa câu tương thuật và câu hỏi không phải bằng việc đảo lộn trật tự từ mà bằng việc them vào các từ để hỏi Đối với câu hỏi, chúng ta lại thường thấy có hai loại: câu hỏi đóng (câu hỏi để trả lời là có hoặc không, ví dụ: “Bạn thích ăn dưa hấu không?”) và câu hỏi mở (Nhận được câu trả lời nhiều thông tin hơn, ví dụ: “Vì sao bạn nghỉ học?”)
“Chủ đề- lời dẫn” là đặc điểm chung trong NNKH Việt Nam Tuy
nhiên, đối với một câu đơn giản hay câu hỏi, hay một cụm từ gồm danh từ và
số từ … người điếc thường có cách diễn đạt khác với ngôn ngữ nói tiếng Việt
Từ ghép
Trang 27Cũng giống như trong ngôn ngữ nói, các từ ghép được tạo ra bằng việc phát âm riêng lẻ từng tiếng Ví dụ từ “hoa hồng” sẽ phát âm thành 2 tiếng
“hoa” và “hồng” Trong NNKH, rất nhiều kí hiệu các từ ghép được tạo ra bằng cách lắp ghép đơn thuần các kí hiệu riêng lẻ với nhau
Ví dụ: Kí hiệu “Hoa hồng” = hoa + hồng
Kí hiệu “Uống sữa” = uống + sữa
Tính từ
Trong ngôn ngữ nói, một số tính từ thường kết hợp với tiếng khác để tạo thành các từ láy, có ý nghĩa diễn tả mức độ, sắc thái Ví dụ: tính từ “Vui” có thể kết hợp với “vẻ” để tạo thành từ “vui vẻ” Trong ngôn ngữ nói, khi phát
âm, phải phát âm thành 2 tiếng “vui, vẻ” Tuy nhiên, trong NNKH, chỉ diễn tả nghĩa gốc của từ, nghĩa là chỉ làm kí hiệu từ “vui”, không làm kí hiệu từ “vẻ”
Danh từ
Hướng chuyển động của tay phụ thuộc vào chủ đề hành động là ai: hướng từ người làm kí hiệu đi ra thể hiện người làm kí hiệu là chủ đề thực hiện hành động Ngược lại, hướng từ phía người ngoài đi vào thì người ngoài
là người thực hiện hành động, người làm kí hiệu là người chiuij tác động của hành động Nói các khác, một số kí hiệu hành động cho biết chủ thể hành động là ai
Ví dụ: khi muốn diễn tả ý TÔI (bản thân) đưa cho CÔ ẤY (người khác) một vật gì thì chuyển động của tay khi làm kí hiệu là hướng từ phía người “tôi” đưa về phía “cô ấy” Ngược lại, khi muốn diễn tả ý CÔ ẤY (người khác) đưa cho TÔI(bản thân) một vật gì thì tay sẽ hướng từ phía “cô ấy” rồi đưa về phía mình
Cấu trúc cụm từ: số từ + danh từ
Trong ngôn ngữ nói: số từ + danh từ
Trong NNKH: danh từ + số từ
Trang 28Ví dụ: cụm từ “bốn sinh viên”
Trong ngôn gữ nói: bốn /sinh viên
Trong NNKH sinh viên/ 4
Ví dụ: câu “Tôi thích màu đỏ”
Trong ngôn ngữ nói: Tôi/thích/màu/đỏ
Trong NNKH: Tôi/màu đỏ/thích
Câu hỏi
Như chúng ta đã thấy, trật tự trong một câu phụ thuốc vào yếu tố nào được nhận thức là “chủ đề” và yếu tố nào được nhận thức là “lời dẫn” Vì thế, trong ngôn ngữ nói, người ta có thể phân biệt dễ dàng câu tường thuật và câu hỏi bằng các từ để hỏi (tiếng Việt) và bằng việc đảo lộn trật tự từ giữa chủ ngữ, động từ và sự khác biệt về ngữ điệu (tiếng Anh) Trong NNKH, trật tự kí hiệu trong câu tường thuật và câu hỏi không có gì khác biệt, yếu tố nào được nhận thức là “chủ đề” thì được làm kí hiệu trước, yếu tố nào được nhận thức là “lời dẫn” thì được làm kí hiệu sau và việc phân biệt giữa câu hỏi và câu tường thuật là dựa vào ngữ điệu cơ thể (đối với câu hỏi để trả lời có hoặc không) và một số kí hiệu từ để hỏi (đối với câu hỏi mở để lấy thông tin rộng như: tai sao?, khi nào?,thế nào? Tuy nhiên, nhìn chung đối với cả hai loại câu hỏi, ngữ điệu cơ thể là yếu tố chủ yếu để phân biệt câu hỏi và câu tường thuật Đối với câu hỏi mở, trật tự làm kí hiệu các từ để hỏi (Tại sao?, Thế nào?, Bao nhiêu? ) cũng có sự khác biệt so với ngôn ngữ nói Trong ngôn gữ nói, các từ nghi vấn (từ để hỏi) có thể đứng đầu câu, ví dụ “Tại sao bạn đi học
Trang 29muộn?”, hoặc đứng ở giữa câu, ví dụ “Bạn bao nhiêu tuổi rồi?”, cũng có thể đứng ở cuối câu, ví dụ “Nhà bạn ở đâu?” Nhưng trong NNKH, các từ nghi vấn thường được làm kí hiệu sau cùng
Ví dụ 1: câu “Gia đình bạn có bao nhiêu người?”
Trong ngôn ngữ nói: Gia đình/bạn/có/bao nhiêu/người?
Trong NNKH: Bạn/gia đinh/người/bao nhiêu?
Ví dụ 2: “Ai nghỉ học hôm qua?”
Trong ngôn ngữ nói: Ai/nghỉ/học/hôm/qua?
Trong NNKH: hôm qua/nghỉ học/nghỉ học/ai?
Câu phủ định
Trong ngôn ngữ nói, các từ phủ định luôn được nói trước một động từ
Trong NNKH, các từ phủ định luon được làm kí hiệu sau cùng
Ví dụ:câu “Tôi không thích màu đỏ”
Trong ngôn ngữ nói: Tôi/không/thích/màu đỏ
Trong NNKH: Tôi/màu đỏ/thích/không
1.4 Ngôn ngữ kí hiệu của trẻ điếc
1.4.1 Đặc điểm hình thành ngôn ngữ kí hiệu của trẻ điếc
+ Quá trình tiếp nhận ngôn ngữ kí hiệu của trẻ điếc
Nghiên cứu của 2 tác giả G.Kyle and B.Woll [9] khi so sánh ngôn ngữ ký hiệu và ngôn ngữ nhìn từ, cấu trúc hệ thống cũng cho thấy nó đáp ứng hoàn toàn bản chất của 1 hệ thống tín hiệu ngôn ngữ
Công cụ
Sản phẩm
Luồng hơi, thanh quản, lưỡi…
Phát ngôn liền mạch được hình thành bởi chuỗi âm vị
Tay, cơ thể
Chuỗi kí hiệu liên kết với nhau
Trang 30
Tiếp nhận
Tai
Mắt Đơn vị
Kết hợp
Hình vị, từ…
Ngữ pháp của ngôn ngữ nói
cụ thể
Hình vị, ký hiệu…
Ngữ pháp của ngôn ngữ
ký hiệu cụ thể
Đặc trưng
phổ quát
Có nhiều loại cấu trúc, mỗi ngôn ngữ nói sử dụng một tập hợp con của cấu trúc đó
Đặc tính này cũng có trong ngôn ngữ ký hiệu
Có nhiều loại cấu trúc, mỗi ngôn ngữ ký hiệu sử dụng một tập hợp con của cấu trúc đó
Đặc tính này cũng có trong ngôn ngữ nói
Bảng 1.4 : So sánh ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ kí hiệu [9]
Tuy nhiên, giai đoạn 6 tuổi, là một dấu mốc vô cùng quan trọng đối với tất cả các trẻ em: Tuổi đến trường Với một trẻ bình thường, việc bắt đầu đến trường, đã là sự kiện gây nên không ít sự khó khăn, bối rối căng thẳng Các bé còn rất bỡ ngỡ, vì đây là 1 nhiệm vụ hoàn toàn mới mẻ, các em chưa có trải nghiệm Với trẻ điếc, nét tâm lí đó, càng đậm đặc hơn Vì, khác với trẻ bình thường, trẻ điếc học môn Tiếng Việt nói riêng và tất cả các môn học của chương trình lớp 1, đều thông qua ngôn ngữ kí hiệu Trong các tiết học, để tiếp thu kiến thức, trẻ buộc phải học song ngữ: ngôn ngữ kí hiệu và ngôn ngữ Việt thông qua hệ thống chữ cái ngón tay
Giai đoạn giao tiếp bằng từ đơn
Để cho các từ trở nên có nghĩa và hữu dụng thì chúng phải được gắn kết với một vật hay một tình huống Vì vậy, đối với một đứa trẻ để sử dụng đúng một từ thì nó phải:
+ nghe từ đó
Trang 31+ thấy vật mà từ đó quy chiếu vào
+ thấy vật đang được sử dụng
+ cầm vật
+ sử dụng vật
+ cảm nhận vật
+ trải nghiệm tình huống có liên quan đến vật thường xuyên
Có ba bước liên quan đến việc học các từ:
Bước 1: Hiểu ý nghĩa
+Nghe từ được sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau
+gắn kết từ mà nó nghe thấy với ý nghĩa của nó
+bắt đầu hiểu được từ
Bước 2: Bắt chước người lớn
+ cố bắt chước từ nó nghe thấy trong tình huống
+ được khuyến khích bởi sự đáp lại của người lớn
Giai đoạn trẻ sử dụng cú pháp giao tiếp- ngôn ngữ diễn đạt
Giai đoạn kế tiếp của việc thụ đắc ngôn ngữ bắt đầu vào khoảng 18 tháng tuổi khi các bé bắt đầu nói các câu có 2 từ Chúng bắt đầu sử dụng ngữ pháp
để đặt các từ này vào với nhau Trẻ sẽ nói những câu ngắn, ví dụ: bố bế; mẹ
bế hoặc bế con có nghĩa là: " Bố ơi, bế con đi bố" hoặc mẹ ơi, mẹ bế con
một tí đi mẹ" Trong giai đoạn từ 2 đến 3 tuổi, trẻ sử dụng các cấu trúc ngữ ngữ pháp phức tạp hơn Ví dụ, chúng bắt đầu dùng thêm bổ ngữ, định
ngữ các thành phần phụ của câu Các trẻ đó bắt đầu nói những việc như: mất
Trang 32rồi; ăn rồi; chạy rồi Đôi khi trẻ cũng mắc những lỗi sai về trật tự từ, ví dụ
câu: Hôm qua con ăn quả na rồi; bé có thể diễn đạt thành: Quả na ăn
rồi; hoặc Na ăn qua rồi;
1.4.2 Đặc điểm ngôn ngữ kí hiệu của trẻ điếc
Bên cạnh chức năng giao tiếp, ngôn ngữ kí hiệu còn là công cụ để phát triển nhận thức, tư duy Ngoài những kí hiệu mô phỏng sự vật, hiện tượng chứng minh, trẻ Điếc tư duy bằng trực quan hình ảnh và diễn đạt hoạt động, ngôn ngữ kí hiệu có khả năng khái quát Với người bình thường, ngôn ngữ nói là công cụ để biểu thị tư duy – quá trình này sử dụng tín hiệu ngôn ngữ sau đó thể hiện bằng ngôn ngữ nói Tương tự như vậy, trẻ Điếc sử dụng những tín hiệu của kí hiệu để thực hiện quá trình tư duy, sau đó những khái niệm được diễn tả bằng những kí hiệu “Tư duy, tư tưởng của trẻ Điếc dựa trên cơ sở hình ảnh, cảm giác, tượng hình xảy ra trong đời sống thường ngày” [9] Một trẻ Điếc phát triển tư duy khi trẻ nhìn hoặc cảm nhận mọi người sử dụng từ ngữ hoặc kí hiệu để trao đổi thông tin
Trong quá trình học ngôn ngữ, trẻ Điếc phải sắp xếp suy nghĩ của mình
và liên kết các ý nghĩa với nhau Họ phải trả lời câu hỏi khi một sự vật, sự việc hoặc cá nhân thực hiện hành động nào đó sẽ dẫn đến một điều khác xảy
ra tiếp theo; làm thế nào để giải quyết vấn đề; cách sắp xếp sự vật, hoạt động theo trình tự; đếm số; làm thế nào để nhận dạng đồ vật và phân loại; làm thế nào để diễn tả cảm xúc…
Công trình nghiên cho thấy ngôn ngữ kí hiệu là cầu nối quan trọng giúp trẻ Điếc hòa nhập với người bình thường và ngược lại Ứng dụng của những nghiên cứu này là sự ra đời của những từ điển ngôn ngữ kí hiệu nhằm thống nhất hệ thống kí hiệu, đồng thời phục vụ việc giảng dạy ngôn ngữ kí hiệu cho trẻ Điếc và trẻ bình thường
Trang 33Có thể thấy, ngôn ngữ kí hiệu có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời
sống, văn hóa của người Điếc Nhà nghiên cứu Stokoe đã khẳng định: “Điếc
tự thân nó không phải là một tai họa, tai hoạ chỉ xảy đến khi truyền thông bị ngăn cản” [19] Trong quá khứ, không ít thời điểm, ngôn ngữ kí hiệu bị phủ
nhận, Aristolle, triết gia Hy Lạp cho rằng “người Điếc không thể giáo dục
được Nếu không nghe được, con người không thể học được” Hoặc, ngôn ngữ
kí hiệu chỉ là những vở diễn kịch câm hoặc mô phỏng lại ngôn ngữ nói Tất cả những quan niệm sai lầm trên không thể ngăn cản sự phát triển của ngôn ngữ
kí hiệu trong cộng đồng người Điếc
Chính vì vai trò to lớn của ngôn ngữ kí hiệu, việc nghiên cứu về ngôn ngữ “mẹ đẻ” của người Điếc, nghiên cứu năng lực và nhu cầu giao tiếp của họ
là việc làm cần thiết Xét thực trạng nghiên cứu ngôn ngữ tại Việt Nam, vấn
đề đặt ra trước mắt và lâu dài cần đưa ra bộ sách giáo khoa chuẩn cho trẻ, phu huynh trẻ và cho giáo viên để thống nhất chương trình giảng dạy ở các nhà trường, các trung tâm cho trẻ Điếc, quy tắc sử dụng ngôn ngữ kí hiệu, đẩy mạnh quá trình hòa nhập cộng đồng của người Điếc
Trẻ bình thường và trẻ Điếc đều có năng lực và nhu cầu giao tiếp Nếu như trẻ bình thường sử dụng ngôn ngữ nói để giao tiếp và kênh tiếp nhận là thính giác thì trẻ Điếc sử dụng ngôn ngữ kí hiệu, tiếp nhận qua kênh thị giác Giá trị trao đổi thông tin như nhau đối với ngôn ngữ nói và ngôn ngữ kí hiệu Bản chất tín hiệu của ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ kí hiệu có những điểm tương đồng và khác biệt
Trẻ Điếc học ngôn ngữ kí hiệu sẽ dễ dàng hơn bởi họ được quan sát trực tiếp, thông qua thực hành thì mọi người có thể sử dụng ngôn ngữ kí hiệu Không giống như người bình thường sử dụng ngôn ngữ nói, người Điếc và trẻ Điếc có thể giao tiếp với bất kì ai cả kể khác quốc tịch, khác màu da, khác văn hóa dân tộc, miễn là người đó cũng sử dụng ngôn ngữ kí hiệu và có điểm
Trang 34chung văn hóa cộng đồng Điếc Tuy nhiên, khi sống trong cộng đồng người
sử dụng ngôn ngữ nói, trẻ Điếc gặp rất nhiều khó khăn nếu chỉ sử dụng ngôn ngữ kí hiệu Ngôn ngữ kí hiệu chỉ có chức năng là công cụ giao tiếp khi đặt trong cộng đồng sử dụng nó
Dù sử dụng ngôn ngữ nói hay ngôn ngữ kí hiệu, điều quan trọng nhất là tạo cho trẻ Điếc cơ hội giao tiếp với mọi người, người được tham gia vào cuộc sống xung quanh và bộc lộ bản thân và phát triển tư duy, năng lực của mình Đồng thời, người bình thường có thể tìm hiểu và tiếp nhận thế giới của trẻ Điếc
Hoạt động dạy học cho trẻ điếc
Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe nhằm đạt một mục đích nào đó
Xét cho đến cùng thì hoạt động dạy học cũng chính là trường hợp đặc biệt của hoạt động giao tiếp Trong đó, hiểu một cách đơn giản thì hoạt động giao tiếp được diễn ra khi có một nhân vật A gửi thông điệp cho nhân vật B, nhân vật B nhận thông điệp và phản hồi lại Trong đó, thông điệp chính là những nội dung kiến thức người dạy cần truyền đạt cho người học Nội dung
đó là một chuỗi tín hiệu đã được mã hóa Để người học có thể tiếp thu được
nội dung bài học, thì giữa người dạy và người học phải có chung một mã Mã
(code) là một thuật ngữ trong thông tin với nghĩa là hệ thống các từ, chữ cái
kí hiệu…đại diện cho những cái khác dùng trong thông báo mật hoặc để trình bày, hoặc ghi lại thông tin một cách vắn tắt Ngôn ngữ học, dùng thuật ngữ này với nghĩa hệ thống các tín hiệu có thể truyền đạt thông tin [11] Ở lớp
học của người bình thường, mã là hệ thống tín hiệu của âm thanh lời nói được truyền đạt qua kênh thính giác Nhưng trong hoạt động dạy học cho người khiếm thính, thì do không tìm được mã chung nên con đường tiếp nhận thông
Trang 35tin giữa người dạy và người học không được thông suốt Theo lý thuyết giao tiếp, hoạt động dạy học như thế sẽ không có hiệu quả
Bởi vì khả năng tiếp nhận âm thanh lời nói của người học khiếm thính
là không có, trong khi đó nội dung bài học lại được người dạy mã hóa bằng ngôn ngữ âm thanh và truyền đi theo kênh thính giác Trên thực tế, cộng đồng người khiếm thính Việt Nam đã sử dụng ngôn ngữ kí hiệu để giao tiếp và nhiều trung tâm trường học đã dạy cho người khiếm thính bằng ngôn ngữ kí hiệu
Nếu coi dạy học là một hình thức giao tiếp đặc biệt, ta sẽ có sơ đồ sau:
Thông điệp: Nội dung bài học ( là một chuỗi tín hiệu đã được mã hóa )
Người phát ( nguồn): Trả lời cho ai? là xuất phát điểm của thông tin, có nhu cầu trao đổi thông tin Luôn nắm thế chủ động tương đối ( việc đưa thông tin nguồn không chịu trách nhiệm mà còn phải phụ thuộc vào sự hiểu biết của nguồn về đích
Thông điệp: Tồn tại dưới dạng kí hiệu, mang bản chất kí hiệu Thông điệp là nội dung thông tin truyền đạt từ nguồn tới người tiếp nhận
Đích: Là nơi tiếp nhận và xử lý thông tin của nguồn Đích có mối quan
hệ thụ động tương đối với nguồn, vì đihcs có quyền từ chối thông điệp của nguồn ( nguyên nhân: những đặc điểm của đích cũng là căn cứ của nguồn trước khi đưa thông tin)
Trang 36Hoạt động dạy - học của người bình
thường
Hoạt động dạy – học của người điếc
Mã là hệ thống tín hiệu của âm thanh,
lời nói, được truyền đạt qua kênh
thính giác tới người đọc
Nếu không tìm thấy mã chung -> con đường tiếp nhận thông tin giữa thầy
và trò không thông suốt -> hoạt động dạy học sẽ không có hiệu quả
Hoat động dạy học là một dạng giao tiếp đặc biệt
Trang 37Tiểu kết chương 1
Về trẻ Điếc:
Khuyết tật ở cơ quan thính giác đem đến cho trẻ Điếc thiệt thòi lớn, ảnh hưởng đến cuộc sống Thiệt thòi lớn nhất là trẻ gặp phải khó khăn trong việc tiếp nhận âm thanh lời nói Nhìn bằng mắt thường những trẻ Điếc không khác những trẻ thường Tuy nhiên, nếu không được phát hiện sớm, trị liệu kịp thời, trẻ Điếc sẽ bị câm và dẫn đến tình trạng tự kỉ
Có nhiều nguyên nhân gây nên tật Điếc và có nhiều mức độ Điếc Nhưng nếu trẻ Điếc do những tổn thương ở ốc tai hoặc ở dây thần kinh thính giác thì việc chữa trị là vô cùng khó khăn Việc phục hồi ngôn ngữ bằng việc
sử dụng phần thính lực còn lại là rất hạn chế
Tuy nhiên, do quy luật bù trừ, cảm giác về thị giác và cảm giác vận động
ở trẻ Điếc phát triển vượt trội hơn ở người bình thường Sự phát triển tư duy của trẻ Điếc thì chủ yếu là tư duy trực quan và tư duy hình tượng Những nét đặc trưng tâm sinh lí đó đã giúp cho trẻ Điếc sử dụng thành thạo ngôn ngữ kí hiệu - một loại ngôn ngữ được tiếp thu bằng kênh thị giác để phục vụ nhu cầu giao tiếp của mình
Về ngôn ngữ kí hiệu:
a Ngôn ngữ kí hiệu là một loại ngôn ngữ đặc biệt Nó sử dụng hình dáng bàn tay, chuyển động cơ thể, cử chỉ và biểu cảm trên khuôn mặt để trao đổi kinh nghiệm, suy nghĩ, nhu cầu và tình cảm Vì vậy, nó đáp ứng nhu cầu giao tiếp của người Điếc, người nghe kém nói chung và trẻ Điếc nói riêng Các ngôn ngữ kí hiệu trên toàn thế giới đều có các đặc điểm là:
Tính có nhiều phương ngữ và tính có điểm nhấn và tính giản lược
b Ngôn ngữ kí hiệu được sinh ra trong cộng đồng người Điếc, phục vụ nhu cầu giao tiếp của người Điếc, vì vậy nó cũng có bản chất xã hội và bản chất tín hiệu
Trang 38c Nếu như ở ngôn ngữ lời nói, sự khu biệt âm thanh được tạo ra bằng bộ máy phát âm và sự hoạt động của nó thì ở ngôn ngữ kí hiệu, sự khu biệt sẽ được
tạo ra bằng 5 yếu tố cấu tạo: vị trí của bàn tay; hình dạng bàn tay; hướng của
lòng bàn tay; hướng chuyển động của bàn tay; biểu hiện của nét mặt
d Nếu như trong ngôn ngữ nói, từ là đơn vị cơ bản của ngữ pháp, thì ở ngôn ngữ kí hiệu, kí hiệu là đơn vị cơ bản của ngữ pháp.Nó cũng là một đơn
vị mang nghĩa, để chỉ sự vật, hiện tượng, hành động, tính chất và cũng là đơn
vị nhỏ nhất, có thể tái hiện độc lập có chức năng tạo câu
Trang 39CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT VIỆC DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT CHO
TRẺ ĐIẾC LỚP 2 TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
So với việc học NNKH ở các trường, các trung tâm trong miền Trung và miền Nam thì việc dạy học bằng NNKH ở các trường, các trung tâm tại Hà Nội thì mới chỉ trong giai đoạn mở đầu Trước đây, do ảnh hưởng của nhu cầu phục hồi chức năng giao tiếp bằng lời nói cho người điếc nên chủ yếu phương pháp dạy học là: can thiệp và phục hồi chức năng giao tiếp bằng khẩu hình miệng cho người điếc
Ở chương này, tôi sẽ đưa ra những phân tích cụ thể về thực trạng dạy học môn tiếng Việt của trẻ điếc lớp 2 qua những gì tôi quan sát được trong suốt thời gian đến tham gia quan sát và hỗ trợ lớp học tại những cơ sở đó
2.1 Vài nét về địa bàn khảo sát
Hiện tại trên địa bàn Hà Nội có khoảng 10 cơ sở dạy trẻ Điếc như: trường chuyên biệt Bình Minh (Đông Anh), trường dạy trẻ câm Điếc Gia Lâm (Gia Lâm), trường nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em tàn tật (Sóc Sơn), Trường PTCS Hy Vọng (Long Biên), trường THCS Dân Lập dạy trẻ câm điếc Nhân Chính Hà Nội (Thanh Xuân), Trường THCS Xã Đàn (Đống Đa), Khối phổ thông dành cho người điếc – Trường Cao đẳng Sư phạm Trung Ương, làng trẻ Hữu Nghị Việt Nam, CLB ngôn ngữ kí hiệu, Chi hội người Điếc,…
Cuối năm 2011 – đầu năm 2012, Dự án Giáo dục trẻ Điếc trước tuổi đến trường - IDEO do tổ chức Quan tâm Thế Giới thực hiện, hợp tác với Bộ Giáo dục và Đào tạo, thực hiện tại bốn tỉnh bao gồm Hà Nội, Thái Nguyên, Quảng Bình và TP Hồ Chí Minh Một trong những bước đầu của dự án là “Kế hoạch
hỗ trợ gia đình” (KHHTGĐ) KHHTGĐ này không giống như những chương trình can thiệp sớm đang thực hiện ở Việt Nam Điều khác biệt của KHHTGĐ của IDEO là trẻ điếc sẽ cung cấp không chỉ có ngôn ngữ nói mà cả bằng ngôn ngữ ký hiệu do chính những giáo viên Điếc đảm nhiệm.[15],[19] Với khẩu
Trang 40hiệu “Ngôn ngữ ký hiệu là ngôn ngữ của trẻ Điếc – Hãy cho con được học bằng ngôn ngữ của con - IDEO, dự án đã gặt hái được rất nhiều thành công Trong vòng 5 năm, dự án đã giúp cho 255 trẻ Điếc dưới 6 tuổi tại Hà Nội, Thái Nguyên, Quảng Bình và thành phố Hồ Chí Minh được học NNKH tại nhà Khi làm khoá luận tốt nghiệp đại học tôi đã được tiếp xúc cũng như có thời gian đồng hành cùng các bạn nhỏ theo chương trình của IDEO Đến thời điểm khảo sát hiện tại thì chương trình của IDEO đã dừng lại do không có kinh phí để tiếp tục duy trì Và các trẻ trước đó học theo chương trình của IDEO đã tách ra để hình thành một nhóm trẻ học tập hoàn toàn bằng NNKH
do các thầy cô là người điếc giảng dạy
Chúng tôi đã khảo sát việc dạy học môn tiếng Việt lớp 2 cho trẻ Điếc tại
2 địa điểm của Hà Nội: trường dân lập dạy người Điếc Nhân Chính và chính nhóm trẻ vẫn theo chương trình của IDEO Đã từ lâu trường dân lập dạy trẻ điếc Nhân Chính là những cơ sở có nhiều kinh nghiệm trong việc dạy và thực hành NNKH đồng thời nhóm trẻ này được tách ra trường trường Nhân Chính
là tiếp tục theo chương trình của IDEO – học hoàn toàn bằng NNKH với người điếc
2.1.1 Trường dân lập dạy trẻ điếc Nhân Chính
Được sự bảo trợ của Hội chữ Thập đỏ Hà Nội, ngày 19/08/1990 trường dân lập dạy trẻ điếc Nhân Chính ra đời Sau một năm chuẩn bị, ngày 05/09/1991 trường đã khai giảng năm học đầu tiên
Được sự giúp đỡ của UB2 và tổ chức ICCO Hà Lan, từ một ngôi trường nhỏ bé cấp 4 gồm 2 lớp học với 12 học sinh và 7 cán bộ nay trường đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh gồm 2 khối nhà: khối tiểu học 4 tầng, khối mẫu giáo 2 tầng, với 8 phòng học và các phòng chức năng như phòng dạy nghề, phòng ăn cho 70 học sinh, phòng ngủ, phòng y tế và phòng Thính lực
Số lượng học sinh cũng tăng từ 80-100, số lượng giáo viên hiện nay khoảng