1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng biến chứng do tăng huyết áp của người bệnh tại bệnh viện đa khoa tỉnh quảng ninh năm 2018

109 53 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng kiến thức, thực hành phòng biến chứng do tăng huyết áp của người bệnh tăng huyết áp, đồng thời xác định một số yếu tố liên quan đến

Trang 1

ĐINH THỊ THU

KIÉN THỨC, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YỂU TỐ LIÊN QUAN ĐÉN PHÒNG BIẾN CHỨNG DO TĂNG HUYẾT ÁP CỦA NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA

TỈNH QUẢNG NINH NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SỸ ĐIỀU DƯỠNG

Mã số: 8720301

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS.Nguyễn Hồng Hạnh

NAM ĐỊNH - 2018

Trang 2

TÓM TẮT NGHIÊN cứu

Tăng huyết áp là một bệnh không lây nguy hiểm, bởi các biến chứng của nó thường để lại những di chứng nặng nề, thậm chí gây tử vong Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng kiến thức, thực hành phòng biến chứng do tăng huyết áp của người bệnh tăng huyết áp, đồng thời xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành của người bệnh Nghiên cứu với thiết kế mô tả cắt ngang được tiến hành từ tháng 12/2017 đến 08/2018 trên 322 người bệnh tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc được thiết kế sẵn Các phiếu trả lời phỏng vấn được mã hóa, nhập liệu và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0

Kết quả nghiên cứu: Có 61,2% người bệnh có kiến thức đạt và 55,3% người bệnh có thực hành đạt về phòng biến chứng do tăng huyết áp Kết quả cũng chỉ ra các yếu tố: Trình độ học vấn, giới tính, tiền sử gia đình có người mắc tăng huyết áp ảnh hưởng tói kiến thức của người bệnh và ảnh hưởng tới thực hành phòng biến chứng của người bệnh là 2 yếu tố: giới tính và thời gian bị mắc tăng huyết áp Kết quả cũng cho thấy kiến thức về phòng biến chứng tăng huyết áp có liên quan chặt chẽ với thực hành đạt của đối tượng nghiên cứu

Kết luận: Kiến thức của người bệnh tham gia nghiên cứu về phòng biến chứng tăng huyết áp còn chưa cao đặc biệt là kiến thức về biến chứng và dấu hiệu sớm của các biến chứng Thực hành của đối tượng nghiên cứu về thay đổi lối sống,

xử trí khi có dấu hiệu của con tăng huyết áp kịch phát còn nhiều hạn chế và tỷ lệ người bệnh kiểm soát được chỉ số huyết áp là rất thấp

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn tốt nghiệp này là kết quả của quá trình học tập tại Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định của tôi trong hai năm theo học chương trình cao học, chuyên nghành khoa học điều dưỡng Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tôi

đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các Thầy Cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình.

Trước hết tôi xỉn bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sẳc đến Giảng viên hướng dẫn PGS TS.Nguyễn Hồng Hạnh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi hoàn thành đề tài này.

Tôi xỉn chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo Sau đại học, các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã có nhiều công sức đào tạo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.

Tôi xỉn chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các cán bộ, giảng viên trường Cao đẳng Y tể Quảng Ninh đã tạo điều kiện cho tôi được đi học cũng như tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình làm việc, học tập và nghiên cứu.

Tôi xỉn chân thành cảm ơn Ban giám đốc và tập thể cán bộ phòng khám Nội tim mạch bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất có thể để tôi hoàn thành nghiên cứu.

Sau cùng, tôi xỉn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và tập thể lớp Cao học điều dưỡng khóa 3 đã cùng tôi chia sẻ những khó khăn, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành đề tài nghiên cứu.

Xỉn trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Đinh Thi Thu

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là học viên lớp cao học điều dưỡng khóa 3, chuyên nghành Điều Dưỡng, Trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định xỉn cam đoan:

Đây là luận văn do chính tôi trực tiếp thực hiện nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của thầy hướng dẫn khoa học PGS TS Nguyễn Hồng Hạnh.

Kết quả nghiên cứu của tôi hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với bất

kỳ kết quả nghiên cứu nào được công bổ trước đó.

Các sổ liệu và thông tin trong nghiên cửu là hoàn toàn chỉnh xác, trung thực

và khách quan Đã được đồng ỷ thu thập và xác nhận của cơ sở nơi tôi thực hiện đề tài nghiên cứu.

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này!

Hạ long, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Đinh Thỉ Thu

Trang 5

1.1 Bệnh tăng huyết áp và thông tin về tăng huyết áp 4

1.1.4 Các yếu tố nguy cơ gây biến chứng tăng huyết áp 6

1.2 Các biện pháp phòng biến chứng do tăng huyết áp 13

1.2.3 Theo dõi huyết áp, nhận biết và xử trí các dấu hiệu của biến chứng 15

1.3 Các nghiên cứu vê bệnh tăng huyêt áp và phòng biên chứng tăng huyêt áp 161.3.1 Tình hình bệnh tăng huyết áp, biến chứng tăng huyết áp và nghiên cứu về

1.3.2 Tình hình bệnh tăng huyết áp, biến chứng tăng huyết áp và nghiên cứu về

1.3.3 Yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng biến chứng 20

Trang 6

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25

2.5.1 Tổ chức trước khi tiến hành thu thập số liệu 26

3.2 Kiến thức, thực hành phòng biến chứng do tăng huyết áp 383.2.1 Kiến thức phòng biến chứng do tăng huyết áp 383.2.2 Thực hành phòng biến chứng do tăng huyết áp 443.3 Yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành phòng biến chứng 49

4.2 Kiến thức và thực hành phòng biến chứng do tăng huyết áp 574.2.1 Kiến thức phòng biến chứng do tăng huyết áp 57

4.3 Yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng biến chứng tăng huyết áp 654.3.1 Yếu tố liên quan đến kiến thức phòng biến chứng tăng huyết áp 664.3.2 Yếu tố liên quan đến thực hành phòng biến chứng do tăng huyết áp 674.3.3 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành phòng biến chứng do tăng huyết 69

Trang 7

KHUYẾN NGHỊ 72

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

WHO(World Health Organization): Tổ chức Y tế Thế giới

WHR(Waist Hip Ratio):

YTNC:

Tỷ số vòng bụng/vòng mông Yếu tố nguy cơ

Trang 9

DANH MỤC BẢNG •

Bảng 1.3 Phân loại BMI dành cho người Châu Á theo IDI & WPRO 9

Bảng 3.2: Chỉ số khối cơ thể của ĐTNC theo IDI & WPRO (người Châu Á) 35 Bảng 3.3: Thông tin về bệnh tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu 36Bảng 3.4: Các mức hỗ trợ của gia đình và xã hội với ĐTNC 37

Bảng 3.6: Kiến thức về phương pháp phát hiện THA và cách điều trị THA 38Bảng 3.7: Kiến thức về dấu hiệu của tai biến mạch máu não 39Bảng 3.8: Kiến thức về dấu hiệu của biến chứng tại tim của ĐTNC 40Bảng 3.9: Kiến thức về dấu hiệu của biến chứng tại thận của ĐTNC 41Bảng 3.10: Kiến thức dấu hiệu biến chứng về mắt của ĐTNC 42Bảng 3.11: Kiến thức về dấu hiệu cơn tăng huyết áp kịch phát của ĐTNC 42Bảng 3.12: Kiến thức về nguyên tắc điều trị thuốc của ĐTNC 43Bảng 3.13: Kiến thức về thay đổi lối sống phòng biến chứng THA của ĐTNC 43Bảng 3.14: Kiến thức của ĐTNC khi gặp cơn tăng huyết áp kịch phát 44

Bảng 3.16: Thực hành tuân thủ điều trị thuốc của ĐTNC 47Bảng 3.17: Thực hành về điều chỉnh các yếu tố nguy cơ 48Bảng 3.18: Thực hành phòng tránh cơn tăng huyết áp kịch phát 48Bảng 3.19: Kết quả kiến thức và thực hành theo điểm đạt và phân loại 48Bảng 3.20: Yếu tố liên quan đến kiến thức phòng biến chứng do tăng huyết áp 49 Bảng 3.21: Yếu tố liên quan đến thực hành phòng biến chứng do tăng huyết áp 51 Bảng 3.22: Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành phòng biến chứng do THA

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ •

Biểu đồ 3.3: Xử trí khi có dấu hiệu biến chứng do tăng huyết áp 44

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐÈ

Tăng huyết áp (THA) là một bệnh tim mạch mãn tính không lây, bệnh đang có

xu hướng gia tăng trên toàn thế giới Theo ước tính của tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tỷ lệ tăng huyết áp trên thế giới năm 2000 là 26,4% tưong đương 972 triệu người và dự kiến đến năm 2025 tỷ lệ tăng huyết áp sẽ tăng lên 29,2% tương đương 1,56 tỷ người và cứ trung bình 10 người lớn có 4 người bị tăng huyết áp [41] Tăng huyết áp có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như tai biến mạch máu não, suy tim, suy thận, mù lòa thậm chí tử vong và việc không hoặc ít biểu hiện triệu chứng

ra ngoài, tăng huyết áp được mệnh danh là “giết người thầm lặng” [15] Các biến chứng của tăng huyết áp là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong các bệnh tim mạch, tỷ lệ tử vong và tàn phế do tăng huyết áp là 20-30% và biến chứng xuất huyết não lên tới 45-50% Ở người cao tuổi tử vong do tăng huyết

áp chiếm đến 81% tổng số ca tử vong [45] Theo Tổ chức Y tế Thế giới (2013), bệnh tim mạch chiếm 17 triệu ca tử vong mỗi năm, tỷ lệ tử vong do biến chứng của tăng huyết áp là khoảng 9,4 triệu người chiếm 55,3% [49]

Theo Nguyễn Lân Việt (2011) có tới 46% người bệnh nhồi máu cơ tim cấp được điều trị tại Viện tim mạch Việt Nam có liên quan đến tăng huyết áp và hơn 1/3 người bệnh tai biến mạch máu não điều trị tại Khoa thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai

có nguyên nhân là tăng huyết áp [28] Việc kiểm soát và quản lý huyết áp là vô cùng quan trọng để phòng biến chứng và giảm tỷ lệ tử vong do biến chứng Kiểm soát huyết áp hiệu quả làm giảm 40% nguy cơ đột qụy, 15% nguy cơ nhồi máu cơ tim, tuy nhiên tỷ lệ kiểm soát tốt HA bằng thuốc trên thế giới chỉ đạt từ 25^40% do tăng huyết áp thường đi kèm những yếu tố nguy cơ như hút thuốc, đái tháo đường, tăng lipit máu, béo phì, uống nhiều rượu bia, lối sống tĩnh tại và ăn mặn [12] Chính

vì vậy, muốn phòng biến chứng do tăng huyết áp người bệnh cần tuân thủ điều trị thuốc, thay đổi lối sống lành mạnh kết hợp nhận biết các dấu hiệu sớm của biến chứng để điều trị kịp thời và xử trí đúng khi có huyết áp tăng cao đột ngột nhằm giảm tỷ lệ tàn phế và tử vong

Trang 12

Qua khảo sát sơ bộ một số người bệnh tăng huyết áp tại địa phương thì hầu hết

người bệnh chỉ quan tâm đến dùng thuốc, có tới V 2 số người bệnh không biết các dấu hiệu của biến chứng do tăng huyết áp Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thơm [26] trên cùng địa bàn (2017) tỷ lệ dùng thuốc điều trị tăng huyết áp đạt 79,6%, tuy nhiên khi được hỏi về biến chứng của tăng huyết áp thì chỉ có 38,8% đối tượng nghiên cứu có biết đến các biến chứng Đặc biệt, theo một số nghiên cứu về kiến thức, thực hành phòng biến chứng tăng huyết áp tỷ lệ đạt còn thấp như nghiên cứu của Nguyễn Phan Thạch tại Bình Định (2015) người bệnh có kiến thức đạt là 48,4%, thực hành đạt là 42% [25] Nghiên cứu của Trịnh Thị Hương Giang tại Ninh Bình (2015) tỷ lệ thực hành đạt là 28,7% [6],

Báo cáo hoạt động phòng chống tăng huyết áp của Trung tâm Y tế dự phòng Quảng Ninh (2016) số người bệnh tăng huyết áp được quản lý tại trung tâm là 28.200 người trong đó số người bệnh THA có biến chứng là 2.032 chiếm 7,2% và chỉ có 3,8% người bệnh đạt huyết áp mục tiêu [21] Thống kê tại phòng khám tim mạch Bệnh viện tỉnh Quảng Ninh (2015) có 6.893 người bệnh THA đến khám và quản lý Đến năm 2016 tổng số người bệnh tăng huyết áp đến khám và quản lý đã tăng lên 10.444 người Những người phát hiện đều được quản lý tại phòng khám ban đầu nên việc dự phòng, phát hiện biến chứng sớm là rất quan trọng

Hiện tại, trên địa bàn tỉnh chưa có nghiên cứu chính thức nào về phòng biến chứng THA Chính vì vậy, để góp phần vào công tác quản lý người bệnh THA, bước đầu tìm hiểu kiến thức, thực hành phòng biến chứng THA và một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng biến chứng trên người bệnh Tạo cơ sở giúp cho lãnh đạo bệnh viện và nghành y tế xây dựng những chương trình can thiệp hiệu quả, từ đó góp phần làm giảm tỷ lệ mắc biến chứng do THA gây ra, đồng thời góp phần mở rộng và cải thiện chất lượng dịch vụ chăm sóc y tế trong bệnh viện cũng như các địa phương khác Chúng tôi tiến hành nghiên cứu:

Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng biến chứng

do tăng huyết áp của ngưòi bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh năm 2018.

Trang 13

Chương 1

Trang 14

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Bệnh tăng huyết áp và thông tin về tăng huyết áp

1.1.1 Định nghĩa tăng huyết áp

Theo tổ chức y tế thế giới WHO, tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu > 140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương > 90 mmHg [35]

Các chỉ số huyết áp từ 120- 139/80 - 90mmHg, theo khuyến cáo của ủ y ban liên quốc gia về phòng chống tăng huyết áp lần thứ 7 tại Hoa Kỳ Joint National Committee 7 (JNC7) đã coi là tiền tăng huyết áp, nghĩa là sau này có nguy cơ bị tăng huyết áp thật sự cao gấp 2 lần so với người có huyết áp < 120/80mmHg

Tại Việt Nam, năm 2010 theo Bộ Y tế một người trưởng thành ( > 18 tuổi) được gọi là tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90 mmHg [2]

1.1.2 Phân độ tăng huyết áp

Hiện nay có 3 phân độ THA thường được sử dụng là phân độ theo JNC (Join National Committee) năm 2003; Theo European Society of Hypertension /European Society of Cardiology (ESH/ESC) Hội tăng huyết áp Châu Âu/Hội Tim mạch Châu

Âu (2007) và Bộ y tế (2010) [2], [38], [35] Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phân độ tăng huyết áp của Bộ y tế Việt Nam năm 2010 [2]

Bảng 1.1: Phân đô THA của Bô Y tế Viêt Nam

Phân độ tăng huyết áp HA tâm thu (mmHg) HA tâm trương (mmHg)

1.1.3 Nguyên nhân tăng huyết áp

Trang 15

Khoảng 90-95% các trường hợp bị THA là không có nguyên nhân (hay còn gọi THA nguyên phát) Các nhà khoa học nhận thấy có một số yếu tố tác động phối họp gây bệnh còn được gọi là yếu tố nguy cơ như: Ăn mặn, béo phì, uống nhiều rượu/bia, hút thuốc lá/thuốc lào, ít hoạt động thể lực, tuổi, giới, chủng tộc Ngoài ra tăng huyết áp nguyên phát có thể xảy ra do các yếu tố di truyền, bệnh mang tính chất gia đình hoặc do các yếu tố tâm lý xã hội, tình trạng căng thẳng stress thường xuyên Càng nhiều yếu tố tác động phối họp với nhau thì tiến triển của bệnh và nguy cơ tai biến do tăng huyết áp càng nhiều.

Có khoảng dưới 10% số người bị THA là do một bệnh hoặc yếu tố nào đó gây

ra Đây gọi là THA thứ phát hay THA có căn nguyên Một số bệnh có thể là nguyên nhân gây ra THA như [11]:

- Các bệnh về thận cấp hoặc mãn tính: Viêm cầu thận cấp/mãn, viêm thận kẽ, sỏi thận, suy thận, thận đa nang, hẹp động mạch thận

- Bệnh về nội tiết: u tủy thượng thận, cường Aldosterone tiên phát (hội chứng

Conn), hội chứng Cushing

- Bệnh lý tuyến giáp, cận giáp, tuyến yên

- Do thuốc, liên quan đến thuốc: Sử dụng hormone, corticoid

- Các bệnh về mạch máu: Hẹp eo động mạch chủ

- Tăng huyết áp do nhiễm độc thai nghén

Đa số người bệnh tăng huyết áp là không có nguyên nhân và thường triệu chứng của tăng huyết áp không có các dấu hiệu cảnh báo nào trước Do vậy, việc kiểm tra huyết áp thường xuyên, đặc biệt là kiểm soát các yếu tố nguy cơ đối với những người có nguy cơ cao là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng để giảm tỷ

lệ mắc tăng huyết áp và biến chứng do tăng huyết áp [5], [11] Tăng huyết áp nếu không được điều trị đúng và đày đủ sẽ dẫn đến nhiều biến chứng nặng nề có thể gây

tử vong hoặc để lại những di chứng ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe của người bệnh, trở thành gánh nặng bệnh tật, kinh tế cho gia đình và xã hội [29]

1.1.4 Các yếu tế nguy cơ gây tăng huyết áp và biến chứng tăng huyết áp

Trang 16

1.1.4.1 Ăn mặn

Nguy cơ mắc bệnh THA thường hay gặp ở người có thói quen ăn mặn hay ăn nhiều Na hơn so với nhu cầu cơ thể Theo khuyến cáo của WHO, mỗi người trưởng thành mỗi ngày sử dụng ít hơn 6g muối (một thìa cà phê) Theo nghiên cứu của Đào Duy An, chế độ ăn giảm natri mức độ trung bình không những làm giảm tỷ lệ mới mắc THA, chỉ số HA mà còn về lâu dài giảm được biến cố bệnh tim mạch và làm tăng tác dụng thuốc hạ huyết áp, giúp kiểm soát huyết áp dễ dàng [1]

1.1.4.2 Hút thuốc lá, thuốc lào

Trong thuốc lá, thuốc lào có nhiều chất kích thích, đặc biệt có chất nicotin kích thích hệ thần kinh giao cảm làm co mạch và gây tăng huyết áp Hút thuốc nhiều có thể gây cơn tăng huyết áp kịch phát nguy hiểm, nicotin trong thuốc lá còn làm nhịp tim đập nhanh hơn, cơ tim phải co bóp nhiều hơn Oxyd carbon có trong khói thuốc lá làm giảm cung cấp oxy cho các tế bào và cùng với áp lực đã tăng sẵn trong lòng mạch tạo điều kiện cho bệnh xơ vữa động mạch phát triển

Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Triệu về thực trạng bệnh THA và một số yếu tố liên quan đến bệnh THA tại nhà máy nhiệt điện Phả Lại, số người mắc tiền tăng huyết áp, THA độ I và THA độ II ở những người hút thuốc lá cao hơn so với những người không hút thuốc lá (tương ứng 8,5; 13,4 và 5,5% với 6,8; 13,7 và 2,5%) [27]

1.1.4.3 Đái tháo đường

Ở những người bị đái tháo đường (ĐTĐ), tỷ lệ bị bệnh THA cao gấp đôi so với người không bị ĐTĐ Khi người bệnh có cả bệnh THA và ĐTĐ sẽ làm tăng gấp đôi biến chứng ở các mạch máu lớn và nhỏ, làm tăng nguy cơ tử vong so với người bệnh THA đơn thuần Vì vậy khi bị ĐTĐ, cần phải điều trị tốt bệnh này để góp phàn khống chế được bệnh THA kèm theo Vì ĐTĐ thường đi kèm với THA, nên việc xác định và điều trị ĐTĐ sớm chắc chắn sẽ tiết kiệm được chi phí chăm sóc sức khỏe Nghiên cứu của Nguyễn Dung năm 2011 nhận thấy ĐTĐ ở nhóm THA là 62,5% cao hơn rất nhiều so với nhóm THA không có bệnh ĐTĐ chỉ có 16,5% [4]

1.1.4.4 Rối loạn Lỉpỉd máu

Trang 17

Cholesterol và triglycerid máu là các thành phần chất béo ở trong máu hay chính xác hon là lipid máu Nồng độ cholesterol máu cao là nguyên nhân chủ yếu của quá trình xơ vữa động mạch và dần dần làm hẹp lòng các động mạch cung cấp máu cho tim và các cơ quan khác trong cơ thể Động mạch bị xơ vữa sẽ kém đàn hồi và cũng chính là yếu tố gây THA Vì vậy cần ăn chế độ giảm lipid sẽ giúp phòng bệnh tim mạch nói chung và bệnh THA nói riêng Nhóm ĐTNC tăng triglycerid có nguy cơ THA cao gấp 1,34 lần so với nhóm triglyceride bình thường theo nghiên cứu của Nguyễn Thái Hoàng (2012) và cộng sự trên 948 người cao tuổi khi nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến huyết áp ở NCT [10].

1.1.4.5 Tiền sử gia đình có ngưòi bị tăng huyết áp

Tiền sử gia đình, nhất là trực hệ (bố, mẹ, anh, chị, em, ruột), có người mắc bệnh THA là nguy cơ cao cho thành viên trong gia đình mắc bệnh THA Vì vậy, những người mà tiền sử gia đình có người thân bị THA càng cần phải cố gắng loại

bỏ các yếu tố nguy cơ để có thể phòng tránh được bệnh THA

1.1.4.6 Tuồi, giói, chủng tộc

Tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc THA càng nhiều do thành động mạch bị lão hóa

và xơ vữa, giảm tính đàn hồi trở nên cứng hơn Tại Việt Nam, theo điều tra của Viện Tim Mạch 1989 - 1992 cho thấy tỷ lệ mắc THA là 6% ở lứa tuổi từ 16 - 39,

đã tăng lên 21,5% ở lứa tuổi 50 - 59, tăng lên 30,6% ở lứa tuổi 60 - 69 và 47,5%

ở lứa tuổi 70 trở lên [3] Tuổi càng cao, khả năng đàn hồi của thành mạch càng giảm cộng với huyết áp tăng dần theo tuổi sẽ làm tăng nguy cơ xảy ra biến chứng

do THA ở đối tượng là người cao tuổi [5]

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Dung (2011) nhận thấy có mối liên quan giữa tuổi và mức độ mắc tăng huyết áp Độ tuổi > 55 có tỷ lệ mắc THA cao chiếm 42%, tiếp đến là độ tuổi từ 45-54 có tỷ lệ mắc THA là 13,8%, thấp nhất ở độ tuổi từ 25-34 có tỷ lệ mắc THA là 0,6% [4] Nghiên cứu của Nguyễn Văn Triệu trên 1226 công nhân nhà máy nhiệt điện về thực trạng bệnh THA và một số yếu tố liên quan đến bệnh THA, số người mắc THA độ I và THA độ II người THA ở nhóm tuổi

Trang 18

trung niên (45-60) cao hơn rõ rệt so với nhóm tuổi trẻ (18-44) lần lượt tương ứng 19,6%; 4,6% và 9,1%; 1,6% [27].

Theo nghiên cứu của Huntley và cộng sự năm 2013 về chủng tộc cho thấy tại

Mỹ người da đen có khả năng bị tăng huyết áp cao hơn 40% và kiểm soát huyết áp thấp hơn 10% so với người da trắng [39] về giới tính theo hiệp hội Tim Mạch Hoa

Kỳ (2013) chỉ ra rằng tỷ lệ tăng huyết áp ở nam giới cao hơn so với phụ nữ đến 45 tuổi, tuy nhiên sau 65 tuổi tình trạng này ngược lại và phụ nữ có nhiều khả năng mắc tăng huyết áp hơn so với nam giới [32]

I.I.4.7 Thừa cân, béo phì

Trọng lượng của cơ thể con người có mối quan hệ khá tương đồng với bệnh

tăng huyết áp Có một công thức đơn giản để tính trạng thái thừa cân, đó là tính “chỉ

số khối cơ thể” (BMI)

BMI = cân nặng(kg)/{ chiều cao(m)}2

Tỷ lệ tăng huyết áp tăng dần theo chỉ số khối cơ thể Body Mass Index(BMI),

tỷ lệ BMI càng cao khả năng bị tăng huyết áp càng nhiều với nguy cơ tương đối càng cao [10] Theo Hoàng Văn Ngoạn (2009) khi nghiên cứu tình hình tăng huyết

áp và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại Huế cho thấy chỉ số BMI càng lớn thì mức độ THA càng cao (p < 0,05) [20]

Đánh giá và phân loại BMI theo tiêu chuẩn của WHO

Bảng 1.2 Phân loại BMI theo WHO

Trang 19

Bảng 1.3 Phân loại BMI dành cho người Châu Ả theo IDI & WPRO

Đánh giá béo phì vùng bụng khi vòng bụng (VB) > 90cm ở nam giới và VB

> 80cm ở nữ giới (đối với người Châu Á)

Nghiên cứu của Nguyễn Thái Hoàng (2012) nhận thấy so với nhóm bình thường, nhóm gầy có khả năng mắc tăng huyết áp thấp hơn 0,61 lần, nhóm thừa cân

và nhóm béo phì có nguy cơ mắc tăng huyết áp cao hơn 1,12 và 1,17 làn Nghiên cứu ghi nhận, khi mức BMI từ 23 trở lên nguy cơ mắc THA cao gấp 1,38 lần so với nhóm không có nguy cơ Nhóm người cao tuổi béo bụng có nguy cơ mắc THA cao gấp 1,63 lần so với nhóm NCT không có béo bụng [10]

I.I.4.8 Uống nhiều bia, rượu

Đối với những người phải dùng thuốc để điều trị THA, việc uống bia/rượu quá mức hoặc người bị nghiện rượu sẽ làm mất tác dụng của thuốc hạ huyết áp, làm tăng TBMMN ở người tăng huyết áp Ở nghiên cứu của Nguyễn Dung và cộng sự năm 2011 tại Thừa Thiên Huế, nhóm người có thói quen uống rượu bia có tỷ lệ mắc THA là 17,1% cao hơn nhóm không uống rượu bia có tỷ lệ mắc THA là 16,7% [4]

Theo khuyến cáo của Bộ Y tế, hạn chế uống rượu bia khi số lượng ít hơn 3 cốc chuẩn /ngày (nam), ít hơn 2 cốc chuẩn/ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần (nam), ít hơn 9 cốc chuẩn/tuần (nữ) Một cốc chuẩn chứa lOg ethanol tương đương với 330ml bia hoặc 120ml rượu vang hoặc 30ml rượu mạnh [2]

Trang 20

1.1.4.9 ít hoat đông thể lưc

Hoạt động thể lực có liên quan đến THA, người ít hoạt động thể lực hay người có lối sống tĩnh tại cũng được xem là một nguy cơ của bệnh THA Tỷ lệ THA tăng dần theo mức giảm hoạt động thể lực, ở nhóm ít hoạt động thể lực có tỷ lệ mắc THA là 17,6% cao hơn nhóm có hoạt động thể lực có tỷ lệ mắc THA 16,7% theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Dung và cộng sự khi nghiên cứu tình hình bệnh tăng huyết áp tại xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2011 [4]

1.1.4.10 Căng thẳng, lo âu quá mức

Khi bị căng thẳng, hệ thần kinh giao cảm tăng cường hoạt động giải phóng ra adrenalin và noadrenalin làm cho tim tăng co bóp, nhịp tim đập nhanh hơn, động mạch nhỏ co lại và làm HA tăng Nhiều nghiên cứu đã chứng minh được những người bị căng thẳng thần kinh, lo âu quá mức và hay bị stress sẽ làm tăng nhịp tim dẫn đến HA tăng Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Kim Ke năm 2012 đã chỉ ra người cao tuổi có cuộc sống tinh thần không thoải mái, hay căng thẳng có nguy cơ THA cao gấp 7,4 lần so với NCT có cuộc sống tinh thần thoải mái [14]

1.1.5 Biến chứng do tăng huyết áp

Tăng huyết áp gây tổn thương ở nhiều cơ quan trong cơ thể, đặc biệt hay gặp

là tổn thương ở tim, não, thận, mắt và mạch máu lớn những tổn thương này được gọi chung là tổn thương ở cơ quan đích hay biến chứng của THA Các biến chứng của THA nguy hiểm không chỉ bởi có thể gây chết người, mà còn để lại những di chứng nặng nề ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của NB

1.1.5.1 Biến chứng ở tìm

Suy tim, bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và là nguyên nhân tử vong cao đối vói THA Tăng gánh nặng thất trái gây suy tim, suy mạch vành gây nhồi máu cơ tim, phù phổi cấp [5] Tăng huyết áp thường xuyên sẽ làm sức cản ngoại vi tăng dẫn đến tim phải làm việc nhiều để thắng sức cản đó Lâu ngày khả năng co bóp đàn hồi của tim giảm, thất trái giãn ra, dẫn đến suy tim trái, lúc đầu suy tim trái rồi suy tim phải và trở thành suy tim toàn bộ về lâm sàng, thời gian

đầu người bệnh mệt mỏi, khó thở khi gắng sức, về sau với gắng sức vừa cũng khó

Trang 21

thở và đến giai đoạn cuối của bệnh thì khó thở cả khi đi ngủ Động mạch vành cũng dần dần bị xơ vữa, gây ra thiếu máu cơ tim cục bộ làm xuất hiện những cơn đau thắt ngực, mức độ nặng có thể gây nhồi máu cơ tim Bệnh THA được coi là yếu tố đe dọa quan trọng trong bệnh mạch vành [17].

Theo WHO (2013), trên toàn cầu có khoảng 17 triệu người chết mỗi năm vì các bệnh liên quan đến tim mạch, trong đó số trường hợp tử vong do biến chứng của tăng huyết áp là khoảng 9,4 triệu người chiếm 55,3% [48] Tại Mỹ năm 2014

tỷ lệ tử vong ước tính của người bệnh tim mạch khoảng 40,6% trong đó có từ 24,5% -54,6% đối với bệnh huyết áp cao [33] Tại Việt Nam (2012), theo điều tra của Viện Tim Mạch tại 4 tỉnh miền Bắc Việt Nam cho thấy, THA là nguyên nhân hàng đầu gây suy tim ở người trưởng thành tại cộng đồng [16]

1.1.5.2 Biến chứng ở não

Là biến chứng rất hay gặp và thường là nặng nề với người bệnh THA Tăng huyết áp lâu ngày làm cho động mạch não mất độ đàn hồi, biến dạng, dễ hình thành những túi phồng nhỏ, rất dễ vỡ khi có cơn THA kịch phát Tăng huyết áp cũng thúc đẩy quá trình xơ vữa động mạch não, lòng động mạch não hẹp lại, gây cản trở tuần hoàn, giảm lưu lượng máu tới nuôi tổ chức não gây ra tình trạng thiếu máu não Đôi khi tắc mạch não gây ra hiện tượng nhũn não, còn gọi là nhồi máu não Các biến chứng não ở người bệnh THA rất đa dạng: Từ tai biến mạch máu não (TBMMN), đột quỵ đến xơ vữa mạch não có thể tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề [5]

Khi bị tắc hoặc vỡ mạch máu não, một phần tế bào não bị hoại tử đột ngột

do mất máu nuôi dưỡng Khi không đủ máu nuôi dưỡng, các tế bào não sẽ ngừng hoạt động và chết đi sau vài phút Những tổn thương này dẫn đến các vùng cơ thể

do phần não đó điều khiển sẽ bị tổn thương như yếu, liệt, tê, mất cảm giác nửa người, không nói được hoặc hôn mê, thậm chí là tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời [3]

Theo báo cáo từ Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ (2014) có khoảng 795.000 người gặp đột quỵ, trong đó có 610.000 người mắc đột quỵ lần đầu và 185.000 người mắc đột quỵ tái phát Trung bình cứ 40 giây có một người nào đó ở Hoa Kỳ

Trang 22

có một cơn đột quỵ và cứ 4 phút lại có một người chết vi đột quỵ [33] Tại Việt Nam, hiện chưa có con số thống kê toàn diện mang tính chất cộng đồng về TBMMN, nhưng thực tế cho thấy loại bệnh lý này đang có chiều hướng gia tăng

để lại di chứng nặng nề cho người bệnh, là gánh nặng cho gia đình và xã hội

Triệu chứng lâm sàng của bệnh thận trong tăng huyết áp rất kín đáo Thường

ở thời gian đầu thận bù trừ tốt nên các biểu hiện thường nghèo nàn như thiếu máu nhẹ, chán ăn, mệt mỏi, tức 2 bên hố lưng Những xét nghiệm cần làm chẩn đoán tổn thương thận do THA dựa vào creatinin máu để đánh giá mức lọc máu cầu thận (GFR), lượng protein trong nước tiểu [3] Khi người bệnh đã bị bệnh thận mạn do THA đến giai đoạn không thể điều chỉnh bằng thuốc sẽ dẫn đến chi phí điều trị tăng lên rất nhiều do phải chạy thận nhân tạo định kỳ ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế của người bệnh

1.1.5.4 Biến chứng ở mắt

Các biến chứng về mắt tiến triển qua nhiều giai đoạn từ mờ mắt, xuất huyết, xuất tiết hoặc phù gai thị Khi soi đáy mắt có thể thấy tổn thương đáy mắt, biến chứng này tuy ít gặp nhưng dễ nhầm với các bệnh về mắt hoặc biến chứng mắt do đái tháo đường

1.1.5.5 Biến chứng ở mạch máu

Tăng huyêt áp là một trong những yếu tố gây xơ vữa động mạch, phình động mạch chủ Các biến chứng về mạch máu ngày càng gặp nhiều hơn trong thời gian gần đây và ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của người bệnh

Trang 23

1.2 Các biện pháp phòng biến chứng do tăng huyết áp

1.2.1 Uống thuốc điều trị tăng huyết áp

THA là bệnh mạn tính, chính vì vậy việc uống thuốc điều trị huyết áp hàng ngày và liên tục là điều rất quan trọng giúp người bệnh ổn định huyết áp, cải thiện được tình trạng bệnh, hạn chế đến mức tối đa các biến chứng Nhưng mức độ tuân thủ dùng thuốc ở các nghiên cứu còn chưa cao, theo nghiên cứu của Chunhua Ma [43] năm 2016, nghiên cứu trên 1159 đối tượng nghiên cứu chỉ có 247 ĐTNC tương ứng với 21,3% tuân thủ dùng thuốc

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thom năm 2017 tại địa bàn nghiên cứu [26] chỉ ra có 59,6% ĐTNC uống thuốc điều trị tăng huyết áp thường xuyên, vẫn có tới 62% ĐTNC thi thoảng vẫn quên uống thuốc Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2011) khảo sát kiến thức, thái độ và sự tuân thủ dùng thuốc của người bệnh tăng huyết áp tại Bệnh viện cấp cứu Trưng Vương, có 49,5% người bệnh tuân thủ dùng thuốc, còn lại 50,5% người bệnh chưa tuân thủ dùng thuốc [8]

Hiện nay, ngày càng có nhiều loại thuốc có hiệu quả cao trong điều trị THA và

ít tác dụng phụ Tuy nhiên, sự tuân thủ dùng thuốc của người bệnh tăng huyết áp còn chưa thực sự tốt, điều này có thể do kiến thức của bản thân người bệnh, hoặc có nhiều người có thể nhận thức tốt về vấn đề này nhưng việc thực hiện duy trì uống thuốc đều đặn còn chưa thực sự tốt

1.2.2 Tích cực thay đỗi lối sổng

Tại Việt Nam, theo hướng dẫn chẩn đoán, điều trị THA của Bộ Y tế áp dụng cho mọi người bệnh để ngăn ngừa sự tiến triển của bệnh và giảm nguy cơ mắc biến chứng do THA bao gồm [2]:

Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng: Giảm ăn mặn (< 6

gam muối hay 1 thìa cà phê muối mỗi ngày) bằng cách thêm thảo dược và gia vị

như là phụ gia để bữa ăn của bạn vẫn đủ hấp dẫn càn chú ý đọc kỹ hàm lượng muối trên các loại thức ăn và chú ý hạn chế muối khi chế biến thức ăn; Tăng cường

rau xanh, quả tươi; Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và axít béo no, nên ăn thịt

Trang 24

gia cầm không da, thịt nạc, ăn cá (nhất là các loại cá có nhiều Omega 3 như cá hồi,

cá trích, ) ít nhất 2 làn/tuần, hạn chế ăn thêm đường ngọt

Tích cực giảm cân (hếu quá cân): Duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối

cơ thể (BMI) từ 18,5 đến 22,9 Rất nhiều người THA bị thừa cân và thường thì khi giảm cân, huyết áp của người bệnh sẽ có thể giảm xuống một cách đáng kể Bên cạnh đó, thừa cân còn là một yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch và một số bệnh mãn tính khác

Duy trì vòng bụng : Dưới 90cm ở nam và dưới 80cm ở nữ.

Hạn chế uống rượu, bia: Vì rượu rất ít dinh dưỡng và giàu năng lượng nên

có thể làm tăng nguy cơ béo phì, khó kiểm soát THA và làm tăng nguy cơ TBMMN Số lượng ít hơn 3 cốc chuẩn/ngày (nam), ít hơn 2 cốc chuẩn/ngày (nữ)

và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần (nam), ít hơn 9 cốc chuẩn/tuần (nữ)

Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào: Trong thuốc lá có chất

nicotin, làm kích thích thần kinh giao cảm, làm co mạch ngoại vi và gây tăng huyết

áp Các bằng chứng nghiên cứu cho thấy rõ nguy cơ của hút thuốc lá với THA và các biến cố tim mạch, người THA mà hút thuốc lá sẽ làm nguy cơ tim mạch tăng gấp nhiều lần Việc bỏ hút thuốc lá cũng làm giảm đáng kể các nguy cơ tim mạch ở người bệnh THA Ngừng hoàn toàn hút thuốc là biện pháp mạnh mẽ nhất để phòng ngừa THA và các bệnh tim mạch khác

Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: Tập thể dục, đi bộ hoặc

vận động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30 - 60 phút mỗi ngày Tập thể dục giúp giảm huyết áp và giảm cân nặng hoặc giữ cho cơ thể ở mức cân nặng lý tưởng

Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh: cần chú ý đến việc thư giãn, nghỉ ngơi

họp lý

Tránh bị lạnh hoặc thay đổi tư thế đột ngột: Đặc biệt là đối với những

người cao tuổi bị mắc THA

Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu về hành vi thay đổi lối sống của người bệnh tăng huyết áp đạt kết quả chưa thực sự tốt như nghiên cứu của Seham A (2015) và cộng sự tại Ai Cập cho thấy mức độ nhận thức của người bệnh THA đối

Trang 25

với thay đổi hành vi lối sống, hầu hết số người bệnh cao huyết áp (70,3%) có nhận thức thấp về cải thiện hành vi lối sống, trong khi đó chỉ có (26,7%) và (2,9%) trong

số họ có mức độ vừa phải và tốt [46] Nghiên cứu của Nguyễn Minh Phương (2011)

về thực trạng tuân thủ điều trị THA tại cộng đồng có gần 1/2 NB không thực hiện chế độ giảm muối, 42% vẫn sử dụng muối ở mức bình thường như trước và 3,6% vẫn ăn mặn Có 33,6% NB vẫn uống rượu bia, 28% NB còn hút thuốc, 12,4% NB vẫn sinh hoạt như trước và 37,2% NB không luyện tập thường xuyên, hiểu biết về mục đích của việc đi khám, theo dõi HA có đến 54,4% NB không đi khám định kỳ đều đặn [23]

1.2.3 Theo dõi huyết áp, nhận biết và xử trí các dấu hiệu của biến chứng do tăng huyết áp.

Trong các khuyến cáo mới nhất của WHO, JNC cũng như các tổ chức phòng chống THA trên thế giới và Phân hội THA Việt Nam, những người mắc tăng huyết

áp cần theo dõi huyết áp của họ thường xuyên hàng ngày vào những giờ nhất định hoặc khi có dấu hiệu bất thường Theo dõi huyết áp mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh: Theo dõi được sự thay đổi của huyết áp, đánh giá được sự đáp ứng của thuốc hạ áp, nhận biết được các dấu hiệu cảnh báo biến chứng Tuy nhiên, việc theo dõi huyết áp tại nhà còn chưa được người bệnh tăng huyết áp quan tâm, theo kết quả nghiên cứu của Vũ Xuân Phú [22] tại Hà Nội năm 2011, chỉ có khoảng 35% ĐTNC cho biết họ có đo huyết áp tại nhà nhưng không cho biết mức độ thường xuyên Thực hành đo huyết áp tại nhà chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: hiểu biết của người bệnh, điều kiện để họ tự hang bị cho mình máy đo sẵn có tại nhà, người bệnh chưa biết cách đo hoặc không có người thân ở cùng đo giúp

Việc tái khám định kỳ, đi khám ngay khi có các dấu hiệu bất thường hay xử trí những tình huống THA cấp tại nhà là rất quan trọng để giảm thiểu những tổn thương có thể có của các biến chứng Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Nguyến Minh Phương [23] năm 2013 tại Hà Nội có đến 54,4% ĐTNC không đi khám định kỳ đều đặn Nếu người bệnh thực hiện đúng các khuyến cáo thì những biện pháp dù đơn giản cũng mang lại hiệu quả đáng kể trong viêc phòng biến chứng do tăng huyết áp

Trang 26

1.3 Các nghiên cứu về bệnh tăng huyết áp và phòng biến chứng tăng HA

1.3.1 Tình hình bệnh tăng huyết áp, biến chứng tăng huyết áp và nghiên cứu

về phòng biến chứng tăng huyết áp trên thế giói

Trong năm 2008, trên toàn thế giới có khoảng 40% người lớn trên 25 tuổi

đã được chẩn đoán tăng huyết áp, số người có tình trạng này đã tăng từ 600 triệu năm 1980 lên 1 tỷ năm 2008 Trong đó tỷ lệ cao huyết áp cao nhất nằm ở khu vực châu Phi là 46% người lớn từ 25 tuổi trở lên, trong khi mức thấp nhất tỷ lệ hiện nhiễm 35% là ở châu Mỹ [49], [50] Đến năm 2009, trong báo cáo về các yếu tố nguy cơ sức khỏe toàn cầu của WHO, THA là một trong những yếu tố nguy cơ hàng đầu gây ra tử vong toàn cầu chiếm 13% cao hơn cả hút thuốc lá là 9% [47]

Trên toàn cầu, bệnh tim mạch chiếm khoảng 17 triệu ca tử vong mỗi năm, gần như 1/3 trong tổng tử vong này là biến chứng của bệnh tăng huyết áp chiếm 9,4 triệu ca tử vong Tăng huyết áp là nguyên nhân gây ra ít nhất 45% tử vong do bệnh tim và 51% ca tử vong do đột quỵ [50] Theo báo cáo của WHO (2009), THA ước tính là nguyên nhân gây tử vong cho 7,1 triệu người trẻ tuổi và chiếm 4,5% gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu, 64 triệu người sống trong tàn phế [47]

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh THA cũng như tuân thủ điều trị THA cho thấy kiến thức của người bệnh về các biến chứng còn chưa thực sự tốt cũng như chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá về phòng biến chứng của người bệnh Kết quả nghiên cứu của Dongfeng

Gu và cộng sự tại Trung Quốc, chỉ có 44,7% ĐTNC biết về huyết áp cao của mình, 28,2% dùng thuốc hạ huyết áp và chỉ có 8,1% đạt được kiểm soát huyết áp mục tiêu trong tổng 28,2% người bệnh THA được quản lý [36] Nghiên cứu của Piwonska.A tại Ba Lan cho thấy có 59% nam giới và 69% nữ giới nhận thức được bệnh của mình, các biến chứng của THA được biết đến nhiều nhất là đột qụy (58% nam, 69% nữ), nhồi máu cơ tim (60% nam, 65% nữ) và có tới 32% nam và 23%

nữ không biết bất kỳ biến chứng nào của tăng huyết áp [31]

Nghiên cứu của Samal.D và cộng sự trên người bệnh nội trú ở Vienna Áo năm 2007 cho thấy có 77% đối tượng trả lời cho biết THA là một nguy cơ gây ra

Trang 27

đột quỵ, đối với tỷ lệ biết các biến chứng khác của THA gồm nhồi máu cơ tim, thận, mạch ngoại vi, bệnh về mắt tương ứng là 64%, 20%, 11% và 16% về thực

hành phòng THA và biến chứng đột qụy, 53% người bệnh cho biết có kiểm soát

HA hàng tháng và sử dụng các điều trị không dùng thuốc như tập thể dục (49%), giảm muối (54%), giảm calo (48%), liệu pháp thư giãn (17%) [37]

Theo nghiên cứu của Malik.A tại bệnh viện ở Samarkand, Uzbekistan năm

2012, cho thấy có 10% người bệnh có kiến thức tốt về bệnh THA, 65,1% đã nhận thức được ít nhất 3 trong những biến chứng thường gặp nhất của THA, 55% người bệnh cho rằng giám sát THA thường xuyên là rất quan trọng để kiểm soát THA và 72,2% người bệnh biết rằng một người huyết áp cao nên thay đổi lối sống, về thực hành chỉ có 44% người bệnh theo dõi HA tại nhà, 42,5% theo dõi cân nặng của mình và 81,8% đã giảm lượng mối ăn hàng ngày [44]

Nghiên cứu của Kisokanth.G trên 424 người bệnh THA tại bệnh viện Trường Batticaloa, Sri Lanka trong 2 năm từ 01/2014-12/2015 cho thấy 50% người bệnh biết THA có biến chứng vào tim, 26% thận, còn lại là thần kinh và mắt Có 64% người bệnh cho rằng uống thuốc và thay đổi lối sống là hữu ích để điều trị THA, khoảng 2,4% không biết các phương pháp điều trị và 45% cho rằng không hút thuốc, uống rượu, tăng cường rau xanh, hạn chế chất béo là phương pháp tốt để kiểm soát huyết áp [42]

1.3.2 Tình hình bệnh tăng huyết áp, biến chứng tăng huyết áp và nghiên cứu

về phòng biến chứng tăng huyết áp ở Việt Nam.

Tăng huyết áp tại Việt nam với tần suất ngày càng gia tăng khi nền kinh tế phát triển, đặc biệt là khi dân số Việt Nam ngày một già hóa Theo thống kê năm

2015 của Hội Tim mạch học Việt Nam trên 5454 người trưởng thành trong quần thể

44 triệu người tại 8 tỉnh thành trên toàn quốc, kết quả cho thấy có 47,3% người Việt Nam bị tăng huyết áp Đặc biệt, trong những người bị tăng huyết áp, có 39,1% không được phát hiện bị tăng huyết áp; có 7,2% bị tăng huyết áp không được điều trị; có 69,0% bị tăng huyết áp nhưng chưa kiểm soát được [30]

Trang 28

Hầu hết các nghiên cứu về THA là tập trung vào đánh giá thực trạng THA, các yếu tố nguy cơ hoặc các nghiên cứu về tuân thủ điều trị ở người bệnh Một vài nghiên cứu gần đây cũng bắt đầu quan tâm đến việc phòng biến chứng và các khuyến cáo về lối sống trong sinh hoạt hàng ngày để phòng biến chứng bên cạnh việc uống thuốc điều trị THA của người bệnh.

Nghiên cứu của Nguyễn Minh Phương (2011) về tuân thủ điều trị bệnh THA cho thấy có tới 83,2% ĐTNC tình cờ phát hiện bị bệnh THA, trong đó 44,8% phát hiện được bệnh do khám sàng lọc số ĐTNC mới được phát hiện THA (dưới 1 năm) chiếm tỷ lệ cao 42,4% Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng 48,4% người bị THA có kiến thức không đạt và 55,2% ĐTNC có thực hành không đạt về tuân thủ điều trị bệnh THA [23] Nghiên cứu của Nguyễn Văn Triệu về thực trạng bệnh THA tại Hải Dương cho thấy có 16,6% mắc THA chưa được phát hiện [27] Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ, sự hiểu biết về bệnh và chế độ ăn ở người bệnh THA của Lê Đức Hạnh và cộng sự năm 2013 chỉ ra tỷ lệ người bệnh không biết mình bị THA chiếm 32%, tỷ lệ những người biết nhưng không điều trị là 33,04%, điều trị và kiểm soát được huyết áp mục tiêu chỉ đạt 21,74% [7] Điều này cho thấy còn rất nhiều người trong cộng đồng không biết được tàm quan trọng của việc phát hiện sớm bệnh THA cũng như việc tuân thủ điều trị tốt sẽ giúp kiểm soát sớm huyết áp mục tiêu góp phần giảm đáng kể nguy cơ bị biến chứng do THA

Theo nghiên cứu của Trần Văn Long năm 2015 về tình hình sức khỏe người cao tuổi và thử nghiệm can thiệp nâng cao kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tăng huyết áp tại 2 xã huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định giai đoạn 2011 -2012 cho thấy,

tỷ lệ người cao tuổi mắc bệnh tăng huyết áp là 52,8% Khi khảo sát kiến thức của người cao tuổi về cách phòng bệnh tăng huyết áp và các biến chứng của THA, nghiên cứu thu được kết quả: Kiến thức của NCT về các cách phòng bệnh THA còn nhiều hạn chế; biện pháp được nhiều NCT biết đến là không ăn mặn (67%), ít hoạt động thể lực (62,9%), thừa cân béo phì (58,3%), không hút thuốc lá/ thuốc lào (36,8%), không uống rượu, bia (33,9%) Kiến thức của NCT về hậu quả hay các biến chứng của bệnh THA còn rất thấp, chỉ có 19,4% NCT trả lòi có biết về biến

Trang 29

chứng của THA và biến chứng được nhiều NCT biết nhất là tai biến mạch máu não (11,6%), chỉ có 1,2% NCT biết nhồi máu cơ tim là một trong những biến chứng của bệnh THA Hầu hết người cao tuổi không biết những biến chứng khác của bệnh THA là các biến chứng về thận và mắt [18].

Nghiên cứu của Trịnh Thị Hương Giang (2015) tại Ninh Bình cho thấy tỷ lệ kiến thức phòng biến chứng đạt tương đối cao (82,2%) Hầu hết người bệnh biết rằng biến chứng của THA là tai biến mạch máu não (98,2%) và suy tim (94,5%), các biến chứng khác biết ít hơn như: biến chứng về mạch máu (48,7%), mờ mắt (36,7%), suy thận (31,3%) và có 1 ĐTNC cho rằng biến chứng của THA là gây đau nhức người (0,4%), nhưng tỷ lệ người bệnh có thực hành phòng biến chứng THA đạt lại rất thấp (28,7%) [6]

Nghiên cứu khác của Nguyễn Phan Thạch (2015) tại Bình Định đánh giá chung về kiến thức của các ĐTNC thì chỉ có 48,4% được trang bị kiến thức đúng

về phòng biến chứng THA, về thực hành của các ĐTNC thì chỉ đạt 42% [25] Nghiên cứu của Châu Văn Nga (2015) tại bệnh viện Sa Đéc - Đồng tháp, ĐTNC có kiến thức đạt về phòng biến chứng do THA chiếm tỉ lệ 66,4%, có 56,6% có thực hành đạt [19]

Kết quả nghiên cứu của Đinh Văn Sơn (2012) tại huyện Bình Xuyên- Vĩnh Phúc có 38% ĐTNC có kiến thức đạt về phòng biến chứng do THA và thực hành đạt là 61% [24] Kết quả nghiên cứu của Trịnh Thị Thúy Hồng năm 2015 tại Bắc Giang cho thấy, tỷ lệ người bệnh có kiến thức đạt về phòng biến chứng của THA còn thấp (35,8%), tỷ lệ người bệnh có thực hành đạt về phòng biến chứng là (29,4%) [13] Nghiên cứu khác của tác giả Bùi Thị Thanh Hòa (2012) tại phòng khám Bệnh viện E, Hà Nội cho kết quả 51,7% người bệnh có kiến thức đạt về phòng biến chứng và 60% người bệnh có thực hành phòng biến chứng đạt [9]

Từ các nghiên cứu trên có thể thấy được người bệnh tăng huyết áp còn khá thờ ơ trong việc tìm hiểu biến chứng của bệnh tăng huyết áp Điều này rất nguy hiểm vì có thể gia tăng rất nhiều trường họp mắc biết chứng không được điều trị kịp thòi ảnh hưởng đến tính mạng và chất lượng cuộc sống của người bệnh

Trang 30

1.3.3 Một sổ yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng biến chứng do tăng huyết áp

Yếu tố liên quan ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành của người bệnh có thể do nhiều nguyên nhân, một số nghiên cứu đã đưa ra được các yếu tố liên quan ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành phòng biến chứng của tăng huyết áp:

Giới tính: Các nghiên cứu đều cho thấy giới tính có liên quan đến kiến thức

và thực hành phòng biến chứng THA, cụ thể là nam có kiến thức không đạt thấp hon 0,4 lần so với nữ theo nghiên cứu của Nguyễn Minh Phương năm 2012 [23],

nữ có thực hành đạt cao hơn nam là 2,1 lần theo nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Hòa năm 2012 [9] Nghiên cứu của Aysha Almastại Karachi, Pakistan cho thấy kiến thức chung về tăng huyết áp ở nam và nữ có sự chênh lệch không đáng kể 21,8% nam và 20,07% nữ [34], Tương tự nghiên cứu của Trịnh Thị Thúy Hồng (2015) nữ giới có khả năng có thực hành đạt cao gấp 2,28 lần so với nam giới [13]

Trình độ học vấn: Kết quả các nghiên cứu đều cho rằng trình độ học vấn

càng cao thì tỷ lệ người bệnh có kiến thức và thực hành đứng càng cao, đặc biệt là với người bệnh có trình độ trên phổ thông trung học có kiến thức đạt gấp 2,8 lần so với trình độ học vấn dưới phổ thông trung học theo nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Hòa [9], đạt gấp 2,5 lần là kết quả nghiên cứu của Trịnh Thị Thúy Hồng năm 2015 [13] Nghiên cứu của Piwonska A ở Ba Lan cho thấy có mối tương quan có ý nghĩa thống kê (p<0,05) giữa kiến thức phòng biến chứng THA và trình độ học vấn [31]

Thời gian phát hiện tăng huyết áp: Các nghiên cứu đều cho ra kết quả là

những người bệnh có thời gian phát hiện THA càng lâu thì kiến thức và thực hành phòng biến chứng THA càng tốt Người bệnh có thời gian phát hiện THA trên 5 năm có kiến thức đạt gấp 5,5 lần so với người bệnh phát hiện THA dưới 5 năm theo nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Hòa tại Viện E Hà Nội [9] Nghiên cứu của Trịnh Thị Thúy Hồng (2015) những người bị THA từ 5 năm trở lên thì có khả năng

có kiến thức đạt cao gấp 4,81 lần so với những người bị THA dưới 5 năm [13]

Tiền sử từng gặp biến chứng THA : Nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Hòa cho

thấy tỷ lệ này cao hơn gấp 3,2 lần ở kiến thức và đặc biệt là tỷ lệ thực hành đạt ở

Trang 31

nhóm đã từng gặp biến chứng cao hơn nhóm chưa gặp biến chứng đến 28,2 lần [9] Tương tự nghiên cứu của Trịnh Thị Hương Giang tại Ninh Bình, những người bệnh

đã bị biến chứng THA có thực hành phòng biến chứng cao gấp 2,01 lần những người bệnh chưa bị biến chứng THA [6] Ngược lại theo nghiên cứu của Nguyễn Phan Thạch tại Bình Định lại cho thấy các ĐTNC đã từng bị biến chứng có thực hành không đạt cao hơn 1,74 lần so với nhóm ĐTNC chưa từng bị biến chứng do THA [25]

Tiền sử gia đình có người mắc THA: Nghiên cứu của Jiang B ở Bắc Kinh

cho thấy những người có tiền sử gia đình bị THA có kiến thức cao hơn so với những người gia đình không có tiền sử bị THA [40] Nghiên cứu của Trịnh Thị Thúy Hồng cũng chỉ ra những ĐTNC có tiền sử gia đình có người đã từng bị THA có khả năng

có kiến thức đạt cao gấp 1,83 lần so với những gia đình chưa có người bị THA [13]

Nghề nghiệp: Nghiên cứu của Nguyễn Phan Thạch (2015) chỉ ra các ĐTNC

có nghề nghiệp khác thì có kiến thức không đạt gấp 1,84 lần so với nhóm ĐTNC là cán bộ hưu trí và thực hành không đạt cao hơn 2,06 lần so với cán bộ hưu trí [25] Theo Trịnh Thị Thúy Hồng (2015) những người đã nghỉ hưu, mất sức có khả năng

có thực hành đạt cao gấp 0,54 lần so những người có nghề khác [13]

Liên quan giữa kiến thức và thực hành: Tất cả các nghiên cứu đã chỉ ra

mối liên quan giữa kiến thức với thực hành phòng biến chứng tăng huyết áp Nghiên cứu Nguyễn Phan Thạch tại Bình Định, ĐTNC có kiến thức không đạt thì thực hành không đạt cao hơn 7,48 lần so với các ĐTNC có kiến thức đạt [25] Nghiên cứu của Trịnh Thị Thúy Hồng (2015) tại Bắc Giang, những người có kiến thức đạt thì có khả năng có thực hành đạt cao gấp 2,87 lần so với những người có kiến thức không đạt [13] Nghiên cứu của Trịnh Thị Hương Giang (2015) tại Ninh Bình, người bệnh có kiến thức đạt thì có thực hành phòng biến chứng đạt cao gấp 6,68 [6] Tương tự nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Hòa (2012) tại Hà Nội, những người có kiến thức đạt thì thực hành đạt cao gấp 4,8 lần [9] Nghiên cứu của Đinh Văn Sơn (2012) tại Vĩnh Phúc những người có kiến thức không đạt thì thực hành không đạt cao gấp 7 lần những người có kiến thức đạt [24]

Trang 32

Các yếu tố môi trường, xã hội, điều kiện y tế\ Theo Bùi Thị Thanh Hòa

những người nhận được thông tin từ CBYT có kiến thức thực hành không đạt chỉ bằng 0,4 lần những người nhận được thông tin từ các nguồn khác [9] Tương tự, nghiên cứu của Trịnh Thị Thúy Hồng cho thấy những người tiếp cận thông tin từ CBYT có kiến thức đạt cao gấp 1,9 lần so với những người tiếp cận thông tin từ nguồn khác ĐTNC nhận được sự quan tâm của gia đình có khả năng thực hành đạt cao gấp 2,2 làn so với những ĐTNC không nhận được sự quan tâm của gia đình [13] Nghiên cứu của Trịnh Thị Hương Giang các yếu tố liên quan từ nhóm này gồm: Thời gian từ nhà đến viện; kỹ năng tư vấn, giải thích của CBYT; sự tương tác

hỗ trợ từ người thân, gia đình, bạn bè [6]

Trong nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn các yếu tố về nhân khẩu học: tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, các yếu tố về gia đinh như tiền sử mắc bệnh tăng huyết áp và thời gian mắc bệnh tăng huyết áp để tìm mối liên quan đến kiến thức, thực hành phòng biến chứng của người bệnh tăng huyết áp

1.3.4 Khung lý thuyết nghiên cứu

_ Tại Bệnh việựt đa khoa tỉnh Quảng Ninh trung Dinh mỗi thang, co lư 110)

- Tuoi, gim,học van, v ỵ y * t h r " h ' h TRA

12(jỊ0 lư^tNB đến khám vì bệnh tim mạciglio sơ ngoại mỉ ảieu trị tăng huy( t

b ện h ^ ồ jsơ.bên^ápjnệoại trú để kiểm tra và tteéiổciikếvtilỒầiềỉhtógQ^kyiện đà

tr iể n ^ ạ i nối ĩ^an^ nôi bộ, đầu t i các tra:Ìg thiết^tìSảỳilỉèể^ỉỐỊSđại phục vụ cha

( ô n g ^ c khg^j|:hữa bệnh được thuến lợi Hiện tạPêRoa

1 aạclu đươc đảm nhận bởi 02 bác

u ạ i Ư U U I L p n u n g JV11

+ Đồi tượng nguy cơ cao

1 _r y _ 1 _ 1 _ • 4 r 1 9 1 1 _ 1 _ r

Trang 33

người bệnh đến khám đều phải đo huyết áp nên có những ảnh hưởng nhất định đến thời gian khám và tư vấn cho người bệnh Các nhân viên y tế không có nhiều thời gian để tiếp xúc cũng như trao đổi với từng người bệnh về lối sống và các biến chứng của bệnh do vậy, NB chủ yếu đến kiểm tra huyết áp, lấy thuốc định kỳ rồi về.Theo báo cáo hoạt động phòng chống THA của Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Quảng Ninh năm 2016, tổng số người bệnh THA được quản lý tại trung tâm là 28.200 người, số người bệnh THA có biến chứng là 2.032 chiếm 7,2% và chỉ có 1.085 người bệnh đạt huyết áp mục tiêu chiếm 3,85%, có tới 775 người bệnh không tham gia tiếp tục điều trị [21] Điều này nói nên vẫn còn rất nhiều người mắc THA còn chưa quan tâm đến sức khỏe của mình dẫn đến tình trạng tỷ lệ mắc biến chứng ngày một tăng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống cũng như tính mạng của người bệnh tăng huyết áp.

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu của chúng tôi tiến hành trên người bệnh THA từ 18 tuổi trở lên đang điều trị ngoại trú tại Khoa khám bệnh, Bệnh viện tỉnh Quảng Ninh

* Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu:

- Có trong danh sách quản lý người bệnh THA tại Khoa khám bệnh

- Có khả năng trả lời phỏng vấn

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

Trang 34

* Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng:

- Người bệnh phải vào điều trị nội trú

- Người bệnh đã được chọn vào nghiên cứu trong lần khám trước

- Người bệnh có vấn đề về rối loạn ngôn ngữ và từ chối tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ 01/12/2017 - 30/08/2018

- Địa điểm: Khoa khám bệnh, Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu bằng phương pháp mô tả cắt ngang

2.4 Mẩu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Mẩu: Áp dụng công thức ước tính một tỷ lệ:

„ = ( z i - o c / 2 Y -p-q

d 2

Trong đó:

■ n: Là số người bệnh tăng huyết áp cần cho nghiên cứu

■ p = 0,287 tỉ lệ thực hành đạt theo nghiên cứu của Trịnh Thị Hương Giang năm 2015 tại Ninh Bình [6]

■ q = l - p = 0,713

■ d: = 0,05 sai số cho phép ở mức 5%

Thay vào công thức kết quả tính cỡ mẫu n = 314 đối tượng cần nghiên cứu

Dự phòng bỏ cuộc do đối tượng không tham gia (khoảng 0,5%), thực tế thu được

322 phiếu trả lời đủ tiêu chuẩn đưa vào phân tích

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu

Người bệnh được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống Dựa trên 806 người bệnh đang được quản lý tại phòng khám tim mạch bệnh viện Tỉnh Quảng Ninh (danh sách được lập trên bảng excel), đánh số thứ tự từ 1 đến 806

345

Hệ sô khoảng cách

Trang 35

Số ngẫu nhiên được chọn trong khoảng cách k là 2 vì vậy đối tượng nghiên cứu là những người bệnh có số thứ tự là 2,4,6 tất cả là số chẵn trong danh sách cho đến khi đủ số mẫu nghiên cứu Vì người bệnh THA đến tái khám 1 tháng/ lần theo lịch hẹn, chúng tôi sẽ phỏng vấn các người bệnh khi họ tái khám và mỗi người bệnh được phỏng vấn một lần duy nhất.

2.5 Phưtmg pháp thu thập số liệu

Thời gian thu thập số liệu: Các ngày trong tuần

Địa điểm: Khoa Khám bệnh, Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh

2.5.1 Tổ chức trước khỉ tiến hành thu thập sổ liệu

Xây dụng bộ công cụ: Bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên mục tiêu nghiên

cứu, khung lý thuyết, biến chứng, cách phòng biến chứng do THA và tham khảo bộ công cụ của tác giả Nguyễn Phan Thạch đã được sử dụng ừong nghiên cứu “Kiến thức, thực hành phòng biến chứng tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân tăng huyết áp đang được quản lý tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, năm 2015” [25] Bộ công cụ được điều chỉnh, bổ sung và xin ý kiến đánh giá 2 lần từ chuyên gia chuyên nghành nội khoa và điều dưỡng có kết quả điều chỉnh như sau:

Lần 1 với đánh giá tổng điểm CVI (Content Validity Index) là 0,64, bộ công cụ được các chuyên gia hướng dẫn chỉnh sửa câu từ, làm rõ nghĩa trong câu,

bổ sung cũng như loại bỏ một số câu hỏi chưa phù họp Trên cơ sở ý kiến của chuyên gia người nghiên cứu đã sửa bộ câu hỏi ở các nội dung như sau: Bỏ các câu hỏi “ Hiện tại ông bà sống ở đâu?”; “ Ồng/bà có thẻ bảo hiểm y tế còn hạn sử dụng không”; “ Ông bà có tham gia câu lạc bộ THA không” vì hầu hết người bệnh trong nghiên cứu có thẻ bảo hiểm y tế, đều sống tại thành thị và tại địa phương chưa có câu lạc bộ THA Thay vào đó người nghiên cứu bổ sung thêm các câu hỏi và thực hiện đo về chiều cao, cân nặng, vòng bụng để tính BMI của ĐTNC; “Các yếu tố làm tăng nguy cơ dẫn tới biến chứng tăng huyết áp”; “Tình trạng hôn nhân của ông/bà”

và thêm 6 câu hỏi thực hành của ĐTNC về thay đổi lối sống theo likert 3 mức độ (thường xuyên/ thỉnh thoảng/ không bao giờ) Điều chỉnh câu hỏi “ Ông/bà bị mắc bệnh nào trong số các bệnh dưới đây” bằng câu hỏi “Bệnh khác ông/bà mắc kèm

Trang 36

theo là”.

Sau khi người nghiên cứu đã điều chỉnh, bộ công cụ được gửi tới các chuyên gia để đánh giá một lần nữa với kết quả điểm CVI (Content Validity Index) làn 2 là 0,82

Thử nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứu: Thử nghiệm bộ công

cụ trên 20 người bệnh THA đủ tiêu chuẩn chọn mẫu ( những người này không được chọn lại vào mẫu nghiên cứu), nhận phản hồi của đối tượng nghiên cứu Các câu hỏi được chỉnh sửa nội dung, từ ngữ cho phù họp sau đó in ấn để phục vụ cho tập huấn

và điều tra

Tập huấn điều tra viên: 02 giảng viên trong cùng Bộ môn Điều dưỡng,

Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh

Nội dung tập huấn: Mục đích, kế hoạch cuộc điều tra, kỹ năng tiếp xúc với người bệnh, cách thu thập số liệu Hướng dẫn điều tra viên cách cân, đo các chỉ

số về cân nặng, vòng bụng, thống nhất các chỉ số và cách tính BMI

Thời gian và địa điểm: 01 ngày tại phòng khám bệnh viện

Giảng viên tập huấn: Trưởng nhóm nghiên cứu ( nghiên cứu viên)

2.5.2 Tiến trình thu thập số liệu

Bước 1: Danh sách người bệnh được cung cấp cho điều dưỡng tiếp đón tại 2 phòng khám huyết áp Điều dưỡng tiếp nhận, đối chiếu người bệnh đến khám với danh sách mẫu, sau đó giới thiệu người bệnh gặp điều tra viên (sau khi người bệnh

đã khám xong) tại phòng chờ đo huyết áp Điều dưỡng tiếp nhận đánh dấu các người bệnh đã giới thiệu phỏng vấn để loại trừ cho những lần tái khám sau

Bước 2: Điều tra viên tiếp cận người bệnh, thông báo về nghiên cứu, giới thiệu mục đích, nội dung, phương pháp và quyền lợi của người tham gia vào nghiên cứu Nếu người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu thì ký vào bản đồng thuận và được phổ biến hình thức tham gia nghiên cứu sau đó được hướng dẫn về cách trả lời các thông tin trong bộ câu hỏi

Bước 3: Những đối tượng tham gia nghiên cứu sẽ được phỏng vấn dựa trên bảng câu hỏi được thiết kế

Trang 37

Bước 4: Điều tra viên hỏi lại đối tượng phỏng vấn có cần bổ sung hoặc sửa đổi thông tin trong vấn đề vừa hỏi hay có câu hỏi nào liên quan đến bệnh THA không, nếu có ĐTV giải đáp.

Cuối ngày điều tra viên tổng họp và kiểm tra lại các phiếu phỏng vấn, nếu phiếu nào không đạt yêu cầu thì loại phiếu và phỏng vấn bù người khác

2.6 Các biến số nghiên cứu

A* Thông tín chung, nhân khẩu học

biến

pp thu thập

1 Tuổi Là tuổi tính theo năm sinh của

3 Trình độ học

4 Nghề nghiệp Tạo ra thu nhập chính của ĐTNC Nominal Phỏng vấn

5 Thu nhập Là tổng số tiền thu nhập hàng tháng Nominal Phỏng vấn

6 Hôn nhân Tình trạng kết hôn của người bệnh Nominal

7 Tiền sử gia

đình

Tình trạng THA của những người có

Chỉ số HA theo độ của ĐTNC tại

10 Độ THA của

ĐTNC hiện tại

Chỉ số HA theo độ của ĐTNC tại

11 Mức độ quan

tâm, hỗ trợ của

Đánh giá của ĐTNC về sự hỗ trợ từ những người thân trong gia đình

Nominal Phỏng vấn

Trang 38

gia đinh

12 Chỉ số BMI Cân nặng, chiều cao của ĐTNC Scale Cân, thước

13 Vòng bụng Kích thước vòng bụng của ĐTNC Scale Thước dây

14 Bệnh phối hợp Là các bệnh kèm theo của ĐTNC Nominal Phỏng vấn

B Kiến thức phòng biến chứng tăng huyết áp

Hiểu biết của ĐTNC về các yếu

vấn

17 Kiến thức về biến

chứng của THA

Hiểu biết của ĐTNC về các loại

Nominal Phỏngvẫn

’ Thực hành về phòng bỉễn chứng tăng huyết áp

22 Chuẩn bị đo huyết áp Các ĐTNC đã chuẩn bị gì trước

Phỏngvấn

Trang 39

25 Cách dùng thuốc

điều trị THA

ĐTNC sử dụng thuốc điều trị THA như thế nào

Nominal Phỏng vấn

28 Luyện tập/hoạt

động thể chất

Tình trạng vận động sau khi bị THA

Nominal Phỏng vấn

29 Xử trí khi bị THA

kịch phát

Những việc ĐTNC làm khi huyết áp tăng kịch phát ( >

2.7 Khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn đánh giá.

Bộ câu hỏi phỏng vấn gồm 55 câu, cấu trúc gồm 3 phần:

Phần A: Thông tin cơ bản: Từ câu AI - A19

Phần B: Kiến thức phòng biến chứng do tăng huyết áp: Từ B l- B I6

Phàn C: Thực hành phòng biến chứng do tăng huyết áp: Từ C1 - C20

Để đánh giá ĐTNC có kiến thức và thực hành đạt về phòng biến chứng do THA thì ĐTNC phải trả lời đúng trên 70% (2/3) các câu hỏi về kiến thức và trên70% (2/3) các câu hỏi về thực hành theo nội dung trong phiếu phỏng vấn

Thang điềm đánh giá kiến thức Câu Lưa chon • • Điểm tốỉ đa Câu Lưa chon • • Điểm tốỉ đa

BI Trả lời ý 1, 2 2 điểm B9 Trả lời ý 1- 6 6 điểm

B4 Trả lời ý 3 1 điểm B12 Trả lời ý 1, 2, 3, 4 4 điểm

B6 Trả lời ý 1, 2, 3, 4 4 điểm B14 Trả lời ý từ 1-8 8 điểm

B7 CTỜả lặì:ỷ)tìiỗm 5 điểm B15 GMlệỉ:ý)l4iấỊriS 3 điểm

Trang 40

B8 Trả lời ý 1, 2, 3, 4 4 điểm B16 Trả lời ý từ 1- 8 8 điểm

Đánh giá: Trả lời đứng từ 0 -36 điểm là không đạt

Trả lời đúng từ 37 - 55 điểm là đạt

Thang điềm đánh giá thực hành

C1 Trả lời ý 1, 2, 3 3 điểm C ll Trả lời ý 1 1 điểmC2 Trả lời ý 1, 2, 3 3 điểm C12 Trả lời ý 1 1 điểmC3 Trả lời ý 1, 2, 3 3 điểm C13 Trả lời ý 1 1 điểm

Đánh giá: Trả lời đúng từ 0 -20 điểm là không đạt

Trả lời đúng từ 21 - 31 điểm là đạt

2.8 Phương pháp phân tích số liệu

Quản lý số liệu: Sau khi thu thập, phiếu điều tra được kiểm tra đầy đủ thông tin đảm bảo khoa học và độ tin cậy, sau đó được mã hóa, nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0

Phân tích mô tả với các giá trị tỷ lệ, giá trị trung bình phù họp với bản chất biến số đo lường như mô tả các đặc điểm nhân khẩu học, kiến thức, thực hành dự phòng biến chứng Sử dụng các biểu đồ, bảng biểu phù họp với bản chất biến số đo lường và mục tiêu nghiên cứu

Phân tích mối liên quan: Phân tích đon biến, kiểm định khi bình phưong được dùng để xem xét một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành về phòng biến chứng do THA ở những người bị THA

2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

Ngày đăng: 04/03/2021, 09:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w