1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thay đổi kiến thức và thực hành tự chăm sóc bàn chân của người bệnh đái tháođường type2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh tuyênquang năm 2018

133 42 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 4,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 Đánh giá sự thay đổi kiến thức và thực hành tự chăm sóc bàn chân của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang sau can thiệp giáo dục s

Trang 1

HỒ PHƯƠNG THÚY

THAY ĐỐI KIẾN THỨC VÀ TH ựC HÀNH T ự CHĂM SÓCBÀN CHÂN CỦANGƯỜIBỆNHĐẤITHÁOĐƯỜNGTYPE2ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆNĐA KHOATỈNH TUYÊN QUANGNĂM 2018

LUÂN VĂN THAC s ĩ ĐIỀU DƯỠNG9 9

NAM Đ ỊN H -2018

Trang 2

HỒ PHƯƠNG THÚY

THAY ĐỔI KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH T ự CHÂM SÓC BÀN CHẰN CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆNĐA KHOA TỈNH TUYÊN QUANG NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC s ĩ ĐIỀU DƯỠNG

M ă sổ: 8720301

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGÔ HUY HOÀNG

NAM ĐỊNH - 2018

Trang 3

TÓM TẮT NGHIÊN c ứ u

M ục tiêu: (1) Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành tự chăm sóc bàn chân

của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang năm 2018 (2) Đánh giá sự thay đổi kiến thức và thực hành tự chăm sóc bàn chân của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện

đa khoa tỉnh Tuyên Quang sau can thiệp giáo dục sức khỏe

Đổi tượng và phương pháp nghiên cứu:Can thiệp một nhóm có so sánh

trước - sau, giáo dục sức khỏe về tự chăm sóc bàn chân dựa trên khuyến cáo chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới, Hiệp hội đái tháo đường Quốc tếvà Bộ Y tế Việt Nam cho 100 người bệnh đái tháo đường type 2 từ 18 tuổi trở lên đangđiều trị ngoại trú tại Phòng quản lý bệnh mạn tính - Khoa khám bệnh - Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang Bộ công cụ sau khi điều tra thử, kiểm định độ tin cậy (Cronbach’s Alpha= 0,834) được sử dụng để đánh giá kiến thức và thực hành tự chăm sóc bàn chân của đối tượng nghiên cứu trước và sau can thiệp

Kết quả nghiên cứu: Kiến thức tự chăm sóc bàn chân của người bệnh tham

gia nghiên cứu đã cải thiện đáng kể với tăng điểm kiến thức đạt 17,97 ± 1,72 điểmngay sau can thiệp và duy trì với điểm số cao là 16,48 ± 2,82 điểm sau can thiệp

1 tháng so với 12,57 ± 3,75 điểm trên tổng thang đo 20 điểm ở thời điểm trước can thiệp (p < 0,001) Trước can thiệp, tỷ lệ người bệnh có kiến thức ở mức tốt là 42%; ngay sau can thiệp tỷ lệ này đã tăng lên đạt 98% và còn duy trì với 81% sau can thiệp

1 tháng Thực hành tự chăm sóc bàn chân của người bệnh sau can thiệp 1 tháng cũng được cải thiện rõ rệt với điểm trung bình thực hành đạt 18,11 ± 3,00 điểm so vói 12,71 ± 3,62 điểm trên tổng thang đo 21 điểm (p < 0,001) Trước can thiệp chỉ có 33% người bệnh thực hành ở mức tốt, sau can thiệp 1 tháng tỷ lệ này đã tăng lên 77%

Kết luận: Kiến thức và thực hành tự chăm sóc bàn chân của người bệnh đái

tháo đường type 2 còn hạn chế trước can thiệp và đã được cải thiện đáng kể sau can thiệp giáo dục sức khỏe Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả rõ rệt của giáo dục sức khỏe cho người bệnh và cần được tiến hành thường xuyên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn tốt nghiệp này là kết quả của quá trình học tập tại Truông Đại học Điều dưỡng Nam Định của tôi trong hai năm theo học chưoug trình cao học, chuyên ngành khoa học Điều dưỡng

Với lòng thành kính và biết ou sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy trong Ban giám hiệu, cô giáo chủ nhiệm, cùng các thầy cô giáo Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã hết lòng nhiệt tình truyền thụ kiến thức và luôn hỗ trợ, giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tớiTS.BS Ngô Huy Hoàng - Người thầy

đã hướng dẫn tận tình, chỉ bảo tôitrong toàn bộ quá trình viết đề cương, thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng biết ơn các thầytrong Hội đồng đã đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Bệnh viện, các y bác sỹ, điều dưỡng thuộc Khoa khám bệnh - Bệnh việnđa khoa tỉnh Tuyến Quang đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành việc thu thập số liệu tại Bệnh viện

Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn tới gia đình, bạn bè, cùng tập thể lớp Cao học Điều dưỡng khóa 3 đã động viên, giúp đỡ trong trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Hồ Phương Thúy

LỜI CAM ĐOAN

Trang 5

Tôi là học viên lớp Cao học Điều dưỡng Khóa 3, chuyên ngành Điều dưỡng, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định xin cam đoan:

Đây là luận văn do chính tôi trực tiếp thực hiện nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của thầy hướng dẫn khoa học TS.BS Ngô Huy Hoàng

Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố ở Việt Nam

Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan Đã được đồng ý thu thập và xác nhận của cơ sở nơi mà tôi thực hiện việc thu thập số liệu

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này!

Tuyên Quang, ngày 16 tháng 09năm 2018

Tác giả

Hồ Phương Thúy

Trang 6

Nội dung Trang

1.2 Biến chứng bàn chân ở người bệnh đái tháo đường 71.3 Tự chăm sóc bàn chân ở người bệnh đái tháo đường 17

2.7 Công cụ thu thập số liệu và tiêu chuẩn đánh giá 35

Trang 7

Chương 4: BÀN LUẬN 60

4.2 Kiến thức và thực hành tự chăm sóc bàn chân của người bệnh đái tháo đường

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Bản đồng thuận tham gia nghiên cứu

Phụ lục 2: Phiếu đánh giá kiến thức và thực hành tự chăm sóc bàn chân

Phụ lục 3: Cách đánh giá và cho điểm

Phụ lục 4: Nội dung tư vấn giáo dục sức khỏe về chăm sóc bàn chân

Phụ lục 5: Tài liệu phát tay cho người bệnh tham gia nghiên cứu

Phụ lục 6: Danh sách người bệnh tham gia nghiên cứu

Phụ lục 7: Một số hình ảnh về quá trình thực hiện nghiên cứu

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẤT

Trang 8

3.CT Can thiệp

7.IDF International Diabetes Federation

(Hiệp hội đái tháo đường Quốc tế)

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang 9

Bảng 3.3: Phân bố người bênh theo môt số đăc điểm bênh lỵ 42Bảng 3.4: Đặc điểm về tiếp cận thông tin giáo dục sức khỏe trước khi tham gia

Bảng 3.5: Kết quả chung kiến thức tư chăm sóc bàn chân dưa trên điểm trung bình

Bảng 3.6: Kết quả kiến thức tư chăm sóc bản chân theo từng nôi dung dưa trẽn điểm

Bảng 3.7: Tỷ lệ người bệnh đái tháo đường tham gia nghiên cửu nhận thức đứng về

Bảng 3.8: TỶ lẽ người bênh đái tháo đường tham gia nghiên cửu nhân thức đứng về

Bảng 3.9: Kết quả chung thưc hành tư chăm sóc bàn chân dưa trẽn điểm trung bình

Bảng 3.10: Kết quả thưc hành tư chăm sóc bàn chân theo từng nôi dung dưa trên

Bảng 3.11: Tỷ lẽ người bênh đái tháo đường tham gia nghiên cửu thưc hành đủng

Bảng 3.12: Tỷ lệ người bệnh đái tháo đường tham gia nghiên cửu thực hành đứng

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ

Trang 10

Hình 2.3: Sơ đồ quv trình nghiên cứu 28Biểu đồ 3.1: Phân loại kiến thức tự CSBC của người bệnh đái tháo đường 47Biểu đồ 3.2: TỶ lẽ người bênh đái tháo đường tham gia nghiên cứu nhân thức đứng

Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ người bệnh bệnh đái tháo đường tham gia nghiên cứu nhận thức

Biểu đồ 3.4: TỶ lẽ người bênh bênh đái tháo đường tham gia nghiên cứu nhân thức

Biểu đồ 3.5: Phân loại thực hành tụ CSBC của người bệnh đái tháo đường 55Biểu đồ 3.6: TỶ lẽ người bênh đái tháo đường tham gia nghiên cứu thưc hành đúng

Biểu đồ 3.7: TỶ lẽ người bênh đái tháo đường tham gia nghiên cứu thưc hành đúng

Trang 11

2045, thế giới sẽ có khoảng 693 triệu người sống chung với căn bệnh này [59] Tại Việt Nam (2015) có 3,5 triệu người đái tháo đường và dự kiến đến năm 2040 sẽ là 6,1 triệu người Cứ 10 người có 6 người bị biến chứng do đái tháo đường[58].

Đái tháo đường tiến triển âm thầm, gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng cấp và mạn tính như tim mạch, thận, mắt, thần kinh, da Trong đó có biến chứng bàn chân với những tổn thưomg đa dạng như giảm dòng máu nuôi dưỡng,chai chân, biến dạng bàn chân nặng nhất là loét bàn chân với nguy cơ cắt cụt cao [6] Khoảng 15% người bệnh đái tháo đường có biến chứng chân, 20% trong số họ nhập viện là do những tổn thương, loét bàn chân [48] Ở các nước phát triển, tỷ lệ biến chứng bàn chân là 5%, nhưng ở các nước đang phát triển tỷ lệ này cao hơn, lên đến 40% do điều kiện kinh tế - xã hội kém[9] Tỷ lệ mắc đái tháo đường bị cắt cụt chi cao gấp 17 - 40 lần so với các trường hợp cắt cụt chi do các bệnh lý khác không do đái tháo đường[48] Theo IDF có hơn 1 triệu người bị cắt cụt chân mỗi năm do biến chứng đái tháo đường Cứ 30 giây lại CÓI người đái tháo đường bị cắt cụt chi dẫn tới tàn phế; 70% trường hợp cắt cụt chân liên quan đến đái tháo đường.ở Ai Cập (2016) tỷ lệ loét bàn chân là 25,7% [54] ỞEthiopia (2017) tỷ lệ này là 13,6% [66] Tại Việt Nam, người bệnh chỉ nhập viện khi đã có biến chứng Ở cần Thơ, tỷ lệ loét bàn chân là 38,4% [26]; Đà Nằng, tỷ lệ biến chứng bàn chân là 19,7% [16]

Sự thiếu hụt về kiến thức và nhận thức của người bệnh về chăm sóc bàn chân đái tháo đường là một trong những lý do chính dẫn đến biến chứng bàn chân [46],[67] Biến chứng bàn chân làm gia tăng chi phí chăm sóc, điều trị, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống của người bệnh, gia đình, sự phát

Trang 12

triển kinh tế toàn xã hội Nhưng vẫn có thể hạn chế phòng ngừa 49 - 85% biến chứng này nếu được phát hiện sớm kịp thời, bằng cách chăm sóc bàn chân thích họp

và giáo dục sức khỏe nâng cao khả năng tự chăm sóc bàn chân của người bệnh [41]

Kết quả từ một số nghiên cứu cho thấy kiến thức và thực hành tự chăm sóc bàn chân của người bệnh đái tháo đường chưa cao, tỷ lệ người bệnh có kiến thức và thực hành tốt chỉ dưới 50% [23],[45],[49] Kiến thức và thực hành của người bệnh đái tháo đường về cách chăm sóc bàn chân có mối quan hệ chặt chẽ [70] Kiến thức và thực hành tốt sẽ làm giảm nguy cơ biến chứng ở bệnh đái tháo đường và giảm tỷ lệ cắt cụt chi [72] Nhờ can thiệp giáo dục, kiến thức của người bệnh được nâng cao từ

đó giúp người bệnh có những thực hành đúng trong việc tự chăm sóc bàn chân của mình, cụ thểkiến thức chăm sóc bàn chân tăng từ 46,7% lên 86,7%; thực hành tăng từ 43,3% lên 98,3%[35] Đã cải thiện đáng kểsố ngày chăm sóc bàn chân, từ 3,2 ± 2,8 ngày trước can thiệp giáo dục lên 5,9 ±1,8 ngày sau can thiệp 01 tháng [40]

Theo thống kê của Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Tuyên Quang, năm 2015 toàn tỉnh có khoảng 36.240 người mắc bệnh đái tháo đường được điều trị và quản

lý Đáng báo động là có đến 64% không biết mình mắc bệnh.Bệnh việnđa khoa tỉnh Tuyên Quang là bệnh viện trung tâm của tỉnh, hiện đang điều trị ngoại trú cho khoảng 1000 người bệnh đái tháo đường, trong đó chủ yếu là người bệnh đái tháo đường type 2 Hiện nay, trong tỉnh đã có nhiều nghiên cứu về đái tháo đường nhưng

đa số tập trung vào vấn đề chẩn đoán, điều trị biến chứng, gần đây có thêm một số nghiên cứu về quản lý điều trị bệnh nhưng vẫn có rất ít nghiên cứu quan tâm đến lĩnh vực chăm sóc bàn chân Việc giáo dục sức khỏe (GDSK) nâng cao khả năng tự chăm sóc bàn chân đóng một giá trị nhất định giúp người bệnh có kiến thức tự chăm sóc từ đó giúp phòng và hạn chế mắc phải biến chứng bàn chân của người bệnh đái

tháo đường Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thay đổi kiến thức và thực hành tự chăm sóc bàn chân của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh việnđa khoa tính Tuyên Quang năm 2018”.

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN c ứ u

1 Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành tự chăm sóc bàn chân của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh việnđa khoatỉnh Tuyên Quang năm 2018

2 Đánh giá sự thay đổi kiến thức và thực hành tự chăm sóc bàn chân của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh việnđa khoatỉnh Tuyên Quang sau can thiệp giáo dục sức khỏe

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Trang 14

1.1 Bệnh đái tháo đường

1.1.1 Định nghĩa

Theo Hiệp hội đái tháo đường Quốc tế (IDF) năm 2017: “Đái tháo đường là một nhóm các bệnh chuyển hoá có đặc điểm là tăng glucose máu, hậu quả của sự thiếu hụt bài tiết insulin; khiếm khuyết trong hoạt động của insulin; hoặc cả hai Tăng glucose máu mạn tính thường kết họp với sự huỷ hoại, sự rối loạn chức năng

và sự suy yếu chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu”[59]

1.1.2 Tình hình đái tháo đườngtrên thế giới

Đái tháo đường là một trong những bệnh không lây phổ biến nhất hiện nay, được nhiều quốc gia quan tâm với số người mắc bệnh đang gia tăng nhanh chóng và

sự đe dọa của nó đến sức khỏe và kinh tế xã hội Theo IDF (2017), trên toàn thế giới

có khoảng 425 triệu người mắc ĐTĐ, trong đó 1/3 là những người trên 65 tuổi Nếu mức tăng này không dừng lại thì dự kiến đến năm 2045, thế giới có khoảng 693 triệu người sống chung với căn bệnh này Đồng thời có thêm 352 triệungười có rối loạn dung nạp glucose, đây là những trường họp có nguy cơ cao phát triển thành bệnhĐTĐ.Ở các nước có thu nhập cao, có khoảng 87% - 91% trường họp chẩn đoán

là ĐTĐ type 2; 7% - 12% là ĐTĐtype 1 và 1% - 3% thuộc các type khác[59]

Trên thế giới, hơn 60% NB ĐTĐ bắt nguồn từ các nước Châu Á và tỷ lệ ĐTĐ đang gia tăng ở các quốc gia này Ở các nước phát triển độ tuổi thường gặp đái tháo đường là 35 - 64 tuổi [58] Theo thống kê năm 2017, Tây Thái Bình Dương

và Đông Nam Á là hai khu vực có số người mắc ĐTĐ nhiều nhất với 159 triệu người và 82 triệu người Trong đó, cao nhất là Trung Quốc với 114,1 triệu người mắc; tiếp đến là Ấn Độ với 72,9 triệu người mắc.Dự kiến tới năm 2045, Ấn Độ là nước có số lượng người mắc ĐTĐ cao nhất với 134,3 triệu người Nguyên nhân là

do quá trình đô thị hóa, tiêu thụ thực phẩm giàu năng lượng, có lối sống ít vận động nên số người bị ĐTĐ càng gia tăng trong khi tuổi chẩn đoán ĐTĐ giảm đi[59]

Trang 15

Năm 2017, theo thống kê thì số người mắc ĐTĐ trên 65 tuổi là 123 triệu người, dự kiến năm 2045 sẽ tăng lên là 253 triệu người Ở nhóm tuổi từ 20 -64 tuổi

có 327 triệu người mắc và dự kiến tới năm 2045 sẽ tăng lên là 438 triệu người[59]

Một thực tế đáng báo động là trên toàn cầu có khoảng 212,4 triệu người mắc ĐTĐ không được chẩn đoán, 50% số đó nằm trong độ tuổi từ 20 - 79 tuổi Có tới 84,5% trường họp mắc ĐTĐ không được chẩn đoán là ở các nước có mức thu nhập thấp và trung bình Ở các nước có mức thu nhập thấp như Châu Phi, tỷ lệ người mắc ĐTĐ không được chẩn đoán là 69,2%; các nước có mức thu nhập cao là 37,3% Trung Quốc là quốc gia có số người mắc ĐTĐ không được chẩn đoán cao nhất (6,1 triệu người), tiếp theo là Ấn Độ (4,2 triệu người) và Mỹ (1,15 triệu người) [59]

Tính đến cuối năm 2017, theo IDF thì riêng đái tháo đường đã gây ra cái chết cho 4triệu người trên toàn thế giới,cứ 8 giây lại có 1 người tử vong do đái tháo đường Trong đó, có khoảng 46,1% số ca tử vong là dưới 60 tuổi Tổng chi phí y tế dành riêng cho điều trị bệnh đái tháo đường và các biến chứng có liên quanlà 727 tỷđô la Mỹ; chi phí y tế phải chicao nhất là ở Mỹ, tiếp đó là Trung Quốc và Đức[59]

Bệnh đái tháo đường phân chia theo giới tính: tỷ lệ mắc (20 - 79 tuổi) ở nam giới (9,1%) cao hơn nữ giới (8,4%) số người mắc ĐTĐ là nam giới nhiều hơn nữ giới khoảng 17,1 triệu người (221,0 triệu người nam so với 203,9 triệu người nữ)

Tỷ lệ mắc ở nữ giới dự kiến sẽ tăng lên 9,7% và nam giới là 10,0% Nhóm tuổi từ 65-79 tuổi có tỷ lệ mắc ĐTĐ cao nhất ở cả giới nam và giới nữ Tại vùng đô thị năm 2017có 279,2 triệu ngườimắc, tới năm 2045 là 472,6 triệu người Vùng nông thôn năm 20171à 145,1 triệu người, tới năm 2045 là 156,0 triệu người[59]

Tại các quốc gia Ả Rập (2017) tỷ lệ mắc đái tháo đườngcao nhất là nước Ả Rập Xê Út với 31,6%; tiếp đó là Oman với 29%; Cô-oét 25,4%, Bah-rain 25,0% và các tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất là 25,0% [68]

Người bệnh đái tháo đường có thể được tìm thấy ở tất cả các nước, nếu không có biện pháp dự phòng hay các chương trình quản lý hiệu quả thì tỷ lệ đái tháo đường sẽ còn tiếp tục tăng lên trên toàn cầu

1.1.3 Tình hình đái tháo đường tại Việt Nam

Trang 16

Việt Nam không được xếp vào 10 nước có tỷ lệ đái tháo đườngcao nhưng lại

là quốc gia có tốc độ phát triển nhanh theo mức độ phát triển kinh tế cũng như đô thị hóa Theo thống kê của IDF năm 2015, số người trong độ tuổi từ 20 - 79 tuổi mắc đái tháo đường là khoảng 3,5 triệu người, dự kiến sẽ tăng lên đến 6,1 triệu người vào năm 2040 Có khoảng 68,9% người tăng đường huyết chưa được phát hiện Chỉ có 28,9% người bệnhđái tháo đường được quản lý tại cơ sở y tế Cứ 10 ngườicó 6 người bị biến chứng do đái tháo đường[58]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Thủy về chi phí trực tiếp cho y tế và ngoài

y tế của NB ĐTĐ tại Khoa nội tiết - Bệnh viện Thanh Nhànnăm 2013 cho thấy: tổng chi phí trung bình điều trị cho NB ĐTĐ trong một đợt điều trị nội trú là 4.540.846 đồng, trong đó tổng chi phí trực tiếp chi cho y tế/đợt điều trịlà 2.709.978 đồng và tổng chi phí trực tiếp ngoài y tế/đợt điều trị là 1.830.869 đồng [36]

Qua điều tra 1100 người dân tại Khmercủa Nguyễn Văn Lành (2013) thấy rằng: tỷ lệ mắc đái tháo đường là 11,91%, trong đó tỷ lệ mới phát hiện là 78,6% [24] Tại Hải Phòng, tỷ lệđái tháo đườnglà 5,2%; tiền đái tháo đườnglà 26,8%, trong

đó tỷ lệ rối loạn glucose lúc đói là 19,8%, tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose là 7,0% [13] Ở Hậu Giang, tỷ lệ đái tháo đườnglà 10,3%; tỷ lệ đái tháo đườngmới phát hiện

là 68,1%; tỷ lệ đái tháo đường đã phát hiện trước đó là 31,9%; tỷ lệ rối loạn glucose lúc đói là 9,7%; tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose là 7,7% [15]

Năm 2013, trong công bố của “Dự án phòng chống đái tháo đườngQuốc gia”của Bệnh viện Nội tiết Trung ương (2012) trên 11.000 người tuổi 30 - 69 tại 6 vùng trên cả nước, tỷ lệ mắc ĐTĐlà 5,7%; tiền mắc ĐTĐlà 12,8% Những người >

45 tuổi có nguy cơ mắc ĐTĐtype 2 cao gấp 4 làn những người < 45 tuổi [3]

Nghiên cứu của Lê Thị Thanh Tâm (2015) tại Nghệ Anthấy rằng có 309/1511 thai phụ mắc đái tháo đường tương đương với tỷ lệ là 20,5% [29].Nghiên cứu tình hình đái tháo đường ỞSÓC Trăng trong 2 năm (2015-2016) của Võ Thành Danh trên 1.114 người từ 40 tuổi trở lên thấy rằng,tỷ lệ ĐTĐtype 2 là 16,1%; mới phát hiện là 9,5%; đã mắc và đang điều trị là 6,6%; tiền sử mắc ĐTĐlà 21,9% [10]

Trang 17

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Phạm Minh Ngọc và cộng sự năm 2015, các yếu tố đô thị hóa, dân số già, béo phì và hạn chế vận động thể chất có vai trò quan trọng làm tăng tỷ lệ đái tháo đường tại Việt Nam [75].

Tại huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường là 4,9% Tỷ lệ người bệnh bị rối loạn glucoselúc đói chiếm 15,9%; nhóm người đái tháo đườngở độ tuổi 60-69 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (42,9%), nhóm người từ 30- 39tuổi chiếm tỷ lệ 4,3%[31] Tại Bệnh việnđa khoa tỉnh Tuyên Quang trong 8 tháng đầu năm 2016, có tổng số 895 người bệnhđái tháo đường được quản lý ngoại trú, trong đó 59,3% người bệnh sống ở thành phố Tuyên Quang và 40,7% người bệnh sống ở các huyện trên địa bàn tỉnh [5]

1.1.4 Biến chứng mạn tính của đái tháo đường

Các biến chứng mạn tính trong bệnh đái tháo đường là nguyên nhân chính dẫn đến những hậu quả nặng nề và nghiêm trọng cho sức khỏe của người bệnh Lượng đường trong máu cao lâu ngày gây thương tổn, làm dày màng đáy các mạch máu nhỏ với các biến chứng ở mắt, ở thận, bệnh lý thần kinh Đồng thời thúc đẩy

xơ vữa, làm hẹp các động mạch lớn gây tai biến mạch máu não, bệnh mạch vành, bệnh mạch máu ngoại biên, biến chứng bàn chân

Bên cạnh đó, đái tháo đường còn gây ra các bệnh nhiễm trùng khác như nhiễm trùng da, răng miệng, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, lao phổi Các biến chứng mạn tính xảy ra sớm hay muộn, nặng hay nhẹ rất khác biệt ở từng người bệnh Nhưng nếu kiểm soát tốt đường huyết, có thể ngăn ngừa hay làm chậm và nhẹ

đi các biến chứng mạn tính của bệnh đái tháo đường[7],[27],[28]

1.2 Biến chứng bàn chânỏngưòi bệnh đái tháo đường

1.2.1 Định nghĩa

Theo tổ chức Y tế Thế giới và sự thống nhất của nhóm chuyên gia quốc tế định nghĩa biến chứng bàn chân đái tháo đường là hiện tượng nhiễm trùng, loét và/ phá hủy các mô sâu có kết hợp với những bất thường về thần kinh và các mức độ khác nhau về của bệnh mạch máu ngoại biên ở chi dưới [69]

1.2.2 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của loét bàn chânđái tháo đưòng[27]

Trang 18

Hình 1.1: Cơ chế loét bàn chân của đái tháo đường [27]

Bệnh lý bàn chân ở người bệnh đái tháo đường gây nên chủ yếu bởi hai nguyên nhân có ảnh hưởng hỗ trợ nhau: bệnh lý thần kinh và mạch máu Các chấn thương đóng vai trò như yếu tố thuận lợi cho loét xuất hiện Nhiễm trùng làm trầm trọng thêm vết loét, đây là yếu tố nguy cơ cao cho cắt cụt chi dưới và thậm chí tử vong do nhiễm trùng huyết

* Vai trò của bệnh lý mạch máu ngoại vi

Tổn thương mạch máu gây thiếu máu bàn chân và làm nặng thêm tình trạng dinh dưỡng bàn chân, chủ yếu liên quan tới hệ động mạch chi dưới

Trang 19

Bệnh lý mạch máu lớn: thường xuất hiện sớm bằng siêu âm Doppler màu cho thấy lớp áo giữa động mạch dày lên (động mạch chày mác, kheo đùi) muộn hơn

có thể thấy mảng xơ vữa Lòng mạch hẹp đôi khi có thể tắc bởi mảng xơ vữa Biểu hiện lâm sàng sớm là đau cách hồi (đau vùng cơ cẳng chân và bàn chân khi đi bộ)

Tổn thương mạch máu đóng vai trò ít quan trọng hơn trong hoại tử chân Bệnh nhâncó tổn thương vi mạch nhiều có loét bàn chân thì vùng thiếu máu ổ loét thường rộng, cắt bỏ ngón chân hoại tử, bàn chân thì vết mổ thường lâu hồi phục

* Vai trò của bệnh lý thần kỉnh

Hình 1.2: Cơ chế loét bàn chân do bệnh lý thần kinh[27]

Biến chứng thần kinh ngoại biên là biến chứng xuất hiện sớm và thường hay gặp nhất ở người bệnh đái tháo đường Bệnh sinh của biến chứng thần kinh do đái tháo đường bản chất là do tích lũy sorbotol toong hệ thống dây thần kinh bởi ảnh hưởng của tăng glucose máu mạn tính và sự thiếu hụt myo-inositol tại chỗ, nhiễm độc bởi các sản phẩm của quá trình đường hóa, các stoess oxy hóa và vai trò rất quan trọng của các gốc oxy tự do (NO)

Đặc điểm tổn thương thần kinh đái tháo đường là sự mất myelin từng đoạn trên sợi trục thần kỉnh, rối loạn cảm giác, rối loạn nhạy cảm, rối loạn thần kinh tự động

Trang 20

Bàn chân chịu áp lực liên tục lên một điểm nào đó sẽ dẫn tới giảm tưới máu

và có thể gây hoại tử do thiếu máu (đi giày dép chật)

Giảm nhạy cảm cảm giác đau và cảm giác bản thể phối hợp với áp lực lớn bất thường lên bàn chân đặc biệt là các đầu xương bàn chân làm cho các vị trí này

dễ loét, cảm giác đau bị giảm khiến cho người bệnh không phát hiện ra loét nhỏ và

vì vậy đến khám và điều trị muộn dẫn tới loét càng trầm trọng hơn

Thần kinh tự động

Khi thần kinh tự động bị tổn thương, các nối động - tĩnh mạch được mở ra dẫn tới rối loạn tuần hoàn bàn chân, tăng nhiệt độ da, tăng quá trình tiêu xương cổ chân, phù nề bàn chân Khi rối loạn tuần hoàn bàn chân sẽ dẫn tới giảm dòng máu tại các mao mạch dinh dưỡng bàn chân gây hiện tượng thiếu máu vùng da của bàn chân.Rối loạn thần kinh tự động gây giảm tiết mồ hôi bàn chân, bàn chân khô, da nứt nẻ, tạo thuận lợi cho bội nhiễm vi khuẩn và bắt đầu xuất hiện điểm bất thường ở gan bàn chân

* Vai trò của chấn thương

Các chấn thương thường được coi như là các yếu tố thuận lợi cho sự hình thành loét bàn chân trên người bệnhđái tháo đường

Chấn thương động: sang chấn từ ngoài tác động vào bàn chân như:Vấp phải vật nhọn: gai nhọn, mảnh thủy tinh; vất phải vật cản gây chầy xước bàn chân: gạch,

đá, bậc cửa có cạnh sắc; giầy, dép quá chật tạo áp lực ép lên một vài điểm ở bàn chân, tại chỗ sẽ gây loét

Trang 21

Chấn thương tĩnh:Tổn thương thần kinh yận động - cảm giác làm yếu cơ và mất cảm giác cân bằng trong động tác co duỗi ngón chân, tạo điểm tỳ đề mới ở bàn chân; Tổn thương thần kinh tự động làm mở các nối động - tĩnh mạch gây tiêu xương, tăng dòng máu bàn chân gây phù nề, tổn thương khớp, hình thànhbàn chânCharcot, tạo các điểm tỳ đè mới đặc biệt là vị trí các đầu ngón chân và đầu dưới xương bàn chân Đây là những điểm tỳ đè dễ loét nhất.

* Vai trò của nhiễm trùng

Nhiễm trùng làm nặng thêm tổn thương bàn chân cho dù đó là tổn thương thần kinh hay mạch máu.Nhiễm trùng vẫn luôn là nguy cơ phải cắt cụt rộng bàn chân ở ngườiđái tháo đườngcho dù điều trị kháng sinh tích cực: glucose máu cao là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển Chức năng bạch cầu đa nhân và hệ tự miễn ở người đái tháo đường giảm Tổn thương vi mạch nhiều làm hạn chế tưới máu vùng tổn thương Tất cả các yếu tố trên phối họp với nhau tạo điều kiện cho nhiễm trừng phát triển mạnh

Các nhiễm trùng lan rộng và sâu vào mô mềm, viêm xương là nguyên nhân chính phải cắt cụt chi dưới.Có nhiều kiểu tổn thương bàn chân đái tháo đường:Loét gan bàn chân ở vị trí đầu xương bàn ngón số 1, 2, 5; Sưng tấy mu bàn chân thường

do vi khuẩn kị khí sinh hơi; Áp xe bàn chân; Nhiễm trùng kẽ ngón chân do nấm Candida Albican; Viêm tủy xương, viêm khớp nhiễm trùng.Loại vi khuẩn thường gặp trong nhiễm trừng bàn chân:Phối họp hai loại vi khuẩn: 30%; tụ cầu vàng: 20%; trực khuẩn mủ xanh: 10%

1.2.3 Các yếu tố nguy cơdẫn đến loét bàn chân trong bệnh đái tháo đường

Glucose huyết cao; Thời gian mắc bệnh đái tháo đường; Đã có nhiều biến chứng: mắt, thận, mạch máu ; Biến chứng thần kinh ngoại biên; Tiền sử nhiễm trùng: da, tiết niệu [27]

1.2.4 Các tổn thương bàn chân thường gặp ở người bệnhđáỉ tháo đường[6]1.2.4.1 Biến đổi ngoài da

Các biến đổi thường gặp là da khô, bong da, nứt nẻ, rụng lông do tổn thương thần kinh tự động gây giảm tiết mồ hôi và thiểu dưỡng da

Trang 22

bị biến dạng, điển hình được gọi là bàn chân Charcot và rất dễ bị loét tại các chỗ phải chịu áp lực cao.

1.2.4.4 Loét chân

Hay xảy ra ở mu bàn chân và ngón cái, thường do đi giày/dép chật Các vết loét thường bắt đầu chỉ từ những vết xước hoặc phồng da rất nhỏ nhưng không được điều trị hoặc điều trị không đúng cách nên bị nhiễm trùng; tiếp theo đó, nhiễm trùng ngày càng nặng và lan rộng ra toàn bộ bàn chân, thậm chí có thể đe dọa tính mạng

và đe dọa cắt đoạn chi

1.2.4.5 Cắt cut chân

Khác với người bình thường, vết loét chân ở người bệnh đái tháo đường rất khó liền vì cung cấp không đủ máu, do đó vùng tổn thương bị thiếu chất dinh dưỡng

và oxy, đồng thòi, thiếu các tế bào máu như bạch cầu để chống lại vi khuẩn và các

tế bào chết không được dọn dẹp kịp thời Mặt khác, đường máu cao sẽ ức chế các hoạt động của bạch cầu, làm giảm hiệu quả của các phản ứng viêm chống nhiễm khuẩn Do vậy, vết thương rất dễ bị nhiễm trùng lan rộng và khó liền, dẫn đến buộc phải cắt cụt Một lý do khác là các động mạch có thể bị tắc hẹp ở các đoạn cẳng chân hoặc cao hơn nên mặc dù người bệnh chỉ có nhiễm trùng khu trú một phần của bàn chân nhưng lại cần cắt cụt cao đến hên khớp gối

Trang 23

1.2.5 Phân loại tổn thương bàn chân trong bệnh đái tháo đường

Năm 1970, các tác giả Wagner và Megitte đã lập ra bảng phân loại tổn thương loét bàn chân gồm 5 phân độ: độ 0; 1; 2: chủ yếu đánh giá mức độ sâu của vết loét từ mức da lành, độ 3 liên quan đến nhiễm trùng; độ 4 và độ 5 đánh giá mức

độ lan tỏa của tổn thương và có liên quan đến tổn thương mạch máu nhiều hơn[4],[28]

Độ 0: không có tổn thương hở nhưng có thể có biến dạng xương hoặc dày sừng bàn chân

Độ 1 : Loét nông, chưa có thâm nhập vào các mô ở sâu

Độ 2: Loét sâu lan tới gân, xương hoặc khớp

Độ 3: Loét sâu có viên gân, xương, áp xe hoặc viêm mô tế bào

Độ 4: Hoại tử ngón, phần trước bàn chân hoặc gót chân, kèm nhiễm trùng bàn chân

Độ 5: Hoại tử lan rộng cả bàn chân, phối họp với tổn thương nhiễm trùng và hoại tử mô mềm ở bàn chân

1.2.6 Tình hình biến chứng bàn chân ờ người bệnh đái tháo đường

Biến chứng bàn chân là một biến chứng mạn tính thường gặp ở người bệnhđái tháo đường type 2 Đây là một trong những biến chứng nặng có thể dẫn đến nhiễm trùng hoặc loét không lành và trong trường họp xấu nhất có thể dẫn đến cắt cụt chân khiến người bệnh phải nhập viện điều trị[28] Tỷ lệ cắt cụt chi ở người bệnh ĐTĐ cao gấp 17-40 lần so vói các đối tượng không bị đái tháo đường [48]

Ở Mỹ hàng năm có hơn 50.000 trường họp cắt cụt chi dưới ở NB ĐTĐ, trong

đó 24% cắt cụt ngón chân; 6% cắt cụt nửa bàn chân; 39% cắt cụt dưới gối; 21% cắt cụt 1/3 dưới đùi Khoảng 50% NB đã bị cắt cụt chi sẽ bị loét và nhiễm trùng ở chi dưới trong vòng 18 tháng; 58% NB sẽ bị cắt chi lại sau 3-5 năm sau lần cắt bỏ đầu tiên Ngoài ra, tỷ lệ tử vong 3 năm sau lần cắt bỏ đầu tiên đã được ước tính lên đến 20-50% Khoảng 15% NBĐTĐ có bệnh lý bàn chân, trên phạm vi toàn cầu cứ 30 giây lại có một ca liên quan đến bệnh lý bàn chân ĐTĐ phải cắt cụt chi [28]

Tại Australian(2014), Earl B.J đã nghiên cứu để xác định sự phổ biến của BCBC và tìm các yếu tố nguy cơ gây ra biến chứng này trên người bệnh đái tháo

Trang 24

đường Kết quả, tỷ lệ hiện có biến BCBClà 11,8%; 32,9% người bệnh có nhiều yếu

tố nguy cơ và 56,5% người bệnh có ít nhất một nhân tố nguy cơ BCBC[51]

Năm 2017, ở Ai Cập Goweda R và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 350 NB ĐTĐ Kết quả cho thấy: có 179NB(51,1%) có thời gian mắc bệnh ĐTĐ trên 10 năm; 35,1% NB có tiền sử LBC; 11,7% NB có tiền sử cắt cụt và 83,1%NB bị tê Tại thời điểm nghiên cứu có 25,7% NB bị LBC[54]

Tại Tây Ethiopia, nghiên cứu chéo của Mariam G.T và cộng sự (2017) trên

279 NB ĐTĐ thấy rằng đã có 13,6% người bệnh bịloét chân Từ kết quả trên cho thấy tỷ lệ loét bàn chân được phát hiện là cao cần đặc biệt quan tâm tới đối tượng

cư trú ở vùng nông thôn, giảm sự tăng cân thừa, quản lýbệnh thần kinhvà thúc đẩy việc tự chăm sóc bàn chânsẽ làm giảm loét chân đái tháo đường [66]

Nghiên cứu ở Pakistan của tác giả Shaikh I và cộng sự (2017)đã khẳng định rằng có mối tương quan đáng kể giữa vết loét ở gót chân với cắt cụt chân (p = 0,034) Với tỷ lệ là những người bị loét ở gót chân sẽ có nguy cơ bị cắt cụt chân cao hơn 3,609 lần so với những người bị loét ở ngón chân [80]

Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Thị Lâm đã thực hiện nghiên cứu tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương (2012) để xác định thực trạng loét bàn chân và sử dụng giày dép của 210 người bệnh đái tháo đườngngoại trú Kết quả: có đến 68 người bệnh loét bàn chân chiếm tỷ lệ 32,4% số lần nhập viện do loét bàn chân của đa số ĐTNC là 1 lầnchiếm 66,2%; nhập viện > 3 lần chiếm 11,8% Đa số người bệnh có 1 vết loét bàn chânchiếm 76,5%; 2 vết loét chiếm 13,2%; > 3 vết loét chiếm 8,3% Vị trí loét bàn chân gặp nhiều nhất là đầu ngón chân ở chân phải và trái là tương đương, tỷ lệ lần lượt là 44,7%và 40,5%; mu bàn chân phải chiếm 14,9%; mu bàn chân trái chiếm 23,8% Chủ yếu là loét bàn chân ở mức độ 1 chiếm 72,0% [25]

Nghiên cứu của Trần Đặng Đăng Khoa và cộng sự (2013)tại Khoa nội tim mạch - nội tiết Bệnh viên Trung ương đa khoa cần Thơ, trong 88NB ĐTĐ type 2 nhập viện thì có 22 người bệnh (25%) có loét bàn chân [22] Nghiên cứu mô tả có phân tích của tác giả Đặng Thị Hằng Thi (2012) tại Bệnh viện 19/8 Bộ Công an được thực hiện trên 347 NB ĐTĐ điều trị ngoại trú Cho kết quả: tỷ lệ đối tượng có

Trang 25

biến chứng là 69,7%; trong đó biến chứng bàn chânlà 14,7% Thời gian phát hiện biến chứng bàn chân dưới 5 năm và từ 5 năm trở lên là 3,5% và 11,2% [34].

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hằng (2014) tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, qua thăm khám bàn chân cho 110 người bệnh đái tháo đường điều trị ngoại trú thì thấy: 42,7% NB có tình trạng bàn chân dày sừng và chai chân; 0,9% NB có loét bàn chân; 5,5% NB có móng chân mọc quặp; 3,6% NB bàn chân có biến dạng cấu trú giải phẫu bình thường; 7,3% NB da khô bong vảy; 9,1% NBcó teo cơ; 16,4% NB có giảm phản xạ gân xương[17]

Qua nghiên cứu 46 người bệnh đái tháo đường có loét bàn chân điều trị tại Khoa nội tiết- Bệnh viện Bạch Mai trong thời gian 1 năm (12/2013 - 12/2014) của tác giả Đào Thanh Toan thấy rằng: các vị trí của vết loét trong nhóm nghiên cứu làngón chân, mu chân, gót chân và gan chân Trong đó tỷ lệ loét ở ngón chân là cao nhất chiếm 45,7% Mức độ tổn thương theo phân loại của Wagner -Meggitt có từđộ

1 đến độ 4, không có người bệnh tổn thương loét ở độ 5 Trong đó,người bệnh loét

độ 3 và 4 chiếm54,4% Trong nhóm người bệnh có mức độ nhiễm trùng nặng có 8/18 người bệnh loét có hoại tử chiếm gần 50% Người bệnh chỉ có tổn thương thần kinh chiếm nhiều nhất 54,3% Người bệnh có tổn thương mạch máu đơn độc chiếm 10,9% Có 30,5% tổn thương cả mạch máu và thần kinh Trong nhóm có tổn thương

cả thần kinh và mạch máu thì nhiễm trùng nặng chiếm tỷ lệ cao nhất 64,3% [37]

Nghiên cứu can thiệp giáo dục sức khỏeđã được Giang Xuân Thiện và cộng

sự thực hiện trong 2 năm (2014-2015) tại Bệnh việnhuyện Vị Thuỷ - tỉnh Hậu Giang với 500 người bệnh đã tham gia, tỷ lệ người bệnh đái tháo đường type 2 có BCBC chiếm 12%[35].Năm 2015, tại 2 phường Thới Thuận và Thuận An - quận Thốt Nốt - thành phố cần Thơ, tỷ lệ NB ĐTĐ cao tuổi có BCBC là 38,4% [26]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2016) tại Bệnh việnđa khoa tỉnh

Đà Nang, tỷ lệ người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú có biến chứng bàn chân là 19,7% trên tổng số 155 người bệnh tham gia nghiên cứu [16]

Trong các biến chứng liên quan đến bàn chân thì cắt cụt chi là gánh nặng nặng nề nhất Bàn chân đái tháo đường là nguyên nhân quan trọng khiến NB cần

Trang 26

phải nhập viện và cũng là lý do khiến người bệnh phải trải qua phẫu thuật cắt cụt chi Phần lớn các trường họp bị cắt cụt chi được phát triển từ một vết loét ở chân Mặc dù có nhiều tiến bộ trong phưong pháp phòng và điều trị nhưng vẫn có khoảng 10-15% người bệnh đái tháo đường phải cắt cụt chi trong suốt cuộc đòi họ [28].

Khi có biến chứng nhiễm trùng bàn chân thì tuổi thọ của người bệnh sẽ giảm

đi, nó chính là yếu tố làm tăng nguy cơ tử vong của người bệnh đái tháo đường Nghiên cứu của Walsh W.J và cộng sự (2015) chỉ ra rằng trong tổng số 414.523 người bệnh đái tháo đường thì có tới 20.737 người bệnh loét chân; 5% số người bị loét mới chết trong vòng 12 tháng đầu tiên khám loét bàn chân và 42,2% người bị loét chân chết trong vòng 5 năm [82]

Theo nghiên cứu của Rubio J.A và cộng sự ở Tây Ban Nha, ừong 8 năm (2008-2016) số người bệnh đái tháo đường đã tử vong là 136 người bệnh chiếm tỷ

lệ 36,5% trên tổng số 345 đối tượng nghiên cứu; trong đó 7,1% mẫu nghiên cứu tử vong là do các tổn thương ở chân [76] Tỷ lệ người bệnh còn sống trên 66.323 cựu chiến binh mắc đái tháo đườngtype 2 có biến chứng bàn chânsau thời gian nghiên cứu 1 năm, 2 năm và 5 năm lần lượt là 80,80%; 69,01% và 28,64% [47] v ấn đề điều trị cho người bệnh đái tháo đường có biến chứng loét bàn chân rất khó khăn, tốn kém tiền bạc lẫn công sức, bởi thời gian nằm viện dài, chi phí thuốc men đắt tiền và chi phí chăm sóc người bệnh[28]

Tại Australia, khoảng 10.000 người bệnh nhập viện doloét chân đái tháo đường và khoảng 4.300 ca phải cắt cụt bàn chân Chi phí cho hệ thống chăm sóc sức khỏe mỗi lần cắt cụt là 26.700 đô la Mỹ [42] Tại Anh, ước tính khoảng

580 triệu bảng Anh, trong đó chi phí cho chăm sóc biến chứng loét là 219 triệu bảng Anh, cho chăm sóc cắt cụt chân là 55 triệu bảng Anh [63]

Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Đào và cộng sự năm 2003 tại Bệnh viện Chợ Rầy thì chi phí trực tiếp khoảng 3,5triệu đồng/người bệnh loét chân không đoạn chi và 6,2 triệu đồng/loét chân và đoạn chi [14].Điều trị loét bàn chân ở người bệnhđái tháo đường cần có nhiều biện pháp phối họp để giảm thiểu nhiễm trùng, các vết loét tái phát, loét mới, cắt cụt chi và chi

Trang 27

phí điều trị tăng do các biến chứng sau này Người bệnhcàn phải được kiểm tra bàn chân hàng năm, những người có yếu tố nguy cơ đòi hỏi phải chăm sóc chân thường xuyên hơn và cần tăng cường giáo dục sức khỏe chongười bệnh Bàn chân người bệnhđái tháo đường nên được điều trị tích cực, chăm sóc phù họp để giảm loét, ngăn chặn loét tái phát và giảm tỷ lệ cắt cụt chi[77].

1.3 Tự chăm sóc bàn chânởngưòi bệnhđáỉ tháo đường

1.3.1 Khái niệm tự chăm sóc

Tự chăm sóc là một khái niệm đa chiều và có nhiều định nghĩa khác nhau Trong số các định nghĩa, định nghĩa của Orem là nhất quán hơn Orem lập luận rằng, tự chăm sóc là một hoạt động cá nhân để chăm sóc, duy trì sức khỏe của chính

họ và phòng ngừa biến chứng liên quan đến bệnh Điều này có thể được thực hiện thông qua việc quản lý và duy trì thực hiện lối sống lành mạnh trong các lĩnh vực của hoạt động thể chất, dinh dưỡng, sử dụng thuốc và kiểm soát bệnh Cùng với điều này, Orem mô tả tự chăm sóc là khả năng của mình để tự đánh giá, giám sát và đưa ra quyết định cho các tình huống trong cuộc sống của bản thân họ Tự chăm sóc

là một quá trình liên tục[39].Theo tổ chức Y tế Thế giới (1983) đã định nghĩa tự chăm sóc là các hoạt động cá nhân, gia đình và cộng đồng thực hiện để tăng cường sức khỏe, ngăn ngừa bệnh tật, hạn chế dịch bệnh và phục hồi sức khỏe

1.3.2 Tư chăm sóc bàn chân

Tự chăm sóc bàn chân bao gồm tự kiểm tra bàn chân hàng ngày; rửa chân hàng ngày bằng nước ấm, không sử dụng xà phòng thơm; kiểm tra nhiệt độ của nước, không kiểm tra nước bằng chân; lau khô chân, đặc biệt là phần kẽ ngón chân; dưỡng ẩm bàn chân bằng kem dưỡng ẩm nhưng không thoa kem vào kẽ ngón chân; cắt móng chân đúng cách; đi giày dép phù họp với bàn chân; kiểm tra giày dép trước khi đi; đi tất sạch sẽ, chất liệu mềm mại, kích thước phù họp với đôi chân; không đi chân trần cả trong nhà và ngoài nhà; không hút thuốc lá; tái khám định kì

để được khám bàn chân và tư vấn về cách chăm sóc bàn chân [4],[8],[44],[60]

1.3.3 Thực trạng về kiến thức và thực hành tự chăm sóc bàn châncủangưòi bệnhđáỉ tháo đường đã được nghiên cứu

Trang 28

I.3.3.I Một số nghiên cứu trên thế giới

Để tìm ra những khó khăn và thiếu sót của người bệnh về chăm sóc bàn chântrên thế giới đã có một số nghiên cứu về bàn chân của người bệnhđái tháo đường Một số nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến biến chứng bàn chân của NBĐTĐ là các yếu tố: tuổi, giới tính, nghề nghiệp, sống ở nông thôn,thời gian mắc bệnhđái tháo đường, sự hiện diện của bệnh kèm theo, có biến dạng chân, chấn thương, các bệnh lý thần kinh ngoại vi, bệnh mạch máu, các biến chứng vi mạch chẳng hạn như bệnh võng mạc, bệnh thận giai đoạn cuối, người hút thuốc, người thiếu kiến thức về tự chăm sóc và quản lý bàn chânđái tháo đường[49],[61],[77] Việc chăm sóc bàn châncủa NB ĐTĐphụ thuộc vào kiến thức

và nhận thức của người bệnh Nghiên cứu của Bijoy (2012); của Goweda Rvà cộng

sự (2017) đã chỉ ra rằng sự thiếu hụt về kiến thức và nhận thức tựCSBC của người đái tháo đườnglà một trong những lý do chính dẫn đến biến chứng bàn chân [46],[54]

Kết quả nghiên cứu của Deribe B (2014) cho thấy: có 45,83%NBkiến thức tốtCSBC; 55,1%NB thực hành tốtCSBCvà 44,4%NB có thái độ tốt CSBC[49] Và

nghiên cứu của Beiranvand s (2015) thấy rằng: CÓ5,7%NB kiến thức CSBCỞ mức tốt;

40,5% NB ở mức trung bình; 53,6% NB ở mức kém; có 30,4% NBthực hành CSBCỞ mức tốt; 26% NB ở mức trung bình; 43,47% NB ở mức kém[45]

Kiến thức,thực hành tự chăm sóc bàn chân cũng như kiến thức, thực hành của người bệnhđái tháo đường về tự chăm sóc chung đều không được tốt, mặc dù có thể thái độ của họ là tốt, điều đó thể hiện ở các kết quả tương đồng nhau ở nhiều đề tài nghiên cứu của các nước Nghiên cứu của tác giả HawalP.N(2013) thấy rằng phần lớn các câu trả lời liên quan đến kiến thức tự chăm sóc đái tháo đường là kém, điểm số kiến thức trung bình của ĐTNC là4,94 ± 1,45/15 điểm, điểm số thái độ là 3,29±1,15/10 điểm và điểm số thực hành trung bình là 3,54 ±l,59/5điểm[56]

Ở Malaysia(2014), phần lớn người bệnhđái tháo đường có BCBC đều có kiến thức kém về CSBC, với 58%NB có điểm trung vị là 10 số người bệnh có thực hành kém CSBC cao hơn, với 61,8%NB có điểm trung vị là 9 Việc sử dụng nước

Trang 29

ấm để tắm và ngâm chân (47,8%NB có kiến thứcđúng và 34,4% NB có thực hành đứng); kiểm tranhiệt độ nước (31,2% NB có kiến thứcđúng; 22,3% NB có thực hành đúng) và không bôi kem dưỡng da cho bàn chân (42,0% NB có kiến thứcđúng

và 42% NB có thực hành đúng); người bệnh đã có kiến thức tương đối về việc sử dụng tất với 52,9%, tuy nhiên thực tế chỉ có 40,8% người bệnh sử dụng tất[72]

Một số nghiên cứu cho thấy, có mối liên hệ mật thiết giữa kiến thức và thực hành của người bệnh đái tháo đườngvề cách chăm sóc bàn chân[70] Kiến thức và thực hành tốt vềCSBC sẽ làm giảm nguy cơ biến chứng ở bệnhđái tháo đường và tỷ

lệ cắt cụt chi [72] Những BCBC ĐTĐ có thể hạn chế bằng cách chăm sóc đúng GDSK là một biện pháp hiệu quả trong việc nâng cao được kiến thức và thực hành

tự CSBC của NB ĐTĐ, nó rất quan trọng trong việc phòng ngừacác vết loétvà có thể giảm từ 49-85% nguy cơ mắc các biến chứng về bàn chân mà ĐTĐ gây ra Nhưng trên thực tế, số NB được GDSK về CSBC vẫn còn thấp, việc GDSK cho NB còn chưa thường xuyên, chỉ có khoảng 41,4% được khám bàn chân; 43,l%được giáo dục về CSBC và 30% được nhận các tờ rơi hướng dẫn CSBC[62],[71],[74]

Lifeng Fan và cộng sự (2014)đã tiến hành can thiệp giáo dục sức khỏetrong thời gian 3 tháng cho 70 người bệnh đái tháo đườngtype 2 ở Canada Kết quả cho thấy: thay đổi kiến thức đã thay đổi được thực hành của người bệnh về cách tự chăm sóc bàn chân Cụ thể: ngâm chân bằng nước ấm đã tăng từ 39 NB (69,6%)lên

54 NB (96,4%); lau khô chân bằng khăn tăng từ 24 NB (42,9%)lên 54 NB (96,4%);

tự kiểm tra chân mỗi ngày 18 NB (32,l%)lên 50 NB (89,3%); cắt, tỉa móng chân thẳng từ 19 NB (33,9%) lên 55 NB (98,2%); đi giày phù hợp từ 34 NB (67,7%)tăng lên 56NB (100,0%); đeo tất lỏng từ 27 NB (48,2%)lên 54 NB (96,4%); đi giày với tất từ 30 NB (53,6%)lên 55 NB (98,2%); đi khám bác sỹ ngay khi bị đau chân, khi

có dấu hiệu bất thường ở chân từ 30 NB (53,6%)lên 56 NB (100,0%) Các kết quả này cung cấp bằng chứng sơ bộ cho thấy rằng có sự liên quan trong việc nâng cao kiến thức tự chăm sóc bàn chancua người bệnhvà thực hiện các thực hành tự chăm sóc bàn chântại thời điểm 3 tháng [53]

Trang 30

Năm 2015, nghiên cứu can thiệp GDSK của tác giả Mohamed H.A và cộng

sự đã được thực hiện trên 53 NB ĐTĐ cao tuổi điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trường Đại học Minia - Ai Cập trong thời gian 3 tháng Kết quả cho thấy: tất cả đối tượng tham gia nghiên cứu đều không có kiến thức về bệnh đái tháo đường nói chung và 94,3% NB có kiến thức không đày đủ về chăm sóc bàn chântrước khi can thiệp giáo dục sức khỏe.Đã có sự cải thiện kiến thức, thái độ và thực hành sau thực hiện chưong trình can thiệp.Kiến thức tốt về CSBC đã tăng từ 3 NB (5,7%) lên 36 NB(67,9%); không có kiến thức đã giảm từ 50 NB(94,3%) xuống còn 17 NB(32,1%) Thực hành đúng CSBC tăngtừ 27 NB(50,9) lên 46 NB (86,8%)[70]

Nghiên cứu can thiệp giáo dục sức khỏecó nhóm chứng ở Iran (2015) thấy rằng điểm trung bình chăm sóc bàn chân trước khi can thiệpcủa nhóm đối chứng (16,82 ± 9,75 điểm) cao hom đáng kể so với nhóm nghiên cứu (12,31 ± 7,49 điểm) Tuy nhiên sau can thiệp07 ngày, 01 tháng và 3 tháng, điểm trung bình của nhóm CTcao hom đáng kể so với nhóm chứng Điểm trung bình tại các thời điểm sau can thiệplần lượt là: nhóm CT: 32,28 ±5,10 điểm; 30,34 ± 5,80 điểm; 29,34 ± 6,29 điểm; nhóm chứng: 16,37 ± 9,72 điểm; 17,80 ± 8,15 điểm; 19,17 ± 8,69 điểm[65]

Sự tự tin của người bệnh có tác động rất lớn trong chăm sóc bàn chân Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001) trong điểm số của sự tự tin giữa nhóm CT(182,25 điểm) và nhóm chứng (93,56 điểm) Điểm kiến thức của nhóm CT: trước CT là 29,49± 2,4điểm và sau 3 tháng là 47,43± l,3điểm; của nhóm chứng:trước CTlà 29,49± 2,4điểmvà sau 3 tháng là 30,18±0,8điểm Có sự khác biệt đáng kể giữa các điểm sốchăm sóc loét trước và sau khi tập luyện (p = 0,001).Nhóm chứng: 65% NB có điểm CSBC kém trướccan thiệp nhưng sau 2 tháng can thiệp còn 62% NB Nhóm CT: 67%NB có điểm CSBCkém trước khi đào tạo và chỉ có 5% NB trong số họ có chăm sóc loét kémsau khi được giáo dục sức khỏe[43]

Năm 2017, Adarmouch L và cộng sự đã tiến hành can thiệp giáo dục sức khỏe cho 199 người bệnh tại Ma Rốc trong thòi gian 1 tháng Nhờ có can thiệp giáo dục sức khỏe mà người bệnhđã có sự cải thiện đáng kể về chăm sóc bàn chân, đã tăng từ 3,2 ± 2,8 ngày chăm sóc bàn chân lên 3,5 ± 2,9 ngày Và sau 1 tháng thì

Trang 31

tăng lên thành 5,9 ± 1,8 ngày[40].Và một nghiên cứu ở Trung Quốc và Philippin, chỉ ra rằng có 26% người bệnhđã được giáo dục về bệnh đái tháo đường; chỉ 18% đối tượng được chăm sóc bàn chânđúng đắn Trong số 330 người được hỏi, có 82,7%; 13,3% và 3,9% có kiến thức tốt, trung bình và kém; 22,4%; 71% và 6,6% có thực hành tốt, trung bình và kém Người bệnh được giáo dục về bệnh đái tháo đường có điểm số kiến thức tốt gấp đôi so với người không được giáo dục[52].

I.3.3.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Là (2011) cho thấy kiến thức, thái độ và hành vi tự chăm sóc bàn chân của người bệnh ở mức trung bình Với điểm trung bình lần lượt là 5,6 ±1,9 điểm; 6,5 ±1,8 điểm và 5,3 ±1,7 điểm (thang điểm 10): 41,5% NB có kiến thức đúng; 45,3% NB có thái độ đúng và 29,4% NB

có hành vi đúng Các thiếu hụt kiến thức, thái độvà hành vi của người bệnh trong nghiên cứu tồn tại chủ yếu ở: kiểm tra chân hàng ngày, đi bộ chân trần, kiểm tra bên trong giầy, ngâm chân vào nước nóng, và khám chân định kỳ.Nghiên cứu chỉ ra rằng người bệnh có kiến thức tự chăm sóc bàn chânđúng, thái độ tự chăm sóc bàn chânđúng thì có hành vi tự chăm sóc bàn chân đúng[23]

Nghiên cứu của tác giả Phùng Tiến Dũng và cộng sự (2011)trên 286 NB ĐTĐ type 2 tại Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên đã cho kết quả: điểm trung bình kiến thức CSBCđạt 17,92 ± 3,46 điểm/26 điểm; điểm trung bình thực hànhCSBCđạt 69,00 ± 1,31 điểm/120 điểm Kiến thức CSBC ở mức thấp có 49

NB (17,2%); mức trung bình có 176 NB (61,5%); mức tốt có 61 NB (21,3%) Thực hànhCSBC ở mức thấp có 7 NB (2,5%); mức trung bình 196 NB (68,5%); mức tốt

có 79 NB (27,6%); mức rất tốt có 4 NB (1,4%) Nghiên cứu chỉ ra rằng có sựảnh hưởng giữa các yếu tố (giới tính, thu nhập cá nhân, thời gian mắc bệnh ĐTĐ, kiến thức CSBC, hỗ trợ xã hội) với thực hànhCSBC; kiến thức CSBC và hỗ trợ xã hội có ảnh hưởng nhiều đến thực hànhCSBC Và cần phải giáo dục người bệnh về thực hànhchăm sóc bàn chân, cần quan tâm nhiều hơn về giới tính và thực hành chăm sóc bàn chân Hơn nữa, các thành viên trong gia đình, người thân cũng đóng góp vai trò quan trọng với người bệnhtrong quá trình chăm sóc bàn chân[12]

Trang 32

Một số nghiên cứu khác thì điểm kiến thức CSBC của NB ĐTĐ thì tốt nhưng thực hànhCSBC lại chưa cao Kết quả nghiên cứu của Đoàn Thị Phương (2014) cũng cho kết quả tương tự, kiến thức về phòng ngừa loét bàn chân ở mức caovới điểm trung bìnhđạt 23,08 ± 3,22 điểm/28 điểm Tuy nhiên, thực hành phòng chống LBC ở mức thấp, với điểm trung bình chỉ đạt 68,38 ± 11,93 điểm/112 điểm [50].

Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 110 NB ĐTĐ type 2 tại Bệnh viện Đại học

Y Hà Nội (2014) của tác giả Nguyễn Thị Hằng cho thấy: về kiến thức CSBC có 49,1% NB cho rằng không cần thiết phải kiểm tra chân hàng ngày; 49,1% NB xử lí sai trong trường họp có vấn đề bất thường bàn chân như bầm tím, chảy máu; 30,9% NB không biết cách xử lí đúng khi bị chai chân, hay loét bàn chân; 33,6% NB không biết

cần rửa sạch chân thường xuyên như thế nào về thực hànhCSBC: có 47,3% NB

không kiểm ừa chân hàng ngày; 61,8% NB thường xuyên ngâm rửa chân bằng nước ấm; 20,9% NB có sử dụng các vật dụng sắc, nhọn để cắt vào các kẽ móng chân; 27,3% NB không thử giày dép cho vừa trước khi mua; 95,5% NB chưa bao giờ tham khảo ý kiến bác sỹ chuyên khoa về việc mua giày dép nào cho phù họp [17]

Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Nguyễn Vũ Huyền Anh trên 171 người bệnh đái tháo đường type 2 đang điều trị ngoại trú tại Bệnh việnđa khoa tỉnh Điện Biên (2016)thấy rằng: có 56,1% người bệnh có kiến thức về chăm sóc cẩn thận bàn chân của mình đặc biệt là khi cắt móng; 77,8% người bệnh có kiến thức sử dụng loại tất mềm, có độ đàn hồi tốt, không được bó chặt chân và 67,3% người bệnh có kiến thức về cách tốt nhất để chăm sóc bàn chân[l]

Cần nâng cao khả năng tự CSBC thông qua việc nâng caokiến thức, thái độ cho người bệnh đái tháo đường và giáo dục sức khỏe là một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao khả năng tự chăm sóc của người bệnh, góp phần hạn chế các biến chứng nguy hiểm do bàn chân gây ra cho cộng đồng[23],[35]

Cụ thể là sau can thiệpGDSKkiến thức CSBC tăng từ 46,7% lên 86,7%; thực hành CSBCtăng từ 43,3% lên 98,3% [35] Sau 18 tháng can thiệpvà theo dõi thấy: kiến thức, thái độ, thực hành phòng LBC đái tháo đường của nhóm CTcao hơn nhóm không CT: biết khám chân mỗi ngày (chỉ số can thiệp=15,73%);sờ, xem lòng

Trang 33

bàn chân (chỉ số can thiệp=62,65%); không đi chân trần(chỉ số can thiệp=56,93%; kiểm tra nước nóng trước khi dùng (chỉ số can thiệp=32,07%) Tỷ lệ loét của nhóm

CT thấp hơn nhóm không CT(2,54% so với 6,68%); tỷ lệ vấn đề về chân của nhóm CTthấp hơn nhóm không CT(4,37% so với 13,48%)[32]

Từ một số nghiên cứu can thiệp giáo dục sức khỏe, thấy rằng vẫn còn có những hạn chế làm ảnh hưởng tới kết quả nghiên cứu và sự thay đổi kiến thức và thực hành của người bệnh đái tháo đường Như trạng thái tâm lý của người tham gia nghiên cứu có thế ảnh hưởng tới kết quả của nghiên cứu Thời gian theo dõi người bệnh sau khi can thiệp giáo dục sức khỏe ngắn nên rất khó để xác định tác động lâu dài củachương trĩnh [45] Hoặc do cỡ mẫu với quy mô nhỏ(n=40) nên không đại diện cho toàn bộ dân số mặc bệnh đái tháo đường Hay sự bất đồng về ngôn ngữ khi

sử dụng bộ công cụ thu thập số liệu và nội dung khi tiến hành can thiệp giáo dục sức khỏe chỉ được in và nói bằng tiếng Anh, không hướng dẫn thực hành trực tiếp cho người bệnh Điều này làm giới hạn việc đánh giá người bệnh cũng như làm sai

số kết quả nghiên cứu [64].Tư vấn giáo dục cho nhiều người bệnh/buổi, không thao tác mẫu các bước chăm sóc bàn chân cho người bệnh quan sát

Để khắc phục hạn chế của những nghiên cứu trước đó, chúng tôitiến hành nghiên cứu can thiệp trên cỡ mẫu là 100 người bệnh đái tháo đường type 2 Phối họp giữa tư vấn trực tiếp với thực hành mẫu bởi người nghiên cứu trên nhóm nhỏ Cho người bệnh thực hiện lại các bước chăm sóc bàn chân Người nghiên cứu nhận xét và chỉnh sửa lại những bước người bệnh thực hiện chưa đúng Và tại các thời điểm đánh giá ngay sau can thiệp và sau can thiệp 1 tháng, những nội dung kiến thức

và thực hành nào mà người bệnh nhận thức và thực hiện chưa đứng sẽ được người nghiên cứu nhắc lại Ngoài ra, tư vấn trực tiếp qua điện thoại khi người bệnh có yêu cầu Chứng tôi sử dụng bộ câu hỏi và nội dung giáo dục sức khỏe bằng tiếng Việt, không tiến hành điều tra và can thiệp ở những người bệnh không biết nói và đọc bằng tiếng Kinh Khi đánh giá đối tượng nghiên cứu, chúng tôi sử dụng bộ câu hỏisoạn sẵn và chỉ đánh giá 05 người bệnh/buổi sáng/ngày giúp buổi GDSK đạt

Trang 34

hiệu quả hơn đồng thời hạn chế tối đa ảnh hưởng tới trạng thái tâm lý của người bệnh.

1.4.Gỉáo dục sức khỏe

1.4.1 Khái niêm •

Giáo dục sức khỏe(GDSK) là quá trình tác động nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành của con người Phát triển những thực hành lành mạnh theo ý muốn, mang lại tình trạng sức khỏe tốt nhất có thể được cho con người Giáo dục sức khỏe cung cấp các kiến thức mới làm cho đối tượng được giáo dục hiểu biết rõ hơn các vấn đề sức khỏe bệnh tật, từ đó họ có thể nhận ra các vấn đề sức khỏe bệnh tật liên quan đến bản thân, gia đình, cộng đồng nơi họ đang sinh sống, dẫn đến thay đổi tích cực giải quyết các vấn đề bệnh tật sức khỏe

Có thể nhận thấy rằng định nghĩa này nhấn mạnh đến 3 lĩnh vực của giáo dục sức khỏe là:Kiến thức của con người về sức khỏe; thái độ của con người về sức khỏe; thực hành của con người về sức khỏe

Giáo dục sức khỏe không chỉ là cung cấp thông tin một chiều mà là quá trinh tác động qua lại hai chiều và họp tác giữa người giáo dục sức khỏevới đối tượng được giáo dục sức khỏe Biến quá trình giáo dục thành quá trình tự học, quá trình đó diễn ra thông qua sự nổ lực của người học (đối tượng được giáo dục sức khỏe) với

sự giúp đỡ, tạo ra hoàn cảnh thuận lợi của người dạy Người làm công tác giáo dục sức khỏekhông chỉ dạy cho học viên của mình mà còn học từ học viên của mình Thu nhận thông tin phản hồi là vấn đề hết sức quan trọng mà người làm công tác giáo dục sức khỏecần phải hết sức coi trọng, để kịp thời điều chỉnh bổ sung những thông tin thiếu sót làm cho các chương trình giáo dục sức khỏe thêm sinh động và thu hút sự quan tâm của cộng đồng

Giáo dục sức khỏekhông chỉ là cung cấp các thông tin chính xác, đầy đủ về sức khỏe bệnh tật mà còn nhấn mạnh đến các yếu tố khác ảnh hưởng đến thực hành sức khỏe con người như: nguồn lực hiện có, môi trường sống, ảnh hưởng môi trường lao động việc làm, yếu tố hổ trợ xã hội, kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe Vi thế giáo dục sức khỏe sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để giúp cho mọi người

Trang 35

hiểu được hoàn cảnh riêng của họ và chọn các hành động bảo vệ, tăng cường sức khỏe phù họp Cũng từ định nghĩa trên cho thấy,giáo dục sức khỏelà một quá trĩnh nên cần tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài bằng nhiều biện pháp khác nhau chứ không phải là một công việc có thể làm một lần là xong.Vì vậy, để thực hiện công tác giáo dục sức khỏe, chứng ta phải có sự đầu tư tài lực, vật lực, nhân lực thích đáng, hết sức kiên trì thì mới đem lại hiệu quả cao.

1.4.2 Mục tiêu giáo dục sức khỏe

Giáo dục sức khỏegóp phần thực hiện một trong những quyền của con người

là quyền được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Mục tiêu cơ bản của giáo dục sức khỏe

là giúp cho mọi ngườũXác định những vấn đề và nhu cầu sức khỏe của họ; hiểu rõ những điều họ có thể làm được để giải quyết những vấn đề sức khỏe, bảo vệ và tăng cường sức khỏe bằng khả năng của chính họ cũng như sự giúp đỡ từ bên ngoài; quyết định những hành động thích họp nhất để tăng cường cuộc sống khỏe mạnh

1.4.3 Tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe

Là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm làm thay đổi thực hành sức khỏe.Góp phần tạo ra, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người.Nếu giáo dục sức khỏeđạt kết quả tốt nó sẽ giúp làm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tàn phế và tỷ vong nhất là ở các nước đang phát triển Tăng cường hiệu quả các dịch vụ Y tế

1.4.4 Lợi ích của công tác giáo dục sức khỏe

Giáo dục sức khỏe dễ dàng lôi cuốn sự lưu ý của quàn chúng đối với các vấn

đề sức khỏe một cách mau chóng

Giáo dục sức khỏe có thể đưa ra các ý kiến về sức khỏe hết sức hữu hiệu.Giáo dục sức khỏe có thể kích thích quần chúng, tạo ra những đáp ứng tình cảm để người nghe-coi thay đổi nếp sống để có một sức khỏe tốt

Giáo dục sức khỏe có thể tác động lên dư luận, tạo ra các cơ hội để ữanh luận cách thức duy trì sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật qua phượng tiện liên lạc

Giáo dục sức khỏe có thể họp tác với các nhà chuyên môn để tổ chức các buổi gặp gỡ giữa quần chúng với nhau hoặc giữa các nhà chuyên môn với quần chúng để trao đổi kiến thức bảo vệ sức khỏe

Trang 36

Giúp cải thiện sợ gắn bó các quan hệ công cộng, giúp các tổ chức liên quan tới bảo vệ sức khỏe cùng sát cánh làm việc.

1.5 Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu

Phòng quản lý bệnh mạn tínhthuộc Khoa khám bệnh- Bệnh việnđa khoa tỉnh Tuyên Quang, chuyên khám ngoại trú người bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp Hiện tại, phòng quản lý khoảng lOOOngười bệnh đái tháo đường, chủ yếu là đái tháo đường type 2.Hàng tháng,người bệnh đái tháo đườngđến khám và lấy thuốc định kỳ ngoại trú tại phòng Đối với những người bệnh đái tháo đường có biến chứng hoặc phải điều trị nội trú thì thường điều trị tại Khoa Nội Tổng họp

Tại Phòng quản lý bệnh mạn tính, mỗi ngày có từ 60-70 người đến khám ngoại trú, ừong đó số người bệnh đái tháo đườngtype 2 khoảng 30 - 40 người và chủ yếu tập trung vào buổi sáng, đông nhất vào thứ 2 và thứ 6 hàng tuần, số lượng người bệnh đến khám đông, trong khi chỉ có 01 bác sỹ và 01 điều dưỡng làm việc tại phòng khám Cộng thêm là tình trạng quản lý người bệnh ĐTĐchưa được tốt, công tác khám và quản lý người bệnh vẫn còn nhiều bất cập, mất nhiều thời gian cho việc tìm hồ sơ bệnh án và viết đơn thuốc cho người bệnh.Nhân lực bác sỹ còn thiếu đôi khi bác sỹ ngồi phòng khám chỉ có trình độ là bác sỹ định hướng chuyên khoa Nội Phòng khám chưa có phòng tư vấn riêng cho người bệnh, chưa có tài liệu hướng dẫn cho người bệnh về cách tự chăm sóc bàn chân Nên công tác tư vấn của cán bộ y tế còn chưa đầy đủ về cách chăm sóc dự phòng biến chứng bàn chân, tất cả việc tư vấn cho người bệnh là do bác sỹ và điều dưỡng khám trực tiếp giải thích [5]

Hiện tại, Bệnh việnchưa có nhiều đề tài nghiên cứu về đái tháo đường, một

số đề tài hiện có chủ yếu là do bác sỹ thực hiện và tập trưng vào các vấn đề điều trị, quản lý chung đái tháo đường, chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về kiến thức và thực hànhtự chăm sóc bàn chân của người bệnh đái tháo đườngtype 2 Vì vậy chúng tôi chọn địa điểm nghiên cứu là Phòng quản lý bệnh mạn tính- Khoa khám bệnh - Bệnh việnđa khoa tỉnh Tuyên Quang với mong muốn có thể đánh giá một cách tổng quát nhất kiến thức và thực hành tự chăm sóc bàn chân từ đó tiến hành can thiệp giáo dục sức khỏenhằm tư vấn nâng cao kiến thức và thực hành tựchăm sóc bàn

Trang 37

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚƯ

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Người bệnh đang được điều trị ngoại trú đái tháo đường type 2 tại Phòng quản lý bệnh mạn tính(P.A 210) - Khoa khám bệnh - Bệnh việnđa khoa tỉnh Tuyên Quang

* Tiêu chuẩn lưa chon• •

- Người bệnh từ đủ 18 tuổi trở lên

- Người bệnh đái tháo đườngđược chẩn đoán và điều trị tại Phòng quản lý bệnh mạn tính ít nhất 01 tháng trở lên

- Người bệnh có khả năng tự chăm sóc

- Người bệnh có khả năng giao tiếp bình thường bằng tiếng Kinh

- Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu

* Tiêu chuẩn loai trừ

- Người bệnh đến khám ngoại trú có diễn biến nặng phải vào điều trị nội trú

- Người bệnh đã bị cắt cụt cả 2 chân

- Người bệnh không tham gia đủ các hoạt động can thiệp giáo dục và đánh giá

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian thu thập số liệu: từ tháng 01 năm 2018 đến tháng 03 năm 2018 -Địa điểm nghiên cứu: Phòng quản lý bệnh mạn tính(P.A 210) - Khoa khámbệnh - Bệnh việnđa khoatỉnh Tuyên Quang, phường Tân Hà - thành phố Tuyên Quang - tỉnh Tuyên Quang

chân giúp người bệnh đái tháo đườngphòng và hạn chế mắc phải biến chứng bàn chân.

Trang 38

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu can thiệpmột nhóm có so sánh trước - sau

Hình 2.3: Sơ đồ quy trình nghiên cứu

2.4 Mầu và phương pháp chọn mẫu

Trang 39

Trong đó:

■ n: Là số người bệnh đái tháo đường type 2 tham gia nghiên cứu

■ Zụ.a): Là giá trị z thu được từ bảng z tương ứng với giá trị a Với lực mẫu là

90% (P = 0,1); mức ý nghĩa 95% (a = 0,05); tương đương với Z(i_a) = 1,65 và

Z(1-P) = 1,29

■ P0: Là tỷ lệ người bệnh đái tháo đường type 2 có kiến thức tốt về chăm sóc

bàn chântrước can thiệp Theo nghiên cứu củaHasnain s và cộng sự(2009)

[55], tỷ lệ người bệnh có kiến thức tốt đạt 29,3% Do đó lấy Po = 0,3

■ pa: Là tỷ lệ người bệnh đái tháo đường type 2 có kiến thức tốt về chăm sóc bàn chânsau can thiệp Theo nghiên cứu của Nadia M.s (2012)[73] sau can thiệp giáo dục thì tỷ lệ người bệnh có kiến thức tốt tăng lên là 17,2% Ước

tính nghiên cứu của chúng tôi tăng lên 15%.Do đó Pa=0,3 + 0,15 = 0,45.

■ Thay vào công thức trên tính được n = 87

Để dự phòng mất đối tượng tham gia ở lần đánh giá sau 1 tháng, chúng tôi lấy thêm 15% cỡ mẫu.Do đó, cỡ mẫu thực tế là 100 người bệnh

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu thuận tiện: Lựa chọn người bệnh đái tháo đường type 2 đáp ứng các tiêu chuẩn chọn mẫu tại Phòng quản lý bệnh mạn tính-Khoa khám bệnh - Bệnh việnđa khoa tỉnh Tuyên Quangcho tới đủ 100 người bệnh

Người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú đến khám định kỳ hàng tháng và chủ yếu đến khám tập trung vào buổi sáng Để thuận tiện cho việc thu thập

số liệu, thực hiện can thiệp giáo dục sức khỏe theo nhóm đạt hiệu quả cao và hạn chế tối đa ảnh hưởng tới thời gian của người bệnh nhóm nghiên cứu tiến hành giáo dục sức khỏe và thu thập số liệu vào các buổi sáng

Mỗi buổi sáng (từ thứ 2 đến thứ7 hàng tuần), người nghiên cứu và 04 cộng tác viên có mặt tại Phòng quản lý bệnh mạn tính (P.A 210), chọn mẫu thuận tiện 05 người bệnh mắc bệnh đái tháo đường type 2 đến khám bệnh đầu tiên đủ các tiêu chuẩn chọn mẫu để thu thập số liệutrong khoảng thời gian người bệnh đợi kết quả

Trang 40

xét nghiệm, đợi bác sỹ kê đơn thuốc và chờ lĩnh thuốc Trường hợp người bệnh được chọn nằm trong đối tượng thuộc tiêu chuẩn loại trừ sẽ chọn người bệnh ở số thứ tự liền kề Tiến hành thu thập số liệu cho tới đủ 100 người bệnh thì dừng lại Sau can thiệp giáo dục sức khỏe 01 tháng, 100 đối tượng nghiên cứu đã được chọn trước đó sẽ được tiến hành thu thập số liệu ở giai đoạn (T3).

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Kỹ thuật thu thập số liệu

Việc tổ chức thu thập số liệu được thực hiện qua 3 giai đoạn sau:

* Giai đoạn 1: Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện công cụ.

- Xây dựng phiếu điều tra: Sau khi xin ý kiến, được sự đồng ý của tác giả Vũ Thị Là cho phép sử dụng và điều chỉnh bộ câu hỏi tác giả đã sử dụng trong nghiên cứu “kiến thức, thái độ và hành vi tự chăm sóc bàn chân của người bệnh đái tháo đường type 2 khám và điều trị tại Bệnh viện Chợ Ray năm 2011”[23] Và xin ý kiến của thầy hướng dẫn, của cácchuyên gia, chúng tôi tiến hành điều chỉnh, bổ sung các câu hỏi trong nghiên cứu cho phù họp với đối tượng, địa bàn nghiên cứu

- Thử nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứu: Sau khi phiếuđiều tra xây dựng xong được sử dụng điều tra thử trên 30 người bệnh đái tháo đường type 2 đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu (những người này không được chọn lại vào mẫu nghiên cứu)để xác định độ tin cậy, đồng thòi nhận phản hồi của đối tượng nghiên cứu Các câu hỏi được chỉnh sửa, bổ sung, hoàn chỉnh để phù họp vói đối tượng nghiên cứu, sau đó in ấn phục vụ cho tập huấn và điều tra

*Giai đoan 2: Tâp huấn cho điều tra viên về bô công cu thu thâp số liêu.

- Đối tượng tập huấn: 04cộng tác viên là học sinh lớp Y sỹ 25 (học Y sỹ năm thứ 2) - Trường Trung cấp Y tế Tuyên Quang

- Nội dung tập huấn: mục đích của cuộc điều tra, nội dung các câu hỏi, kỹ năng tiếp xúc với người bệnh, kỹ năng khai thác hồ sơ bệnh án, kỹ năng phỏng vấn

- Thời gian, địa điểm: 01 ngày tại Phòng quản lý bệnh mạn tính 1 (P.A 212) - Khoa khám bệnh - Bệnh việnđa khoa tỉnh Tuyên Quang

-Người tập huấn: trưởng nhóm nghiên cứu (người nghiên cứu)

Ngày đăng: 04/03/2021, 14:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w