1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường ở việt nam hiện nay

268 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 268
Dung lượng 5,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế đã chỉ rõ, chi tiêu công của Chính phủ để cung cấp những hàng hóa công cộng, giải quyết thất bại thị trường và các vấn đề xã hội, hướng tới đạt được những mục tiêu phát triển kin

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

ĐINH QUỐC THẮNG

PHÚC LỢI Y TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

ĐINH QUỐC THẮNG

PHÚC LỢI Y TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ CHÍNH TRỊ

MÃ SỐ: 62 31 01 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS NGUYỄN DUY DŨNG

2 PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG BẰNG

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực, những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công

bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả

Đinh Quốc Thắng

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM Đ O A N i

MỤC L Ụ C ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT T Ắ T vi

DANH MỤC BẢNG B IỂ U vii

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ T H Ị viii

MỞ Đ Ầ U 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của luận á n 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận á n 5

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp mới và ý nghĩa của luận án 7

6 Kết cấu của luận á n 7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHÚC LỢI Y TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 8

1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan tới phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường 8

1.1.1 Những nghiên cứu về nền kinh tế thị trường 8

1.1.2 Những nghiên cứu về phúc lợi xã hội 14

1.1.3 Các quan điểm về phúc lợi y tế 19

1.2 Những gợi mở cho nghiên cứu về phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt N a m 22

1.3 Kết luận chương 1 24

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÚC LỢI Y t ế t r o n g n ề n k i n h t ế t h ị T R Ư Ờ N G 25

2.1 Phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trư ờ n g 25

2.1.1 Những quan điểm cơ b ả n 25

2.1.2 Đặc điểm của phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường 35

2.1.3 Vai trò của phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trư ờ n g 37

Trang 5

2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phúc lợi y t ế 39

2.1.5 Nguyên tắc và phương thức phân bổ phúc lợi y t ế 42

2.1.6 Nội dung phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường 45

2.1.7 Tiêu chí đánh giá phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường 48

2.1.8 Điều kiện đảm bảo thực hiện phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường 60

2.2 Phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường ở một số nước trên thế giới 61

2.2.1 Phúc lợi y tế của Trung Q u ố c 62

2.2.2 Phúc lợi y tế của Nhật B ả n 67

2.2.3 Phúc lợi y tế của của các nước Bắc  u 70

2.2.4 Bài học kinh nghiệm đối với Việt N am 73

2.3 Kết luận chương 2 80

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÚC LỢI Y TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT N A M 81

3.1 Đặc điểm của phúc lợi y tế ở Việt N am 81

3.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến phúc lợi y tế ở Việt N a m 83

3.2.1 Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất n ư ớ c 83

3.2.2 Trình độ phát triển của ngành y t ế 85

3.2.3 Những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phúc lợi y tế 85

3.2.4 Điều kiện tự nhiên 88

3.2.5 Hội nhập quốc t ế 90

3.3 Thực trạng về phúc lợi y tế ở Việt N a m 90

3.3.1 Phúc lợi y tế dành cho những người có hoàn cảnh đặc b iệ t 90

3.3.2 Phúc lợi y tế cộng đ ồ n g 92

3.4 Đánh giá về phúc lợi y tế ở Việt Nam 94

3.4.1 Số lượng phúc lợi y tế 94

3.4.2 Chất lượng phúc lợi y t ế 104

dịch vụ y tế phúc l ợ i 107

trong phúc lợi y t ế 108

3.4.3 Vấn đề giá cả khi thực hiện phúc lợi y t ế 109

Trang 6

3.4.4 Phương thức thực hiện phúc lợi y tế 114

3.4.5 Mối quan hệ giữa phúc lợi y tế và đối tượng được h ư ở n g 123

3.5 Nhận xét chung về phúc lợi y tế ở Việt Nam hiện n a y 125

3.5.1 Kết quả của chính sách phúc lợi y tế ở Việt N a m 125

3.5.2 Hạn chế của phúc lợi y tế ở Việt N am 126

3.5.3 Nguyên nhân của hạn c h ế 130

3.6 Kết luận chương 3 134

CHƯƠNG 4: CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN PHÚC LỢI Y t ế v i ệ t NAM TRONG THỜI GIAN T Ớ I 135

4.1 Bối cảnh mới và những yêu cầu đặt ra đối với phát triển phúc lợi y tế Việt Nam 135 4.1.1 Bối cảnh quốc t ế 135

4.1.2 Bối cảnh trong nước 138

4.1.3 Yêu cầu mới đối với sự phát triển phúc lợi y tế Việt Nam trong bối cảnh hiện nay 141

4.1.4 Phương hướng, nhiệm vụ của ngành y tế Việt Nam trong giai đoạn 2011 -2 0 -2 0 14-2

4.1.3.2 Các nhiệm vụ trọng tâm của ngành y tế trong thời gian t ớ i 145

4.2 Các quan điểm về phúc lợi y tế ở Việt Nam hiện n a y 147

4.2.1 Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định ở mức cao đi đôi với với việc mở rộng, tăng cường chất lượng phúc lợi y t ế 147

4.2.2 Đa dạng hóa và kết hợp các lợi ích phúc lợi y tế 148

4.2.3 Nâng cao hiệu quả của quản lý của Nhà nước đối với phúc lợi y t ế 148

4.2.4 Hội nhập quốc tế nhằm phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội và phúc lợi y t ế 149

4.3 Các giải pháp phát triển phúc lợi y tế tại Việt Nam trong thời gian tới 149

4.3.1 Nhóm giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực đảm bảo cho các hoạt động phúc lợi y t ế 149

4.3.2 Nhóm giải pháp nhằm tăng cường tài chính y tế dành cho các hoạt động phúc lợi y t ế 155

Trang 7

4.3.3 Nhóm giải pháp nhằm phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho các dịch vụ phúc

lợi y t ế 161

4.3.4 Nhóm giải pháp nhằm phát triển thông tin hỗ trợ phúc lợi y t ế 166

4.3.5 Nhóm giải pháp nhằm tăng cường cung cấp dịch vụ y tế cộng đồng 169

4.3.6 Nhóm giải pháp nhằm phát triển BHYT hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc b iệt 175

4.4 Kết luận chương 4 178

KẾT L U Ậ N 179

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG B Ố 181

TÀI LIỆU THAM K H Ả O 182

PHỤ L Ụ C 194

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Danh mục chữ viết tắt Tiếng Anh

ADB Asian Development Bank

AIDS

Acquired Immune Deficiency

Syndrome

GPP Good Pharmacy Practices

GSP Good Storage Practices

HIV human immunodeficiency virus

JAHR Joint Annual Health Report

MDG Millennium Development Goals

ODA Official Development Assistance

USD United States Dollar

WHO World Health Organization

Ngân hàng phát triển châu ÁHội chứng suy giảm miễn dịchThực hành tốt nhà thuốc Thực hành tốt bảo quản thuốc

Vi rút gây suy giảm miễn dịch Báo cáo chung tổng quan ngành y tế Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Viện trợ phát triển chính thức Đô-la Mỹ

Tổ chức Y tế thế giới

Danh mục chữ viết tắt tiếng Việt

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Tài chính y tế của Nhật Bản năm 2010 68Bảng 2.2: Dự báo chi tiêu cho sức khỏe công cộng và chăm sóc sức khỏe lâu dài ở Bắc

Âu, 2005 - 2050 trong G D P 71Bảng 3.1: Các mô hình thực hiện phúc lợi y tế của Việt N am 86Bảng 3.2: Kinh phí phân bổ từ NSNN, giá trị thẻ và số chi cho khám chữa bệnh cho

người nghèo và cận nghèo, 2003-2012 95Bảng 3.3: Tình hình tham gia BHYT của người nghèo và một số nhóm đối tượng khó

khăn năm 20 1 1 96Bảng 3.4: Mức chi cho y tế từ tiền túi của hộ gia đình trung bình/hộ/tháng (theo giá

hiện hành và giá so sánh năm 2010), 2002~2010 111Bảng 3.5: Thực trạng chi phí y tế thảm họa và nghèo hóa do chi phí y tế tại Việt Nam,

2002-2010 112Bảng 3.6: Tỷ lệ chi phí thảm họa theo một số đặc tính của hộ gia đình giai đoạn 2002­

2010 113

Trang 10

2001 - 2 0 0 7 1003.2: Tỷ lệ ngân sách nhà nước chi cho y tế dự phòng giai đoạn 1998 - 2007 1013.3: Tổng chi NSNN cho y tế so với G D P 1013.4: Tỷ trọng chi thường xuyên cho y tế từ NSNN so với tổng chi thường xuyênNSNN và so với GDP, 2008-2013 1023.5: Tỷ lệ chi sự nghiệp y tế trong NSNN giai đoạn 2005 - 2011 1033.6: Tốc độ tăng chi NSNN cho y tế so với tốc độ tăng chi NSNN theo giá sosánh, 2 0 0 4 -2 0 1 2 1033.7: Đánh giá của người dân về chất lượng cơ sở hạ tầng cung c ấ p 1073.8: Đánh giá của người dân về chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh trong phúclợi y tế 1073.9: Đánh giá của người dân về thái độ của cán bộ y tế trong phúc lợi y t ế 1073.10: Đánh giá của người dân về khả năng tiếp cận các dịch vụ trong phúc lợi y

tế 1083.11: Đánh giá chung của người dân về chất lượng các dịch v ụ 1083.12: Tỷ lệ chi phí từ tiền túi của hộ gia đình trong tổng chi cho y tế tại một sốquốc gia châu Á năm 2011 1103.13: Tỷ lệ chi phí thảm họa và nghèo hóa do chi phí y tế tại một số quốc giachâu Á giai đoạn 2007 - 2 0 0 9 1123.14: Số người tham gia BHYT theo nguồn đóng giai đoạn 2008 - 2011 .122

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Bệnh tật là một rủi ro của con người mà trong cuộc đời không ai tránh được

Bệnh tật ảnh hưởng đến sức khỏe người dân, làm suy giảm sức sản xuất của nền kinh

tế và thậm chí trở thành những vấn đề của xã hội Ngành y tế ra đời để giải quyết vấn

đề đó Sự phát triển của ngành y tế thể hiện sự phát triển của một quốc gia bao gồm sự

phát triển kinh tế - xã hội và mức sống người dân

Cơ chế thị trường với hoạt động của cung - cầu để xác định mức giá và số lượng

dịch vụ đã nhanh chóng thể hiện sự bất cập trong lĩnh vực y tế Vốn đầu tư cho hệ thống

cơ sở hạ tầng kỹ thuật và nguồn nhân lực lớn làm chi phí bệnh viện bị đẩy cao, khiến giá

cả cho các dịch vụ y tế cũng cao Điều này khiến cho rất nhiều người dân với thu nhập

thấp sẽ khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh Bên cạnh đó, luôn tồn tại

hiện tượng độc quyền, sự phân bố không đều của các cơ sở y tế khiến cho ngành y tế

không thể hiện hết vai trò của mình trong việc đảm bảo nguồn nhân lực cho nền kinh tế

Chính vì vậy, chính phủ buộc phải can thiệp vào lĩnh vực này

Thực tế đã chỉ rõ, chi tiêu công của Chính phủ để cung cấp những hàng hóa

công cộng, giải quyết thất bại thị trường và các vấn đề xã hội, hướng tới đạt được

những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hình thành hệ thống phúc lợi xã hội Trong

đó, phúc lợi y tế luôn được coi là nhiệm vụ trọng tâm của nhà nước Điều này cho thấy

tầm quan trọng của việc chăm lo phát triển chất lượng nguồn lực xét ở khía cạnh sức

khoẻ của người lao động và của cả xã hội đòi hỏi phải phát triển y tế phục vụ cho cộng

đồng Phúc lợi y tế mà nòng cốt là của nhà nước được coi như là cái lưới an toànkhông chỉ cho chính những người cần chăm sóc, điều trị bệnh tật mà còn cho cả sức

khoẻ của cả xã hội bất luận đó là quốc gia phát triển hay kém phát triển Với các nước

đang phát triển điều này càng có ý nghĩa đặc biệt khi mà thu nhập của người dân còn

thấp, sự phân hoá giàu nghèo ngày một tăng, khó khăn ngày càng nhiều khi mà bệnh

tật gia tăng và chất lượng sức khỏe ngày càng k é m thì sự hỗ trợ của nhà nước thông

qua phúc lợi y tế là điều không thể thiếu được Phúc lợi y tế làm giảm chi phí khám

chữa bệnh mà người dân phải chịu, phổ cập y tế tới từng người dân thông qua những

hỗ trợ về phát triển nguồn lực cán bộ y tế, đầu tư trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, phát

Trang 12

triển dịch vụ khám chữa bệnh, mở rộng hệ thống cơ sở và thúc đẩy mạng lưới thông

tin y tế

Hệ thống phúc lợi y tế được xây dựng và thực hiện ở mỗi quốc gia khác nhautùy theo đặc điểm, hoàn cảnh kinh tế - xã hội đất nước Tại Việt Nam trong thời kỳ

bao cấp, phúc lợi y tế mặc dù vẫn còn nhiều bất cập, nhưng đã đóng góp khá tích cực

vào việc xây dựng và vận hành tương đối hiệu quả hoạt động của hệ thống y tế nước

nhà Cụ thể: Ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - Chính phủ do Chủ

tịch Hồ Chí Minh đứng đầu - đã ban hành hàng loạt văn bản pháp lý về đảm bảo quyền

lợi vật chất và bảo vệ sức khỏe cho người lao động Ngày 9/11/1946 Hiến Pháp đầu

tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quy định: “Nhà nước phải chăm sóc

những người già hoặc bị mất khả năng lao động vì tai nạn hay ốm đau” ; Sắc lệnh về

Lao động của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 12/3/1947, Sắc lệnh

số 76 ngày 20/5/1950 về ban hành quy chế công chức, Sắc lệnh số 77 ngày 22/5/1950

về ban hành quy chế công nhân, ngoài những quy định về lao động đã có những quy

định về chế độ ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động Mặc dù trong hoàn cảnh đất nước

có chiến tranh, song Việt Nam đã tổ chức được hệ thống y tế khá tốt, đóng góp công

sức vào việc bảo vệ chăm sóc sức khoẻ toàn dân và góp phần thực hiện thành công hai

nhiệm vụ chiến lược của đất nước Ngay sau khi đất nước thống nhất, dù còn vô vàn

khó khăn, song chủ trương nâng cao mức sống cho nhân dân, trong đó đảm bảo hoạt

động phúc lợi y tế đã được Đảng và Chính phủ ta hết sức coi trọng Điều này được thể

hiện rất rõ trong các văn bản pháp luật, các nghị quyết, các chương trình y tế và biệnpháp tổ chức hoạt động y tế và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân

Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu

bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Qua gần 30 năm đổi mới

chúng ta đã đạt được rất nhiều thành tựu về mọi mặt, nhất là phát triển kinh tế đất

nước Đồng thời, các lĩnh vực đảm bảo xã hội cũng được coi trọng và Việt Nam đã trở

thành một trong những quốc gia được đánh giá cao về xoá đói giảm nghèo và chăm

sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân Mục tiêu tổng quát trong lĩnh vực này đã được chỉ rõ:

Giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ, phấn đấu đến năm 2020 đảm bảo

nhu cầu ngày càng cao của mọi tầng lớp nhân dân ta đạt mức trung bình của các nước

trong khu vực Để hiện thực hoá những nội dung trên nhiều nghị quyết, chỉ thị quan

Trang 13

trọng đã được ban hành như: Nghị quyết 46 của Bộ Chính trị, Nghị Định 63 về chương

trình bảo hiểm y tế tự nguyện, Quyết định 139 về việc thành lập quỹ khám chữa bệnh

cho người nghèo Đồng thời, nhà nước cùng với các thành phần kinh tế, cộng đồng

và sự hỗ trợ của bên ngoài đã tập trung mọi nỗ lực, đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất,

nhân lực nhằm xây dựng mạng lưới y tế, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho

nhân dân Nhờ vậy, thời gian qua tiến bộ đạt được trong chăm sóc sức khỏe ban đầu

của Việt Nam là rất ấn tượng Theo điều tra nhân khẩu và y tế Việt Nam năm 2012: Tỷ

lệ tử vong ở trẻ sơ sinh đã giảm xuống còn 15,4/1000 ca sinh so với 18/1000 ca sinh

vào năm 2002, tỷ lệ tử vong của trẻ dưới 5 tuổi đã giảm từ 58/1000 vào năm 1990xuống còn 23,2/1000 trẻ vào năm 2012 Việt Nam cũng đã đạt kết quả tốt trong lĩnh

vực chống suy dinh dưỡng trẻ em và các bệnh truyền nhiễm, tình hình chống bệnh sốt

rét có nhiều tiến bộ, việc chẩn đoán và điều trị một tỷ lệ lớn các ca lao phổi mới cũng

đạt nhiều thành công, chương trình phòng chống lao đã bao phủ 100% lãnh thổ, Việt

Nam đã thực hiện chính sách hỗ trợ để chữa bệnh cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi

và các đối tượng chính sách xã hội Những thành tựu đáng khích lệ trên là kết quả

của những nỗ lực chung của xã hội, trong đó có vai trò quan trọng của phúc lợi y tế-

với tư cách là “bà đỡ” và cái lưới an toàn không thể thiếu trong lĩnh vực chăm sóc sức

khỏe không chỉ đối với các đối tượng không có cơ may, bị tổn thương mà còn cho

chính toàn bộ người dân

Nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay có các thành

phần kinh tế cùng tồn tại, đan xen, hợp tác với nhau đã làm cho các mối quan hệ trở nên

đa dạng và phức tạp hơn Cơ chế thị trường đã tác động mạnh mẽ đến các lĩnh vực của

đời sống xã hội, tác động đến phúc lợi xã hội và phúc lợi y tế Suy rộng hơn phúc lợi xã

hội nói chung, phúc lợi y tế nói riêng chính là một nội dung quan trọng trong việc giải

quyết mối quan hệ giữa sản xuất, phân phối, giữa lợi ích của các nhóm xã hội, vai trò

của nhà nước với các thành phần kinh tế, giữa tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công

bằng xã hội Rõ ràng, trong điều kiện mới duy trì mô hình phúc lợi xã hội trong đó có

phúc lợi y tế theo kiểu tập trung, bao cấp sẽ không còn phù hợp với sự biến đổi của tình

hình kinh tế xã hội Việt Nam Hơn thế nữa, bản thân hoạt động y tế đã có nhiều thay đổi

khá căn bản: từ cơ cấu bệnh tật, nhu cầu chữa trị cho đến kinh phí, cơ sở vật chất và

nhất là hệ thống tổ chức y tế với sự tham gia của các chủ thể, các thành phần kinh tế

Trang 14

khác nhau Vậy, kinh tế thị trường tác động như thế nào đối với vấn đề chăm sóc sức

khoẻ của toàn xã hội và với tổ chức hệ thống y tế? Mặt tích cực và tiêu cực của tình hình

đã diễn ra như thế nào? hoạt động y tế sẽ phải chuyển đổi thế nào cho phù hợp với điều

kiện mới nhằm đảm bảo mục tiêu: không chỉ chăm sóc điều trị có hiệu quả cho người

bệnh mà còn góp phần nâng cao sức khoẻ toàn dân và suy rộng hơn là đảm bảo chất

lượng nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Lĩnh vực y

tế nói chung, phúc lợi y tế nói riêng sẽ vận hành ra sao để không chỉ hỗ trợ cho những

người không có cơ may mà thực sự phải là cái lưới an toàn cho xã hội, cho cộng đồng

Câu hỏi đặt ra hiện nay là: Hệ thống phúc lợi y tế của trong nền kinh tế thị trường ở Việt

Nam hiện nay như thế nào? Đây là những nội dung rất phức tạp đòi hỏi cần phải được

giải đáp đầy đủ không chỉ về cơ sở lý luận mà còn cả thực tế, nhất là ở Việt Nam

Dù rằng, ở nhiều cách tiếp cận, mức độ và khía cạnh bàn luận khác nhau, những

nội dung trên đã được đề cập trong một số công trình được công bố ở nước ta Song,

thực tế cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào bàn luận một cách đầy đủ các vấn

đề nêu trên, đặc biệt dưới góc độ kinh tế chính trị học Đây là một khoảng trống trong

nghiên cứu về phúc lợi xã hội nói chung và phúc lợi y tế nói riêng ở Việt Nam, đòi hỏi

cần phải đầu tư nghiên cứu sâu rộng hơn về nội dung này

Hơn thế nữa, đảm bảo ngày càng tốt hơn cho an sinh và phúc lợi xã hội là một

trong những nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020

Trong đó phúc lợi y tế được coi là một trong những lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng và

là một chức năng và nhiệm vụ của nhà nước và là quyền lợi, trách nhiệm của toàn xã

hội Việc khẩn trương hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các cơ chế chính sách nhằm

phát triển hệ thống y tế và các chế độ bảo hiểm (nhất là bảo hiểm y tế) đòi hỏi phải

nghiên cứu một cách đầy đủ đồng bộ và đảm bảo tính linh hoạt, bền vững, hỗ trợ lẫn

nhau, đặc biệt với các đối tượng dễ bị tổn thương Trên cơ sở đó đề ra các giải pháphữu hiệu và phù hợp với điều kiện Việt Nam và tiếp cận với thông lệ quốc tế đang đặt

ra nhiều vấn đề cần bàn luận Do vậy, tác giả chọn: “Phúc lợi y tế trong nền kinh tế

th ị trường ở Việt Nam hiện nay” làm nội dung nghiên cứu của luận án tiến sỹ chuyên

ngành Kinh tế chính trị, nhằm góp phần làm sáng tỏ một số khía cạnh lý luận và thực

tiễn của vấn đề trên của nước ta hiện nay và trong thời gian tới

Trang 15

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của luận án

2.1 M ục tiêu nghiên cứu

Hoàn thiện hệ thống phúc lợi y tế tại Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới

2.2 N hiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên luận án sẽ tập trung thực hiện các nhiệm vụ nghiên

cứu sau :

• Giải quyết vấn đề khoa học: Xây dựng khung khổ lý thuyết cơ bản về phúc lợi y

tế Khảo cứu những kinh nghiệm thực hiện phúc lợi xã hội và phúc lợi y tế ởmột số nước

• Giải quyết vấn đề thực tiễn: Phân tích, đánh giá thực trạng về phúc lợi y tế ở

Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng và giải pháp nhằm góp

phần tăng cường hiệu quả hoạt động phúc lợi y tế của Việt Nam, đảm bảo mục

tiêu tăng trưởng và công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng

XHCN ở nước ta hiện nay và trong thời gian tới

• Câu hỏi nghiên cứu của luận án: Phúc lợi y tế đang diễn ra ở Việt Nam như thế

nào? Việt Nam cần làm gì để phúc lợi y tế phát huy được hiệu quả cao nhất?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

• Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị

trường ở Việt Nam

• v ề thời gian: Các vấn đề phúc lợi y tế Việt Nam từ 2000 đến 2013.

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận khoa học: Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện

chứng, duy vật lịch sử Sử dụng phương pháp tiếp cận vấn đề kinh tế chính trị bắt đầu

từ quan điểm phúc lợi xã hội, xem xét các mô hình phúc lợi xã hội, coi phúc lợi y tế là

một thành tố cấu thành phúc lợi xã hội và xây dựng hệ thống lý thuyết về phúc lợi y tế

- Luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp thống kê,tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích số liệu để làm rõ thực trạng của

hệ thống phúc lợi y tế tại Việt Nam Từ đó, đánh giá, tìm ra hạn chế của hệ thống để

đưa ra những giải pháp giải quyết vấn đề phù hợp

Dữ liệu sử dụng trong luận án gồm: dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp

Trang 16

* Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp:

Để thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp có hiệu quả, tác giả tiến hành quy trình

gồm các bước:

- Bước 1 : Xác định các thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu về phúc lợi y tế

ở Việt Nam và các nước

- Bước 2: Tìm hiểu các nguồn dữ liệu:

Trong nghiên cứu, tác giả thu thập dữ liệu từ các nguồn dữ liệu bên ngoài như

các nghiên cứu đã được công bố, các bài báo, tạp chí, số liệu thống kê của các cơ quan

chức năng

- Bước 3: Tiến hành thu thập thông tin

Tác giả thu thập và tiến hành thống kê lại các thông tin thu thập để từ đó đưa ra

các phân tích trong luận án

- Bước 4: Đánh giá các dữ liệu thu thập

Đây là bước lựa chọn ra những giá trị cần thiết nhất cho quá trình nghiên cứu,

loại bỏ những không tin không có giá trị đã được thu thập ở bước 3

- Bước 5: Phân tích các dữ liệu đã thu thập được:

Sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp các dữ liệu cần thiết; phương phápphân tích để phân tích những dữ liệu đã có và phương pháp đánh giá để tổng kết rút ra

những kết luận trong quá trình phân tích dữ liệu

* Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu sơ cấp:

Thực hiện phương pháp điều tra, khai thác số liệu, sử dụng bảng hỏi để lấy

thông tin ở một số địa bàn khảo sát Với tư cách người tham gia đề tài cấp nhà nước

KX02/13/11-15 “Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở các nước Đông Nam

Á - kinh nghiệm cho Việt Nam trong tham gia xây dựng cộng đồng”, do PGS.TS

Nguyễn Duy Dũng làm chủ nhiệm, Nghiên cứu sinh đã sử dụng một số kết quả khảo

sát điều tra cho luận án

Thời gian điều tra: từ tháng 10/2013 đến tháng 11/2014.

Trang 17

Địa điểm điều tra: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ,

Bình Dương và các địa phương xung quanh những tỉnh thành này

Cách thức điều tra: điều tra viên sẽ liên hệ và trực tiếp tới phỏng vấn sâu những

đối tượng điều tra , câu trả lời sẽ được xác định trên mỗi bảng hỏi theo phương pháp

điều tra xã hội học và sau đó được nhập liệu theo quy định thống kế học vào phần mềm

thống kê

Đối tượng điều tra: các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp, đoàn thể

và những người đã sử dụng các dịch vụ y tế tại các địa phương

Số lượng mẫu nghiên cứu: 1500 mẫu.

Các số liệu sau khi thu thập được, xử lý qua phần mềm thống kê SPSS 16.0

5 Đóng góp mới và ý nghĩa của luận án

- Luận án làm rõ một số nội dung lý luận liên quan đến phúc lợi và xây dựng

khung lý thuyết về phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

nhằm chỉ ra vai trò và mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phân phối và phát triển

con người

- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hoạt động phúc lợi y tế nhằm góp phần

giải quyết tốt chủ trương đảm bảo tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nước ta

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị

trường

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường

Chương 3: Thực trạng phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

hiện nay

Chương 4: Quan điểm, định hướng, giải pháp về phát triển phúc lợi y tế trong

nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHÚC LỢI Y TÉ TRONG

NỀN KINH TÉ THỊ TRƯỜNG

1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan tới phúc lợi y tế trong nền kinh tế

thị trường.

Nghiên cứu phúc lợi nói chung, phúc lợi y tế nói riêng là chủ đề thu hút sự quan

tâm của các nhà nghiên cứu, các học giả trong và ngoài nước Trên thực tế đã có khá

nhiều đề tài, nhiều công trình công bố đã làm rõ các vấn đề này cả ở khía cạnh lý luận

và thực tiễn Sau đây luận án sẽ tổng quan các nội dung kết quả chính của các nghiên

cứu mà Nghiên cứu sinh đã tham khảo

1.1.1 N hữ n g nghiên cứu về nền kinh tế th ị trường

Ở các khía cạnh khác nhau, nền kinh tế thị trường đã được các nhà nghiên cứu

kinh tế bàn luận ở những thời kỳ khác nhau của nền kinh tế thế giới Điển hình là các

tác phầm của các nhà kinh điển Mác, Ănghen, Lê N in , các nhà kinh tế của các

nước Trong Bộ “Tư Bản” của C.Mác, nền kinh tế thị trường được khắc hoạ là một nền

kinh tế tư bản chủ nghĩa với quan hệ mua bán là quan hệ cốt lõi của thị trường Từ việc

phân tích về giá trị của lao động và nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư từ lao động, Mác

đã làm rõ bản chất của tiền công, các hình thức phân phối, nguyên nhân của sự phân

h o á [26] Dù chưa thực sự đề cập trực tiếp đến phúc lợi xã hội và y tế như quan niệm

hiện nay nhưng chính những điều này là nền tảng phát sinh các các mâu thuẫn của nền

kinh tế thị trường và hướng giải quyết Ở hai tác phẩm nổi tiếng “Tuyên ngôn đảng

Cộng sản ” và “Phê phán cương lĩnh Gota” các nhà kinh điển đã phác họa một cách

thuyết phục về một xã hội công bằng, hạnh phúc mà ở đó đảm bảo xã hội cho mỗingười dân được coi trọng Dĩ nhiên, điều đó được thực hiện trên cơ sở một nền kinh tế

phát triển và phân phối một cách hợp lý và công bằng Trong xã hội đó, phúc lợi xã

hội nói chung, chăm sóc sức khoẻ nói riêng được nhà nước và xã hội đảm bảo Điều

này càng trở nên quan trọng hơn trong nền kinh tế thị trường khi mà có nhiều chủ thể

kinh tế tham gia hoạt động.[27,28] Từ đó, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan

điểm, đánh giá khác nhau về kinh tế thị trường cũng như mối quan hệ với các lĩnh vực

khác, trong đó có các vấn đề xã hội, con người

Trang 19

Có thể nhận thấy điều đó qua kết quả nghiên cứu nổi bật của các công trình đã

công bố ở Việt Nam thời gian qua Đó là các cuốn sách: Kinh tế thị trường: thực chất

và triển vọng, Viện thông tin khoa học xã hội, Hà nội (1993) [97], Lê Văn Sang

(1994), Các mô hình kinh tế thị trường trên thế giới, NXB Thống kê [63], TS Đinh

Sơn Hùng (2002) M ột số mô hình kinh tế thị trường và bài học kinh nghiệm rút ra,

Nội san Kinh tế tháng 6/2002, Viện Kinh tế TP HCM [52] Các nhà nghiên cứu đều

cho rằng: Khi nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường thì gọi là nền kinh tế thị

trường hoặc mô hình kinh tế thị trường, hay kinh tế thị trường Đến thời điểm ngày

nay, dù kinh tế thị trường có những khuyết tật bản chất của nó, nhưng đây vẫn là mô

hình kinh tế ưu việt nhất Lịch sử phát triển kinh tế thị trường nhân loại, tới hôm nay,

ở góc độ tổng quát có thể phân thành hai mô hình: mô hình kinh tế thị trường ”cổ

điển“ và mô hình kinh tế thị trường “hiện đại”

Đặc trưng cơ bản của mô hình kinh tế thị trường “cổ điển“ là duy trì, và khuyến

khích rộng rãi tự do cạnh tranh, tự do trao đổi, tự do tiến hành các hoạt động sản xuất

kinh doanh trên cơ sở tín hiệu và sự điều tiết của thị trường Do vậy, hoạt động của

mọi chủ thể kinh tế, sự vận động của giá cả đều chịu tác động trực tiếp của hệ thống

quy luật kinh tế thị trường, mà A.Smit gọi là “Bàn tay vô hình“ Trong giai đoạn vận

động, phát triển của kinh tế thị trường “cổ điển“, Nhà nước chỉ đóng vai trò “giữ nhà“,

nghĩa là Nhà nước can thiệp rất hạn chế và mang tính gián tiếp vào các hoạt động kinh

tế Tiêu biểu của mô hình này là nền kinh tế Tây Âu từ thế kỷ XVI đến gần cuối thế kỷ

XIX Ưu điểm nổi bật của mô hình kinh tế thị trường “cổ điển“ là nền kinh tế pháttriển năng động, linh hoạt Nhưng sự tồn tại và vận động của nền kinh tế theo mô hình

này đến một giai đoạn nhất định, khi trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất cao,

thì những khuyết tật của thị trường bộc lộ một cách mạnh mẽ, mâu thuẫn nội tại trong

phát triển ngày càng gay gắt, khủng hoảng kinh tế bột phát với sức tàn phá nặng nề

Cuộc khủng hoảng 1929-1933 là một minh chứng khá rõ về những đụng độ trên

David Begg, Stanley Fischer, Rudiger Dornbusch cho rằng khuyết tật và mâu

thuẫn trong phát triển kinh tế thị trường “cổ điển” gồm 4 nội dung chính: tồn tại độc

quyền gây ra chiếm dụng thặng dư tiêu dùng và mất không của xã hội; tồn tại ngoại

ứng đặc biệt là các ngoại ứng tiêu cực, tồn tại hàng hoá công cộng mà khu vực tư nhân

không có động lực cung cấp và đôi khi giá cả do thị trường xác định không dành cho

Trang 20

đông đảo người dân Điều này khiến cho một bộ phận dân cư không thể mua được

hàng hoá và dịch vụ phục vụ cho nhu cầu sống Nếu những hàng hoá và dịch vụ đó là

hàng thiết yếu thì sẽ ảnh hưởng tới mức sống người dân nói chung của một nền kinh

tế Chính điều đó đã đặt ra yêu cầu khách quan về sự can thiệp, điều tiết sâu, rộng hơn

của Nhà nước vào nền kinh tế [105] Và mô hình kinh tế mới xuất hiện - mô hình kinh

tế thị trường hiện đại, hay còn gọi là nền kinh tế “hỗn hợp” Đặc trưng cơ bản của kinh

tế thị trường hiện đại là có “hai người” tham gia điều tiết nền kinh tế, đó là thị trường

điều tiết ở tầm vi mô, Nhà nước điều tiết ở tầm vĩ mô; có “hai người” thực hiện các

hoạt động đầu tư là Nhà nước và tư nhân Khó khăn lớn nhất trong kinh tế thị trường

hiện đại là xác định giới hạn sự can thiệp, điều tiết giữa thị trường và Nhà nước với

tính khoa học, khả thi trong những công cụ mà Nhà nước sử dụng để điều tiết kinh tế

Vì giới hạn sự can thiệp và điều tiết của Nhà nước cũng như của thị trường ở những

giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế không phải là bất biến Một trong những

can thiệp của Nhà nước để giải quyết khuyết tật của thị trường chính là hệ thống phúc

lợi xã hội Nhà nước bằng hệ thống chính sách và sử dụng ngân sách làm thay đổi giá

và sản lượng cung cấp trên thị trường Từ đó đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra

và loại bỏ những hạn chế được xác định bằng quan hệ thị trường Kinh tế thị trườnghiện đại cũng hình thành nên nhiều mô hình kinh tế thị trường khác nhau Có thể điểm

qua một số mô hình như sau:

* Mô hình kinh tế thị trường Bắc Ẩu:

Mô hình kinh tế thị trường Bắc Âu có thể phân thành hai “nhánh” Một nhánh là

kinh tế thị trường “Xã hội phúc lợi” ở Thụy Điển từ những năm 30 của thế kỷ XX Mô

hình này được xây dựng dựa trên lý thuyết “Ngôi nhà chung cho mọi người” với khẩu

hiệu: ”bình đẳng, đảm bảo xã hội, hợp tác và sẵn sàng giúp đỡ” Trong mô hình này, sự

phát triển được thực hiện kết hợp hài hòa giữa mở rộng phúc lợi xã hội với kinh tế thị

trường tư nhân, sự phân hóa giàu - nghèo dần dần được thu hẹp Tuy vậy, việc giữ mức

phúc lợi xã hội cao cho mọi công dân dần dần trở thành gánh nặng cho nền kinh tế; Một

“nhánh“ khác của kinh tế thị trường Bắc Âu là nền “Kinh tế thương lượng” Thương

lượng là công cụ để tìm kiếm các giải pháp trong phân bổ nguồn lực và trong phát triển;

thương lượng giúp tìm được tiếng nói chung và đồng thời là kỹ thuật thông qua các

quyết định; xây dựng các mối quan hệ và được thỏa hiệp trong phát triển

Trang 21

Trong nền “Kinh tế thương lượng“, liên tục có các cuộc đấu tranh, các cuộcxung đột ở nhiều góc độ khác nhau và chúng được giải quyết khi các bên liên quan tìm

được tiếng nói chung Do đó, thương lượng là đấu tranh; thỏa hiệp và đấu tranh luôn đi

liền với nhau Tất nhiên, trong nền “Kinh tế thương lượng“, thương lượng không phải

là công cụ duy nhất, mà chỉ là một trong các công cụ để thông qua quyết định; các

công cụ truyền thống đã và vẫn là những nguyên tắc của cơ chế thị trường Nghĩa là

nền kinh tế vận hành với sự kết hợp giữa thương lượng và các công cụ của cơ chế thị

truờng; các công cụ này bổ xung cho nhau, có thể cạnh tranh, cản trở và thậm chí lấn

át lẫn nhau [90]

* Mô hình kinh tế thị trường Nhật Bản:

Kinh tế thị trường Nhật Bản đã phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau và trở

thành m ột trong những nền kinh tế thị trường hiện đại mà nhiều người coi là mẫu mực

cho các nước phát triển sau noi theo Nền kinh tế thị trường Nhật Bản với đặc điểm:

- Thực hiện dân chủ hóa kinh tế gắn liền với dân chủ hóa chính trị và xã hội

- Thực hiện kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Thời kỳ đầu tiên

phát triển kinh tế thị trường, Chính phủ Nhật Bản can thiệp trực tiếp rộng rãi và khá

sâu vào nền kinh tế, nhưng sự can thiệp đó của Nhà nước càng về sau càng giảm dần

- Ngoài việc giải thoát về tư tưởng và đảm bảo quyền tự do kinh doanh, phải

không ngừng chú trọng phát triển giáo dục - đào tạo

- Tăng cường và chủ động mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại

Tuy vậy, thời gian gần đây người ta bắt đầu đặt vấn đề về sự can dự quá nhiều

của Chính phủ vào những lĩnh vực cơ sở hạ tầng và dịch vụ công cộng vì tính hiệu quả

giảm sút của sự can dự này [36]

* Kinh tế thị trường ở các quốc gia và vùng lãnh thổ NICS Châu Á:

Tuy có những nét riêng biệt, nhưng sự phát triển kinh tế thị trường các nước và

vùng lãnh thổ NICS Châu Á có những đặc điểm chung cơ bản giống nhau, đó là:

- Vai trò của doanh nhân dưới sự điều tiết của “bàn tay thị trường“ được đề cao

trong phát triển kinh tế

- Xác định và thực thi vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường Chính

phủ các quốc gia và vùng lãnh thổ NICS Châu Á hạn chế sự tham gia vào hoạt động

Trang 22

kinh doanh và chỉ đại diện cho lợi ích quốc gia, luôn đi đầu trong những lĩnh vực khó

khăn phức tạp Thực hiện phúc lợi xã hội cũng như khi trừng phạt một cách nhất quán,

minh bạch trong khuôn khổ luật pháp quốc gia và công ước quốc tế

- Khuyến khích “hướng ngoại” mạnh mẽ

- Phát triển các hoạt động nghiên cứu - ứng dụng - triển khai tiến bộ khoa học -

công nghệ

- Đẩy mạnh sự hình thành và phát triển các loại thị trường, đặc biệt là thị trường

tài chính - tiền tệ và thị trường sức lao động; gắn với củng cố, kiện toàn và hiện đại

hóa hệ thống tài chính, ngân hàng

Tóm lại, các quốc gia, vùng lãnh thổ NICS Châu Á, một mặt vừa rất tôn trọng

những nguyên tắc, quy luật, thể chế thị trường; vừa xác định đúng giới hạn về sự can

thiệp vào kinh tế của Nhà nước và không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý

Nhà nước

* Kinh tế thị trường ở Trung Quốc

Trung Quốc xây dựng mô hình kinh tế này trong quá trình cải cách, chuyển đổi từ

nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường với những bước đi thận

trọng, từ thực hiện thí điểm để rút kinh nghiệm, sau đó mới mở rộng trong từng ngành

và toàn bộ nền kinh tế qua các giai đoạn khác nhau Trong nền kinh tế này, sở hữu công

cộng được lấy làm cơ sở tức là sở hữu công cộng ở những ngành, những lĩnh vực nào

nhằm giữ vai trò chủ đạo và thực hiện đa dạng hoá các hình thức sở hữu Chế độ phân

phối không nhằm tập trung tài sản vào trong tay một số ít cá nhân như kinh tế thịtrường Tư bản chủ nghĩa, mà nhằm đem lại sự sung túc chung cho mọi tầng lớp dân

cư Chủ nghĩa xã hội lấy phân phối theo lao động là chính, nhưng cũng chấp nhận các

hình thức phân phối khác Chính phủ tách chức năng quản lý khỏi chức năng kinh

doanh và không tham gia vào kinh doanh Giá cả được tự do hoá theo điều tiết thị

trường và Nhà nước chỉ can thiệp khi xảy ra mâu thuẫn trong xã hội Thực hiện phát

triển mạnh các thị trường và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại.[127]

Cùng với việc nghiên cứu các mô hình kinh tế thị trường, các điều kiện để thực

hiện các mô hình kinh tế này, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng: điều kiện thực

Trang 23

hiện kinh tế thị trường ở Việt Nam có phần giống Trung Quốc nhất và cho tới nay, con

đường xây dựng mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN là phù hợp nhất.Những đặc điểm, bản chất và tác động chủ yếu của kinh tế thị trường định hướngXHCN ở Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu, các học giả Việt Nam bàn luận khá

sôi nổi Các công trình như: Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, NXB Hà

Nội của Đinh Văn Ân (2003) [2], M ột số vấn đề kinh tế thị trường định hướng XHCN

ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội của Vũ Đình Bách (2004) [4],: Định

hướng XHCN nền kinh tế thị trường ở nước ta, Tạp chí cộng sản của Chu Văn Cấp

(2004) [29], 20 năm đổi mới và sự hình thành cơ chế kinh tế thị trường đổi mới XHCN,

NXB Lý luận chính trị, Hà Nội của Nguyễn Cúc (2005) [34], PGS.TS Phạm Văn

Dũng, Sách “Tính phổ biên và tính đặc thù trong phát triển kinh tế thị trường’", NXB

Đại học Quốc gia, Hà Nội năm 2008 [38], hoặc sách “Định hướng XH CN trong phát

triển kinh tế thị trường”, NXB Đại học Quốc gia năm 2009 của Tác giả Phạm Văn

Dũng [39] đã phân tích khá sâu sắc bản chất của kinh tế thị trường và những đặc

điểm chung và riêng biệt ở nước ta Không chỉ đề cập những mặt tích cực mà cả mặt

trái của thị trường cũng được mổ xẻ phân tích khá đầy đủ Các công trình cũng chỉ ra

rằng: kinh tế thị trường sẽ tác động mạnh mẽ đến các lĩnh vực xã hội, trong đó có hoạt

động bảo hiểm, trợ cấp và y tế Điều này không chỉ thể hiện ở mức độ đầu tư, sự

quan tâm của các chủ thể mà còn ở tổ chức hoạt động cũng như các chính sách của nhà

nước Trong bối cảnh Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng hơn vào kinh tế khu vực

và thế giới, sự tác động mạnh mẽ của toàn cầu hoá chắc chắn hoạt động đảm bảo xãhội nói chung, phúc lợi y tế nói riêng sẽ có sự thay đổi khá lớn

Tóm lại, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là mô hình chưa

có tiền lệ trong lịch sử cả về lý luận lẫn thực tiễn Vì vậy, vừa phải tiến hành trong

thực tiễn, nhưng đồng thời cũng phải không ngừng nghiên cứu để khái quát thành lý

luận Và đây là quá trình phát triển lâu dài, trải qua nhiều giai đoạn; đòi hỏi phải thực

thi có hiệu quả cao đồng bộ nhiều giải pháp, chính sách khác nhau một cách linh hoạt,

uyển chuyển Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đề cao vai trò chủ đạo của

Nhà nước trong quản lý kinh tế, giải quyết các mâu thuẫn và khắc phục những khiếm

khuyết thị trường Những đóng góp của các nghiên cứu mang lại giá trị lý luận lớn,

đồng thời gợi mở về mối quan hệ giữa các chính sách phúc lợi xã hội và sự phát triển

Trang 24

của kinh tế thị trường Nhà nước xây dựng và thực thi các chính sách phúc lợi xã hội

chính là cách thức để giải quyết các khiếm khuyết của thị trường và làm cho nền kinh

tế trở nên hiệu quả hơn

1.1.2 N hữ n g nghiên cứu về p h ú c lợi xã hội

Nghiên cứu phúc lợi xã hội nói chung là một chủ đề khá hấp dẫn thu hút sự

quan tâm của các học giả, nhất là ở nước ngoài Đặc biệt ở các nước Tây Âu khi mà họ

đang tìm cách xây dựng con đường phát triển kinh tế thị trường xã hội mà ở đó “nhà

nước phúc lợi” được coi như là một mô hình mới với nhiều ưu việt nhằm giải quyết

các khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh

Rất nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài đã tìm hiểu về phúc lợi như Marshall

trong ”Out-of-Pocket Spending in the Last Five Years o f Life" Journal of General

Internal Medicine 28 (2), 2012 [123]; Martineau T, Martínez J (1997) trong “Human

resources in the health sector: Guidelines for appraisal andstrategic development”

[125] Hay của Bales S trong “Human resource financing issues” ; Jenny Kakasuleff

(2009) trong “Health Care Reform Series: The Japanese health care system” [117]

Ngay cả ILO (1944) cũng đưa ra khái niệm về “phúc lợi xã hội” trong “Kỷ yếu Hội

nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế” Mỗi tác giả có một quan điểm khác nhau về

phúc lợi.[53] Những khái niệm này có điểm chung và điểm riêng tùy theo hoàn cảnh

lịch sử nghiên cứu

Các nhà nghiên cứu trong nước cũng góp phần vào hệ thống lý luận về phúc lợi

và phúc lợi xã hội Từ rất lâu trước, Đào Duy Anh (1951) đã đưa ra khái niệm về phúc

lợi trong “Hán Việt từ điển giản yếu ” [1], Hồ Ngọc Đức (2011) lại bổ sung khái niệm

này trong từ điển trực tuyến wiktionary [43] Khái niệm về phúc lợi lại tiếp tục được đưa

ra trong các cuốn từ điển như “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê (chủ biên) (2000)

[59], “Từ điển bách khoa Việt Nam” do Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển

bách khoa Việt Nam (2005) [49] Như vậy, hầu hết quan điểm về phúc lợi và phúc lợi xã

hội ở Việt Nam được chuẩn hóa tại các quyển từ điển chứ không hoàn toàn do các nhà

nghiên cứu tự đưa ra trong các tác phẩm của mình Chỉ có DS Hoàng Trọng Quang

(1999) có đưa ra quan điểm riêng tại bài “Chiến lược phát triển sức khoẻ và hệ thống y

tế ở Việt Nam”, nằm trong cuốn “Y tế Việt Nam trong quá trình đổi mới” [65]

Trang 25

Từ sự hiểu biết về phúc lợi, các nhà kinh tế bắt đầu nghiên cứu sâu hơn về

những phúc lợi trong nền kinh tế thị trường phát triển Các công trình như, Kinh tế thị

trường xã hội của Winfried Jung, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2001 [99], Capitalist Welfare systems: Comparison o f Japan, Britan, Sweden, Arthur Goald,

New York 1993 [101], The privatization o f social policy, occupational Welfare and

Welfare state in America, Scandinavia and Japan, Michrel Shalev, London 1996 đã

bàn luận khá sâu sắc về các nội dung thị trường và xã hội [128]

Cho đến nay, giới nghiên cứu vẫn tiếp tục nghiên cứu và tranh luận về các mô hình hệ thống phúc lợi trên thế giới Có nhiều lý thuyết khác nhau về phúc lợi trong nền kinh tế thị trường Cụ thể như sau:

Lý thuyết phúc lợi của Bismarck: Bismarck hướng tới việc xây dựng một nhà

nước phúc lợi và ông là người thiết lập những nền tảng đầu tiên cho việc đưa các pháp lệnh phúc lợi xã hội vào thực tiễn đời sống Lập luận của ông cho rằng các quỹ phúc lợi được xây dựng do người lao động và người sử dụng lao động cùng quản trị; hai nhóm người này sẽ cùng xác định mức đóng phí tính theo tỷ lệ so với mức lương; mức trợ cấp theo tỷ lệ đóng góp [107] Lý thuyết này chỉ ra những phúc lợi mà người dân được hưởng là thông qua hệ thống bảo hiểm xã hội

Lý thuyết phúc lợi của Beveridge: Beveridge đã đưa ra những tư tưởng tiến bộ

để cải cách hoàn cảnh xã hội Lý thuyết về phúc lợi của ông đã được chấp nhận rộng rãi Ông cho rằng các tổ chức phúc lợi sẽ làm tăng tính cạnh tranh của ngành công nghiệp của Anh trong giai đoạn sau chiến tranh, không chỉ bởi việc các doanh nghiệp giảm được chi phí sản xuất bằng cách chuyển chi phí lao động như chăm sóc sức khỏe

và lương hưu vào tài khoản công cộng mà còn tạo ra nền sản xuất lành mạnh dựa trên lực lượng lao động năng động và hiệu quả hơn Thu nhập của nền kinh tế tăng lên làm người dân giàu có thì ngược lại sẽ tăng nhu cầu đối với hàng hóa của Anh Chương trình phúc lợi xã hội mà Beveridge xây dựng bao gồm những biện pháp đảm bảo việc làm đầy đủ (định nghĩa là tình trạng thất nghiệp không quá 3%) Tại đó, việc cung cấp các dịch vụ việc làm trong xã hội là miễn phí, Chính phủ kiểm soát trực tiếp của nguồn nhân lực, và kiểm soát trạng thái của phương tiện sản xuất Động lực đằng sau suynghĩ Beveridge là công bằng xã hội Ông cho rằng các quỹ phúc lợi phải do nhà nước quản trị; nguồn tài trợ lấy từ thuế; mức trợ cấp đồng đều giống nhau [108] Lý thuyết này tập trung vào các phúc lợi xã hội

Trang 26

Lý thuyết về phúc lợi của Richard Titmus: Dựa trên phương pháp phân tích đa

chiều, Richard Titmus đã nhận diện ra ba quan niệm khác nhau về vai trò của chính sách xã hội, nối kết mỗi quan niệm với những nguyên tắc cung ứng và hưởng dụng các dịch vụ phúc lợi Theo ông, trên thế giới, có ba mô hình như sau:

a) Mô hình phúc lợi thặng dư (residual), trong đó vai trò chủ đạo thuộc về gia

đình và thị trường chứ không phải là sự tái phân phối của nhà nước, và quyền hưởng

phúc lợi phụ thuộc vào việc thẩm tra khả năng thu nhập (means-testing).

b) Mô hình phúc lợi phổ quát (universalist) hay cũng có thể gọi là mô hình định

chế tái phân phối, trong đó nhà nước thay thế vào chỗ của gia đình và thị trường trong việc bảo đảm phúc lợi theo mục tiêu hướng đến sự bình đẳng

c) Mô hình đóng góp dựa trên mức thu nhập kiếm được (earnings-related

contributory systems), phản ánh quan niệm đặt nặng trên hiệu quả đạt được trong lao

động (industrial achievement-performance); trong mô hình này, cả thị trường lẫn nhà

nước đều cùng có mặt, nhưng người ta ưu tiên nhấn mạnh đến những đóng góp kinh tế của các cá nhân [135]

Lý thuyết về phúc lợi của Gệsta Esping-Andersen: G0sta Esping-Andersen cho

rằng "những động cơ chính của chính sách xã hội hiện đại nằm trong quá trình trong đó

cả nhu cầu của con người lẫn sức lao động đều trở thành hàng hóa, và vì thế, phúc lợi của chúng ta phụ thuộc vào mối quan hệ giữa chúng ta với hệ thống tiền tệ" Trong thời Trung cổ, khi mà chế độ sử dụng lao động chưa chuyển sang chế độ khế ước (hay hợp

đồng, contract), thì chính gia đình, giáo hội hoặc vị lãnh chúa là những người quyết

định khả năng sinh tồn của mỗi người Sự khuếch trương của Chủ nghĩa tư bản diễn ra

cùng với sự lụi tàn dần dần của phương thức bảo hộ xã hội 'tiền hàng hóa hóa' ('pre­

commodified' social protection)" [111] Esping-Andersen gọi sự "phi hàng hóa hóa" (de­ commodification) là tình trạng trong đó sở dĩ người ta được hưởng các dịch vụ phúc lợi

là do người ta có quyền được hưởng, và người ta có thể duy trì cuộc sống của mình mà

không cần dựa trên thị trường [111] Ông nói rõ rằng cho dù có những chính sách trợ

giúp xã hội hay bảo hiểm xã hội thì điều này không nhất thiết dẫn đến một tình hình "phi hàng hóa hóa" thực thụ nếu chúng không thực sự giải phóng các cá nhân ra khỏi sự phụ thuộc vào thị trường Khi người công nhân bị lệ thuộc hoàn toàn vào thị trường, họ sẽ rất khó mà đoàn kết với nhau và rất khó mà tập hợp lại được trong những phong trào

Trang 27

hành động tập thể Chỉ khi nào các quyền xã hội của họ được "phi hàng hóa hóa" thì lúc

ấy họ mới thực sự có sức mạnh, và đồng thời, quyền lực tuyệt đối của giới chủ lúc ấy

mới yếu bớt đi; chính vì thế mà giới nghiệp chủ thường không có thiện cảm và cũng

không sẵn lòng tham gia vào các chương trình phúc lợi xã hội

Lý thuyết về phúc lợi của Walter Korpi và Joakim Palme.[145] Walter Korpi

và Joakim Palme cho rằng có đến 5 mô hình về phúc lợi

thể hiện ở sự trợ cấp được thực hiện dựa trên sự thẩm tra thu nhập (means-tested), với

mức trợ cấp tối thiểu hoặc tương đối đồng đều dành cho những người nằm dưới

ngưỡng nghèo hoặc những người được coi là túng thiếu

Thứ hai, mô hình bao gồm những chương trình phúc lợi tự nguyện được nhà

nước trợ cấp Trong đó tiền thuế được dùng để giúp các hiệp hội phúc lợi tương trợ và

các tổ chức tự nguyện khác trong việc cung ứng bảo hiểm cho các thành viên của mình

khi lâm vào hoàn cảnh mất khả năng thu nhập Vì loại phúc lợi này đặt cơ sở trên sự

đóng góp tự nguyện của các thành viên, nên các chương trình phúc lợi này chủ yếu

nhắm tới tầng lớp trung lưu và giới công nhân lành nghề hơn là giới công nhân không

có tay nghề và các tầng lớp nghèo Các chế độ phúc lợi tự nguyện này có thể bao gồm

cả loại phúc lợi có mức trợ cấp đồng đều (flat rate) (thể hiện bằng những đường nằm

ngang trên các sơ đồ trên đây) lẫn loại phúc lợi tương ứng với mức thu nhập kiếm

được (earnings-related) (đường thẳng đứng).

Thứ ba, mô hình phúc lợi theo nghiệp hội (corporatist): các chương trình bảo

hiểm xã hội đầu tiên được khởi xướng ở Đức bởi Bismarck vào thập niên 1880 không

còn áp dụng cách thức thẩm tra thu nhập lẫn các loại phúc lợi tự nguyện, nhưng áp

dụng những chương trình phúc lợi cưỡng bách theo đó các thành viên nằm trong

những loại ngành nghề nhất định sẽ được quyền hưởng những khoản phúc lợi khi mà

nguồn thu nhập bình thường của họ bị gián đoạn một cách bất khả kháng Hệ thống

bảo hiểm xã hội này của Đức đi theo mô hình phúc lợi "nghiệp hội" vốn xuất phát từ

truyền thống tư tưởng Công giáo và tư tưởng bảo thủ của thế kỷ XIX Để được hưởng

những loại phúc lợi này, người ta vừa phải đóng phí, vừa phải thuộc về một thành

phần nghề nghiệp nhất định Những chương trình bảo hiểm xã hội riêng biệt với những

quyền lợi đặc thù được tổ chức cho những loại nghề nghiệp hoặc những ngành sản

Trang 28

xuất khác nhau, tạo nên sự phân khúc giữa các loại ngành nghề Lúc đầu, hệ thống phúc lợi này được khởi sự nơi giai cấp công nhân công nghiệp, nhưng sau đó dần dần được triển khai trong nhiều thập niên sau nơi các loại ngành nghề khác với những dạng bảo hiểm chuyên biệt Các khoản phúc lợi được cung ứng dựa trên mức thu nhập kiếm

được (đường thẳng đứng), nhưng các quyền lợi và các quy tắc có thể hết sức khác biệt

tùy theo từng loại ngành nghề khác nhau Nguồn tài chính được hình thành chủ yếu từ việc đóng phí của giới chủ và giới thợ Do chỉ giới hạn vào bộ phận dân cư hoạt động kinh tế (tức những người đang lao động), nên mô hình này đi đến chỗ loại ra ngoài những người nội trợ và những người nằm ngoài lực lượng lao động Vì thường có quy định một mức trần thu nhập để được hưởng phúc lợi, nên những người có thu nhập cao thường tìm thêm những biện pháp phúc lợi khác từ khu vực bảo hiểm tư nhân

Thứ tư, mô hình an sinh cơ bản (basic security): trong mô hình này, quyền được

hưởng phúc lợi đặt cơ sở trên sự đóng phí hoặc trên tư cách công dân (nơi cư trú) Một trong những ý tưởng này là đề ra những mức trợ cấp đồng đều hoặc có một mức trần thấp đối với mức thu nhập, để chừa chỗ cho những người có thu nhập cao có thể tìm cách bảo vệ mức sống cao của họ thông qua những chương trình bảo hiểm tư nhân

"nguyên tắc cơ bản đầu tiên của chế độ bảo hiểm xã hội này là cung ứng một mức trợ cấp bảo hiểm đồng đều, bất kể mức thu nhập đã bị gián đoạn là bao nhiêu Nguyên tắc này là hệ quả của sự nhìn nhận về vị trí của bảo hiểm tự nguyện trong hệ thống an sinh

xã hội " Một ý tưởng cơ bản khác là làm sao bao phủ được một cách rộng rãi hoặc toàn

bộ các tầng lớp dân cư có liên quan Tuy nhiên, nếu trong mô hình phúc lợi theo nghiệp hội, những người tham gia thuộc những ngành nghề khác nhau sẽ được hưởng những chế độ bảo hiểm khác nhau, thì trong mô hình an sinh cơ bản này, tất cả những người được bảo hiểm sẽ được hưởng chế độ giống nhau trong cùng một chương trình

Thứ năm, mô hình phúc lợi phổ quát (encompassing): Trong mô hình này,

quyền được hưởng phúc lợi dựa trên sự đóng phí và tư cách công dân Do đó, những chương trình phúc lợi phổ quát bao phủ mọi công dân và bảo đảm an sinh cơ bản cho

họ được phối hợp với những chế độ trợ cấp tương ứng với mức thu nhập kiếm được dành cho bộ phận đang hoạt động kinh tế (đang lao động) trong dân cư Loại định chế phúc lợi này có khuynh hướng giảm bớt nhu cầu tìm đến khu vực bảo hiểm tư nhân và

có khả năng bao quát mọi công dân trong cùng một chương trình

Trang 29

Tổng quát lại các lý thuyết về “phúc lợi” , có thể thấy những lý thuyết này được

xây dựng trên hai nền tảng tư tưởng trái ngược nhau về cách thức cung cấp các lợi ích

là cung cấp bởi Chính phủ thông qua ngân sách nhà nước và cung cấp bởi các quỹ bảo

hiểm do sự đóng góp của doanh nghiệp và người dân Việc trợ cấp (hay thực hiện phân

phối phúc lợi) được đưa ra rất khác nhau nhưng mục tiêu hướng tới của các lý thuyết

về phúc lợi đều giải quyết các vấn đề về thu nhập, việc làm, y tế, sức khỏe, giáo dục

1.1.3 Các quan điểm về p h ú c lợi y tế

Trong chính sách phúc lợi xã hội của các quốc gia bao gồm rất nhiều những

thành tố mà yếu tố phát triển con người và chăm sóc sức khoẻ người dân luôn được đặt

lên hàng đầu Từ đó hình thành quan điểm về phúc lợi y tế

Cho dù tới nay, chưa có những nghiên cứu rõ ràng, tổng quát về phúc lợi y tế ở

các nước nhưng những nghiên cứu về các chính sách phúc lợi đơn lẻ trong lĩnh vực y

tế thì vẫn luôn được quan tâm Mỗi quốc gia có một quan điểm riêng về sự can thiệp

của Nhà nước vào lĩnh vực y tế dẫn đến các chính sách phúc lợi cũng rất khác nhau

Meesen, B; B Bloom (2007) đã khắc họa chính sách phúc lợi y tế của Trung

Quốc khá rõ nét trong bài nghiên cứu ” Chuyển đổi kinh tế, thay đổi thể chế và hệ thống y tế: M ột số bài học từ Trung Quốc nông thôn” Ở đây, có thể nhận thấy m ột đất

nước Trung Quốc với quan điểm Nhà nước sẽ đóng vai trò chủ đạo trong ngành y tế

với một loạt các chính sách hướng tới bao phủ chăm sóc sức khoẻ toàn dân.[127]

Nhật Bản là một quốc gia đi đầu trong việc dành lợi ích cho người dân trong lĩnh

vực y tế Rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này đã được công bố như: “High-tech rural

clinics and hospitals in Japan: a comparison to the Japanese average ” của Masatoshi

Matsumoto, Masanobu Okayama, Kazuo Inoue, Eiji Kajii (2004) [124], “Health Care

Reform Series: The Japanese health care system ”, của Jenny Kakasuleff (2009) [117],

hay ”Health Care in Japan: Low-Cost, fo r Now Aging Population Could Strain System”

của Harden, Blaine (2009) [113], , ”How can we improve the quality o f health care in

Japan? Learning from JCQHC hospital accreditation.” Hirose, Masahiro (October

2003) [112] Nhà nước dành rất nhiều ngân sách và sự quan tâm để mọi người dân

Nhật Bản có thể được hưởng chăm sóc sức khoẻ ở mức tốt nhất dù họ sống trong hoàn

cảnh nào Những nghiên cứu này đã mang lại giá trị thảm khảo rất lớn không chỉ cho

hoạt động quản lý vĩ mô tại nước Nhật Bản mà còn cho các nước khác trên thế giới để

hoàn thiện các chính sách phúc lợi y tế của mình

Trang 30

Trường hợp của Hoa Kỳ thì hoàn toàn ngược lại Các chính sách phúc lợi y tế ở

Mỹ thường được nghiên cứu trong sự so sánh như Ed Cooper và Liz Taylor (1994)

viết “Comparing Health Care Systems, What makes sense fo r the US’" [106] Bởi đây

là một quốc gia phát triển hàng đầu thế giới nhưng quan niệm về phúc lợi xã hội nói

chung và phúc lợi y tế lại rất khác biệt so với các nước phát triển khác Nghiên cứu về

họ cũng mở rộng những hiểu biết về các quan điểm phúc lợi, cách thức đạt hiệu quả

của các chính sách Chính sách phúc lợi của Hoa Kỳ tập trung vào phát triển khoa

học công nghệ chứ gần như không can thiệp nhiều vào giá cả thị trường

Ở Việt Nam, quan điểm về phúc lợi y tế của Đảng và Nhà nước đã được xây

dựng dựa trên quan điểm về phúc lợi xã hội và có sự biến đổi qua các giai đoạn khác

nhau mặc dù chưa có một quan niệm chính thức về phúc lợi y tế

Việt Nam trải qua ba mô hình phúc lợi xã hội là: phúc lợi xã hội truyền thống,

phúc lợi xã hội của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và phúc lợi xã hội của nền kinh tế

thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy, chính sách phúc lợi y tế của Việt

Nam cũng được xây dựng khác nhau

Quá trình biến đổi chế độ phúc lợi xã hội và phúc lợi y tế qua ba giai đoạn trên

không dẫn đến sự thay thế nhau hoàn toàn mà mang tính chất quá độ, giai đoạn trước

được bảo lưu nhiều đặc điểm ở giai đoạn sau; dẫn đến sư kết hợp pha trộn của cả ba giai

đoạn trong thời điểm hiện tại Sự biến đổi này trên cơ sở điều kiện lịch sử đặc thù của

nền kinh tế Việt Nam Như vậy, hệ thống phúc lợi y tế hiện nay ở Việt Nam được xây

dựng trên quan điểm Nhà nước đóng vai trò chủ đạo đồng thời thu hút và phát huy sự

tham gia của các thành phần xã hội, thừa nhận và nâng cao vai trò của tư nhân, cá nhân

gia đình để cùng thực hiện

Từ đó, sự nghiệp y tế toàn dân vẫn phải được thực hiện thông qua chế độ phúc lợi

y tế trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các quan điểmđược thể hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, từ Nghị quyết Trung ương 4, Khóa VII đã nêu rõ: “Sức khỏe là vốn

quý của mỗi con người và toàn xã hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ tổ quốc; vì vậy, chúng ta cần phấn đấu để mọi người đều được quan tâm,

chăm sóc sức khỏe" Trong quá trình cải cách kinh tế, sự phân hóa giàu nghèo là

Trang 31

không thể tránh khỏi, vì vậy bảo vệ người nghèo, tạo điều kiện cho họ được tiếp cận

với các dịch vụ y tế để đảm bảo sức khỏe cho nền kinh tế trước sức ép của thị trường

là một mục tiêu hàng đầu của nền y tế Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức

sâu sắc rằng tăng trưởng kinh tế phải đi kèm với thực hiện công bằng xã hội chứ

không chờ đến lúc nền kinh tế phát triển đầy đủ mới làm Chính phủ Việt Nam cũng

nhận thức đúng đắn sự nghiệp y tế là của toàn dân, của nhiều ngành trong đó Y tế Nhà

nước (Y tế công) giữ vai trò chủ đạo Do đó, phúc lợi y tế là tất yếu phải thực hiện

Thứ hai, việc chăm sóc sức khỏe và giải quyết các vấn đề bệnh tật cần theo

quan điểm dự phòng, tích cực và chủ động, đẩy mạnh phong trào vệ sinh phòng bệnh,

rèn luyện thân thể đi đôi với hiệu quả điều trị Quan điểm này thể hiện sự coi trọng y tế

công cộng, các giải pháp cộng đồng và chú trọng tới các dịch vụ y tế dự phòng Đây là

những thành phần rất quan trọng của phúc lợi y tế Muốn đẩy mạnh những hoạt động

này hiệu quả thì Chính phủ phải can thiệp bằng những chính sách cụ thể chứ rất khó

trông chờ vào tư nhân thực hiện

Thứ ba, sự nghiệp chăm sóc sức khỏe là trách nhiệm của cộng đồng và mỗi

người dân, là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng và chính quyền, các đoàn thể nhân dân

và các tổ chức xã hội trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt Quan điểm đó đã nhấn

mạnh ngành y tế thuộc về trách nhiệm của chính phủ Việc phát triển ngành Y tế dựa

rất nhiều vào các chính sách phúc lợi của Chính phủ dành cho người dân

Thứ tư, thực hiện phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, đa dạng hóa

các hình thức chăm sóc sức khỏe trong đó y tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, tận dụng

mọi tiềm năng có sẵn trong nước và mở rộng hợp tác quốc tế

Ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình bàn về vấn đề thay đổi xã hội trong nền

kinh tế thị trường trong đó có chăm sóc sức khoẻ Đáng chú ý là cuốn: Thay đổi văn

hoá xã hội trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở một số nước Châu á,

do Tác giả Dương Phú Hiệp và Nguyễn Duy Dũng chủ biên, NXB KHXH Hà Nội năm

1998 [47] Cuốn: Đổi mới chính sách xã hội luận cứ và giải pháp (GS Phạm Xuân

Nam chủ biên-Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 1997) [57], Tăng trưởng kinh tế và

công bằng xã hội ở một số nước châu Á và Việt Nam do Lê Bộ Lĩnh chủ biên, NXB

Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 1998 [56] Trên cơ sở phân tích thực trạng của các

Trang 32

vấn đề xã hội dưới tác động của kinh tế thị trường các công trình trên không chỉ làm rõ

những tác động cả ở khía cạnh tích cực, tiêu cực mà còn khẳng định sự cần thiết phải

đảm bảo công tác xã hội, trong đó có phúc lợi y tế

Ngoài những công trình bàn luận những vấn đề chung về đảm bảo xã hội và y

tế, nhiều công trình trực tiếp phân tích các nội dung phúc lợi y tế Đáng chú ý là cuốn:

Chính sách và biện pháp giải quyết phúc lợi xã hội ở Nhật Bản, do tác giả Nguyễn

Duy Dũng chủ biên, NXB.KHXH, Hà Nội 1998 [36], Tăng trưởng kinh tế và phúc lợi

xã hội ở Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay của TS Trần Thị Nhung

NXB.KHXH, Hà Nội-2002 [58], Kinh nghiệm giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc

của Nhật Bản của PGS.TS Nguyễn Duy Dũng chủ biên, NXB.KHXH, Hà Nội năm

2007 [37] Các công trình này đã làm rõ các khái niệm phúc lợi, đề cập tới vấn đề

phúc lợi y tế và phân tích khá sâu sắc các chính sách và kinh nghiệm của Nhật Bản,

Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, trong đó có y tế

Nghiên cứu thực tiễn ở Việt Nam về chính sách đảm bảo xã hội và y tế là chủ đề

được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước bàn luận Các Báo cáo thống kê hàng

năm đã chỉ rõ sự thay đổi này cả ở số lượng và chất lượng của công tác y tế, trong đó

tiếp tục khẳng định vai trò của nhà nước trong lĩnh vực này Điều này đã được đề cập

trong khá nhiều khảo sát của Việt Nam và các tổ chức quốc tế về hoạt động kinh tế và y

tế của nước ta Đó là các Báo cáo phát triển con người của UNDP, M ột số vấn đề kinh

tế- xã hội sau 20 năm đổi mới ở Việt Nam (Dự án hỗ trợ tổng kết 20 năm đổi mới ở Việt

Nam) [91], Hướng đến tầm cao mới (báo cáo phát triển Việt nam 2007 tại Hội nghị

nhóm tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam) [92]

1.2 Những gợi m ở cho nghiên cứu về phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

Những nghiên cứu về kinh tế thị trường và mô hình kinh tế thị trường của cácnước, một mặt vừa cho chúng ta thấy tiến trình vận động, phát triển của kinh tế thị

trường nhân loại; mặt khác, qua những mô hình kinh tế thị trường khác nhau đó, có thể

thấy: sự phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều

kiện cụ thể của Việt Nam và cũng là lựa chọn hiện nay cho sự phát triển kinh tế đất

Trang 33

nước Tuy nhiên, các nghiên cứu lại chưa đề cập rõ ràng đến mối quan hệ giữa kinh tế

thị trường định hướng XHCN với các chính sách phúc lợi xã hội và các hình thức phúc

lợi cụ thể Điều này gợi mở một hướng nghiên cứu về các chính sách phúc lợi đặc thù

thuộc phúc lợi xã hội được thực hiện bởi Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định

hướng XHCN Như vậy, việc xây dựng và thực thi các chính sách phúc lợi xã hội là

cần thiết và khách quan ở nền kinh tế Việt Nam hiện nay xuất phát từ việc lựa chọn

theo đuổi mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Vì thế, vấn đề đặt ra

là khi nghiên cứu về phúc lợi xã hội ở Việt Nam thì cần xem xét tính chất đặc thù của

nền kinh tế này.

Đối với phúc lợi y tế, mặc dù các nghiên cứu trong và ngoài nước cũng đã đề

cập tới vì đây là một vấn đề cấp bách của mọi nền kinh tế Tuy nhiên, cho đến nay,

khó có thể tìm thấy được những nghiên cứu trực tiếp về vấn đề này nhất là chính sách

phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Để đạt được mục tiêu

phát triển kinh tế, chính phủ phải quan tâm đến việc xây dựng chính sách bao phủ

chăm sóc sức khỏe toàn dân chứ không phải là một ngành y tế tồn tại theo quy luật thị

trường Với quan điểm này, mặc dù ngân sách nhà nước còn hạn chế nhưng việc đảm

bảo công bằng xã hội và nâng cao mức sống người dân là một tất yếu khách quan Hầu

như các nghiên cứu chỉ quan tâm tới hoạt động y tế nói chung hoặc xem xét một vài

chính sách về y tế nhưng vấn đề về hệ thống phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường

định hướng XHCN lại gần như chưa được tiếp cận.

Xét một cách tổng quát các tác phẩm đã tập trung làm sáng tỏ những vấn đề lý

luận của phúc lợi xã hội, khẳng định vai trò quan trọng của phúc lợi xã hội trong chính

sách xã hội của các quốc gia Nhưng những chính sách đối với y tế cũng chưa được

xem xét dưới góc độ kinh tế chính trị Do vậy, việc bổ sung nghiên cứu những nội dung này là vô cùng cần thiết cả về lý luận và thực tiễn hiện nay ở Việt Nam.

Như vậy, việc nghiên cứu xây dựng lý thuyết về phúc lợi y tế trong nền kinh tế

thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam sẽ bổ sung vào khoảng trống của hệ thống

nghiên cứu về phúc lợi y tế nói riêng, phúc lợi xã hội và nền kinh tế thị trường nói

chung Từ đó, đưa ra những quan điểm rõ ràng hơn về phúc lợi y tế và hoạt động y tế

trong nền kinh tế thị trường.

Trang 34

1.3 Kết luận chương 1

Chương 1 đã phân tích và tổng kết những nghiên cứu trong và ngoài nước về

phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường ở cả hai khía cạnh lý thuyết và thực tiễn Có

thể kết luận về những vấn đề đã được nghiên cứu và thống nhất như sau:

Thứ nhất, vấn đề về phúc lợi đã được quan tâm rất nhiều, đặc biệt trong các nền

kinh tế thị trường Khái niệm về phúc lợi xã hội cũng như các lý thuyết chung về phúc

lợi đã được hình thành vấn đề phúc lợi cũng được chia thành những lĩnh vực nhỏ và

tìm ra nguồn gốc, cách thức thực hiện các chính sách phúc lợi hiệu quả Đây là cơ sở

quan trọng để luận án tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu hơn về vấn đề này.

Thứ hai, Việt Nam là nước có hơn hai thập niên xây dựng nền kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa Với đặc thù nền kinh tế dựa vào thị trường để giải quyết các mối quan hệ kinh tế nhưng vẫn sử dụng các chính sách và công cụ phúc lợi xã

hộiđể khắc phục những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường, Chính phủ Việt Nam

đặc biệt quan tâm tới các vấn đề đảm bảo và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân

dù cho nền kinh tế đang ở mức độ nào.

Tuy nhiên, có thể thấy còn rất nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ Điều đó đặt

ra yêu cầu, cần phải có những nghiên cứu kỹ càng hơn về vấn đề này Cụ thể như sau:

Thứ nhất, cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa chính thức về phúc lợi y tế.

Thứ hai, chưa có hệ thống khung lý thuyết cho việc nghiên cứu về phúc lợi y tế

như định nghĩa, vai trò, các nhân tố ảnh hưởng tới phúc lợi y tế, các nội dung chính

sách phúc lợi y tế và các chỉ tiêu đánh giá về thực hiện phúc lợi y tế

Thứ ba, những nghiên cứu thực tiễn tại Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc

nghiên cứu từng chính sách cụ thể ở các lĩnh vực y tế khác nhau Điều này dẫn đến sự

thiếu đồng bộ của hệ thống chính sách Các chính sách lợi ích được đưa ra có sự chồng

chéo, chưa kết hợp một cách hiệu quả.

Như vậy, từ các “khoảng trống” nghiên cứu, tác giả có thể xác định được hướng

nghiên cứu để bổ sung những thiếu sót vẫn còn tồn tại hiện nay.

Từ việc tổng quan các kết quả nghiên cứu và những nội dung còn đang tranh

luận, trao đổi trên, tác giả muốn đi sâu bàn luận phúc lợi y tế Việt Nam hiện nay nhằm

góp phần xây dựng các luận cứ lý luận và thực tiễn để đề xuât các giải pháp đối với

việc phát triển lĩnh vực y tế nước nhà.

Trang 35

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÚC LỢI Y TÉ TRONG NỀN KINH TÉ THỊ TRƯỜNG

2.1 Phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường

2.1.1 N hữ n g quan điểm cơ bản

2.1.1.1 Kinh tế thị trường

Từ tổng quan nghiên cứu ở trên, có thể thấy nền kinh tế thị trường là nền kinh tế

mà trong đó, người mua và người bán tương tác với nhau theo quy luật cung - cầu, giá

trị để xác định giá cả và sản lượng hàng hóa hay dịch vụ trên thị trường Theo cách

hiểu như vậy, hoạt động duy nhất của nền kinh tế thị trường là hoạt động mua - bán

Với khái niệm đó, nền kinh tế thị trường đã tạo ra sự phát triển vượt bậc cho loài người

bởi nó tạo ra sự cạnh tranh và những động lực thúc đẩy sản xuất - kinh doanh Sự

phân phối trong nền kinh tế thị trường dựa trên lợi ích.

Tuy nhiên, xét về bản chất, bên trong nền kinh tế thị trường chứa đựng nhiều

mâu thuẫn và trên thực tế, bản thân nó vẫn thể hiện ra với nhiều khuyết tật, rủi ro Một

trong những khiếm khuyết xuất phát từ quan hệ cung cầu, giá cả và sự phân phối gây

ra những khoảng cách, chênh lệch về thu nhập, mức sống của người dân Những biến động của kinh tế - xã hội đòi hỏi con người sống trong đó phải có những thay đổi thích

nghi nhưng không phải ai cũng có khả năng đó Hơn nữa, thực tế đã có một bộ phận

không nhỏ người dân phải chịu những thua thiệt như thiếu hoặc không có khả năng lao

động, gặp phải những hoàn cảnh đặc biệt Họ sẽ gần như không thể tiếp tục sống bình

thường trước những biến động và rủi ro, nhất là trong mối quan hệ mua bán mà kinh tế

thị trường phải tuân thủ Trong kinh tế thị trường thuần nhất, con người chỉ đủ đầy

(đáp ứng đầy đủ nhu cầu cá nhân khi có thu nhập hay có nhiều tiền) bằng việc mua bán

hàng hóa, dịch vụ trên thị trường theo giá cả xác định dựa trên quan hệ cung cầu Vậy

là, những người có hoàn cảnh đặc biệt cũng sẽ không có khả năng tham gia vào kinh tế

thị trường Từ đó, vấn đề của nền kinh tế trở thành vấn đề của xã hội Nếu các mâu

thuẫn không được giải quyết thì dẫn đến những phá vỡ của toàn bộ hệ thống Điều đó

có nghĩa là cần phải có một nhân tố giải quyết mâu thuẫn, khắc phục những khiếm khuyết thị trường Doanh nghiệp và hộ gia đình có những mâu thuẫn về lợi ích dẫn đến

những chênh lệch trong phân phối thu nhập nhưng họ lại không thể tự mình giải quyết

Trang 36

mâu thuẫn của các mối quan hệ trong thị trường Chỉ có Nhà nước với đầy đủ quyền

lực điều hành nền kinh tế vĩ mô mới có thể hạn chế các khiếm khuyết thị trường Sự

chênh lệch về phân phối và điều kiện sống người dân được hầu hết các Chính phủ giải

quyết thông qua hệ thống phúc lợi xã hội Ở đây phúc lợi xã hội được coi như một “cái

lưới an toàn” để giảm bớt mất mát, thiệt thòi của cá nhân.[40]

2.1.1.2 Phúc lợi xã hội trong nền kinh tế thị trường

Trên thế giới, “phúc lợi” được nhiều học giả quan tâm và đưa ra định nghĩa

Nhà xã hội học Anh Gordon Marshall cho rằng “phúc lợi (welfare)” là "tình trạng

hoặc điều kiện làm ăn khấm khá (doing well) hoặc sinh sống đàng hoàng, hạnh phúc

(being well)".[122;tr701-70] Ông cho rằng “phúc lợi” được đề cập chủ yếu trong các

chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, liên quan đến những biện pháp để bảo vệ trạng

thái lợi ích của một cá nhân hay tập thể nào đó "Các chính sách phúc lợi là nhữngchính sách được thiết lập nhằm đáp ứng những nhu cầu của cá nhân hay của nhóm"

Theo Marshall, các nhu cầu trong chính sách phúc lợi bao gồm nhu cầu tối thiểu để

sinh tồn và cả những nhu cầu cần thiết cho một "cuộc sống tử tế và xứng đáng" Điều

đó có nghĩa phúc lợi phải bao gồm những điều kiện ăn, mặc, ở, y tế, việc làm

Theo từ điển mã nguồn mở Wikipedia, phúc lợi là việc cung cấp một mức độ tối

thiểu của hạnh phúc và hỗ trợ xã hội cho tất cả công dân, đôi khi được gọi là viện trợ

công cộng “Phúc lợi” trong định nghĩa này khá gần với định nghĩa mà Marshall đưa

ra khi nó được gắn với các chính sách của chính phủ Phúc lợi được coi là khoản viện

trợ do chính phủ thực hiện nhằm cải thiện cuộc sống người dân

Bởi “phúc lợi” là những lợi ích được sử dụng trong các chính sách nên nói đến

“phúc lợi” trong nền kinh tế thị trường là nói đến hệ thống các biện pháp để giải quyết

các khó khăn về kinh tế hoặc điều kiện sống của con người Ở tầm vĩ mô, phúc lợi là các

chính sách để giải quyết những vấn đề của xã hội như xóa đói giảm nghèo, nâng cao

chất lượng cuộc sống, chăm sóc sức khỏe, y tế, phát triển giáo dục đào t ạ o Ở tầm vi

mô, phúc lợi là các chính sách của một tổ chức để giải quyết các vấn đề của một nhóm

người thuộc tổ chức đó

“Phúc lợi xã hội” được giới khoa học xã hội quan tâm nghiên cứu khá nhiều kể

từ sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhất là trong các ngành xã hội học, kinh tế

học và chính trị học Cho đến nay, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau và

Trang 37

cũng khó thống nhất với nhau về cách hiểu thế nào là phúc lợi xã hội Dưới đây là một

số định nghĩa về khái niệm này trên thế giới

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho rằng phúc lợi xã hội là những chương

trình, chính sách “nhằm cung ứng một mức thu nhập căn bản cho tất cả những người

có nhu cầu cần được bảo hộ và cần được hưởng sự chăm sóc y tế toàn diện" [53] Theo

đó, định nghĩa của ILO về phúc lợi xã hội tập trung chủ yếu vào việc khuyến nghị các

chính phủ quan tâm trợ cấp cho những người dễ bị tổn thương trong nền kinh tế để

đảm bảo cuộc sống và sức khỏe người dân Cụ thể hóa định nghĩa này, trong Công ước

số 102, ILO đã chỉ ra hệ thống phúc lợi xã hội mà một quốc gia nên xây dựng bao

gồm: chăm sóc y tế, trợ cấp bệnh tật, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp hưu trí, trợ cấp tai

người kiêm hưởng [54]

Còn Hiệp hội An sinh Xã hội Quốc tế (ISSA) thì đưa ra một định nghĩa tương

đối hạn hẹp hơn về phúc lợi xã hội, và quan niệm rằng đây không chỉ là phần việc của

Nhà nước Phúc lợi xã hội là "những chương trình bảo hộ xã hội do nhà nước thiết lập,

hoặc những tổ chức được ủy nhiệm khác, (có chức năng) cung ứng cho các cá nhân

một mức độ an toàn về thu nhập khi họ phải đối diện với những hoàn cảnh bất trắc do

tuổi già, do lợi quyền thượng tồn [126], do mất khả năng, do tàn tật, thất nghiệp hoặc

do phải nuôi dạy con cái Nó cũng có thể cung ứng quyền được hưởng sự chăm sóc y

tế - chữa trị hay phòng ngừa bệnh tật" (xem ISSA) Theo tổ chức ISSA, phúc lợi xã hội

bao gồm: các chương trình bảo hiểm xã hội, các chương trình trợ giúp xã hội, các

chương trình phổ quát (universal programmes), các chương trình tương trợ (mutual

benefit schemes), các quỹ dự phòng quốc gia (national provident funds), và những

chương trình khác trong đó kể cả những chương trình mang tính thương mại

Beulah Compton (1980) định nghĩa phúc lợi xã hội là một thiết chế bao gồm các

chính sách và luật lệ, được thực thi bởi nhà nước hay bởi các tổ chức tự nguyện, thông

qua đó một mức độ tối thiểu nhất định về các dịch vụ xã hội thiết yếu (như y tế, giáo

dục, nhà ở ) được phân phối cho các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội (những dịch vụ

mà gia đình hay thị trường không đáp ứng được cho họ) nhằm mục đích phòng ngừa,

giảm nhẹ hoặc đóng góp vào việc giải quyết các vấn đề xã hội và cải thiện sự an sinh

của cá nhân, nhóm và cộng đồng một cách trực tiếp [103]

Trang 38

Hai nhà kinh tế học Jean Dreze và Amartya Sen (1991) đã chỉ ra bản chất của

khái niệm phúc lợi xã hội “là sử dụng những kế sách xã hội để ngăn ngừa sự thiếu

thốn và tình trạng d ễ bị tổn thương vì bị thiếu thốn” [118] Hai tác giả này nhấn mạnh

rằng sự cung ứng hệ thống phúc lợi xã hội trong những quốc gia đang phát triển cần

được quan niệm theo một nhãn giới rộng rãi hơn, và cần xem đây ”chủ yếu như một

mục tiêu cần theo đuổi thông qua các biện pháp công hơn là như một nhóm chiến lược

cá biệt được xác định một cách hẹp hòi”.

Vấn đề về phúc lợi cũng đã được đặt ra khá sớm ở Việt Nam Thuật ngữ này xuất

hiện từ năm 1932 trong cuốn Hán Việt từ điển giản yếu của Đào Duy Anh, với mộtđịnh nghĩa ngắn gọn: phúc lợi là ”hạnh phúc và lợi ích” [1;tr137] Tuy nhiên, định

nghĩa này khá trừu tượng và chung chung Cách giải thích thực chất chỉ là diễn giải sự

ghép nối của từ chứ chưa đề cập tới việc làm cho người đọc hiểu được ý nghĩa rõ ràng

của từ vựng

Năm 2000, Hoàng Phê đã đưa ra định nghĩa về “phúc lợi” trong cuốn từ điểnTiếng Việt là “lợi ích mà mọi người được hưởng không phải trả tiền hoặc chỉ phải trả

một phần Thí dụ: Nâng cao phúc lợi của nhân dân Các công trình phúc lợi (như nhà

trẻ, lớp mẫu giáo, v.v.) Quỹ phúc lợi của x í nghiệp” [59;tr790] Với định nghĩa này,

“phúc lợi” được coi là một loại lợi ích dành cho người dân bắt nguồn từ việc người

hưởng không phải mất chi phí hoặc mất rất ít chi phí so với kết quả mà họ nhận được

Xét về lịch sử, định nghĩa giải thích cách hiểu về từ “phúc lợi” trong hoàn cảnh nềnkinh tế Việt Nam được quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung khi mà người ta

thường hiểu ”phúc lợi” là phần thù lao bằng tiền hoặc hiện vật mà người lao động nhận

được từ cơ quan hay xí nghiệp, ngoài phần tiền lương, tiền phụ cấp và tiền thưởng,

nhằm được hỗ trợ thêm về mặt đời sống Tuy nhiên, định nghĩa chưa đề cập tới nộihàm của từ “phúc lợi” và cũng không phù hợp với cơ chế thị trường nơi mà hoạt động

mua - bán là mối quan hệ tồn tại duy nhất trên cơ sở trao đổi ngang giá

Hồ Ngọc Đức đưa ra một khái niệm khác về “phúc lợi” trong từ điển mã nguồn

mở Wiktionary của Việt Nam là “quyền lợi về vật chất mà Nhà nước hay đoàn thể bảo

đảm cho công nhân và viên chức được hưởng” [43] Định nghĩa này cho rằng phúc lợi

được thực hiện bởi một tổ chức để mang lại quyền lợi cho mọi người

Ở Việt Nam, thuật ngữ “phúc lợi xã hội” được hiểu một cách chung nhất là một

hệ thống các chính sách, các chương trình và các dịch vụ nhằm đáp ứng những nhu

Trang 39

cầu thiết yếu của xã hội hoặc các nhóm xã hội khác nhau về đời sống, kinh tế, văn hoá, tinh thần, giáo dục và chăm sóc sức khoẻ Trong đó, các chính sách và giải pháp phúc lợi xã hội tập trung vào nhóm người yếu thế, nhóm người thiệt thòi trong xã hội nhiều hơn nhằm hướng tới sự công bằng xã hội.

Theo từ điển Bách khoa Việt nam, phúc lợi xã hội là một bộ phận thu nhập quốc dân được sử dụng nhằm thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của các thànhviên trong xã hội, chủ yếu được phân phối ngoài thu nhập theo lao động, phân phối lại [49] Phúc lợi xã hội bao gồm những chi phí xã hội: trả tiền hưu trí, các loại trợ cấp bảo hiểm xã hội, học bổng cho học sinh, những chi phí cho học tập không mất tiền, những dịch vụ y tế, nghỉ ngơi, an dưỡng, nhà trẻ, mẫu giáo, vv

Tổng quát lại, có thể thấy, có rất nhiều quan niệm về phúc lợi xã hội nhưng tồn tại 3 nhóm tư tưởng sau:

Thứ nhất, quan niệm coi phúc lợi xã hội là những gì do xã hội mà trực tiếp là

nhà nước đưa lại Phúc lợi xã hội gắn với những lợi ích công cộng mà thông qua đó, người dân được hưởng thụ không phải trả tiền Quan niệm này được Việt Nam và hầu hết các nước XHCN trước đây đề cập Quan niệm này cho rằng, phần mà nhà nướccung cấp cho người dân càng nhiều và càng không mất tiền thì càng thể hiện tính ưu việt cao của xã hội Phúc lợi là thước đo của sự tiến bộ, công bằng, văn minh Tuy nhiên, với thực tế của nền kinh tế các nước này thì hình thức và quy mô của phúc lợi

xã hội đặt ra vượt quá khả năng cho phép dẫn đến những mâu thuẫn trong kinh tế - xã hội, hệ thống phúc lợi bị phá vỡ hoặc duy trì một cách méo mó

Thứ hai, quan niệm phúc lợi xã hội của các nước phương Tây coi phúc lợi xã

hội là cách thức giải quyết vấn đề xã hội để tạo động lực tăng trưởng kinh tế Phúc lợi

xã hội là biện pháp tổng hợp toàn diện để giải quyết nhu cầu cá nhân và xã hội hiện tại

để cải thiện mối quan hệ xã hội, được tiến hành ở mọi trình độ, cấp độ xã hội Phúc lợi

xã hội ngoài việc đóng góp bảo đảm sức khỏe giáo dục còn nhằm cải thiện và nâng cao đời sống, công việc cho mọi người

Thứ ba, quan niệm của Nhật Bản về phúc lợi xã hội chỉ ra những đối tượng

phúc lợi xã hội một cách cụ thể Kinh tế thị trường gây ra những biến động kinh tế - xã hội đòi hỏi con người phải có sự thích nghi nhưng không phải ai cũng làm được Ban đầu, chính sách phúc lợi xã hội chính là các biện pháp nhằm giúp những người không

đủ khả năng có thể có được cuộc sống bình thường như những người khác Đó là

Trang 40

những người già, trẻ em, người tàn tật, thần kinh, ốm đau, bệnh tật, người có thu nhập

thấp hay nói chung là những người có hoàn cảnh đặc biệt Sau này, chính sách phúc

lợi xã hội là những hoạt động của nhà nước xuất phát từ sự công bằng và tạo mọi điều

kiện đảm bảo cuộc sống tốt nhất cho con người Tuy nhiên, khi thực hiện chính sách

phúc lợi, Nhà nước cố gắng giảm bớt trách nhiệm của mình và đề cao sức mạnh trợ

giúp và chia sẻ của cộng đồng [36]

Theo các nhà nghiên cứu, mô hình “nhà nước phúc lợi” ra đời sẽ khắc phục

được cả những khiếm khuyết của CNTB và CNXH Các hình thức phúc lợi khá phong

phú, trong đó có phúc lợi y tế đã được áp dụng và thể hiện vai trò quan trọng trong

phát triển xã hội và con người Điều quan trọng mà các tác giả đã phân tích khá sâu sắc

là trong “nhà nước phúc lợi” không chỉ đảm bảo tính công bằng bình đẳng mà còn cần

thiết phải có sự hỗ trợ mạnh mẽ của nhà nước Dĩ nhiên, bên cạnh những mặt tích cực

hiện cũng đang tồn tại nhiều vấn đề cần phải xem xét lại, nhất là hạn chế những tác

động tiêu cực đã và đang nảy sinh.

Bản chất của phúc lợi xã hội là thể hiện tính nhân văn, nhân đạo, nâng cao mức

sống tối thiểu của mọi người dân trong một nền kinh tế Dần dần, sự phát triển của phúc lợi xã hội được coi là một thước đo của sự tiến bộ và văn minh của xã hội, được

hầu hết các Nhà nước quan tâm kể cả ở các nước phát triển hay đang phát triển Bởi dù

ở nước nào thì nền kinh tế thị trường vẫn có những vấn đề, đòi hỏi có sự nỗ lực giải

quyết của chính phủ và cộng đồng Từ đó, quan niệm về phúc lợi xã hội được mở rộng

hơn là những “dịch vụ xã hội” được thực hiện bởi Chính phủ bằng ngân sách Nhà

nước với mục tiêu không chỉ quan tâm đến những người không có cơ may mà cả các

cá nhân bình thường nhằm nâng cao mặt bằng sống tối thiểu của người dân.

Như vậy, phúc lợi xã hội là một biện pháp cần thiết để giải quyết nhiều vấn đề

của kinh tế thị trường và thúc đẩy tăng trưởng bền vững Theo đó, đối tượng của phúc

lợi xã hội trước hết là những người có hoàn cảnh đặc biệt trong xã hội, sau đó là đảm

bảo mức sống tối thiểu và an toàn cho mọi người dân Rõ ràng, sự ra đời, tồn tại và

phát triển của phúc lợi xã hội có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ với chế độ, thể chế,

các cơ chế chính sách chung và với nhiều lĩnh vực khác, trước hết đó là cơ chế kinh tế.

Phúc lợi xã hội được coi là hình thức phúc lợi cao nhất, cần thiết và bền vững

nhất Đây là hình thức phân phối lại do Nhà nước thực hiện bằng nguồn ngân sách

Ngày đăng: 04/03/2021, 14:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1951), “Hán Việt từ điển giản yếu ” (tái bản), NXB Paris - Minh Tân, tr. 137 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt từ điển giản yếu ”
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Paris - Minh Tân
Năm: 1951
2. Đinh Văn Ân (2003), Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, Nxb. Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ởViệt Nam
Tác giả: Đinh Văn Ân
Nhà XB: Nxb. Hà nội
Năm: 2003
3. Đinh Văn Ân, Lê Xuân Bá (2006), Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb. Khoa học kỹ thuật, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Đinh Văn Ân, Lê Xuân Bá
Nhà XB: Nxb. Khoa học kỹ thuật
Năm: 2006
4. Vũ Đình Bách (2004), M ột số vấn đề kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: M ột số vấn đề kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Đình Bách
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
5. Bộ Y tế Việt Nam (2008), Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2008 - Tài chính y tế ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2008 - Tài chính y tế ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế Việt Nam
Năm: 2008
6. Bộ Y tế Việt Nam (2009), Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2009 - Nhân lực y tế ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2009 -Nhân lực y tế ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế Việt Nam
Năm: 2009
7. Bộ Y tế Việt Nam (2010), Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2010 - Hệ thống y tế Việt Nam trước thềm kế hoạch 5 năm 2011 - 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2010 - Hệ thống y tế Việt Nam trước thềm kế hoạch 5 năm 2011 - 2015
Tác giả: Bộ Y tế Việt Nam
Năm: 2010
8. Bộ Y tế Việt Nam (2011), Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2011 - Nâng cao năng lực quản lý, đổi mới tài chính y tế để thực hiện kế hoạch 5 năm ngành y tế, 2011-2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2011 -Nâng cao năng lực quản lý, đổi mới tài chính y tế để thực hiện kế hoạch 5 năm ngành y tế, 2011-2015
Tác giả: Bộ Y tế Việt Nam
Năm: 2011
9. Bộ Y tế Việt Nam (2012), Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2012 - Nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2012 -Nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh
Tác giả: Bộ Y tế Việt Nam
Năm: 2012
10. Bộ Y tế Việt Nam (2013), Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2013 - Hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2013 -Hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân
Tác giả: Bộ Y tế Việt Nam
Năm: 2013
11. Bộ Y tế (2011), Báo cáo Kết quả nghiên cứu Khả năng thực hiện BH YT toàn dân,:Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Kết quả nghiên cứu Khả năng thực hiện BH YT toàn
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
12. Bộ Tài chính (2012), Số liệu về ngân sách nhà nước, http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/1351583/2126549/2117076 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu về ngân sách nhà nước
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2012
14. Bộ Y tế, Tổ chức Y tế thế giới (2011), Tài khoản y tế quốc gia thực hiện ở Việt Nam thời kỳ 1998- 2010, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài khoản y tế quốc gia thực hiện ở Việt Nam thời kỳ 1998- 2010
Tác giả: Bộ Y tế, Tổ chức Y tế thế giới
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2011
15. Bộ Y tế và WHO (2010), Tài khoản y tế quốc gia thực hiện ở Việt Nam thời kỳ 1998-2008. NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài khoản y tế quốc gia thực hiện ở Việt Nam thời kỳ 1998-2008
Tác giả: Bộ Y tế và WHO
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2010
16. Bộ Y tế (2009) Niên giám thống kê y tế năm 2008, NXB Thống kê, Hà Nội 17. Bộ Y tế (2007) Khảo sát mạng lưới chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 64 tỉnh ViệtNam. Vụ Sức khỏe sinh sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê y tế năm 2008," NXB Thống kê, Hà Nội17. Bộ Y tế (2007) "Khảo sát mạng lưới chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 64 tỉnh Việt Nam
Nhà XB: NXB Thống kê
18. Bộ Y tế (2012), Báo cáo điều tra nguồn nhân lực thống tin thống kê năm 2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo điều tra nguồn nhân lực thống tin thống kê năm 2012
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2012
19. Bộ Y tế (2008), Quyết định số 4696/QĐ-BYT ngày 27 tháng 11 năm 2008 về Chuẩn Quốc gia các TTYTDP tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương, , Bộ Y tế:Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 4696/QĐ-BYT
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2008
20. Bộ Y tế (2002), Quyết định số 1833/2002/QĐ-BYT; Bộ Y tế: Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1833/2002/QĐ-BYT
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2002
21. Bộ Y tế (2006), Quyết định số 5573/2006/QĐ-BYT về tiêu chí phần mềm quản lý bệnh viện. Bộ Y tế: Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 5573/2006/QĐ-BYT về tiêu chí phần mềm quản lý bệnh viện
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2006
22. Bộ Y tế (2013), Báo cáo tổng kết công tác y tế năm 2012, Nhiệm vụ và các giải pháp thực hiện trong năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác y tế năm 2012, Nhiệm vụ và các giải pháp thực hiện trong năm 2013
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2013

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w