1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khó khăn tâm lý của sinh viên điều dưỡng khi đi thực tập lâm sàng

36 718 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều bạn sinh viên chưa nhận thức rõ được tầm quan trọng của thực hành lâm sàng, chưa biết cách giao tiếp - ứng xử với người bệnh, người nhà người bệnh và đồng nghiệp, việc thực hiện cá

Trang 1

Bộ YTẾTRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

BÁO CÁO TỔNG KÉT ĐỀ TÀI NGHIÊN c ứ u KHOA HỌC CẤP c o SỞ

KHÓ KHÀN TÂM LÝ CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG KHI ĐI

THỰC TẬP LÂM SÀNG

Chủ nhiệm đề tài: Th.s Chu Thị Thơm

Tham gia: T.s Phạm Thị Thu Hương

B.s Nguyễn Bảo Ngọc Th.s Nguyễn Thu Hằng Th.s Trần Thị Vân AnhrsuỜNG O ại học điểu dưõng

NÁM DjNH

THƯ VỊÊN

S a

Nam Định, tháng 1 năm 2019

Trang 3

MỤC LỤC

1 Đặt vấn đề 5

2 Tổng quan đề t à i 6

2.1 ở nước ngoài 6

2.2 Ở trong nước 7

2.3 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 9

2.3.1 Khái niệm sinh viên 9

2.3.2 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi sinh viên 9

2.3.3 Sinh viên điều dưỡng 12

2.3.4 Khái niệm thực tập lâm sàn g 12

2.3.6 Khó khăn tâm lý trong hoạt động thực tập lâm sàng của sinh viên 16

2.3.6.1 Khó khăn và khó khăn tâm lý 16

2.3.Ó.2 Khó khăn tâm lý trong hoạt động thực tập lâm sàng của sinh viên điều dưỡng 17

3 Đối tượng nghiên c ứ u 18

4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 18

5 Cỡ mẫu và phương pháp chọn m ẫu 18

5.1 Phương pháp chọn m ẫ u 18

5.2 Cỡ m ẫu 18

6 Phương pháp nghiên cứu 19

6.1 Phương pháp nghiên cứu định tín h 19

7 Đạo đức nghiên cứ u 19

8 Kết quả và Bàn luận 20

8.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 20

8.2 Sự thiếu hụt về kiến thức trong thực tập lâm sàng 20

8.3 Sự thiếu hụt về một số phẩm chất tâm l ý 25

8.4 Khó khăn tâm lý của sinh viên khi đi thực tập lâm sàng do thiếu hụt các kỹ năng cơ bản, ứng xử không phù hợp 29

Trang 4

8.5 Khó khăn tâm lý của sinh viên khi đi thực tập lâm sàng giữa sinh viên khóa

10 và sinh viên khóa 11 33

9 Kết luận và kiến nghị 34

9.1 Kết luận 34

9.2 Kiến nghị 34

TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

PHỤ LỤC 1 38

CÁC CHỦ ĐỀ THẢO LUẬN NHÓM 38

Trang 5

1 Đặt vấn đề

Trong cuộc sống chúng ta tham gia vào rất nhiều hoạt động khác nhau Hoạt động nào con người cũng gặp những trở ngại khó khăn nhất định Tùy vào tính chất, nội dung và những điều kiện tiến hành hoạt động mà ta có thể gặp phải những khó khăn khác nhau làm cản trở đến tiến trình và kết quả hoạt động Khỏ khăn tâm lý là những trở ngại tâm lý mà cá nhân con người gặp phải trong hoạt động của mình

Tổ chức thực tập lâm sàng cho sinh viên điều dưỡng là một trong những yếu

tố quan trọng góp phần đạt mục tiêu đào tạo người điều dưỡng có đầy đủ phấm chất và năng lực đáp ứng được yêu cầu xã hội Nó phục vụ cho mối quan hệ giữa khâu học tập lý thuyết và công tác độc lập sau này của sinh viên Thực tập lâm sàng giúp sinh viên củng cố và khắc sâu lý thuyết, rèn luyện cho sinh viên sự hiểu biết và thói quen nghề nghiệp, tạo ra “sự thích nghi hóa” các phẩm chất của sinh viên cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn

Bên cạnh những thành tích đã đạt được của sinh viên khi đi thực tập lâm sàng, chúng ta thấy sinh viên còn gặp không ít các khó khăn trong quá trình đi thực tập lâm sàng Nhiều bạn sinh viên chưa nhận thức rõ được tầm quan trọng của thực hành lâm sàng, chưa biết cách giao tiếp - ứng xử với người bệnh, người nhà người bệnh và đồng nghiệp, việc thực hiện các thủ thuật, kế hoạch chăm sóc nên chưa có

sự chuẩn bị đầy đủ cả về tâm thế - kiến thức - kỹ năng cho đợt thực tập

Trường Đại học điều dưỡng Nam Định là một trong những trường thuộc Bộ

y tế, đào tạo những cán bộ điều dưỡng làm việc trong hệ thống các bệnh viện Mặc

dù nhà trường đã cố gắng tổ chức hoạt động đào tạo và thực hành lâm sàng cho sinh viên nhưng khi đi thực tập lâm sàng tại các bệnh viên, sinh viên còn gặp không ít các khó khăn tâm lý Những khó khăn tâm lý này do những nguyên nhân chủ quan và khách quan đưa đến Chúng tôi thiết nghĩ rằng, việc tìm hiểu cụ thể

Trang 6

những khó khăn tâm lý là một vấn đề hết sức ý nghĩa và cấp bách trong công tác đào tạo và hình thành năng lực nghề nghiệp cho sinh viên.

Xuất phát từ những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn trên chúng tôi nhận thấy sự cần thiết và tầm quan trọng của việc nghiên cứu đề tài: Khó khăn tâm

lý của sinh viên điều dưỡng khi đi thực tập lâm sàng.” Đề tài nghiên cứu với mục tiêu sau:

- Khó khăn tâm lý của sinh viên điều dưỡng trong hoạt động thực tập lâm sàng

2 Tổng quan đề tài

2 1 Ở nước ngoài

Trong đời sống của nhân loại, học tập là phương thức để con người tiếp thu tri thức, hành vi trong cuộc sống Đây là con đường ngắn nhất để con người có thể tiếp cận với thế giới hiện thực để nhận biết, để hiểu, để cải tạo chúng phục vụ cho lợi ích của con người

Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh, chỉ thông qua con đường học tập,

I thì những di sản văn hóa vật chất, tinh thần của nhân loại được tích lũy từ thế hệ trước mới có thể truyền lại cho thế hệ sau Trong quá trình đó bản thân người học

sẽ tiếp thu một cách sáng tạo hệ thống tri thức phù hợp với khả năng của cá nhân, đồng thời đáp ứng được yêu cầu của thời đại Tuy nhiên trong quá trình học tập, để biến những tri thức của nhân loại thành vốn kinh nghiệm riêng của cá nhân con người gặp phải những khó khăn nhất định về mặt tâm lý

Khi bàn về khó khăn tâm lý có một số ít các tác giả quan tâm nghiên cứu về vấn đề này như:

H.hipso và M.phorvec, G.M.anđreeva, E.V.sucanova Tuy nhiên họ cũng chỉ mới dừng lại ở việc nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong giao tiếp

Trong công trình nghiên cứu của G.M.An.ddreeeva khi phân tích chức năng thông tin về giao tiếp đã chỉ ra một vài nguyên nhân làm nảy sinh những khó khăn

Trang 7

tâm lý trong quá trình giao tiếp Theo tác giả những khó khăn đó có thể nảy sinh do

sự khác biệt về tôn giáo, ngôn ngữ, nghề nghiệp, thiếu đồng nhất trong nhận thức tình huống giao tiếp giữa các thành viên tham gia giao tiếp, hoặc do đặc điểm tâm

lý cá nhân

Tóm lại khó khăn tâm lý là một hiện tượng tâm lý phức tạp, ít được các nhà khoa học nước ngoài quan tâm nghiên cứu Mặc dù trong một số công trình nghiên cứu của một số tác giả đã có đóng góp nhất định trong việc phát hiện và nêu ra một

số khó khăn tâm lý, đồng thời chi ra được các nguyên nhân gây ra những khó khăn tâm lý ấy Tuy nhiên họ chưa nêu được định nghĩa cũng như chưa vạch được bản chất của những khó khăn tâm lý đó, đặc biệt chưa phân định được “ranh giới” giữa khó khăn tâm lý và nguyên nhân gây ra chúng

Nhìn chung khó khăn tâm lý còn là vấn đề đòi hỏi các nhà tâm lý học phải quan tâm nhiều hơn và phải được nghiên cứu một cách toàn diện hơn

2.2 Ở trong nước

Những công trình nghiên cứu về lĩnh vực khó khăn tâm lý cũng chưa nhiều Một số nhà khoa học như Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Thị Nhất, Trần Trọng Thủy đã có một số bài viết đề cập đến vấn đề này

Năm 2002, Nguyễn Thị Thu Huyền với đề tài: “Thực trạng KKTL trong quá trình giải bài tập thực hành các thao tác kỹ thuật của sinh viên trường cao đẳng sư phạm

kỹ thuật Vinh” Tác giả nghiên cứu và nêu ra một số khó khăn tâm lý cơ bản của sinh viên trong quá trình học các môn khoa học tự nhiên như: Do vốn kiến thức cơ bản của người học, do khả năng suy luận,

- Trong luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Xuân Thức (2005): “Khó khăn tâm

lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất đại học Sư phạm Hà Nội” đã tìm hiểu một số biểu hiện khó khăn tâm lý, nguyên nhân và ảnh hưởng của chúng đến nhân cách người sinh viên

- Năm 2007, tác giả Nguyễn Thị Thiên Kim với đề tài: “Khó khăn tâm lý

Trang 8

trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh” đã đề cập tới những khó khăn tâm lý tiêu biểu trong hoạt động học tập như: tâm lý e ngại, sợ mắc sai lầm trong học tập, chán nản khi học những môn học khó và lo lắng quá mức về việc học, chưa kịp thích ứng với môi trường và cuộc sống mới ở trường đại học, Những khó khăn tâm lý đó có ảnh hưởng đến hiệu quả học tập của sinh viên như: Không hiểu rõ nội dung bài học, không vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn, lượng kiến thức tiếp thu được ít, không hệ thống, không tham gia vào bài học trên lớp được Từ đó, tác giả đã kết luận có nhiều nguyên nhân gây ra những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên.

- Năm 2011, trong Luận văn thạc sỹ: “Một số khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên phân viện miền Nam học viện thanh thiếu niên Việt Nam”, tác giả Vũ Kim Xuyến đã khảo sát thực trạng trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp để giải quyết các khó khăn đó

- Tác giả Hoàng Thị Quý (2014), trong luận văn thạc sỹ: “Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên người dân tộc Chăm tại trường Cao đẳng Sư phạm Ninh Thuận” đã đề cập tới những biện pháp tác động phù hợp, tháo gỡ khó khăn trong hoạt động học tập, đẩy nhanh quá trình thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất

Như vậy điểm qua một cách sơ lược vài nét lịch sử nghiên cứu vấn đề khó khăn tâm lý ta thấy: vấn đề này còn ít được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Chính vì vậy việc đi tìm hiểu những khó khăn tâm lý của sinh viên nói chung và đặc biệt là những khó khăn tâm lý của sinh viên điều dưỡng khi đi thực tập lâm sàng là điều rất cần thiết

Trang 9

2.3 Một số khái niệm cơ bản của đề tài

2.3.1 Khái niệm sinh viên

Thuật ngữ “sinh viên”cỏ nguồn gốc từ tiếng la tinh “students” có nghĩa là người làm việc học tập, làm việc nhiệt tình, người tìm kiếm, khai thác tri thức Nó được dùng để chỉ những người theo học ở bậc đại học và cao đẳng, những người đang học tập và rèn luyện để lĩnh hội một trình độ chuyên môn cao

Khái niệm sinh viên được sử dụng rộng rãi hiện nay và được các nhà nghiên cứu chấp nhận với nghĩa: Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt, là những người đang trong quá trình tích lũy tri thức nghề nghiệp để trở thành những chuyên gia có trình độ chuyên môn cao, hoạt động, lao động trong một lĩnh vực nhất định có ích cho xã hội

Sinh viên điều dưỡng là những sinh viên đang học tập, rèn luyện trong các trường đại học, cao đẳng y Họ có nhiệm vụ học tập, tích lũy tri thức, trau rồi đạo đức, phát triển nhân cách toàn diện để trở thành những người điều dưỡng trong tương lai

Có thể khẳng định rằng sinh viên là đội ngũ tri thức trẻ, là nguồn nhân lực quan trọng quyết định sự phát triển nền kinh tế và sự phát triển của xã hội Họ là những người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, và mong muốn mang hiểu biết của mình tham gia vào các hoạt động để phát triển xã hội

2.3.2 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi sinh viên

Với tư cách là đại biểu của nhóm xã hội đặc biệt đang chuẩn bị cho hoạtđộng sản xuất vật chất hay tinh thần của xã hội, sinh viên đang tích cực chuẩn bị thực hiện vai trò xã hội và khẳng định chuyên môn của mình trong các lĩnh vực

Họ là lực lượng tri thức mới bổ sung cho nguồn nhân lực xã hội

Theo các nhà tâm lý hộc, sinh viên là những người thuộc lứa tuổi từ 18 đến

25 ở lứa tuổi này về cơ bản con người đã đạt đến mức độ trưởng thành cả về thể chất và tinh thần Chính sự hoàn thiện này cho phép sinh viên có thể giải quyết

Trang 10

nhũng vấn đề quan trọng mang tính chất quyết định đến sự phát triển nhân cách của họ một cách độc lập Đó là việc lựa chọn nghề nghiệp sau khi đã kết thúc học tập ở trường phổ thông Do tuổi sinh viên nằm trong giai đoạn thứ hai của tuổi thanh niên, vì vậy họ mang đầy đủ tính nhiệt tình, sôi nổi, khao khát lý tưởng, hăng hái hoạt động, muốn khẳng định mình và có sự chín muồi nhất định cùa tuổi trưởng thành Cùng với một loạt các phẩm chất đặc trưng của người sinh viên, được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng ở trường đại học và cao đẳng.

Tuổi sinh viên là thời gian nở rộ nhất của sự phát triển nói chung và tâm lý, nhân cách nói riêng Đây là lứa tuổi thuận lợi nhất cho sự hình thành và phát triển các chức năng tâm lý quan trọng ở con người, đặc biệt là sự phát triển năng lực trí tuệ

Đặc điểm tâm lý quan trọng nhất của lứa tuổi sinh viên là có sự phát triển của tự ý thức Hơn nữa đây chính là giai đoạn mà tự ý thức phát triển cao Họ đã có

ý thức và biết đánh giá về hoạt động và kết quả tác động của chính mình, biết đánh giá toàn diện về bản thân, về vị trí của mình trong cuộc sống Đây là những dấu hiệu giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách Điều đáng chú ý là sinh viên biết đánh giá tư tưởng, tình cảm, phong cách đạo đức, động

cơ hành vi của chính mình Họ biết tự quan sát, tự phân tích, biết tự trọng, tự đánh giá, tự kiểm tra nhờ đó sinh viên mới có thể tự điều chỉnh hành vi, cử chi và thái

độ của mình

Thành phần quan trọng bậc nhất, tạo nên sự phát triển tự ý thức của sinh viên là năng lực tự đánh giá, thể hiện thái độ đối với bản thân biểu hiện các phẩm chất và năng lực trong hoạt động, giao tiếp và tự giáo dục Tự đánh giá là kết quả đánh giá từ bên ngoài, hình thành nên lòng tự trọng của cá nhân bảo đảm cho tính tích cực của nhân cách được thể hiện trong đời sống, trong mối quan hệ liên nhân cách

Trang 11

Trong việc hình thành tính tự trọng của nhân cách, tự đánh giá là thành phần không thể thiếu được Nó phản ánh năng lực hiểu biết và kỹ năng điều khiển chính mình.

Tự đánh giá phản ánh mức độ thỏa mãn của nhân cách về bản thân, là mức

độ thỏa mãn của chủ thể về trình độ phát triển các thuộc tính của cá nhân Vì thể sự

tự đánh giá của cá nhân có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả của hoạt động, đặc biệt

tự đánh giá về trí tuệ là một thành phần cơ bản trong cấu trúc tự nhận thức của sinh viên Nó có tác dụng rất lớn đối với sự hình thành và phát triển các phẩm chất trí tuệ trong quá trình học tập ở đại học, cao đẳng Nếu sinh viên tự đánh giá đặc điểm trí tuệ ở mức thấp gây ra những khó khăn trong quá trình học tập, ngược lại những đặc điểm trí tuệ được đánh giá cao là cơ sở tốt cho hoạt động học tập ở đại học, cao đẳng Ngoài ra lòng tự tin, sự tự đánh giá về trí nhớ, tốc độ phản ứng cũng có tác động rất lớn đến việc hình thành các phẩm chất quan trọng của người điều dưỡng tương lai

Kế hoạch đường đời và tự xác định nghề nghiệp của sinh viên là một bước chuyển càn bản trong nhận thức của họ được thể hiện ở việc xác định cho mình một nghề nghiệp nhất định Họ không chi dừng lại ở việc mơ ước mà sinh viên còn tìm cách thức đạt tới và ấn định con đường thực hiện Mặc dù sự lựa chọn nghề nghiệp là một quá trình phức tạp, đòi hỏi phải có hứng thú bền vững mới có thể xác định nghề nghiệp đúng đắn theo khả năng và sờ thích của mình

Bước vào lứa tuổi sinh viên, khi mà việc xác định nghề nghiệp đã rõ ràng, người thanh niên chuyển sang giai đoạn mới với cái tên “sinh viên” và bắt đầu với các hình thức hoạt động mới Điều chúng tôi quan tâm là người sinh viên sẽ giải quyết những nhiệm vụ mới đặt ra cho mình như thế nào, trong đó việc thích ứng với hoạt động học tập được đặt ra hàng đầu Trong gian đoạn này, người sinh viên phải đối mặt với những khó khăn nhất định cả về vật chất và tinh thần Sự thay đổi của môi trường, sự thay đổi phương thức hoạt động tất cả sẽ đòi hỏi người sinh

Trang 12

viên phải giải quyết để có thể học tập tốt và hình thành cơ sở vững chắc cho nghề nghiệp tương lai Việc giải quyết tốt có hiệu quả những khó khăn sẽ giúp người sinh viên có niềm tin vào sự đúng đắn trong việc lựa chọn nghề, là cơ sở để tự khẳng định nhân cách và sự củng cố nghề nghiệp tương lai.

2.3.3 Sinh viên điều dưỡng

Điều dưỡng là người phụ trách chăm sóc sức khỏe, kiểm tra tình trạng người bệnh, và các công việc khác để phục vụ cho quá trình chăm sóc sức khỏe ban đầu cho đến phục hồi, trị liệu cho bệnh nhân

Ở Việt Nam, trước đây người điều dưỡng được gọi là Y tá, có nghĩa là người phụ tá của người thầy thuốc Ngày nay, điều dưỡng đã được xem là một nghề độc lập trong hệ thống y tế do đó người làm công tác điều dưỡng được gọi là điều dưỡng viên Người điều dưỡng hiện có nhiều cấp bậc, trình độ và đã được qui định rất cụ thể và chi tiết trong hệ thống ngạch bậc công chức theo các văn bản quy định của Bộ Nội vụ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Dưới góc nhìn của công chúng điều dưỡng là những người trực tiếp chăm sóc người bệnh với những công việc như cho người bệnh ăn, uống thuốc, tiêm thuốc, truyền dịch, an ủi động viên, giúp đỡ người bệnh vệ sinh cá nhân tắm, gội chăm sóc răng miệng, đo huyết áp, lấy nhiệt độ, lau mát hạ nhiệt, lấy máu làm xét nghiệm, hướng dẫn người bệnh và người nhà người bệnh, phối hợp trong việc thực hiện kế hoạch chăm sóc và điều trị cho người bệnh

2.3.4 Khái niệm thực tập lâm sàng

Thực tập lâm sàng là phần quan trọng góp phần cho việc học tập đạt kết quả cao, là quá trình thực hành nhưng được diễn ra trong thực tế có khuynh hướng về nghề nghiệp, chủ yếu nhằm tăng cường kỹ năng của chuyên ngành được đào tạo, vận dụng các kiến thức lý thuyết để giải quyết vấn đề của thực tiễn Trong quá trình thực tập kỹ năng trờ nên thuần thục dần trở thành kỹ xảo Như vậy thực tập là

Trang 13

tập làm trong thực tế, áp dụng điều đã học, qua đó dần nâng cao năng lực chuyên môn.

Đối với sinh viên các trường y thì thực tập là một yêu cầu bắt buộc được thực hiện liên tục từ năm thứ nhất cho đến năm thứ tư Yêu cầu thực tập, nội dung thực tập và thời lượng thực tập khác nhau trong mỗi môn học, mỗi năm học và những đòi hỏi ngày càng cao hon

Thực tập trong trường y khoa về cơ bản được chia làm 3 phần: thực tập tại các phòng thực tập (labo) trong trường gọi là thực tập cơ sở, thực tập tiền lâm sàng (sinh viên sẽ được tiếp cận với các tình huống giả định giống như ngoài lâm sàng)

và thực tập tại các bệnh viện gọi là thực tập lâm sàng

Thực tập lâm sàng là quá trình tập làm những gì đã được học trong lý thuyết, được thực hành tại nhà trường và làm trên người bệnh “thật” tại giường bệnh (có

sự giám sát của giảng viên cũng như giáo viên thỉnh giảng) Thực tập lâm sàng còn

là quá trình học những tình huống, những vấn đề mắt thấy tai nghe, những hình ảnh có thật ngay trên người bệnh

Đặc điểm học lâm sàng, đây là điểm mấu chốt khác học ở trường, mỗi người bệnh là một bài học khác nhau, không bao giờ có hai người bệnh giống nhau cho

dù có cùng một căn bệnh Các thầy trong ngành y thường nói học ờ trường là học

“căn bệnh” còn học lâm sàng là học “người bệnh”, do vậy có đi lâm sàng thì mới biết được thực hư như thế nào, nhưng khi đi lâm sàng thì không thể mơ hồ chung chung được, cái gì cũng phải cân đo đong đếm được, nó khác lý thuyết ở chỗ từ bài học chung chung bây giờ thì cụ thể Như vậy thực tập lâm sàng là quá trình tập làm

và học hỏi trên người bệnh

T h ự c tập lâm sàng của sinh viên Điều dưỡng

Thực tập lâm sàng của sinh viên điều dưỡng là quá trình mà người sinh viên điều dưỡng đi bệnh viện Trong quá trình này người sinh viên làm quen với môi trường bệnh viện: phòng bệnh, giường bệnh, người bệnh, người nhà người bệnh,

Trang 14

nhân viên y tế (tập thể y bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý, kỹ thuật viên ), hồ sơ bệnh án, máy móc thiết bị, dụng cụ y khoa, phương tiện phục vụ người bệnh

Kiến tập và thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng như: lấy dấu hiệu sinh tồn, thay băng, tiêm chích thuốc, truyền dịch, lấy máu xét nghiệm, vận chuyển bệnh nhân, gội đầu, tắm, vệ sinh răng miệng, đặt sonde dạ dày cho người bệnh ăn, chongười bệnh thở oxy, hút đờm dãi dưới sự hướng dẫn giám sát cùa giáo viênhoặc điều dưỡng tại khoa thực tập

Giao tiếp, hướng dẫn, giáo dục sức khỏe cho người bệnh và người nhà ngườibệnh

Nhận định triệu chứng lâm sàng một số bệnh đã học

Lập và thực hiện kế hoạch chăm sóc cho người bệnh (chẩn đoán điều dưỡng, can thiệp điều dưỡng, lượng giá)

Rèn luyện đạo đức người điều dưỡng, tác phong thận trọng, chính xác

Như vậy thực tập lâm sàng của sinh viên điều dưỡng là quá trình mà người sinh viên đi bệnh viện để làm quen với môi trường bệnh viện, giao tiếp với người bệnh và người nhà, kiến tập và làm một số kỹ thuật cơ bản của điều dưỡng dưới sự hướng dẫn giám sát của giáo viên hoặc điều dưỡng tại khoa thực tập, học hỏi một

số bệnh, thực hiện kế hoạch chăm sóc, rèn luyện đạo đức

Hoạt động thực tập lâm sàng của sinh viên điều dưỡng

* Mục tiêu của hoạt động thực tập lâm sàng:

- Giúp s v tự học, thăm khám quan sát các triệu chứng trên người thật, xác định vấn đề một cách chính xác, không lẫn lộn giữa thực tập lâm sàng và thực hành

- Học được thái độ, tác phong, cách ứng xử qua đó rèn y đức và định hình nhân cách người cán bộ y tế

- Học tập các kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, từ đó ứng dụng vào

Trang 15

học nghề chăm sóc sức khỏe cho con người.

- Rèn luyện nếp tư duy lâm sàng, học tập kiểu làm việc cùa người cán bộ y

tế, học phương pháp luận, hình thành tiềm năng tự học, nghiên cứu và nâng cao năng lực

- sv làm việc theo nhóm nhỏ, với các nội dung và hình thức học tập khácnhau

- Hoạt động thực tập lâm sàng của sinh viên điều dưỡng là tổng hòa kiến thức, thái độ, kỹ năng của người sinh viên điều dưỡng được tạo nên trong quá trình đào tạo

Trong thời gian thực tập lâm sàng kiến thức, thái độ, kỹ năng này được các trường có sinh viên điều dưỡng đi thực tập cụ thể hóa thành mục tiêu, nội dung thực tập,chỉ tiêu tay nghề

* Quy định của hoạt động thực tập lâm sàng

Bên cạnh đó quy định hoạt động thực tập lâm sàng của sinh viên Điều dưỡng còn được xem xét ở tinh thần chấp hành nội qui kỷ luật của bệnh viện, sinh viên đi thực tập đến và về đúng giờ, trình thưa với điều dưỡng tại khoa, mặc đồng phục chỉnh tề ngay ngắn sạch sẽ, tươm tất, luôn khiêm tốn lễ phép với tất cả nhân viên trong khoa từ bác sĩ, điều dưỡng đến hộ lý, hòa nhã với người bệnh và người nhà bệnh nhân, luôn giữ trật tự không nói cười ồn ào to tiếng Sinh viên đi thực tập phải năng động tìm việc để làm, tìm điều để học, tuy nhiên không phải chỉ nhằm mục đích học tập mà còn phải biết chia sẻ công việc với điều dưỡng, giúp đỡ người bệnh

* Ý nghĩa của việc thực tập lâm sàng của sinh viên điều dưỡng

Thực tập lâm sàng là học phần rất quan trọng trong chương trình đào tạo nhân lực thuộc ngành y, những người điều trị và chăm sóc sức khỏe cho người dân Nhiệm vụ của người thầy thuốc xuất phát từ sự tôn trọng đời sống con người mà mọi sự tổn thất gây nên sẽ không thể phục hồi lại nguyên vẹn được Vì vậy việc

Trang 16

đào tạo nguồn nhân lực này rất khắt khe trong việc lĩnh hội kiến thức, xây dựng thái độ, tinh thần trách nhiệm, thành thạo về tay nghề, khả năng ứng xử, giải quyết tình huống Tất cả những tố chất này tất nhiên là sẽ hình thành trong quá trình sinh viên đi thực tập ở BV, chứ không ở đâu khác Lớp học, giảng đường, phòng thực hành không thể làm nên trọn vẹn.

Vì vậy việc nâng cao chất lượng thực tập lâm sàng của sinh viên điều dưỡng có ý nghĩa quan trọng để tạo nên những tố chất cho người ĐD tương lai

2.3.6 Khó khăn tâm lý trong hoạt động thực tập lâm sàng của sinh viên

2.3.6.1 Khó khăn và khó khăn tâm lý

Trong cuộc sống - giao tiếp, chúng ta thường dùng từ “khó khăn” vậy khókhăn có nghĩa là gì?

Theo từ điển tiếng Việt thông dụng thì : khó khăn là có nhiều trở ngại hoặc phải chịu điều kiện thiếu thốn [6; 357]

Theo từ điển láy Việt thì: Khó khăn là có nhiều trở ngại làm mất nhiều công sức [3; 201]

Dương Diệu Hoa (2007) Khó khăn tâm lý được xem là toàn bộ những nét tâm lý của cá nhân (nảy sinh ở chủ thể trong quá trình hoạt động với hoàn cảnh xác định) ít phù hợp với những yêu cầu, đặc trưng của hoạt động đó, gây trở ngại cho tiến trình và kết quả của hoạt động

Theo Vũ Ngọc Hà (2009) Khó khăn tâm lý là sự thiếu hụt phẩm chất tâm lý cần thiết cho hoạt động của cá nhân và làm cho hoạt động kém hiệu quả Cũng theo tác giả sự thiếu hụt phẩm chất tâm lý của cá nhân thể hiện ở chỗ cá nhân đã có những phẩm chất tâm lý cần thiết cho hoạt động nhưng những phẩm chất tâm lý này chưa phù hợp hoặc mức độ của các phẩm chất chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động Do đó cá nhân gặp khó khăn khi tiến hành hoạt động

Trang 17

2.3.Ó.2 Khó khản tâm lý trong hoạt động thực tập lâm sàng của sinh viên điêu dưỡng

Thực tế cho thấy rằng khi tham gia vào bất kỳ hoạt động nào con người đều gặp những khó khăn nhất định làm cản trở đến tiến trình và kết quả của hoạt động

đó Hoạt động học của học sinh nói chung của sv nói riêng cũng vậy, nhất là khi gắn kết lý thuyết với thực hành Như phần trên đã trình bày “học” và “hành” là hai khái niệm khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Việc vận dụng những kiến thức lý thuyết đã học vào thực tế là vấn đề mà học sinh nói chung gặp không ít khó khăn Nhưng với sinh viên điều dưỡng việc vận dụng nhừng tri thức

đã được học ở trường điều dưỡng vào hoạt động thực tiễn ngoài bệnh viện lại càng khó khăn hơn bởi môi trường và tính chất hoạt động hoàn toàn mới, mà thường càng mới càng gặp nhiều khó khăn đặc biệt là những khó khăn tâm lý

Khi bàn về khó khăn và khó khăn tâm lý trong hoạt động thực tập lâm sàns,

chúng tôi quan niệm rằng: Khó khăn tàm lý của sinh viên khi đi thực tập lâm sàng là sự thiếu hụt kiến thức, thiếu hụt phẩm chất tâm lý cần thiết hoặc sự không phù hợp giữa đặc điểm tâm lý và kỹ năng, hành vi ứng xử của sinh viên VỚI yêu cầu, đặc trưng của hoạt động thực tập lăm sàng và gãy trở ngại cho tiến trình và kết quả của hoạt động này.

Biểu hiện của Khó khăn tâm lý:

Thứ nhất: Sự thiếu hụt các kiến thức cơ bản

+ Thiếu hụt về các kiến thức chuyên môn của một người điều dưỡng khi đi thực tập lâm sàng

+ Thiếu hụt do nhận thức không đúng hoặc lệch lạc

Thứ hai: Sự thiếu hụt các phẩm chất tâm lý cần thiết

+ Thiếu hụt về thái độ khi đi thực tập lâm sàng: vốn hiểu biết, kinh nghiệm về hoạt động thực tập lâm sàng còn hạn chế; thiếu tự tin khi thực hiện các thủ thuật; khó kiểm soát cảm xúc, hành vi của bản thân

17

NG OẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG

N A M OiNH _

ĩ ữ VỊỀN

Trang 18

+ Không phù hợp về thái độ, xúc cảm, tình cảm (thái độ xúc cảm âm tính): lo ngại

bị lây nhiễm, ảnh hường đến sức khỏe bản thân, bức xúc về sự phân biệt đối xử của điều dưỡng viên với các sinh viên thực tập

Thứ ba: Thiếu hụt về các kỹ năng cơ bản, hành ứng xử

+ Thiếu hụt về hành vi ứng xử (kỹ năng) trong thực tập lâm sàng như: Khó thiết lập được mối quan hệ với các bác sĩ, điều dưỡng viên hoặc các bạn sinh viên thực tập thuộc nhóm khác; khó khăn trong vận dụng kiến thức và kinh nghiệm vào hoạt động thực tập lâm sàng; kỹ năng giao tiếp còn yếu kém

+ Sự không phù họp của hành vi ứng xử ừong hoạt động thực tập lâm sàng: lung túng trước những tình huống bất ngờ (những ca cấp cứu)

3 Đối tượng nghiên cứu

Sinh viên đại học điều dưỡng chính qui khóa 10,11 đang theo học tại trường đại học điều dưỡng Nam Định

4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu trong 10 tháng từ tháng 1/2018 - 1/2019

Địa điểm nghiên cứu tại trường Đại học Điều dưỡng Nam Định

5 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

5.1 Phương pháp chọn mẫu

Chọn cỏ chủ đích một nhóm sinh viên là cán bộ lớp và chọn ngẫu nhiên sinh viên đang theo học tại các khóa 10,11, là những sinh viên chuẩn bị đi thực tập lâm sàng, mới đi thực tập và đã đi thực tập lâm sàng được một thời gian

5.2 Cô’ mẫu

Chúng tôi tiến hành lựa chọn ngẫu nhiên 40 sinh viên tại các khóa 10,11 và chia thành 4 nhóm mỗi nhóm 10 sinh viên, cụ thể:

-1 0 sinh viên khóa 10 thuộc nhóm cán bộ lóp

- 10 sinh viên khóa 10 chọn ngẫu nhiên

Ngày đăng: 04/03/2021, 09:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w