1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

KIẾN THỨC, THÁI độ và một số yếu tố LIÊN QUAN về QUẢN lý ĐAU CHO NGƯỜI BỆNH của điều DƯỠNG tại BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN năm 2018

83 45 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều điều dưỡng có kiến thức không đầy đủ về cơ chế hoạt động cơ bản của thuốc, liều lượng và cách sử dụng của những dược phẩm nhất định, về quản lý đau khác[24].Bênh viên Đa khoa Trung

Trang 1

PHẠM THỊ VÂN ANH

KIẾN THỨC, THÁI ĐÔ VÀ MÔT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VÈ QUẢN LÝ ĐAU CHO NGƯỜI BỆNH

THÁI NGUYÊN NĂM 2018

LUÂN VĂN THAC s ĩ ĐIỀU DƯỠNG « «

NAM ĐINH - 2018

Trang 2

PHAM THI VÂN ANH • »

KIẾN THỨC, THÁI ĐÔ VÀ MÔT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VÈ QUẢN LÝ ĐAU CHO NGƯỜI BỆNH CỦA

TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN NĂM 2018

LUÂN VĂN THAC SỸ ĐIỀU DƯỠNG « •Chuyên ngành: Đỉều dưỡng

Mã số: 8720301

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN HOÀNG LONG

NAM Đ IN H -2018

Trang 4

TÓM TẤTTên đề tài:Kiến thức, thái độ và một số yếu tố liên quan về quản lý đau cho người bệnh của điều dưỡng tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2018.

Quản lý đau là một trong các vai hò quan trọng trong thực hành hàng ngày của điều dưỡng tại các bênh viên Để quản lý đau tốt, điều dưỡng cần có kiến thức đúng và thái độ phù họp về đau

Nghiên cứu mô tả cắt ngang này được tiến hành nhằm mô tả thực trạng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về quản lý đau cho người bệnh của 210 điều dưỡngtại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2018 số liệu được thu thập bằng cách sử dụng bộ câu hỏi tự điền, với tổng điểm kiến thức là 12 và tổng điểm thái độ là 110 điểm

Kết quả của nghiên cứu cho thấy điểm kiến thức, thái đô của các điều dưỡng tham gia nghiên cứu đối với quản lý đau ở mức độ trung bình (lần lượt là 5,54± 1,63 và 66,56 ± 6,58) Điều dưỡng nhóm đại hpc/sau đai hpc có kiến thứctốt hơn.Đang chú ý,điều dưỡng cổ trên 10 năm kinh nghiệm có điểm kiến thức cao hơn

có ý nghía thống kê so với nhóm có từ 10 năm kinh nghiệm trở xuống.Không tìm thấy mối liên quan giữa các biến số hải nghiêm đau ca nhân và cổ tham dự/không tham dự đào tạo về đau với kiến thức, thái đô của điều dưỡng

Nghiên cứu cho thấy kiến thức và thái độ của điều dưỡng về quản lý đau cho người bênh rất cần được nâng cao Hai nhóm đối tượng cần được các chương trình can thiệp lưu ý hơn là điều dưỡng ở trình độ cao đẳng/trung học và những điều dưỡng có ít năm kinh nghiêm, cần có thêm các nghiên cứu trên các đối tượng thuộc các chuyên ngành cụ thể để có thể đánh giá sát hơn kiến thức kỹ năng, thái độ quản

lý đau ở từng chuyên ngành đặc thù của điều dưỡng

Từ khóa: Quản lý đau, điều dưỡng

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp, dưới sự tận tình hướng dẫn của các thầy cô, được phía nhà trường tạo điều kiện thuận lợi, em đã có một quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và học tập nghiêm túc để hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp Kết quả thu được không chỉ do sự nỗ lực của bản thân mà còn có sự giúp đỡ của quý thầy cô và các bạn

Lãnh đạo bênh viên Đa khoa Trung ương Thái Nguyên nơi em tiến hành thu thập số liệu đã tân tình giúp đỡ và tạo điều kiên để em hoàn thành lụân văn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 11 năm 2018

Hoc viên

Pham Thỉ Vân Anh • •

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ

do tôi thu thập là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 11 năm 2018

Hoc viên

Pham Thỉ Vân Anh

Trang 7

1.3 Các yếu tố liên quan đến quản lý đau của điều dưỡng 15

Trang 8

3.3 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về quản lý đau cho người bệnh của điều dưỡng tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên 36

4.2 Thực trạng kiến thức và thái độ của điêu dưỡng đối với quẩn lý đau cho

4.3 Một số yễu tố liên quan đẽn kiẽn thức và thái độ của điêu dưỡng đối với

PHỤ LỤC 3: KÊT QUA ĐANH GIA TINH GIA TRỊ VA ĐỘ TIN CẬY CUA BỘ CÔNG

CỤ THU THẬP SÔ LIỆU

PHỤ LỤC 4: DANH SACH ĐIÊU DƯCTNG THAM GIA NGHIÊN c ư u

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ICU (Intensive care unit): Khoa hồi sức cấp cứu

NKASRP (Nurse’s Knowledge and

Atitude survey regarding Pain):

Bang khảo sát kiến thức và thái độ của điều dưỡngđối với đau

NSAID(Non-steroidal anti-

inflam atory drug):

Thuốc giảm đau chống viêm phi steroid

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.3: Kết qua chung về kiến thức và thái độ của điều dưỡng với quan ly đau

Bảng 3.4:Mưc độ kiến thức và thải độ của điều dưỡng đôi với quản ly đau cho

Bảng 3.5: Kiên thức của điêu dưỡng theo từng nội dung quản lý đau (n = 210) 34

Bảng 3.7: Môi liên quan giữa trình độ chuyên môn với kiến thức, thái độ của điều

Bang 3.8: Mối liên quan giữa kinh nghiệm lảm việc với kiến thức, thái độ của điều

Bang 3.9: Môi liên quan giữa kinh nghiệm đau ca nhân với kiến thức, thái độ của

Bang 3.10: Môi liên quan giữa giáo dục quân ly đau với kiến thức, thái độ của điều

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐÈĐau là một trong những lý do phổ biến nhất khiến cho người bệnh phải tìm kiếm sự điều trị và chăm sóc của bác sỹ, điều dưỡng tại các cơ sở y tế, đồng thời cũng là một trong những triệu chứng phổ biến và đáng sợ nhất đối với người bệnh[17].Đau ảnh hưởng đến tất cả các mức độ của tâm sinh lý và ảnh hưởng đến hầu hết mọi khía cạnh của cuộc sống của người bệnh, bao gồm các mối quan hệ với người khác, các hoạt động trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, cũng như khả năng làm việc của họ Nếu như đau không được giải quyết hoặc quản lý kém là gánh nặng đối với con người, hệ thống chăm sóc sức khoẻ và xã hội, và đau là mối quan tâm suốt cuộc đời người bênh[28].

Tại các cơ sở y tế, điều dưỡng đóng vai trò quan trọng trong đánh giá

và quản lý đau Người điều dưỡng là người thường xuyên tiếp cận, đánh giá tình trạng người bệnh, nhận định mức độ đau và đưa ra các xử trí ban đầu, đồng thời là người quyết định báo bác sỹ để đưa ra những can thiệp phù hợp Đau có thể không được điều trị vì việc đánh giá không đầy đủ hoặc sử dụng thuốc giảm đau không phù hợp của bác sỹ và điều dưỡng, đặc biệt là các thuốc giảm đau opioid[7]

Trong một nghiên cứu quan trọng về quản lý đau do McCaffery và Ferrell tiến hành (1997), đã tuyên bố rằng: "Điều trị đau không hiệu quả và thiếu kiến thức

về quản lý đau đã được chứng minh trong khoảng hai thập kỷ qua Vì điều dưỡng thường là nền tảng của việc quản lý đau, kiến thức của các điều dưỡng trong lĩnh vực này đặc biệt quan trọng” Việc chăm sóc và quản lý đau đầy đủ của điều dưỡng chính là một phần trong nỗ lực giải quyết những thiếu sót trong việc điều trị [12]

Trên thế giới, đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu được tiến hành nhằm mục đích kiểm tra kiến thức của các cán bộ y tế, đặc biệt là của điều dưỡng về quản lý đau cho người bệnh Hầu hết những nghiên cứu này đều cho chúng ta thấy một trong nhiều lý do khiến người bệnh vẫn tiếp tục nhận được sự quản lý đau không đúng cách là do sự thiếu chuyên môn của điều dưỡng và bác sỹ[37] Đáng chú ý hơn, nhiều nhân viên y tế còn có quan niệm/thái độ chưa phù

Trang 13

hợp về đau của người bệnh cũng như việc sử dụng các thuốc liên quan đến đau Nhiều điều dưỡng có kiến thức không đầy đủ về cơ chế hoạt động cơ bản của thuốc, liều lượng và cách sử dụng của những dược phẩm nhất định, về quản lý đau khác[24].

Bênh viên Đa khoa Trung ương Thái Nguyên là một bênh viên lớn cổ chức năng khám, chữa bệnh, phòng bệnh và phục hồi chức năng cho bệnh nhân các tỉnh, thành phố khu vực miền núi phía Bắc ở tuyến cao nhất.vì vây chúng tôi muốn tiến hành nghiên cứu để tìm hiểu về kiến thức, thái độ của điều dưỡng về quản lý đau cho người bệnh tại đây, làm nền tảng cho việc mở rộng các nghiên cứu và đưa các

kiến nghị, can thiệp phù hợp sau này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Kiến thức, thái độ và một số yếu tố liên quan về quản lý đau cho người bệnh của điều dưỡng tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2018

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN cứu

1 Mô tả thực trạng kiến thức và thái độ về quản lý đau cho người bệnh của điều dưỡng tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2018

2 xác đinhmột số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về quản lý đau cho người bệnh của điều dưỡng tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Kiểm soát đau cho người bệnh là một phần quan trọng trong công tác chăm sóc của điều dưỡng góp phần hỗ trợ bác sỹ cho điều trị và đảm bảo sự hài lòng của người bệnh đối với dịch vụ y tế, làm giảm biến chứng cùng sự tái nhập viện.Kiến thức và thái độ của điều dưỡng là yếu tố quyết định việc quản lý đau hiệu quả hay không.Trên thế giới, quản lý đau là chủ đề phổ biến trong nghiên cứu điều dưỡng, nhưng tại Việt Nam hiện nay vẫn chưa tìm thấy nhiều nghiên cứu về vấn đề này Các nghiên cứu đã chỉ ra sự thiếu hụt kiến thức, thái độ không tích cực và những rào cản đối với đánh giá và can thiệp hiệu quảcủa điều dưỡng

Tổng quan tài liệu này nhằm mục đích tóm tắt lại những tài liệu có liên quan đến kiến thức và thái độ về quản lý đau cho người bệnh của điều dưỡng

1.1 Đạỉ cương về đau và quản lý đau

1.1.1 Định nghĩa và phân loại đau và nguyên nhân gây đau

1.1.1.1 Định nghĩa về đau và quản lý đau

Hội nghiên cứu đau quốc tế định nghĩa “đau là một cảm giác hoặc cảm xúc khỏ chịu kết họp với tổn thương mô học hiện diện hoặc tiềm ẩn, hoặc được mô tả như có tổn thương” [21] Đau là một trong những lý do phổ biến nhất mà người bệnh phải tìm kiếm sự chăm sóc tại các cơ sở y tế, các nghiên cứu đã công bố cho thấy có khoảng 80% lý do người bệnh đến khám tại các cơ sở y tế là do đau [3] Đau có thể ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày, là nguyên nhân mà người bệnh cần đến sự chăm sóc và giúp đỡ của người cán bộ y tế cũng như của gia đình

Theo hiệp hội đau Hoa Kỳ thì quản lý đau là một khía cạnh quan trọng của chăm sóc điều dưỡng và việc quản lý tiếp theo là cần thiết để đảm bảo sự hài lòng của người bệnh, cải thiên sức khỏe người bệnh

Paul cho rằng quản lý đau là quá trình cung cấp chăm sóc y tế nhằm giảm đau.Cac cơn đau nhẹ đến đau vừa phải được điều trị bằng thuốc giảm đau như aspirin Đối với đau mạn tính hoặc đau nặng, morphin và các opioid khác có thể

Trang 16

được sử dụng, đôi khi phối họp các thuốc giảm đau với nhau; với thuốc chống viêm steroid hoặc không steroid (khi đau có liên quan đến chứng viêm)hoăc với thuốc chống trầm cảm [20].

Karen và cộng sự cho rẩng những trải nghiệm về đau có thể bao gồm đau cấp tính và mạn tính, đau do tình trạng suy nhược mạn tính, hoặc đau

là một trong nhiều triệu chứng của người bệnh được chăm sóc giảm nhẹ.Đau không chỉ là về mặt sinh lý mà còn bao gồm các khía cạnh tinh thần, cảm xúc

và tâm lý xã hội Mục đích của quản lý đau trong suốt cuộc đòi là để giải quyết các vấn đề của đau và để giảm đau tối đa với các tác dụng phụ tối thiểu [23]

Quản lý đau bao gồm tất cả các biện pháp can thiệp được sử dụng để giảm bớt đau đớn, tìm hiểu nguồn gốc của con đau [18]

Có thể hiểu, quản lý đau cho người bệnh là một khía cạnh quan trọng của chăm sóc điều dưỡng bao gồm rất nhiều các biện pháp can thiệp khác nhau được dùng để giúp điều dưỡng hiểu và làm giảm bớt đau đớn cho người bệnh, đảm bảo sự hài lòng của người bệnh, đổng thời cải thiện tình hình sức khỏe của họ

1.1.1.2 Phân loại đau

Phân loại theo thời gian và tính chất thì đau được chia thành 2 loại chính: đau cấp tính và đau mạn tính [2]

Đau cấp tính là phản ứng sinh lý bình thường đã được tiên lượng trước liên quan đến những tổn thương thực thể của cơ thể do phẫu thuật, chấn thương hay do bệnh, và đau cấp tính có thể được chữa khỏi Loại đau này đáp ứng tốt được với việc điều trị bằng thuốc giảm đau và có thể kèm theo cảm giác lo lắng do đau của người bệnh [13] Đau cấp tính thường làm cho người bệnh có các biểu hiện: tăng huyết áp, nhịp tim nhanh, co mạch, vã mồ hôi, thở gấp, co thắt cơ, tăng bài tiết dịch tiêu hóa, giảm nhu động ruột, bí đái Đây là những dấu hiệu của thần kinh thực vât Khi vết thương lành hoặc khỏi bệnh thì đau cũng hết [2] Đau cấp tính thường không kéo dài quá 3 tháng, giảm hoặc mất đi khi những kích thích này không còn tồn tại như sau khi vết thương đã lành

Trang 17

Nếu như đau cấp tính nặng và nó tồn tại trong một thòi gian dài thì sẽ trở thành đau mạn tính nếu thời gian của đau kéo dài trên 3 tháng [2].

1.1.1.3 Nguyên nhân gây ra đau

Có rất nhiều nguyên nhân có thể gây ra đau cho người bệnh Nguyên nhân đầu tiên có thể kể đến đó là những tổn thương mô, có thể đó là tổn thương mô thực

sự như: do nhiễm khuẩn, phản ứng viêm, khối u hay thiếu máu cục bộ, các chấn thương, phẫu thuật hoặc những tổn thương mô tiềm tàng do một số bệnh lý gây

ra, ví dụ như đau sợi cơ (fibromyalgia)

Đau cũng có thể gây ra bởi các yếu tố tâm lý xã hội, những yếu tố như lo lắng, bồn chồn, kích động có thể là nguyên nhân gây ra đau hoặc làm cho đau thực thể trở nên nặng hơn.Bởi vì đau là một trong những nguyên nhân gây ra cảm giác khó chịu và rối loạn tâm thần dẫn đến người bệnh lo lắng, suy giảm nhận thức Làm thay đổi tâm sinh lý và tính tình khiến cho người bệnh trở nên giận dữ, thậm chí họ chống lại cán bộ y tế, không họp tác trong quá trinh điều trị Khi người bệnh càng lo lắng thì những cảm nhận về đau của họ lại tăng lên, gây ra mất ngủ và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của họ, làm kéo dài thời gian nằm viện[l].Các vấn

đề về tâm lý cũng có thể gây ra đau thậm chí làm cho đau nặng hơn, làm giảm hiệu quả điều trị bệnh

1.1.2 Những người bệnh có nguy cơ bị quản lý đau [23]

Bởi vì có nhiều rào cản đối với quản lý đau nên tất cả người bệnh đều có nguy cơ không được điều trị đau đầy đủ Cơn đau được xác định và được báo cáo chủ yếu thông qua việc tự báo cáo của người bệnh, khó khăn trong giao tiếp làm tăng nguy cơ người bệnh không được điều trị đau hiêu quả

Các nghiên cứu cho thấy người bênh có nguy cơ cao hơn về đau bao gồm: trẻ

sơ sinh và trẻ nhỏ, phụ nữ, người già, người bệnh rối loạn nhận thức, người bệnh rối loạn về cảm xúc và bệnh tâm thần, người bệnh có đau mạn tính, người bệnh có đau thần kinh, người lạm dụng chất gây nghiện, dân tộc thiểu số, người vô gia cư, và những người bệnh giai đoạn cuối Ngoài ra, do việc giao tiếp của nhân viên y tế với

Trang 18

người bệnh không hiệu quả cũng đặt ra một thử thách lớn cho việc quản lý đau.Hậu quả là bất kỳ người bệnh nào đều đã và đang có nguy cơ không được điều trị đau.

1.1.3 Một số biện pháp giảm đau cho người bệnh

Có hai phương pháp can thiệp dùng để giảm đau cho người bệnh đó là: can thiệp bằng thuốc và can thiệp không dùng thuốc

1.1.3.1 Phương pháp giảm đau có sử dụng thuốc

Đau là một trong những lý do phổ biến khiến người bệnh phải tìm đến các cơ

sở y tế [17], trong một nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới đã chỉ ra 85 - 90% người bệnh có triệu chứng đau có thể được điều trị hiệu quả [40] Giảm đau cho người bệnh là một phàn quan trọng trong công tác chăm sóc người bệnh có đau Các phương pháp giảm đau phải cắt cơn đau nhanh, hiệu quả và ít tác dụng không mong muốn

Hiện nay, có rất nhiều phương pháp giảm đau hiệu quả bằng cách sử dụng thuốc và không sử dụng thuốc Khi người bệnh có đau thì hầu hết họ đều được kê đơn thuốc giảm đau, một số thuốc hay được sử dụng như: các nhóm thuốc morphine, các nhóm thuốc giảm đau thông thường như Paracetamol, các thuốc giảm đau chống viêm NSAID (Aspirin, Ibuprofen, Naproxen, Ketorolac, Celecoxib )[2] Đây là những phương pháp giảm đau nhanh và hiệu quả nhưng sau khi thuốc hết tác dụng người bệnh có thể vẫn phải tiếp tục chịu đựng những cơn đau

Morphine là thuốc giảm đau rất tốt, thường được sử dụng cho người bệnh khi

họ có những cơn đau ở mức độ trung bình và đau nhiều Morphine làm giảm các đáp ứng phản xạ với đau đồng thòi làm mất đi mọi sự lo lắng, bồn chồn, căng thẳng của người sử dụng, chứng được sử dụng từ lâu và dùng bằng nhiều đường khác nhau: tiêm tĩnh mạch, tiêm bắp, dán ngoài da tuy nhiên phương pháp tiêm tĩnh mạch được áp dụng nhiều và đem lại hiệu quả cao hơn cả Morphine là một trong những thuốc gây nghiện nếu dùng liều kéo dài Tác dụng giảm đau của morphine tăng theo liều Phương pháp giảm đau bằng cách sử dụng morphinecó hiệu quả cho người bệnh có đau từ trung bình đến đau dữ dội nhưng lại gây ra những tác dụng không

Trang 19

mong muốn đó là làm cho người bệnh chóng mặt, buồn nôn, nôn, suy hô hấp, bí tiểu [2],[14] Chính vì vậy, ngày nay có khuynh hướng phối họp các thuốc giảm đau khác nhau để làm giảm liều morphine từ đó sẽ làm giảm được tác dụng phụ của nó [2].

1.1.3.2 Phương pháp giảm đau không sử dụng thuốc

Ngoài việc sử dụng thuốc để giảm đau cho người bệnh thì phương pháp giảm đau không sử dụng thuốc cũng đang được áp dụng rất phổ biến ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam.Đây là phương pháp giảm đau tự nhiên giúp giảm đau cho người bệnh mà không cần sử dụng thuốc cũng như không để lại bất kỳ tác dụng không mong muốn nào.Kiến thức và thái độ của bác sỹ, điều dưỡng về các phương pháp giảm đau không dùng thuốc có thể ảnh hưởng đến những lựa chọn của họ trong việc điều trị và chăm sóc người bệnh

Phương pháp giảm đau không sử dụng thuốc không thể thay thế được phương pháp giảm đau có sử dụng thuốc, tuy nhiên cán bộ y tế có thể kết họp 2 phương pháp với nhau để tăng hiệu quả giảm đau cho người bệnh hoặc có thể áp dụng khi phương pháp sử dụng thuốc giảm đau không phát huy được hiệu quả hay khi người bệnh không dùng thuốc giảm đau [26] Áp dụng các phương pháp giảm đau không sử dụng thuốc để quản lý cơn đau có thể làm tăng sự thoải mái, giúp người bệnh ngủ ngon giấc và nâng cao chất lượng cuộc sống của họ [30]

Các phương pháp giảm đau không sử dụng thuốc được chia ra làm hai loại:Thứ nhất, biện pháp giảm đau không xâm lấn: sử dụng các liệu pháp hành vi nhận thức như phân tâm, liệu pháp thư giãn, thôi miên, hình ảnh, kỹ thuật tập thở, thiền, liệu pháp âm nhạc Đây là những biện pháp nhằm mục đích thay đổi hành vi, nhận thức và cảm xúc của người bệnh bằng cách tấn công quá trình tâm sinh lý tác động đến nhận thức và phản ứng của đau Hay sử dụng những phương pháp tác động vào da như chườm nóng, chườm lạnh, kích thích thần kinh bằng dòng điện qua da[15] Nhiêt tri liêu (chườm nóng, chườm lạnh) là phương pháp rất phổ biến được dùng để giảm đau hàng ngày Đây là những phương pháp đơn giản, dễ thực hiên, không tốn kém và ít tác dụng phụ nhất Điều tộ nóng giảm đau do giãn mạch,

có thể có những phương pháp như chườm nóng, tắm nóng hay sử dụng paraphine

Trang 20

Điều tri lạnh có thể sử dụng các gói gel lạnh, đá được sử dụng bằng cách đăt một chiếc khăn/gac lên giữa da và túi lạnh giúp người bênh không phải chiu sự thay đổi nhiêt đột ngột Chườm lạnh trong khoảng thời gian ít nhất 20 phút, có tác dụng co mạch nên thường được áp dụng trong trường họp phù nề, viêm [15]

Thứ hai, biện pháp giảm đau không dùng thuốc có xâm lấn: phương pháp phổ biến và nổi tiếng nhất trong các phương pháp xâm lấn đó là châm cứu Đây là phương pháp có từ rất lâu đời và do người Trung Quốc tìm ra Người ta cho rằng phưomg pháp này làm giải phóng các opioid nội sinh trong cơ thể và làm giảm đau [31] Phương pháp này đòi hỏi phải có kỹ thuât và có kiến thức chuyên môn về các huyêt đạo nên thường chỉ cổ các điều dưỡng chuyên khoa về y hoc cổ truyền mới có thể áp dụng phương pháp này

Phương pháp giảm đau không sử dụng thuốc không gây độc cho cơ thể người bênh, an toàn, ít để lại biến chứng Vì vậy điều dưỡng nên có kiến thức về

sử dụng các phương pháp giảm đau này để hỗ trợ người bệnh và gia đình người bệnh trong việc giảm đau.Dù những phương pháp này không làm giảm đau trực tiếp

và nhanh chóng giống như phương pháp giảm đau có sử dụng thuốc nhưng chúng

có thể giúp người bệnh bớt lo lắng, ngủ ngon và hỗ trợ tinh thần người bệnh

1.1.4 Thang đo đánh giá mức độ đau[l]

Đau là một hiện tượng chủ quan của người bệnh, phức tạp, đa yếu tố, đa chiều mà chưa có phương pháp đo lường khách quan nào có thể đo được chính xác được cường độ đau của người bệnh

Thang đo mức độ đau đã được xây dựng nhằm giúp cho người điều dưỡng có thể dễ dàng xác định được tình trạng đau của người bệnh từ đó đưa ra những can thiệp điều dưỡng phù họp Thang điểm VAS (Visual Analog Scale) được sử dụng phổ biến trong đánh giá đau cho người trưởng thành và thang đo qua hình khuôn mặt (Wong-Baker FACES Pain Rating Scale) - dùng cho trẻ em trên 7 tuổi tự đánh giá về cơn đau của mình

Các thang đo đánh giá đau được đánh số từ 0 - 5 hoặc 0 - 1 0 với những khoảng cách bằng nhau Trong đó: 0 là “không đau” hoặc là đau rất nhẹ, 10 là “đau

Trang 21

nhất/đau cực kỵ” Người bệnh sẽ cảm nhạn mức độ đau của mình và chọn một điểm

số tương ứng với nó Mỗi điểm sẽ tương ứng với các con số:

0 Không đau

1 Đau rết là nhẹ, hầu như không cảm nhận và nghĩ đến nó, thình thoảng thấy đau nhẹ

2 Đau nhẹ, thỉnh thoảng đau nhói mạnh

3 Đau làm người bệnh chú ỷ, mất tập trung ừong công việc, có thể thích ứngvới nó

4 Đau vừa phải, người bệnh có thể quên đỉ cơn đau nếu đang làm việc

5 Đau nhiều hơn, người bệnh không thể quên đau sau nhiều phút, người bệnh vẫn có thể làm việc

6 Đau vừa phải nhiều hơn, ảnh hường đến sinh hoạt hàng ngày, người bệnh khó tập trung

7 Đau nặng, ảnh hưởng đến các giác quan và hạn chế nhiều sinh hoạt hàng ngày của người bệnh, ảnh hưởng đến giấc ngủ

8 Đau dữ dội, hạn chế nhiều hoạt động, cần phải nỗ lực rất nhiều

9 Đau kỉnh khủng, kêu khóc, rên rỉ, không kiểm soát được

10 Đau không thể nói chuyện được, nằm liệt giường, có thể mê sảng *

E)au đau đau h a n ha n nữa nhi êu cực ky

*Nguồn: Bộ Yt ế - 2006

Hình 1,1: Thang đo đau theo nét mặt (Wong-Baker FACES Pain Rating Scaỉe)

Trang 22

Điềm 0 1 2 3 4 5 6 7 3 9 10

*Nguồn: Bộ Y t ế - 2006

Hình 1.2: Thang điểm đánh giá đau (Visual Analog Scale)

1.2 Vai trò của điều dưỡngtrong quản lý đau

1.2.1 Vai trò của điều dưỡng trong quản lý đau cho người bệnh

Quản lý đau hiệu quả là một nhiệm vụ quan trọng của người điều dưỡng để đảm bảo chất lượng chăm sóc người bệnh Trên lâm sàng, điều dưỡng có vai trò vô cùng quan trọng trong quản lý đau cho người bệnh, là người thường xuyên tiếp xúc,

là người đánh giá đau ban đầu và chăm sóc cho hp Có trách nhiệm bảo đảm rằng người bệnh nhận được đánh giá, can thiệp điều dưỡng chính xác và dựa trên bằng chứng xác thực để điều trị cơn đau cho người bệnh hiệu quả, đáp ứng được tiêu chuẩn chăm sóc.Để làm được những điều đó người điều dưỡng cần phải có kiến thức tốt về quản lý đau, các tiêu chuẩn chăm sóc, quản lý đau cùng với thái độ tích cực[23]

1.2.2 Kiến thứccủa điều dưỡng về quản lý đau cho người bệnh

1.2.2.1 Định nghĩa

Trong từ điển Tiếng Việt kiến thức được định nghĩa là thực tế hoặc điều kiện của việc hiểu biết một cái gì đó với sự quen thuộc có được thông qua kinh nghiệm hay sự giáo dục

Wikipedia (2017) định nghĩa kiến thức là sự hiểu biết, nhận thức hoặc hiểu biết của ai đó hay vật gì, chẳng hạn như sự kiện, thông tin, mô tả hoặc kỹ năng, được thu thập qua trải nghiệm hoặc giáo dục bằng cách nhận thức, khám phá hoặc học tập[39]

Kiến thức của điều dưỡng theo Bums và Grove (2009) là một khái niệm phức tạp, đa diện Kiến thức thu được bằng nhiều cách khác nhau và dự kiến sẽ là

Trang 23

một sự phản ánh chính xác của thế giới thực Điều dưỡng có được kiến thức thông qua các tạp chí, sách báo, kinh nghiệm cá nhân, trực giác, lý luận và nghiên cứu, các chương trinh giáo dục[19].

Như vậy, kiến thức của điều dưỡng đối với quản lý đau cho người bệnh là sự hiểu biết, nhận thức của điều dưỡng về việc cung cấp chăm sóc y tế, tất cả các biện pháp làm giảm bớt hoặc cắt cơn đau; về sử dụng các thuốc giảm đau hiệu quả cho người bệnh; việc quản lý tiếp theo thông qua kinh nghiệm làm việc và qua các chương trình giáo dục, nghiên cứu để đảm bảo sự hài lòng của người bệnh và chăm sóc người bệnh đạt hiệu quả cao

1.2.2.2 Kiến thức của điều dưỡng về quản lý đau cho người bệnh

Điều dưỡng lâm sàng bao gồm kiến thức của bản thân một người thông qua đánh giá thái độ, giá trị, niềm tin và những ảnh hưởng đã hình thành trong mỗi cá nhân riêng biệt Những yếu tố này ảnh hưởng tới điều dưỡng khi đánh giá, ước lượng, giải thích hành vi, các phản ứng vật lý, sự xuất hiện bệnh của người bệnh Rào cản lớn nhất để người bệnh nhận được quản lý đau hiệu quả hoặc không hiệu quả có thể là những điều sau của điều dưỡng: thứ nhất, kinh nghiệm cá nhân của điều dưỡngđối với đau, trong một nghiên cứu của Wessman và McDonald đã cho thấy rằng những kinh nghiệm đau cá nhân trước đây của các điều dưỡng có liên quan đến kiến thức quản lý đau ban đàu của họ [5] Thứ hai, trong quản lý đau, điều dưỡng thiếu kiến thức về những phương pháp sử dụng thuốc và không sử dụng thuốc để quản lý đau cho người bệnh[30],[26]

Khi điều dưỡng gặp những vấn đề cá nhân căng thẳng thì bản thân họ có thể không đánh giá, ước lượng hoặc truyền đạt mức độ đau của người bệnh một cách khách quan nhất.Hâu quả sẽ tồi tệ hơn nếu điều dưỡng không có kiến thức đầy đủ đối với quản lý đau và họ không thể nhận ra được sự cần thiết phải tìm thêm thông tin để đánh giá, quản lý đau cho người bệnh một cách thích họp Nếu như một điều dưỡng tin hoặc nói rằng: “Bạn có thể đánh giá đau bằng cách nhìn vào người bệnh nếu họ đang đau”, chứng tỏ họ đang thiếu kiến thức về quản lý đau[23]

Trang 24

Để quản lý đau tốt cho nguời bệnh, điều duỡng cần phải có kiến thức về đau

và các tiêu chuẩn của chăm sóc đau

* Kiến thức về đau[23]

Đau là chủ quan, đau là bất kỳ điều gì người bệnh nói cho bác sỹ và điều dưỡng về nó.Điều dưỡngsử dụng quy trình điều dưỡng trong quản lý đau Công cụ đầy đủ và kiến thức về đau bao gồm những điều dưới đây:

Thứ nhất là sự đánh giá đau:Điều dưỡng sử dụng công cụ thích họp để đánh giá mức độ đau cho người bệnh Công cụ đó đã được chứng minh độ tin cậy và có giá trị khi điều dưỡng đánh giá đau cùng với sự báo cáo của người bệnh Đối với người bệnh không thể tự báo cáo thì các công cụ đánh giá đau chuẩn phải bao gồm

sự quan sát hành vi của người bệnh, có thể có hoặc không có các nghiệm pháp khác

để đánh giá đau Các dấu hiệu sinh lý như nhịp tim nhanh, tăng huyết áp, đổ mồ hôi

và xanh xao không đặc hiệu với đau có thể là dấu hiệu của một vấn đề sinh lý khác không liên quan Đối với người bệnh bị đau, các dấu hiệu sinh lý này có thể có mặt trong một thời gian ngắn hoặc không hề có.Tuy nhiên điều dưỡng không nên chỉ phụ thuộc vào các dấu hiệu sinh lý của người bệnh để đánh giá đau

Thứ hai, điều dưỡngphải am hiểu về sự khác biệt giữa các loại đau khác nhau như đau cấp tính, đau mạn tính và đau dữ dội, hiểu nguồn nào có khả năng gây đau nhiều nhất như đau thần kinh, cơ bắp, xương hay đau nội tạng

Thứ ba, điều dưỡng đánh giá đau của từng người bệnh, bao gồm: những trải nghiệm đau của người bệnh, phương pháp biểu hiện đau, những ảnh hưởng của văn hóa và người bênh có thể tự làm diu bớt cơn đau như thế nào

Thứ tư, là các can thiệp dược lý và phi dược lý: Điều dưỡng hiểu về các can thiệp dược lý của các liệu pháp dùng thuốc opioid, các thuốc giảm đau khác và những thuốc bổ trợ (bao gồm liều lượng, tác dụng không mong mốn, tương tác thuốc ) có hiệu quả nhất đối với nguồn gốc cơn đau của người bệnh Điều dưỡng hiểu rằng không nên sử dụng giả dược để đánh giá xem người bệnh có đau hay không hoặc để điều trị đau Và quan trọng,điều dưỡngcần có kiến thức đối với các

Trang 25

can thiệp phi dược lý cho quản lý đau (châm cứu, áp dụng nóng và lạnh, massage,

* Kiến thức về tiêu chuẩn của chăm sóc[23]

Tiêu chuẩn chăm sóc là đánh giá hiệu quả đau liên tục và quản lý đau Điều này không chỉ bao gồm việc điều dưỡng thừa nhận và chấp nhận đau của người bệnh; xác định nguồn gốc cơn đau của người bệnh; đánh giá cơn đau theo những khoảng thời gian đều đặn hoặc khi nào cơn đau tái phát; xây dựng kế hoạch chăm sóc người bệnh bao gồm kế hoạch liên ngành để quản lý cơn đau hiệu quả liên quan đến người bệnh, gia đình và những người khác Bên cạnh đó điều dưỡng cần thực hiện các chiến lược quản lý cơn đau và các can thiệp điều dưỡng cần thiết như: điều trị nhanh các tác dụng phụ (buồn nôn, nôn mửa, táo bón, ), giáo dục người bệnh, gia đình người bệnh và những thành viên khác về vai trò của họ trong quản lý đau cùng với những ảnh hưởng bất lợi nếu đau không thuyên giảm Điều quan trọng là điều dưỡng phải vượt qua được những rào cản đối với việc quản lý cơn đau hiệu quả, đồng thời có kế hoạch quản lý đau cùng những kết quả mong đợi của kế hoạch Sau khi thực hiện xong những chiến lược quản lý đau, điều dưỡng phải biết đánh giá hiệu quả của chiến lược và những can thiệp điều dưỡng để lập hồ sơ và báo cáo các can thiệp, đáp ứng của người bệnh

1.2.3 Thái độ của điều dường về quản lý đau cho người bệnh

1.2.3.1 Định nghĩa

Trong từ điển Tiếng Việt - 1999, thái độ là tổng thể nói chung những biểu hiện ra bên ngoài bằng nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động của ý nghĩ, tinh cảm đối với ai hoặc sự việc nào đó, có thể là tích cực hoặc tiêu cực

Trang 26

Theo tâm lý học xã hội thì thái độ là sự sẵn sàng ổn định của cá nhân để phản ứng với một tình huống hay một phức thể tình huống, thái độ vốn có xu hướng rõ rệt hình thành quy luật nhất quán phương thức xử thế của mỗi cá nhân.

Francis và Joyce cho rằng thái độ là động lực vô thức đối với hành động và phản ứng trong cuộc sống được củng cố hoặc thay đổi theo kinh nghiệm [25]

Thái độ của điều dưỡng đối với quản lý đau cho người bệnh là cách nhìn nhận/quan điểm của điều dưỡng về các hoạt động quản lý đau cũng như các biện phápgiảm đau thường sử dụng trên lâm sàng

1.2.3.2 Thải độ của điều dưỡng

Điều dưỡng là một trong những thành viên không thể thiếu của đội ngũ cán

bộ y tế trong việc chăm sóc cho người bệnh, họ là những người gần nhất với người bệnh, là người thường xuyên tiếp xúc với người bệnh trong thời gian nằm viện Để đảm bảo chất lượng chăm sóc người bệnh tốt nhất thì điều dưỡng càn phải có kiến thức, kỹ năng và thái độ tích cực để đánh giá các vấn đề về đau

Nghiên cứu trước cho thấy quá trình nhận định, can thiệp và đánh giá để quản lý đau hiệu quả bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các yếu tố như: thiếu kiến thức, thái độ tiêu cực, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm làm việc, áp lực công việc của điều dưởng[39],[41]

Việc điều dưỡng thiếu kiến thức hoặc có thái độ tiêu cực trong đối phó với những phàn nàn của người bệnh về cơn đau của họ sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả quản

lý đau Một nghiên cứu về thái độ của 350 điều dưỡng đối vói việc quản lý cơn đau

đã được tiến hành tại Bỉ Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng điều dưỡng có thái độ tiêu cực đối với việc sử dụng opioid trong giai đoạn chấn đoán và cho rằng việc nghiện thuốc là điều tất yếu xảy ra của việc sử dụng morphine lâu dài Những thái

độ tiêu cực này có thể cản trở việc điều trị đau đầy đủ[40]

1.3 Các yếu tố liên quan đến quản lý đau của điều dưỡng

1.3.1 Kinh nghiệm làm việc

Kinh nghiệm làm việc là một kiến thức thu được trong khi làm việc trong một ngành nghề cụ thể tính cho đến thời điểm nghiên cứu [4] Kinh

Trang 27

nghiệm làm việc của điều dưỡng có thể mang lại hiệu quả tích cực trong việc quản lý đau cho người bệnh.

Năm 2008, Lui và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu, kết quả cho thấy rằng những điều dưỡng có kinh nghiệm nhiều hơn trong việc quản lý đau cho người bệnh trên lâm sàng có điểm số cao hơn về kiến thức và thái độ

so với những điều dưỡng có số năm làm việc ít hơn [27]

Tương tự, nghiên cứu của Shakya tiến hành tại bệnh viện tuyến cuối

ở Nepal (2016) đã chỉ ra có sự khác biệt đáng kể về điểm trung bình kiến thức và thái độ của điều dưỡng có nhiều năm kinh nghiệm về quản lý đau với điều dưỡng có ít năm kinh nghiệm hơn[34]

1.3.2 Kinh nghiệm đau cá nhân

Nghiên cứu cho thấy rằng những kinh nghiêm đau cá nhân của điều dưỡng, tức là những trải nghiệm đau của họ trước đây cũng ảnh hưởng đến việc quản lý đau Kinh nghiệm đau cá nhân có thể ảnh hưởng đến hiệu quả trong đánh giá và việc đưa ra các can thiệp quản lý đau cho người bệnh

Abdalrahim và cộng sự(2010)cho chúng ta thấy các điều dưỡng đã sử dụng những kinh nghiệm cá nhân của họ về đau để có thể đánh giá phản ứng của người bệnh và dự đoán chính xác được mức độ đau của họ [6] Chính những kinh nghiệm đau cá nhân đó của điều dưỡng sẽ làm họ hiểu được cảm giác của người bệnh và đưa ra được những can thiệp chính xác hơn [6],[32]

1.3.3 Các chương trình giáo dục, các lớp tập huấn về đau

Đây là một trong những yếu tố quan trọng trong quản lý đau của điều dưỡng Một nghiên cứu của Mohammad và Murad được tiến hành ở Jordanian đã cho thấy những điều dưỡng được tham gia các chương trình đào tạo về quản lý đau trong vòng 5 năm tính đến thời điểm nghiên cứu có điểm số về kiến thức và thái độ cao hơn so với những điều dưỡng chưa từng tham gia chương trình đào tạo nào về quản

lý đau trước đó [9]

Machira, Kariuki và Martindale (năm 2013) đã sử dụng một thiết kế kiểm tra trước và sau thực nghiệm Mục đích của nghiên cứu này là để thực hiện và đánh giá

Trang 28

một chương trình giáo dục quản lý cơn đau cho các điều dưỡng ở Kenya Sự thiếu hụt kiến thức và thái độ liên quan đến quản lý đau đã được thể hiện rõ Các điều dưỡng tham gia khóa học về quản lý đau đạt được điểm số cao hơn đáng kể ở bộ câu hỏi khảo sát NKARSP so với những điều dưỡng không tham gia Như vậy kết quả nghiên cứu cho thấy dường như các khóa học về quản lý đau có hiệu quả trong việc nâng cao kiến thức và thái độ đối với đau của điều dưỡng[16].

1.4 Thực trạng quản lý đau

1.4.1 Thực trạng quản lý đau trên thế giới

Kiến thức và thái độ của điều dưỡng trong quản lý đau đã và đang là chủ đề nghiên cứu được đề cập đến nhiều trong những thập kỷ qua

Lui và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu mô tả cắt ngang vào năm 2008

về kiến thức, thái độ với quản lý đau của điều dưỡng nội khoa ở Hồng Kông Nghiên cứu được tiến hành nhằm mục đích điều tra mức độ kiến thức, thái độ đối với quản lý đau của các điều dưỡng đang làm việc tại các khoa nội và những yếu tố

có thể ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ của họ về quản lý đau Nghiên cứu này sử dụng bộ công cụ tự điền được sửa đổi từ bộ câu hỏi khảo sát Nurses Knowledge and Attitude Survey Regarding Pain - NKASRP, gồm 25 câu hỏi trong đó: 16 câu hỏi đúng sai, 9 câu hỏi nhiều lựa chọn, tiến hành điều ừa trên 143 điều dưỡng Các thuật toán thống kê mô tả và hồi quy theo bước đã được sử dụng để phân tích dữ liệu Kết quả của nghiên đã xác định các vấn đề về sự thiếu kiến thức và thái độ không phù họp liên quan đến quản lý đau, nghiên cứu cũng cho thấy những điều dưỡng cổ kinh nghiêm làm viêc lâu hơn có kiến thức tốt và thái độ tích cực hơn Tuy nhiên nghiên cứu chủ yếu tập trung vào kiểm tra kiến thức và thái độ của điều dưỡng liên quan đến quản lý đau còn thực hành thực tế trên lâm sàng của họ lại không được kiểm tra[27]

Năm 2013, Ayla Yava và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu nhằm xác định kiến thức, thái độ của điều dưỡng làm việc trong đào tạo và nghiên cứu tại một bệnh viện ở Thổ Nhĩ Kỳ, đồng thời tìm hiểu mối liên quan giữa kiến thức, thái độ của điều dưỡng với yếu tố nhân khẩu học và giáo dục Một thiết kế nghiên cứu mô

Trang 29

tả cắt ngang và bộ công cụ “Khảo sát kiến thức và thái độ của điều dưỡng đối với đau” (NKASRP) đã được sử dụng để xác định kiến thức và thái độ của điều dưỡng đối với đau tại bệnh viện này Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra, trong 246 điều dưỡng tham gia vào nghiên cứu chỉ có 11,8% điều dưỡng đã từng tham gia các khóa đào tạo về quản lý đau, 31,7% có đọc sách hoặc tạp chí về đau Tỷ lệ trả lời đứng các câu hỏi trong bộ công cụ NKASRP là 39,65% trong khi điểm số trung bình cho tất

cả các câu hỏi là 15,86 ± 7,33 với khoảng từ 0 đến 37 Nghiên cứu đã tìm ra được

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức và thái độ của điều dưỡng với trinh

độ học vấn, khoa làm việc, đã từngtham gia khoá học về quản lý đau, đã đọc sách hoặc tạp chí về đau Điểm yếu của nghiên cứu này là chủ yếu tập trung vào việc xác định kiến thức và thái độ của các điều dưỡng liên quan đến quản lý đau nhưng không đánh giá thực tế thực hành trên lâm sàng của họ [10]

Cũng đều là tìm hiểu về kiến thức và thái độ đối với đau của điều dưỡng, Jarrett, Church, Fancher-Gonzalez và các cộng sự (2013) đã tìm hiểu kiến thức và thái độ của các điều dưỡng về quản lý đau cho người bệnh nằm viện có đau bằng nghiên cứu định lượng, cân thực nghiệm Mục tiêu của nghiên cứu là xác định kiến thức và thái độ của điều dưỡng về quản lý đau trước một buổi học, ngay sau buổi học và được kiểm tra lại một lần nữa sau khi điều dưỡng tham gia một khóa hpc Online về giáo dục quản lý cơn đau 6 tháng Cuộc nghiên cứu đã diễn ra tại một bệnh viện chăm sóc cấp cứu 360 giường bệnh ở phía nam của Hoa Kỳ 206 điều dưỡng tham gia vào nghiên cứu bao gồm các điều dưỡng chăm sóc người bệnh trực tiếp tại bệnh viện và cổ 164 điều dưỡng tham gia vào bài kiểm tra cuối cùng “Khảo sát kiến thức và thái độ về đau” (Attitude Survey Regarding Pain - NKASRP) là bộ công cụ được sử dụng để thu thập dữ liệu cho nghiên cứu Kết quả cho thấy, điểm

số ngay sau khi điều dưỡng được giáo dục về quản lý đau cao hơn đáng kể so với điểm trước khi giáo dục.Điểm kiểm tra sau khi các điều dưỡng tham gia khóa học Online 6 tháng về quản lý đau ở mức cao hơn điểm của 2 lần trước đó Nghiên cứu

đã kết luận rằng điều dưỡng cần phải có một nền tảng kiến thức vững chắc để quản đau hiêu quả cho người bệnh [22]

Trang 30

Năm 2016, RolinaAl-Wassiada thực hiện một nghiên cứu mô tả cắt ngangđể xác định mức độ kiến thức và thái độ của các điều dưỡng đối quản lý đau cho người bệnh ung thư tại bệnh viện đại học y củaVưomg quốc Ả Rập Nghiên cứu sử dụng

bộ câu hỏi tự điên gồm 39 câu hỏi đóng Bộ công cụ này được phát triển bởi Ferrell

và Bennet vào năm 2014 Nội dung của bộ câu hỏi dựa trên các tiêu chuẩn về quản

lý đau của Tổ chức y tế thế giới, Hiệp hội đau Hoa Kỳ, hướng dẫn về đau của mạng lưới y tế quốc gia về ung thư toàn diện.Đã có 128 điều dưỡng ở các khoa cấp cứu, khoa nội, khoa phẫu thuật và khoa phụ sảntham gia vào nghiên cứu này Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra: với các câu hỏi liên quan đến kiến thức về đau có điểm số trung bình là 41,3% Điểm trung bình trên tất cả các câu hỏi là 16,1 ± 4,6 (khoảng

từ 0 - 24) Những điều dưỡng nam ở khoa nội có kiến thức cao hom so với những điều dưỡng ở các khoa khác và với các câu hỏi về thái độ quản lý đau họ cũng có điểm sốcao nhất Trong khi đó, ở khoa ngoại phẫu thuật thì các nữ điều dưỡng lại có điểm số cao nhất đối với các câu hỏi liên quan đến việc đánh giá com đau cho người bệnh và những kinh nghiệm trong quản lý đau đột ngột do ung thư Tưomg tự, các điều dưỡng nam tại khoa ngoại và điều dưỡng nữ ở khoa nội họ có điểm kiến thức cao hom với các câu hỏi về tuân thủ điều trị của người bệnh[8]

Để tìm hiểu kiến thức và thái độ của điều dưỡng tại khoa cấp cứu của một bệnh viện đại học lớn nhất tại thành phố Riyadh - Vương quốc Ả rập-xê-út, Marwan Rasmivà cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 289 điều dưỡng, trong đó có 169 người tham gia có bằng cử nhân và chỉ có 26 điều dưỡng (12,5%) có bằng sau đại hpc trong lĩnh vực điều dưỡng Nghiên cứu sử dụng một bộ câu hỏi tự điền “Khảo sát kiến thức và thái độ đối với đau” bao gồm các thông tin

về nhân khẩu học và các câu hỏi về kiến thức, thái độ của điều dưỡng đối với việc quản lý đau cho người bệnh Bộ câu hỏi có 39 câu hỏi và 4 phần: nhân khẩu học, thái độ, kiếnthức của điều dưỡng đối với quản lý đau cho người bệnh và phần cuối

là các câu hỏi tình huống lâm sàng.Hầu hết những điều dưỡng tham gia vào nghiên cứu có kinh nghiệm dưới 5 năm (61%).Không có bất kỳ một điều dưỡng nào đã từng tham gia các khóa học nâng cao về đánh giá, quản lý đau.Kốt quả nghiên cứu cho thấy có sự thiếu hụt về kiến thức và thái độ tiêu cực của các điều dưỡng khi họ

Trang 31

giao tiếp với người bệnh tại khoa ICU.60% câu hỏi của phần kiến thức đối với đau

đã không được các điều dưỡng trả lờiđúng và họ cũng đã trả lời sai đến 65% các câu hỏi phần thái độ Như vậy nghiên cứu này đã cho thấycả sự thiếu hụt về kiến thức lẫn thái độ không tích cực của các điều dưỡng ICU đối veri quản lý đau cho ngưeỳi bênh[33]

1.4.2 Thực trạng quản lý đau tại Việt Nam

Ở Việt Nam, hiện nay có rất ít nghiên cứu về kiến thức và thái độ của điều dưỡng về quản lý đau.Chúng tôi đã cố gắng tìm kiếm tài liệu nghiên cứu về kiến thức và thái độ cảu điều dưỡng về quản lý đau cho người bệnh nhưng chưa tìm thấy nhiều

Một nghiên cứu đánh giá về mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và quản lý đau của Điều dưỡng tại khoa Ngoại của Bệnh viện 115, thành phố Hồ Chí Minh Kết quả đã tìm thấy điều dưỡng quản lý đau sau mổ có kiến thức ở mức độ cao 22,59 ± 3.90, kiến thức về quản lý đau sau mổ là 15,06 ± 3,57, thái độ liên quan đến quản lý đau sau mổ là 69,35 ± 5,62 và quản lý đau có mối liên quan tích cực với kiến thức ở mức độ thấp (rp = 0,26, p < 0,01), với thái độ ở mức độ cao (rp = 0,90, p

< 0,01)[38]

Tuy vậy, nghiên cứu trên là chưa đủ để phản ánh kiến thức và thái độ của điều dưỡng trong quản lý đau tại Việt Nam

1.5 Khung nghiên cứu

Theo như tổng quan tài liệu về quản lý đau cho người bệnh của điều dưỡng thì kiến thức và thái độ của điều dưỡng cũng bị ảnh hưởng bởi kinh nghiệm làm việc của các cá nhân, điều dưỡng có số năm kinh nghiệm nhiều hom có điểm kiến thức và thái độ cao hem so với những người có số năm kinh nghiệm lâm sàng ít hơn[27],[34]

Bên cạnh đó các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các cá nhân đã từng trải qua sự đau đớn thì họ cũng có kiến thức tốt và thái độ tích cực hon so với những điều dưỡng khác.Ngoài ra, kiến thức và thái độ của điều dưỡng đối với việc quản lý đau cho người bệnh còn chịu ảnh hưởng bởi sự giáo dục về quản lý đau Những điều

Trang 32

dưỡng đã từng tham gia các lóp tập huấn hay những chương trình đào tạo về quản

lý đau họ sẽ có kiến thức tốt và thái độ tích cực trong việc quản lý đau [9],[16] Khung nghiên cứu có thể được hình dung như sau:

Các biến độc lậpBỉến phụ thuộc

1.6 Địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tạicác khoa lâm sàngsau: Nội, ngoại, sản, hồi sức cấp cứu - chống độc, đơn nguyên cấp cứu, trung tâmung bướu, khoa thần kinh bệnh viện Trung ương Thái Nguyên Là bệnh viện Đa khoa hoàn chỉnh, đảm trách nhiệm

vụ Bệnh viện vừng, có chức năng: Khám, chữa bệnh, phòng bệnh và phục hồi chức năng cho bệnh nhân các tỉnh, thành phố khu vực miền núi phía Bắc ở tuyến cao nhất, tham gia đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học, làm công tác chỉ đạo tuyến theo nhiệm vụ được phân công, nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật hiện đại để phục vụ sức khỏe nhân dân

Trang 33

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu2.1 Đối tượng nghiên cứu

Điều dưỡng-đang làm việc tại các khoa lâm sàng thường chăm sóc người bênh có đau: Nội, ngoại, sản, hồi sức cấp cứu - chống độc, đon nguyên cấp cứu, trung tâm ung bướu, khoa thần kinh của bệnh viện Trung ương Thái Nguyên đáp ứng được các tiêu chuẩn lựa chọn của nghiên cứu

2.3.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

Tất cả những điều dưỡng đang làm việc tại các khoa lâm sàng trên đồng ý tham gia vào nghiên cứu

2.3.2 Tiêu chuẩn loai trừ

Những điều dưỡng vắng măt, nghỉ ốm, nghỉ thai sản tai thời điểm lấy số liêu Trong quá trình tiến hành lấy số liêu tai các khoa lâm sàng trên có những điều dưỡng đi công tác, tham gia phụ mổ, nghỉ ốm đều được loại trừ khỏi danh sách.2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Thời gian nghiên cứu

Tháng 12/2017 đến tháng 7/2018

Thời gian thu thập sô liệu: Tháng 3/2018 đến tháng 5/2018

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại Bênh viên Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, chọn 7 khoa có số lượng người bênh đông và có tỷ lê người bênh có nhu cầu chăm sóc về đau cao hơn là: Nội, ngoại, sản, hồi sức cấp cứu - chống độc, đơn nguyên cấp cứu, trung tâm ung bướu, khoa thần kinh

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang có phân tích

2.4 Cỡ mẫu

Số lượng điều dưỡng tham gia nghiên cứu: 210điều dưỡng

Trang 34

Bảng 2.1: s ố lượng và cỡ mẫu của 7 khoa lâm sàng

2.6 Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu được nghiên cứu viên và nhóm nghiên cứu thu thập Nhóm nghiên cứu gồm 3 người được lựa chọn từ các giảng viên của bộ môn điều dưỡng trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên, được phổ biến chi tiết và hướng dẫn cụ thể về cách lấy

số liêu cho đề tài

Nghiên cứu viên và các thành viên của nhóm nghiên sẽ đi đến các khoa lâm sàng gặp điều dưỡng trưởng và trưởng khoa để xin gặp các điều dưỡng trong khoa vào giờ họp giao ban đầu giờ Nhóm nghiên cứu sẽ giải thích cho các điều dưỡng về mục đích nghiên cứu, quyền lợi của họ khi tham gia vào nghiên cứu Và xin phép được gặp mặt những người đồng ý tham gia nghiên cứu tại phòng giao ban sau khi kết thúc buổi làm việc để phát bộ câu hỏi khảo sát cho các điều dưỡng tự điền dưới

sự quan sát, hướng dẫn của các nghiên cứu viên Việc hoàn thành bộ câu hỏi khảo sát sẽ mất khoảng 15 -20 phút dưới sự giám sát của hpc viên, điều dưỡng trưởng và các nghiên cứu viên để đảm bảo không cổ sự sao chép giữa các điều dưỡng Sau khi điều dưỡng hoàn thành, các nghiên cứu viên sẽ tiến hành thu lại bộ câu hỏi lại

Trang 35

2.7 Các biến số, chỉ số trong nghiên cứu

- Biến phụ thuộc:

+ Kiến thức của điều dưỡng về quản lý đau cho người bệnh

+ Thái độ của điều dưỡng về quản lý đau cho người bệnh

- Biến độc lập:

+ Trình độ chuyên môn của điều dưỡng

+ Kinh nghiệm làm việc của điều dưỡng

+ Kinh nghiệm đau cá nhân của điều dưỡng

+ Điều dưỡng đã từng tham gia khóa học/lớp tập huấn về quản lý đau cho người bệnh

2.8 Các khái niệm, thước đo

2.8.1 Các khái niêm

Trình độ chuyên môn: Là trình độ (bâc) đào tạo cao nhất mà điều dưỡng đạt

được tính đến thời điểm phỏng vấn Được chia làm: Trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học

Kỉnh nghiệm làm việc của điều dưỡng: Là số năm làm việc lâm sàng của

điều dưỡng tính từ thời điểm điều dưỡng bắt đầu làm viêc tai các cơ sở y tế cho tới thời điểm phỏng vấn của nghiên cứu

hoặc đang phải trải qua sự đau đớn mà có sử dụng thuốc giảm đau hoặc các liệu pháp làm giảm đau Đau của điều dưỡng được đo bằng thang đánh giá đau VAS

Đã từng tham gia khóa học/lớp tập huấn về quản lý đau cho người

hoặc những khóa học ngắn hạn về việc quản lý đau cho người bệnh

Trang 36

2.8.2 Thước đo

Bộ công cụ “Khảo sát Kiến thức và thái độ của các điều dưỡng về đau” (Nurses Knowledge and Attitude Survey Regarding Pain - NKASRP)là một bảng câu hỏi tự điền đã được sử dụng để đánh giá các điều dưỡng tại các bệnh viện và như là một tiêu chuẩn cho nhận thức về quản lý đau của điều dưỡng (Phụ lục) Công

cụ này được xây dựng phát triển bởiBetty Ferrell và MargoMcCaffery vào năm

1987 và đã được sử dụng rộng rãi từ năm 1987 - nay Công cụ NKASRP đã được sửa đổi qua nhiều năm để phản ánh những thay đổi trong thực tiễn quản lý đau trên lâm sàng Nội dung của công cụ này bắt nguồn từ các tiêu chuẩn quản lý cơn đau hiện nay như Hiệp hội Đau của Hoa Kỳ, Tổ chức Y tế Thế giới và Hướng dẫn đau mạng lưới Ung thư toàn diện quốc gia[l 1]

Chúng tôi đã sử dụng bộ công cụ NKASRP có sửa đổi và phát triển sao cho phù hợp với điều trị và quản lý đau tại Việt Nam.BỘ công cụ gồm 4 phần

Phần 1: Gồm những câu hỏi về nhân khẩu học, tuổi, giới tính, kinh nghiệm làm việc, khoa làm việc, số lượng người bệnh cần chăm sóc hàng ngày, sự tham gia các khóa học hay các lớp về quản lý đau, tham gia nghiên cứu khoa học về đau, những kinh nghiệm bản thân trong việc chịu đựng những cơn đau trước đó

Khi công cụ NKASRP ban đàu được phát triển, không có điểm cắt cho chúng ta thấy rõ như thế nào là điều dưỡng có kiến thức và thái độ đối với quản lý đau Trong các nghiên cứu về sau đã thiết lâp điểm cắt cho bộ công cụ là 80%: đối tượng tham gia nghiên cứu cổ trên 80% câu trả lời đúng là có kiến thức và ngược lại McCaffery cho rằng điều dưỡng đạt dưới 80% số câu trả lời đúng thì khả năng chăm sóc cho một người bệnh có đau đớn sẽ không tốt bằng những điều dưỡng có điểm số trên 80% câu trả lời đúng [29]

Bảng 2.2: s ố lượng các câu hỏi của các phần trong bộ công cụ

Thái độ của điều dưỡng đối với quản lý đau 22 câu hỏi

Kiến thức của điều dưỡng đối với quản lý

Trang 37

Phần 2: Gồm 22 nhân đinh về thái độ của điều dưỡng đối với quản lý đau cho người bệnh Các nhân đinh được đo lường bằng cách sử dụng thang likert 5 điểm: Với mỗi nhân đinh có đáp án là "Đung" trong bộ công cụ gốc điểm sẽ được cho như sau: 1 = Hoàn toàn không đồng ý, 2 = Không đồng ý, 3 = Phân vân, 4 Dồng ý, 5 = Hoàn toàn không đồng ý; Với mỗi nhân đinh có đáp án là “Sai” trong

bộ công cụ gốc thì điểm sẽ được cho như sau: 5 = Hoàn toàn không đồng ý, 4 = Không đồng ý, 3 = Phân vân, 2 = Đồng ý, 1 = Hoàn toàn đồng ý Như vậy điểm sẽ dao động trong khoảng từ 22 đến 110 điểm, điểm số càng cao sẽ cho thấy điều dưỡng có thái độ tích cực đối với đau và ngược lại Câu 5, câu 8, câu 14 và câu 16 của phần này đã được thay bằng các câu hỏi có chứa thái độ để phù họp với việc sử dụng thang đo likert

Bảng 2.3: Cách tính điểm cho phần thái độ của bộ công cụ

Những câu hỏi có thái

Trang 38

thảnh paracetamol; câu 25 thay vì hỏi thuốc điều ữị cho người bệnh ung thư từ đau trung bình đến dữ dội chúng tôi thay bằng câu hỏi về thời gian bán thải của thuốc;

bỏ câu 26, 28, 30, 32: câu 26 quy đổi liều lượng tương đương giữa morphin uống và morphin tiêm tĩnh mạch, tại Việt Nam thực tế trên lâm sàng chưa thấy có sự quy đổi này; câu 28 hỏi về phần hăm người bệnh có phát hiển suy hô hấp do dừng opioid lâu ngày, câu 30 hỏi về thuốc giảm đau cho người bệnh ung thư, câu 32 hỏi về ảnh hưởng của văn hóa đa chủng tộc đến việc đánh giá đau của điều dưỡng Hoa Kỳ, câu

33 là câu hỏi về phần trăm người bệnh có đau tăng lên do dùng rượu và ma túy Đây đều là những câu hỏi riêng về ung thư trong khi đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu

về quản lý đau cho người bệnh trên tất cả các điều dưỡng tại các khoa lâm sàng, những câu hỏi này có thể gây bất lợi cho họ Cuối cùng chúng tôi thêm một câu hỏi xem điều dưỡng thường dựa vào yếu tố nào để đánh giá đau cho người bệnh

Phần 4: Tình huống lâm sàng Phần này có 2 câu tình huống gồm 2 câu hỏi

về việc điều dưỡng đánh giá đau cho người bệnh dựa hên thang đau

Cách tính điểm cho phần 3 và phần 4, mỗi câu trả lời đúng sẽ được 1 điểm, trả lời sai được 0 điểm Như vậy điểm tối thiểu là 0, điểm tối đa là 12.Điều dưỡng trả lời đúng 80% số câu hỏi sẽ được coi là có kiến thức đối với quản lý đau cho người bệnh

Trang 39

Nguyên trả lời phiếu tự điền và tính cronbach's alpha bằng phần mềm SPSS 21.0, kết quả độ tin cây của bô công cụ là 0,71.

Tac giả đã sử dụng kiểm đinh Anova, Pearson để kiểm tra mối quan hệ giữa kinh nghiệm làm việc, trình độ chuyên môn, kinh nghiêm đau cá nhân, giáo dục quản lý đau với kiến thức và thái độ quản lý đau cho người bệnh của các điều dưỡng

2.10 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu

Trước khi điều dưỡng tham gia vào nghiên cứu đều đã được học viên và nhóm nghiên cứu cung cấp thông tin rõ ràng về mục đích của nghiên cứu, về quyền lợi của người tham gia nghiên cứu và được quyền lựa chọn có hoặc không tham gia vào nghiên cứu Tất cả những thông tin họ cung cấp đều được giữ bí mật và không

có câu trả lời nào là sai.Những người tham gia nghiên cứu họ có quyền xin rút khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào mà không ảnh hưởng gì đến cuộc sống cũng như công việc của họ

2.11 Sai số và cách khắc phục

- Sai số do điều tra viên chưa hiểu rõ về cách thức lấy số liệu, cách khắc phục:

+ Học viên là người trực tiếp hướng dẫn nhóm nghiên cứu bao gồm 3 giảng viên của bộ môn điều dưỡng trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên về cách lấy số liệu, cách điền phiếu, yêu cầu những thảnh viên tham gia lấy số liệu phải hướng dẫn rõ ràng cho người tham gia nghiên cứu về cách điền phiếu, quyền lợi và sự đảm bảo quyền riêng tư cho họ Thống nhất trước khi tiến hành lấy số liệu

+ Hpc viên đã thường xuyên trao đổi với nhóm nghiên cứu để tìm ra những khó khăn trong quá trình thu thập số liệu và tìm cách khắc phục

Trang 40

- Sai số do quá trình nhập liệu nhầm lẫn, để hạn chế:

+ Hpc viên đã là người trực tiếp nhập số liệu từ phiếu điều tra Sau đó, có một nghiên cứu viên trong nhóm nghiên cứu tiến hành rà soát lại toàn bộ phiếu và

dữ liệu đã được nhập xem có khớp không

- Sai số do bản thân điều dưỡng sợ rằng sẽ thể hiện mình là người không có kiến thức Để hạn chế điều này nghiên cứu viên đã:

+ các điều dưỡng đã được giải thích rõ về mục đích của nghiên cứu

+ các điều dưỡng đã được giải thích rằng mọi thông tin về nhân khẩu học trong tờ phiếu khảo sát đều được giữ kín

Ngày đăng: 04/03/2021, 09:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w