Đã có nhiều vật liệu được áp dụng để trám các tổn thương cổ răng, trong đó glass ionomer cement và composite là hai loại vật liệu thông dụng nhất.. Tuy nhiên, việc sử dụng đơn thuần hai
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO B Ộ Y T Ế
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Trang 2đỗ’ n h têt tìn h củ a các cói n h ã n oà tậ p thê
- 3Choa (tiễu tri ră n g m iễn g nguỸ/i tởn (V iền (Hăng 7 ô à m JÌLủt 76)à nòi.
D ã tuân q u a n tâ m , tạo (tiều kiện giúp, (tã tô i tro n g qu á trinh hoe tâ p
- < 7 (7<s D ỗ QuangI Q ru n g - (J cường (tại hoc g 7ôà nôi.
- (p tị& (7S Q tg u g ỉn (V ãn @át. “ D iê n (Hãng 7 ô à m JÌƯ(t 7ôà nội.
- (J)t£S.(7S (Jtuo’n g (yUij.cn í7h á i — 7ÔOC olện q u ă n g
- (7<s (ĩrin h (Đình 7 6 ả l — Q rư òng đ ạ i học (Hàng 76(1 M Jìư(t.
- ( j S J¿c (Ị)(tu ( j hít ch “ (Bệnh oten tru n g ư tín g q u ả n (tồi 108.
Q lhữ n g ngư ời th ầ g (Tã tậ n tìn h hư ớn g d ẫ n o à (Táng g ó p những g
k ỉ en quý, báu cho tôi h o à n th à n h lu ận o à n n à g
@Ấiối cù n g tô i xin b ă g tò lò n g b ỉâ tín lối: n h ữ n g n gư ờ i th â n tro n g g ia (tình cung các b a n bc o à (Tồng n g h iệp (Tã lu ôn g iá p (ttí, đ ộ n g oten tà i hoàn thàn h
k h o á học.
7ỗà noi, th ả n g 12 n ă m 2 0 0 4
(D ăn g Q u c D ư títtg
Trang 3Đặt vấn đ ề 1
Chương 1 Tổng quan 3
1 1 Nhắc lại cấu tạo tổ chức học r ă n g
1.1.1 Men ră n g 3
1.1.2 Ngà ră n g 4
1.1.3 Tuỷ ră n g 5
1 Tổn thương tổ chức cứng cổ răng 5
1.2.1 Phân loại tổn thương tổ chức cứng cổ răng 5
1.2.2 Đặc điểm lâm sàng 6
1.2.3 Căn nguyên mòn cổ răng 7
1.2.4 Cơ chế mòn cổ răng 8
1.2.5 Các biện pháp sử trí tổn thương cổ răng 9
1.3 Vật liệu trám ráng 13
1.3.1 Glass ionomer cement 13
1.3.2 Composite nha khoa 16
1.4 Các nghiên cứu trong và ngoài nước 19
1.4.1 Ngoài nước 19
1.4.2 Trong nước 20
Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứ u 22
2 Địứ điểm nghiên cứu 22
2 Đổi tượng nghiên cứ u 22
2 Phương pháp nghiên cứu 22
2.3.1 Trước điều trị 23
2.3.2 Dụng cụ và vật liệ u 23
2.3.3 Kỹ thuật 25
2.3.4 Theo dõi và đánh giá 29
Chương 3 Kết quả nghiên cứu 32
3 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứ u 32
3.1.1 Phân bố bệnh nhân theo tuổi 32
Trang 43.1.5 Phân bố răng theo tổn thương 34
3.1.6 Phân bố răng bị tổn thương theo nhóm răng 35
3.1.7 Phân bố răng bị tổn thương theo vị trí mặt răng 35
3.1.8 Phân bố răng bị tổn thương theo phươ ng pháp điều trị 36
3 2 Kết quả theo d õ i
3.2.1 Đánh giá ngay sau điều trị 37
3.2.2 Đánh giá sau điều trị 3 tháng 38
3.2.3 Đánh giá sau điều trị 6 tháng 43
Chương 4 Bàn lu ậ n 48
4 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 48
4.1.1 T uổi ~ 48
4.1.2 Giới 48
4.1.3 Lý do đến k hám 49
4.1.4 Mòn mặt nhai 49
4.1.5 Phân bố tổn thương 50
4 Kỹ thuật 51
4.2.1 Sửa soạn lỗ trám 51
4.2.2 Trám glass ionomer cement 52
4.2.3 Etching 52
4.2.4 Trám composite 53
4.2.5 Cách l y 54
4.3 Kết quả lâm sàng 54
4.3.1 Sau 3 ngày 54
4.3.2 Sau 3 và 6 tháng 55
K ết lu ậ n 60 Tài liệu th a m khảo
Phụ lục ản h
Phiếu theo dõi điều trị
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỂ
Trong hơn hai mươi năm qua, đã có những thay đổi lớn trong sự hiểu biết về bản chất bệnh sâu răng Nhờ đó người ta đã đưa ra những biện pháp dự phòng và điều trị hữu hiệu, làm giảm tỷ lệ sâu răng một cách đáng kể [11] Tuy nhiên, những tổn thương ở vùng cổ răng vẫn chiếm tỷ lệ không nhỏ Theo Blunck u, tại Đức tỷ lệ tổn thương cổ răng ước tính khoảng 31-56% tron2 đó
có 85% biểu hiện mất một phần cấu trúc răng vùng cổ [24], Tổn thương vùng
cổ răng gây sự ê buốt, mất thẩm mỹ và lắng đọng thức ăn làm bệnh nhân khó chịu [7],[11],[31]
Đã có nhiều vật liệu được áp dụng để trám các tổn thương cổ răng, trong đó glass ionomer cement và composite là hai loại vật liệu thông dụng nhất Tuy nhiên, việc sử dụng đơn thuần hai vật liệu trên để trám răng bên cạnh những ưu điểm thì vẫn còn tồn tại những nhược điểm ảnh hưởng đến thẩm mỹ và sự lưu giữ miếng trám, đặc biệt là phía bờ lợi của tổn thương cổ răng, nơi khó kiểm soát được sự ẩm ướt do dịch lợi và máu [6]
Composite là vật liệu thích hợp nhất trong các vật liệu trám răng thẩm
mỹ, dán dính tốt vào men răng nhưng có một số đặc điểm cố hữu cho đến nay vẫn chưa khắc phục được, đó là sự kết nối ngà yếu, bị co thể tích khi trùng hợp và kích thích tủy răng Từ đó dẫn đến kết quả là hở rìa miếng trám gây sâu răng tái phát và viêm tủy răng [3],[9],[10],[12]
Glass ionomer cement dán dính tốt cả ở men, ngà răng và composite, tương hợp sinh học với mô quanh răng [1],[8],[17],[41],[42],[52] có độ co tối thiểu trong quá trình đông cứng và độ dãn nở theo nhiệt độ gần giống vói cấu trúc của răng [18] Ngoài ra còn có sự phóng thích Fluor kéo dài sau trám làm giảm sâu răng tái phát [1],[32],[41],[52] Nhưng có nhược điểm là ít đề kháng
Trang 6với lực làm gãy miếng trám và thẩm mỹ kém hơn so với composite về màu sắc
và độ đánh bóng [18],[41],[52]
Từ những ưu, nhược điểm của glass ionomer cement và composite ,
người ta đã nghĩ đến việc kết hợp cả hai loại vật liệu này để có được một miếng trám thành công hơn về thẩm mỹ và sự lưu giữ Năm 1985, McLean và cộng sự đã tiến hành kỹ thuật trám răng bằng cách phối hợp hai loại vật liệu trên và gọi tên là “Sandwich technique” hoặc “Laminate technique” [39] Kỹ thuật này sử dụng phối hợp composite và glass ionomer cement, trong đó glass
ionomer cement được lót ở phía dưới và phía bờ lợi của tổn thương còn
composite thì phủ lên trên [17],[18],[41] Sau đó kỹ thuật trám răng bằng
composite có lót glass ionomer cement đã được nghiên cứu và áp dụng ở
nhiều nước trên thế giới nhằm khắc phục những nhược điểm và tăng cường các ưu điểm của cả glass ionomer cement và composite
ở nước ta, kỹ thuật trám tổn thương cổ răng bằng composite có lót glass ionomer cement đã được áp dụng nhưng các nghiên cứu đánh giá về
kỹ thuật này cho đến nay vẫn còn rất ít Vì vậy để góp phần nghiên cứu lâm
sàng thêm về kỹ thuật trên, chúng tôi thực hiện đề tài: "Nhận xét kết quả trám tổn thương cổ răng bằng composite có lót glass ionomer cement" với
mục tiêu:
1 Á p dụng k ỹ thuật trám tổn thương răng bằng composite có lót glass
2 Đ ánh giá kết quả của k ỹ thuật trên.
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Nhác lại cấu tạo tổ chức học răng: [2]
1.1.1 M en răng:
+ Men răng có nguồn gốc ngoại bì Men răng cũng là một tổ chức cứng nhất của cơ thể, chứa nhiều muối vô cơ chiếm tỷ lệ 95% so với ngà và xương răng
+ Về mặt lý học: men răng cứng, ròn, trong và cản quang tia X mạnh Tỷ trọng của men khoảng từ 2,9-3 Men răng phủ toàn bộ thân răng, dày mỏng tùy vị trí khác nhau, dày nhất ở núm răng là 1,5 mm và ở vùng cổ răng men răng mỏng dần và tận cùng bằng một cạnh góc nhọn
+ Về mặt hóa học: các chất vô cơ chủ yếu là hỗn hợp phospho canxi dưới dạng Apatit, đó là Hydroxy Apatit 3 [(P04)2Ca3] Ca(OH)2 chiếm khoảng 90- 95% Còn lại là các muối cacbonat của Mg và một lượng nhỏ clorua, Huorua
và suníat của natri và kali Thành phần hữu cơ chiếm khoảng 1% Trong đó có Protit chiếm một phần quan trọng
+ Cấu trúc tổ chức học: quan sát trên kính hiển vi thấy 2 loại đường vân:
- Đường Retzius: trên tiêu bản cắt ngang là các đường chạy song song nhau và song song với đường viền ngoài của lớp men cũng như với đường ranh giới men ngà ở phía trong Trên tiêu bản cắt dọc thân răng, đường Retzius hợp với đường ranh giới men ngà cũng như với m ặt ngoài của men thành một góc nhọn
- Đường trụ men chạy suốt chiều dài men răng và hướng thẳng góc với đường ngoài trong của men răng, đôi khi có sự gấp khúc và thay đổi hướng đi của trụ men Trụ men có đường kính từ 3-6 qm, khi cắt ngang trụ men thấy tiết diện của nó có các loại: hình thể vẩy cá 57% , lăng trụ 30%, không rõ ràng 10% Hướng đi của trụ men tạo ra các dải sáng tối xen kẽ chính là dải H unter -Schrerge
Trang 8+ Cấu trúc siêu vi của men: thành phần hữu cơ có cấu trúc sợi và sắp xếp dọc theo trụ men, có vùng lại hợp với trụ men một góc 40° Thành phần vô cơ là các khối tinh thể to nhỏ không đều dài 1 pm, rộng 0,04-0,1 pm Các tinh thể trong trụ men sắp xếp theo hình xương cá, đôi khi theo hình lốc Cấu tạo của các tinh thể là hydroxy apatit, chất giữa trụ men và các tinh thể giả apatit (thay
P 0 4 = (Ca3), Mg, C 0 3)
1.1.2 Ngà răng:
+ Ngà răng là một tổ chức chiếm khối lượng chủ yếu ở thân răng Trong điều
kiện bình thường ngà răng không bị lộ ra ngoài và được bao phủ bởi men răng
và xương răng Ngà răng là tổ chức kém rắn hơn men nhưng chun giãn hơn men Nó không ròn và dễ vỡ như men cản quang kém hơn men
+ Thành phần vô cơ của ngà chiếm 70% và chủ yếu là hydroxy apatit Còn lại
là nước và chất hữu cơ chiếm 30% chủ yếu là keo collagene
- Ống ngà chính: chạy từ bề mặt tủy theo suốt chiều dày của ngà và tận
cùng bằng đầu chột ở ranh giới men ngà.
- Ống ngà phụ: đường kính nhỏ hơn ống ngà chính Là những nhánh bên hoặc nhánh tận của ống ngà chính
+ Chất giữa ống ngà có cấu trúc sợi được ngấm vôi, sắp xếp thẳng góc với ống ngà
+ Dây Tome: nằm trong ống ngà, là đuôi nguyên sinh chất kéo dài của tế bào tạo ngà Đây là biểu hiện yếu tố sống trong tổ chức ngà
Trang 91.1.3 Tuỷ răng:
+ Là tổ chức liên kết nằm trong một hốc ở giữa răng gọi là hốc tủy răng và
được thông với tổ chức liên kết quanh cuống răng bởi lỗ cuống răng (Apex) Hình thể của tủy răng tương ứng với hình thể ngoài của răng Nó bao gồm tủy buồng và tủy chân
+ Tổ chức học: chia 2 vùng:
- Vùng cạnh tủy: là vùng mà dưới tác dụng cảm ứng của men một lớp
tế bào của tổ chức tủy biệt hóa để trở thành lớp tế bào có khả năng tạo ngà gọi là tạo ngà bào Bên cạnh đó là lớp không có tế bào bao gồm tổ chức sợi đặc biệt là những dây keo
- Vùng giữa tủy: là tổ chức liên kết có nhiều tế bào và ít tổ chức sợi hơn so với tổ chức liên kết lỏng lẻo thông thường Thành phần tế bào gồm: tế bào xơ non, xơ già và tổ chức bào Thành phần sợi gồm những dây keo, chúng nối với nhau thành một mạng lưới Ngoài ra trong tổ chức tủy có nhiều mạch máu và bạch huyết
1.2 Tổn thương tổ chức cứng cổ thân răng:
1.2.1 Phán loại tổn thương tổ chức cứng cổ thân răng:
+ Theo Black: Phân loại dựa vào vị trí của lỗ sâu Có 5 loại lỗ sâu thì lỗ sâu ò
cổ răng được xếp là lỗ sâu loại V
+ Theo Hess: Phân loại này dựa trên phân loại của Black nhưng Hess chia cụ thể hơn là lỗ trám đơn giản và lỗ trám phức hợp Với lỗ sâu và bệnh lý cổ thân răng được xếp loại như sau:
Loại lỗ sâu theo
Trang 10+ Theo Graham J.Mount và w R Hume (Mỹ - ú c 1996) [4],[5]: Hiện nay do
sự hiểu biết và xuất hiện những vật liệu mới trong trám phục hồi răng với quan điểm can thiệp tối thiểu nên phân loại theo Black không còn phù hợp Người
ta đã đưa ra một cách phân loại mới theo cách tiếp cận sinh học Phân loại này dựa trên vị trí và kích cỡ của xoang trám Xoang trám ở cổ thân rãng được xếp
I.2 2 I Sâu c ổ răng:
Sâu cổ răng ở lứa tuổi trẻ và trung niên có đặc điểm lâm sàng khác nhau:
+ Trung niên:
- Do hiện tượng tiêu xương sinh lý làm tụt lợi lộ cổ, chân răng nên thường gặp sâu cổ răng ở dưói ranh giới men ngà Ở vị trí này không có men răng bao phủ nên sâu ngà răng dễ xảy ra và diễn biến nhanh do ngà răng chứa lượng khoáng chất ít hơn men răng một nửa và chỉ cần pH ở môi trường miệng cao hơn (6,4 thay vì sâu men là 5,5) Ngà răng sẽ bị làm mềm do mất khoáng
và dễ bị vi khuẩn xâm lấn Khi đó vi khuẩn sẽ tiết ra các men Protein giải làm tiêu các sợi collagen [1], [24]
- Vị trí hay gặp là ở mặt gần, mặt xa hoặc mặt trong của các răng hàm nhỏ và răng hàm lớn đặc biệt là vị trí ở kẽ giữa hai chân của các răng hàm lớn Đây là những vị trí dễ lắng đọng thức ăn và khó làm sạch khi vệ sinh răng miệng
- Lỗ sâu ít khi bị lọi che phủ mà thường nằm ở phía trên lọi
Trang 11+ Người trẻ:
- Lỗ sâu thường nằm ở trên cổ răng về phía thân răng
- Có thể gặp ở mặt trong, ngoài, gần hoặc xa của tất cả các răng
- Lợi thường viêm hoặc có thể phì đại che phủ một phần lỗ sâu
1.2.2.2 M òn c ổ răng:
+ Biểu hiện một rãnh ngang ở cổ răng
+ Thường gặp ở mặt ngoài của các răng nanh và răng hàm nhỏ Đôi khi gặp
tất cả các răng
+ Có thể biểu hiện tổn thương hình chữ u hoặc hình đĩa rộng và nông, bờ không có cạnh sắc và đáy nhẵn bóng
1.2.2.3 M òn c ổ răng hình chêm:
+ Biểu hiện tổn thương có hình chêm (hình chữ V).
+ Bờ tổn thương có cạnh sắc và đáy của tổn thương cứng, màu nâu đỏ
+ Thường gặp ở mặt ngoài của răng nanh và răng hàm nhỏ Cũng có thể gặp ở tất cả các răng
1.2.3 Căn nguyên mòn c ổ răng:
+ NCCL là một trong số bệnh lý của tổn thương vùng cổ răng Gần 150 năm qua đã có nhiều tác giả đưa ra các thuyết khác nhau về căn nguyên gây bệnh Năm 1862, G V Black đã đề cập đến căn nguyên của bệnh nhưng giải thích được cơ chế Năm 1907, Miller dùng thuật ngữ “W asting” để chỉ mòn cấu trúc của răng Căn nguyên gây mất mô răng từ từ bởi sự chà xát được gọi là
“Abrasion”, mòn răng do sự tiếp xúc giữa các răng trong quá trình ăn nhai được gọi là “Attrition”, mòn răng do tác nhân hoá học được gọi là “Erosion”
và mòn răng do sự kết hợp giữa tác nhân cơ học và hoá học được gọi là
Trang 12“Chemico-Abrasion” Cho đến năm 1982 Mc Coy lần đầu tiên công bố sự mòn và mất cấu trúc ở cả men hoặc ngà răng do lực cắn [38].
+ Có tác giả cho rằng bệnh liên quan đến bệnh toàn thân như Gút, tạng thấp khớp [7]
+ Gần đây, căn nguyên mòn răng vẫn được nhiều tác giả nghiên cứu nhung vẫn còn nhiều ý kiến trái ngược Các tác giả cho rằng có 3 nhóm càn nguyên sau:
- Do acid hoặc các tác nhân Chelate hoá có nguồn gốc nội sinh do sự trào ngược của dạ dày hoặc có nguồn gốc ngoại sinh do chế độ ăn có nhiều thành phần acid, nghề nghiệp tiếp xúc với môi trường acid như công nhân sản xuất pin, ắc quy [24],[38],[53]
- Do mòn cơ học như chải răng kéo ngang, lực chải răng quá mạnh [21], [24], [38],
- Ngoài hai căn nguyên trên, hiện nay người ta đề cập đến thuyết ứng suất cắn (cong răng) [24],[38],[49],[53]
Một số tác giả cho rằng các nguy cơ chính gây mòn cổ răng đó là tuổi, chế độ ăn, vệ sinh răng miệng và thuốc chải răng [53]
+ Khi khớp cắn ở tương quan trung tâm, lực tác động lên dọc theo trục của răng Ngược lại, khi khớp cắn lệch tâm lực tác động lệch về phía bên của răng làm răng bị biến dạng và bị cong kết quả làm bề mặt men răng ở vùng cổ răng
Trang 13bị yếu đi Sau đó, nước và các phân tử nhỏ khác xâm nhập vào giữa các trụ men và ngăn cản sự liên kết giữa các tinh thể Cuối cùng, men răng bị phá vỡ
và bộc lộ lớp ngà răng ở vùng cổ Thuật ngữ để chỉ quá trình này là
“Abfraction” [24],[38],[53]
1.2.5 Các biện pháp sử trí tổn thương cổ thân răng:
1.2.5.1 M òn cổ răng:
+ Nếu chỉ có mòn men:
- Bệnh nhân không có triệu chứng cơ năng thì không cần sử trí gì
- Trường hợp bệnh nhân có ê buốt thì chống ê buốt cho bệnh nhân bằng cách bôi gel Fluor
+ Nếu tổn thương hình đĩa hoặc hình chữ u thì cần phải trám phục hồi giống như mòn cổ răng hình chêm
1.23.2.Sâu cổ răng và mòn cổ răng hình chêm:
+ Trước đây khi chưa xuất hiện vật liệu glass ionomer cement và composite
thì sâu cổ răng và mòn cổ răng hình chêm được trám bằng amalgam, xi măng silicat hoặc xi măng cacboxylat
- Amalgam: Đây là vật liệu được sử dụng rộng rãi từ cuối thế kỷ 19, cho đến nay vẫn còn được nhiều nha sỹ áp dụng để trám răng sau Vật liệu này có
độ bền cơ học tương đối cao nhưng khi trám để lưu giữ được miếng trám cần phải tạo lưu cơ học thật tốt Như vậy sẽ tổn thương tới mô răng nhiều Màu sắc của amalgam lại không đảm bảo thẩm mỹ Mặt khác ở vị trí vùng cổ răng dễ
bị sâu răng, do amalgam không có khả năng phóng thích Fluor nên dễ bị sâu răng tái phát sau trám [5].Vì vậy hiện nay người ta không sử dụng vật liệu này
để trám cho sâu cổ răng và mòn cổ răng hình chêm
Trang 14- Xi măng silicat: Không bền, hay bị bong hoặc gẫy vỡ do sự kết dính giữa xi măng và tổ chức răng rất yếu Màu sắc và độ bóng không tương hợp với màu sắc và độ bóng của răng nên dễ bị phát hiện Mặt khác dễ gây tổn thương tủy răng Vì những lý do trên, hiện nay vật liệu này cũng không được
sử dụng để trám tổn thương cổ thân răng
- Xi măng cacboxylat: Vật liệu này có sự kết dính tốt với men và ngà răng nhờ khả năng liên kết phức hợp vòng càng của nhóm cacboxyỉ với calcium của tổ chức cứng của răng Không gây hại cho tủy răng do phân tử lớn nên không thấm qua được các ống ngà Tuy nhiên có nhược điểm là độ chịu nén không cao và màu sắc không đáp ứng được yêu cầu thẩm mỹ Vì vậy hiện nay nó cũng không được sử dụng để trám cho các tổn thương cổ thân răng
+ Năm 1972 glass ionomer cement được cải tiến bởi Wilson và Kent, sau đó
nó được sử dụng rộng rãi để trám răng, đặc biệt là răng sữa cho trẻ em Đây là vật liệu có khả năng bám dính tốt vào men ngà nhờ phức hợp vòng càng với canxi và trao đổi ion đồng thời có sự giải phóng fluor giúp tổ chức cứng của răng dễ dàng tái khoáng hoá và phòng chống sâu răng tái phát [17] Nhưng vật liệu này cũng có một sô' nhược điểm là độ bền và chịu lực không cao và độ đục không phù hợp với màu sắc của răng do đó chưa đáp ứng yêu cầu về thẩm
mỹ Gần đây vật liệu này đang được các nhà sản xuất cải tiến như glass ionomer biến tính bạc (Silver modified glass ionomer), glass ionomer chịu lực cao (High stregth glass ionomer) và glass ionomer biến tính nhựa (Resin modified glass ionomer-Viết tắt là RMGI) để khắc phục các nhược điểm trên [1]
+ Composite được sử dụng phổ biến ở các nước phát triển vào thập kỷ 80 và ở
Việt nam vào giữa thập kỷ 90 của thế kỷ trước Sự ra đời của composite làm
Trang 15thay đổi diện mạo của nha khoa thẩm mỹ, nó đáp ứng nhu cầu của nha sỹ cũng như bệnh nhân Vật liệu trám răng này ngày càng được sử dụng rộng rãi
để tái tạo lại hình thể giải phẫu và thẩm mỹ cho các tổn thương tổ chức cứng của răng nói chung và cổ thân rãng nói riêng Tuy nhiên bên cạnh đó composite vẫn còn một số nhược điểm vẫn chưa khắc phục được là sự co rút trong quá trình trùng hợp làm hở bờ miếng trám dễ gây sâu răng tái phát và kết nối ngà răng yếu [3],[9],[12] Cũng như glass ionomer cement, các nhà sản xuất cũng đang cố gắng cải tiến cho ra đời loại vật liệu như composite lỏng, composite nén, composite sứ, compomer để khắc phục được các nhược điểm trên
+ Đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện để đánh giá kết quả của các vật liệu glass ionomer cement và các loại composite trám tổn thương cổ thân răng dựa vào các tiêu chí: sự lưu giữ, hợp màu, sát khít bờ, nhiễm màu bờ, hình thể giải phẫu, bề mặt miếng trám và sâu răng tái phát Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu còn trái ngược như ở bảng sau:
Trang 16Tác giả Thời
gian Vật liệu
Tiêu chí đánh giá
Lưugiữ
(%)
Hợpmàu
(%)
Khítbờ(%)
Nhiễmmàubờ
(%)
Hìnhthể
(%)
Bềmặt
(%)
Sâutáiphát(%)Brackett
ww [27]
12tháng
Composite Miếng trám composite biểu hiện kết quả tốt
nhất ở tất cả các tiêu chí trên Compomer kết quả xấu không đáng kể Kém nhất là RMGI
CompomerRMGILolwaczny
M [30]
5năm
Trang 171.3 Vật liệu trám răng:
1.3.1 Glass inom er cement (GIC): [8],
1.3 Ỉ I K hái niệm:
GIC là một hệ thống kết hợp giữa bột và nước Thành phần gồm bột
là tinh thể alum ino fluoro silicate và nước là acid polyacrylic Hai thành phần này khi trộn tạo thành cement là một chất tựa vô định hình tạo nên
do phản ứng giữa acid polyacrylic và các muối kiềm của thủy tinh (phản ứng acid-base) bao quanh những thể thủy tinh còn sót lại không tham gia phản ứng
* Phân loại theo thành phần:
+ GIC đơn thuần: chỉ có các thành phần cơ bản của GIC là acid poly alkenoic, hạt thủy tinh hoạt hóa và nước Ví dụ: fuji IX
+ GIC được tăng cường: ngoài 3 thành phần chính còn có thêm các thành phần tăng cường khác như:
- GIC có thêm kim loại: bổ sung một lượng những hạt kim loại bạc tương đương 40% cân nặng của cement để làm tăng độ cứng và làm cho cement cứng hơn Loại này có thể được dùng để tái tạo lõi răng khi còn 50% cấu trúc răng hoặc trám những lỗ hàn mặt nhai ở vị trí chịu lực nhai Ví dụ: ketac silver
- GIC có tăng cường thêm monomer ái nước trong thành phần nước và
nó được cứng lại bằng hệ thống hóa trùng hợp hay quang trùng hợp Ví dụ: Fuji n, Fuji n LC
Trang 18- GIC trong đó acid polyalkenoic có các nhánh phụ là các gốc tự do có thể trùng hợp được Ví dụ: vitrabond.
* Phân loại theo cách trình bày:
+ Loại có hai thành phần: bột và nước Khi sử dụng trộn bột và nước vào nhau theo tỷ lệ của nhà sản xuất
+ Loại một thành phần: dạng bột khử nước, khi dùng trộn với nước cất + Dạng nang đẩy: có chứa sẵn bột và nước, đánh bằng máy khi dùng
* Phân loại theo họ vật liệu:
+ Cement gắn: Có tỷ lệ bột/nước là 1,5 :1 Cứng nhanh với sự chống ngấm nước sớm Dùng để gắn chụp, cầu răng, inlay và thiết bị chỉnh nha
+ Cement trám răng:
- Loại hàn răng thẩm mỹ gồm 2 loại: tự trùng hợp và lưỡng trùng hợp
- Loại tái tạo mỏm cụt thân răng
+ Cement trám lót:
- Có thể tự trùng hợp hay lưỡng trùng hợp
- Dùng như một lớp lót đáy
1.3.1.4 ư u điểm của GIC:
+ Dính hoá học với ngà và men nhờ sự trao đổi ion: Chất polyacrylic acid
trong cement sẽ xâm nhập vào ngà và men răng và di chuyển ion phosphat đi
Để duy trì một sự cân bằng điện phân hợp lý ở trên bề mặt của răng, mỗi ion phosphat sẽ lấy đi một ion calcium và các ion bị dời đổi này sẽ làm tăng các đặc tính vật lý của cement và như vậy phát sinh lớp ion phong phú ở bề mặt tiếp giáp
+ Giải phóng những ion fluor kéo dài theo thời gian: fluor phát sinh đầu tiên
từ bột tinh thể vì nó được dùng như một chất làm chảy trong giai đoạn chế tạo Fluor được giải thoát từ GIC có thể đo lường một cách dễ dàng và mạnh trong tháng đầu tiên và tiếp tục sau đó số lượng sẽ giảm từ từ dần sau khoảng thời gian 3 tháng thì sẽ có một sự tiết ra đều đặn trong suốt thời gian tồn tại của
Trang 19miếng trám Fluor được giải phóng ra ngấm vào vùng cấu trúc răng xung quanh có thể ngăn chặn được sâu răng tái phát.
+ Tương hợp sinh học tốt với tủy răng
+ Độ bền và sức chịu lực khá tốt khi trộn có tỷ lệ bột cao (2,5/1)
+ GIC hóa trùng hợp dễ sử dụng, giá thành chấp nhận được, không đòi hỏi thiết bị đi kèm
13.1.5 Các yếu tô' ảnh hưởng đến độ bền và sự bám dính của GĨC:
+ Sự ngấm nước: Trong phản ứng đông cứng có một vấn đề là chuỗi calcium
polyacrylate thì yếu và rất dễ tan trong nước và nếu miếng trám hoàn tất cần phải bền lâu thì cement cần được bảo vệ để ngăn chặn sự ngấm nước trong khi chờ chuỗi Aluminium polyacrylate hình thành Các nhà sản xuất giải quyết vấn đề này phần nào bằng cách lấy đi các ion calcium thừa ở bề mặt của bột thủy tinh trong quy trình chế tạo do đó cement cứng nhanh và chống ngấm nước sớm Vì lý do trên, trên lâm sàng cần bảo vệ miếng trám GIC ít nhất trong vòng 24h đầu dưới một lóp vecni trước khi đánh bóng
+ Việc sửa soạn ngà: Trong nghiên cứu về sự dính, người ta đã biết là sự dính tốt nhất xảy ra giữa các bề mặt trơn láng và sạch Do đó để tạo sự dính tốt nhất, cần phải sửa soạn bề mặt xoang trơn láng và thật sạch Trong trường hợp tổn thương soi mòn thì không cần phải mài Lớp ngà mủn có thể được lấy đi nhờ một acid nhẹ như loại polyacrylic acid 10% bôi vào răng và để không quá
10 giây Khi đó xoang sẽ có một bề mặt sạch sẽ, lớp bùn ngà được lấy đi mà không có sự tiếp tục mất khoáng của lóp ngà phía dưới và cũng không mở các ống ngà Hơn nữa tính thấm ướt của bề mặt được gia tăng và chất cement sẽ
áp sát tốt lúc vừa được đặt vào Trên lâm sàng, sau khi lấy sạch lớp ngà hoại
tử, phải bôi lên bề mặt xoang một lớp acid polyacrylic 10% trong 10 giây Sau
đó phải rửa thật kỹ rồi lau khô bằng 1 viên bông nhỏ Hạn chế làm mất nước
bề mặt răng vì trong phản ứng đông cứng phải có nước Nếu răng khô quá thì
Trang 20nó có thể rút nước khỏi cement và làm xáo trộn sự cân bằng của sự trao đổi
ion là yếu tố để tạo sự bám của vật liệu
+ Tỷ lệ bột/nước: Tỷ lệ bột càng nhiều thì miếng trám càng chắc
Composite là một vật liệu được cấu tạo bằng cách phối hợp hai haynhiều vật liệu có tính chất hóa học khác nhau và không tan vào nhau Sự phối
hợp này khiến vật liệu composite đạt được các tính lý hóa theo yêu cầu
+ Sự xuất hiện của vật liệu composite nha khoa được bắt đầu từ năm 1955:
Michel Buoconore đã xử lý bề mặt men răng bằng acid phosphoric 85% trong
30 giây sau đó dán nhựa acylic và thấy acylic bám vào răng bền hơn 100 lần
so với răng không được xử lý bằng acid trên
+ Năm 1962: Bowen đã tạo ra hệ thống nhựa Bis-GMA từ glycidyl
metacrylate và được gọi là nhựa Bowen và được sử dụng rộng rãi trong hầu hết
các composite thương mại
+ Năm 1971, Công ty LD Caulk of Miford, Deleware giới thiệu hệ thống nhựa
Nuva được trùng hợp bằng tia cực tím Sau đó composite nha khoa đã được
làm cứng lại bằng ánh sáng đèn halozen Từ đây kỹ thuật hàn răng bằng
composite trở nên phổ biến
+ Từ đó đến nay, composite nha khoa không ngừng được các nhà sản xuất cải
tiến và hoàn thiện hơn để tìm ra một vật liệu trám răng lý tưởng
1.3.2.2 Thành phần của composite nha khoa:
Có hai thành phần cơ bản: - Pha hữu cơ (chất nhựa khung)
- Pha vô cơ (hạt độn)Hai thành phần trên được gắn với nhau bởi pha liên kết (chất kết dính) Ngoài
ra còn có một số chất như: chất tạo màu, chất khởi động trùng hợp, chất gia
tốc, chất ức chế, chất ổn định các loại composite cơ bản có pha hữu cơ
I
Trang 21giống nhau, chỉ khác nhau về pha vô cơ đó là kích thước hạt độn, tỷ lệ cấu tạo
và các chất pha màu
* Pha hữu cơ: được sử dụng trong composite là những Este của acid metacrylic với những phân tử rượu cao, chúng kết nối với nhau tạo thành khung kết cấu polymeric vững chắc Nhựa khung có thể là một trong các loại nhựa sau hoặc trộn lẫn vào nhau với tỷ lệ khác nhau:
+ Nhựa bowen (Bis-GMA): có trong phần lớn các thành phần composite
là sự kết hợp của một phân tử Bis-phenol A với 2 phân tử metacrylate
+ Nhựa polymetacrylate (acrylic): được khơi mào bằng tri-N-butyl- boran Sự khơi mào được tác động ở môi trường ẩm
+ Nhựa epoxy đồng trùng hợp: là sự đồng trùng hợp của epoxy và diacrylate, đây là hai phân tử có kết cấu khác nhau Do nhựa này không có gốc tự do nên có tính trơ làm hạn chế độ co khi trùng hợp và ít độc
+ Nhựa uréthane: là nhựa dimetacrylate uréthane, nhựa này có thể đưa thêm nhiều hạt độn và làm tăng độ kết dính của composite do nhóm amin bậc
3 có thể tạo cầu nối Hydro và không có nhóm OH nên làm composite ít ngấm nước và ít đổi màu Tuy nhiên trong công thức của nhựa không có nhân thơm nên kém cứng chắc hơn Bis-GMA
Quá trình trùng hợp gây ra một số tính chất lý hóa của composite như:
sự hấp thu nước, co bờ mép, nhớt, ổn định, độc tính Người ta có thể thay đổi các tính chất trên nhờ cấu tạo độ dài của phân tử
* Pha vô cơ: hạt độn khác nhau về kích cỡ và chất liệu
+ Cấu tạo hóa học: hạt độn có thể là thạch anh, thủy tinh, sứ hoặc hạt độn kim loại nặng
- Thạch anh (Si02) - Quartz: là vật liệu cứng, trơ về hóa tính, độ nở nhiệt thấp, có chỉ số khúc xạ giống mô răng nên có tính thẩm mỹ Hạt độn thạch anh được chế tạo bằng 2 phương pháp: TRƯƠNG :.:ti r-;ếu DƯỠNG
f4 A'.' t'i'ir!
T H Ư V X Ẹ Ỉ Í
Trang 22Nhiệt phân: chế tạo bằng phương pháp hóa học ở nhiệt độ cao.
Tiền trùng hợp vào bọc bằng silane để tăng độ cứng và kết dính
Hạt thạch anh có 2 loại hạt độn: nhỏ (0,04-0,07 micron) và lớn (> 0,1 micron) Với hạt độn nhỏ có hình bầu dục hay đa cạnh không đều thì cứ 1 gram hạt độn cho 300m2 diện tiếp xúc với khung nhựa
- Thủy tinh hay sứ: cho độ cứng kém hạt độn thạch anh và không trơ về tinh hóa học Thường sử dụng các hạt độn sứ thủy tinh như: thủy tinh lithium/aluminium, thủy tinh baryum / aluminium
- Kim loại nặng: có tính cản quang và độ cúng cao như: niobium, thiếc, titan + Hình dạng và kích thước hạt độn:
- Hình dạng: có thể không tròn đều, có cạnh sắc hoặc tròn, bầu dục nhằm tăng diện tiếp xúc và độ cứng
- Kích thước: hạt độn quyết định thẩm mỹ và khả năng làm nhẵn bóng của composite (Hạt độn nhỏ: 0,04 micron, Hạt độn lớn: 1-50 micron)
- Hạt độn < 1 micron: có khả năng làm nhẩn bóng gần giống men răng thật
- Hạt độn 1-8 micron: có khả năng làm nhẵn bóng
- Hạt độn > 1 0 micron: không làm nhẩn bóng được
+ Khối lượng chứa hạt độn: Nhờ kỹ thuật tiền trùng hợp có thể tăng khối lượng hạt độn tới 80% khối lượng của composite do đó tăng tính chịu lực
và vẫn đảm bảo sự kết dính, độ nhẩn bóng và màu sắc
* Pha liên kết: Nhằm tăng cường sự liên kết giữa nhựa khung và các hạt độn, người ta sử dụng chất silane làm pha liên kết Chất silane hữu cơ có các phân
tử lưỡng cực: một cực nối với nhựa khung, một cực nối với chất độn Khi đó
sự trùng hợp hạt độn với nhựa khung hoàn toàn và tăng độ cứng lên gấp đôi,
độ dẻo tăng lên gấp ba lần
Trang 2313.2.3 Phân loại composite:
Dựa vào kích thước hạt độn chia 3 loại composite:
* Composite hạt độn lớn (Macrofiller composite)
Đây là loại composite thế hệ đầu tiên sử dụng vào những năm 60-70 của thế kỷ trước Gồm 60-75% hạt độn vô cơ chế tạo bằng cách nghiền đá thạch anh, thủy tinh và sứ Hạt độn có kích cỡ 1-50 micron, có hình dạng mảnh vỡ Loại này tuy cứng rắn, cản quang nhưng làm nhẵn bóng kém, hay hở rìa, đổi màu do đó hiện nay không sử dụng
* Composite hạt độn nhỏ (Microfiller composite)
Hạt độn nhỏ có kích cỡ 0,04 micron được chế tạo tử đá silice dưới nhiệt
độ cao Do kích cỡ nhỏ, diện tiếp xúc giữa hạt độn và nhựa khung tăng rộng làm tăng sự kết hợp Có hai loại:
- Hạt độn nhỏ đồng thể: khối lượng hạt độn < 80% nên độ cứng không tốt
- Hạt độn không đồng thể: trộn pyrogenic silicon dioxide với monomers
và gây quang trùng hợp trước Hạt độn kích cỡ 10-70 micron Độ cứng tăng, tính nhẵn bóng cao, ít đổi màu
* Composite lai (Hybrid composite)
Gồm cả hạt độn nhỏ (0,04 micron) và hạt độn lớn (1 -2 0 micron) nên vừa có khả năng làm nhẵn bóng, vừa cứng rắn, lại có tính cản quang tuyến X
1.4 Các nghiên cứu trong và ngoài nước:
1.4.1 Ngoài nước:
+ Năm 1985 lần đầu tiên Me Lean và cộng sự [39] đã tiến hành kỹ thuật trám phối hợp giữa composite và GIC cho xoang trám loại in và V, trong đó lóp
GIC được lót ở phía dưới và lớp composite thì phủ ở phía trên Sau đó kỹ thuật
này được gọi là kỹ thuật “Sandwich” hoặc “Laminate” và được nhiều tác giả nghiên cứu, áp dụng như Mount GJ (1989,1990) [42],[43]; Suzikizi (1996) [52]; Woolford M (1993) [56] Các nghiên cứu này đều đánh giá kỹ thuật đem lại sự bám dính hoá học chắc chắn tói ngà răng của GIC, sự kết dính vi cơ học
Trang 24giữa composite với GIC , khắc phục được những nhược điểm và tăng cường được ưu điểm của cả hai vật liệu , đem lại một miếng trám bền vững và đáp ứng thẩm mỹ.
+ Đồng thời với các áp dụng kỹ thuật trên lâm sàng cho tổn thương cổ răng, nhiều tác giả đã thực hiện các nghiên cứu cả trên lâm sàng và trên thực nghiệm để so sánh kỹ thuật trên với các kỹ thuật khác như hàn đơn thuần hoặc glass ionomer cement hoặc composite:
- Nghiên cứu thực nghiệm của Sidhu SK (1993) [51] đã sử dụng cả 3 phương pháp trám đơn thuần composite , glass ionomer và phối hợp cả hai vật liệu trên và kết quả cho thấy phương pháp phối hợp hai vật liệu làm giảm tối thiểu vi kẽ
- Kleitches AJ và cộng sự (1995) [35] cũng làm thực nghiệm trên răng nhổ và sử dụng cả 3 phương pháp trên cũng cho kết quả tương tự
- Neo J và cộng sự (1996) [44] áp dụng trên lâm sàng cả 3 phương pháp trên kết quả sau 3 năm thấy phương pháp phối hợp đạt tỷ lệ lưu giữ tốt nhất (96%)
- Rich E và cộng sự (1990) [50] cũng áp dụng cả 3 phương pháp trên lâm sàng cho thấy phương pháp phối họp hai vật liệu mang lại kết quả tốt nhất
- Powell LV và cộng sự (1992) [48] áp dụng cả 3 phương pháp trên lâm sàng Sau 2 năm thấy hầu hết các miếng trám của 3 phương pháp được chấp nhận trên lâm sàng về các tiêu c h í Riêng về lưu giữ phương pháp phối họp glass ionomer và composite đạt kết quả tốt 100%
1.4.2 Trong nước:
+ Nhận xét lâm sàng kỹ thuật trám từng lớp với ciment de veưe ionomère
(glass ionomer) và composite - Bs Phạm Hồng Nhung báo cáo tại hội nghị khoa học kỹ thuật 14 năm 1992 [16] Tác giả đã trám 74 răng bị tổn thương ở
Trang 25cổ răng trong đó đa số là dạng mòn cổ răng Qua 1 năm theo dõi thấy kết quả tương đối tốt.
+ Sự liên kết men - ngà - glass ionomer cement - composite resin trong kỹ thuật Sandwich: Khảo sát dưới kính hiển vi điện tử - Dương Tú Hạnh, Ngô Chí Hiền năm 1997 [6] Tác giả đã đưa ra kết luận sự liên kết men ngà với glass ionomer cement là liên kết hoá học chặt chẽ còn sự liên kết giữa glass ionomer cement với composite là liên kết cơ học Tác giả còn khẳng định kỹ thuật này thích hợp cho các xoang sâu sát lợi khó kiểm soát được sự ẩm ướt do dịch lợi và máu
Qua các nghiên cứu trên và qua các phương pháp trám cổ thân răng, chúng tôi nhận thấy chưa có tác giả nào sử dụng phối hợp giữa glass ionomer
với composite lỏng và composite đặc Mặt khác ở nước ta, các nghiên cứu về
kỹ thuật trên còn ít Vì lý do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu này
Trang 26Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
2.1 Địa điểm nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện tại khoa điều trị răng miệng người lớn Viện Răng Hàm Mặt Hà nội
2.2 Đối tượng nghiên cứu:
Bao gồm 12 bệnh nhân bị tổn thương ở cổ răng (Sâu hoặc mòn cổ ră n g )
72 răng bị tổn thương vùng cổ và được chia làm 2 nhóm:
+ Nhóm I: 36 răng được trám bằng composite có lót glass ionomer cement (Viết tắt là phương pháp C-GIC)
+ Nhóm É: 36 răng được trám bằng glass ionomer cement đơn thuần (Viết tắt
là phương pháp GIC)
Phân bệnh nhân theo 3 nhóm tuổi: 20 - 34, 35- 45 và > 45
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân cho cả hai nhóm:
+ Bệnh nhân không phân biệt giới tính, có tối thiểu hai răng bị tổn thương ở cổ răng (Sâu hoặc mòn cổ răng) và có độ sâu > 1 ,5 mm và bề rộng > 2 mm
+ Răng bị tổn thương phải:
- Không có bệnh lý tuỷ răng
- Không bị sang chấn khớp cắn
- Tổ chức quanh răng không bị viêm nhiễm
Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Bệnh nhân không đồng ý tham gia vào nghiên cứu
+ Bệnh nhân không có điều kiện để theo dõi
+ Bệnh nhân mắc các bệnh toàn thân cấp và mãn tính
2.3 Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu lâm sàng có đối chứng
Trang 272.3.1 Trước điều trị: (Khám và ghi vào phiếu theo dõi đầy đủ các thông tin)
- - Hỏi bệnh:
+ Răng có bị ê buốt hoặc đau không
+ Đau, buốt tự nhiên hay khi có kích thích
+ Thời gian đau hoặc buốt kéo dài bao lâu
+ Đau liên tục hay từng cơn
~~ Khám răng:
+ Răng chắc hay lung lay
+ Có bị mòn mặt nhai và sang chấn khớp cắn không
+ Có phản ứng tủy không
+ Độ sâu của tổn thương vùng cổ rãng
Khám tổ chức quanh răng:
+ Có viêm hay không
+ Có tiêu xương ổ răng không
Đo kích thước của tổn thương: dùng sonde thăm dò nha chu
+ Độ sâu: Đo từ đáy của tổn thương đến ngang bờ men và bờ lợi của tổn thương
+ Bề rộng: Đo từ mép bờ men đến bò lợi của tổn thương
2.3.2 Dụng cụ và vật liệu:
+ Bộ dụng cụ khám: Gương, kẹp gắp, thám châm và sonde nha chu.+ Nạo ngà, cây đưa chất hàn, cây điêu khắc
+ Mũi khoan để tạo lỗ trám và hoàn tất
+ Bột pumic mịn và đài cao su
Trang 28+ Bộ hoàn tất đánh bóng composite Super snap của Shoufu.
+ Đèn quang trùng hợp
+ Giấy và que trộn glass ionomer cement
+ Cây tách lợi và chỉ co lợi
23.2.2 Vật liệu:
• Glass ionom er cem en t: Sử dụng Fuji n của hãng GC
Fuji II là glass ionomer hoá trùng hợp dùng để trám cho lỗ sâu loại HI, loại V
+ Thời gian làm việc: 1 phút 45 giây
+ Thời gian hoàn tất toàn bộ: 2 phút 40 giây
0 Composite: Sử dụng Tetric Ceram và Tetric Flow của hãng Vivadent.
Đây là loại composite lai hạt độn nhỏ quang trùng hợp
*■ Đặc tính:
+ Hạt độn chiếm 80% thể tích
+ Kích thước hạt độn trung bình
Trang 29+ Phóng thích Fluoride.
+ Không dính, dễ điêu khắc, tính ổn định và độ nhớt cao
+ Bề mặt láng bóng, kháng mòn và thẩm mỹ cao
+ ít nhạy với ánh sáng xung quanh, cản quang tốt
+ Riêng Tetric Flow có độ chảy cao giúp vật liệu sát khít thành xoang
mà không bị bọt khí, không cần điêu khắc
+ Có 15 màu: 11 màu men, 3 màu ngà và 1 màu cạnh cắn
*■ Đóng gói:
Tetric Ceram được chứa trong dạng nhộng, mỗi nhộng 0,25g
ểtK eo dán: sử dụng Syntac Sprint của hãng Vivadent
Đặc tính:
+ Sử dụng nhanh, chỉ cần 1 lần bôi
+ Trùng hợp cùng lúc với lớp composite đầu tiên
+ Chịu được độ ẩm khác nhau của bề mặt ngà răng
2.33.1 K ỹ thuật trám F uji I I đơn thuần:
‘• ’Bước I:sửa soạn lỗ trám
+ Nếu răng bị sâu vùng cổ: lấy tổ chức men ngà mủn bằng mũi khoan tròn, động tác nhẹ nhàng tránh gây tổn thưong nhiều men và ngà răng
+ Nếu răng bị lõm hình chêm thì dùng đài cao su và bột pumic mịn để làm sạch vùng cổ răng
+ Rửa sạch vùng xoang và thấm khô
r>
/
Trang 30*■ Bước 2 : t rám F uji II
+ Dùng bông vê nhỏ chấm dung dịch để trộn Fuji n bôi vào toàn bộ xoang, để trong 10 giây sau đó dùng bông ướt lau sạch và thấm khô
+ Trộn Fuji n theo đúng tỷ lệ bột nước:
- Dùng thìa lấy 1 thìa bột nhẹ nhàng, không ấn và gạt ngang miệng thìa vào thành lọ bột
- Để bột lên tấm giấy trộn và chia làm 2 phần đều nhau
- Nhỏ 1 giọt dung dịch lên giấy đánh chất trám: chú ý khi lấy dựng ngược lọ dung dịch thẳng đứng, đầu lọ cách tấm giấy trộn 5 cm, bóp lọ nhẹ tránh bọt khí
- Trộn phần bột đầu với toàn bộ dung dịch trong vòng 10 giây Thêm phần bột còn lại và trộn tiếp trong 15-20 giây
+ Đặt cây tách lợi vào bờ lợi của tổn thương nếu tổn thương cổ răng ở mặt
ngoài Nếu tổn thương ờ mặt gần, xa hoặc trong thì đặt chỉ co lợi.
+ Đưa vật liệu vào xoang từng lượng nhỏ một bằng cây đưa để tránh bọt khí
+ Chờ khoảng 2 phút thì bỏ cây tách lợi ra và ngay lập tức bôi lên bề mặt miếng trám lóp Vamish, sau đó dùng xịt thổi hơi nhẹ để làm khô lớp Vamish, luôn chú ý cách ly nước bọt
+ Lấy phần vật liệu thừa và hoàn tất Bôi lóp Vamish lên miếng trám đã hoàn tất
2.33.2 K ỹ thuật trám bằng composite có lót F uji
‘• ’Bước 1 :Sửa soạn lỗ trám
Giống kỹ thuật trên nhưng tạo vát men ở phía bờ cắn của tổn thương, diện vát 1-1,5 mm
Trang 31+ Đặt cây tách lợi ở bờ lợi của tổn thương
+ Bôi lớp keo dán lên toàn bộ xoang và để 30 giây sau đó thổi hơi nhẹ
+ Đặt composite từng lóp mỏng và chiếu đèn 40 giây rồi bỏ cày tách lợi
+ Hoàn tất và đánh bóng
S ơ ĐỔ TRÁM
Trang 32CÁC BƯỚC K Ỹ T H U Ậ T
Trang 332.3.4 Theo dõi và đánh giá:
Sau 3 ngày điều trị, hẹn bệnh nhân đến kiểm tra Ở giai đoạn này, các dấu hiệu thực thể chưa biểu hiện mà chỉ có triệu chứng mang tính chất chủ quan, đó là phản úng của tủy răng
•" Do đó cần hỏi bệnh nhân:
- Ăn nhai có bình thường không
- Ê buốt khi ăn nóng lạnh không
- Đau hoặc buốt tự nhiên không
•" Đánh giá:
- Tốt (A): không ê buốt
- Trung bình (B): ê buốt khi có kích thích sau đó hết
- Xấu (C): đau hoặc buốt tự nhiên
• Đánh giá sau 3 và 6 tháng điều trị:
• - Phân 3 loại:
- Tốt (A)
- Chấp nhận được trên lâm sàng (B)
- Không chấp nhận được trên lâm sàng (C)
Trang 34Dựa vào các tiêu chí sau:
1 Phản ứng của tuỷ răng:
- A: không ê buốt
- B: ê buốt khi có kích thích, hết kích thích thì hết ê buốt
- C: đau hoặc ê buốt tự nhiên
2 Sự lưu giữ của miếng trám:
- A: miếng trám còn nguyên vẹn
- B: miếng trám bị bong vỡ một phần
- C: miếng trám bị bong hoàn toàn
3 Sự hợp màu của miếng trám:
- A: miếng trám cùng màu với men răng hoặc hơi vàng
- B: miếng trám không cùng màu với men răng
- C: miếng trám đổi màu hoàn toàn
4 Sự khít khao của bờ miếng trám và sâu răng tái phát:
- A: bờ miếng trám liên tục với bề mặt răng
- B: có rãnh dọc ở bờ miếng trám nhưng chưa đi tới ranh giới men ngà.
- C: có rãnh dọc bờ miếng trám tói ranh giới men ngà và răng tái phát
Trang 35*■ Dựa vào các tiêu chí sau:
1 Phản ứng của tuỷ răng:
- A: không ê buốt
- B: ê buốt khi có kích thích, hết kích thích thì hết ê buốt
- C: đau hoặc ê buốt tự nhiên
2 Sự lưu giữ của miếng trám:
- A: miếng trám còn nguyên vẹn
- B: miếng trám bị bong vỡ một phần
- C: miếng trám bị bong hoàn toàn
3 Sự hợp màu của miếng trám:
- A: miếng trám cùng màu với men răng hoặc hơi vàng
- B: miếng trám không cùng màu với men răng
- C: miếng trám đổi màu hoàn toàn
4 Sự khít khao của bờ miếng trám và sâu răng tái phát:
- A: bờ miếng trám liên tục với bề mật răng
- B: có rãnh dọc ở bờ miếng trám nhưng chưa đi tới ranh giới men ngà
- C: có rãnh dọc bờ miếng trám tới ranh giới men ngà và răng tái phát