1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá quy trình rửa tay thường quy của bác sĩ, điều dưỡng tại khoa hồi sức cấp cứu và khoa ngoại bệnh viện đa khoa huyện lạng giang năm 2015

29 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đẻ hạn chế nguy cơ nhiễm khuẩn cho người bệnh mỗi nhân viên y tế phải tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật, đặc biệt là quy trình rừa tay [11].Tổ chức Y tế Thế giới đã khẳng định “ Rửa tay l

Trang 1

B Ộ Y T Ế

T R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C Đ IỀ U D Ư Ỡ N G N A M Đ ỊN H

N G U Y Ễ N N G Ọ C A N

ĐÁNH GIÁ QUY TRÌNH RỬA TAY THƯỜNG QƯY

CẤP CỨU VÀ KHOA NGOẠI BỆNH VIỆN ĐA

KHOA HUYỆN LẠNG GIANG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình cùa riêng tôi, do chính tôi thực hiện, tất cả các số liệu trong báo cáo này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu

có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả

Nguyễn Ngọc An

Trang 3

2

33347

8

8

99

2 Nội dung chuyên đề:

2.1 Tổng quan tài liệu:

2.1.1 Cấu chúc giải phẫu da

2.1.2 Sinh thái học lớp vi khuẩn trên đôi bàn tay

2.1.3 Lợi ích của rửa tay thường quy

2.1.4 Tình hình rửa tay thường quy của các cơ sở y tế trong nước

2.2 Tổng kết nội dung nghiên cứu:

2.2.1 Các thời điểm rửa tay thường quy

2.2.2 Mục đích RTTQ theo khuyến cáo BYT

2.2.3 Quy trình rửa tay thường quy của BYT

2.2.4 Phương tiện và điều kiện RTTQ

2.3 Thực trạng quy trình rủa tay thường quy tại hai khoa HSCC và khoa Ngoại bệnh viện đa khoa huyện Lạng Giang:

2.3.1 Kiến thức của Bác sĩ, Điều dưỡng về rửa tay thường quy

2.3.2 Thái độ của Bác sĩ, Điều dưỡng về về rửa tay thường quy

2.3.3 Thực hành về rửa tay thường quy

2.3.4 Phương tiện và điều kiện RTTQ của khoa ngoại và khoa HSCC

2.4 Giải pháp, kiến nghị:

2.5 Kết luận

MỤC LỤC

Trang 4

1.3 Hình ảnh các bước của điều dưỡng khoa Ngoại thực hiện RTTQ

trước khi làm thủ thuật)

14

1.4 Hình ảnh vị trí RTTQ phòng tiểu phẫu khoa Ngoại 181.5 Hình ảnh buồng thủ thuật khoa Ngoại 181.6 Hình ảnh vị trí RTTQ buồng thủ thuật khoa HSCC 19

Trang 5

Có nhiều phương pháp để phòng chống nhiễm khuẩn trong bệnh viện Theo thông tư 18/2009/TT/-BYT ngày 14/10/2009 đưa ra 3 phương pháp đó là: ‘Thòng ngừa ỉây truyền qua đường tiếp xúc, phòng ngừa lây truyền qua đường giọt bắn, phòng ngừa lâv truyền qua đường không khí” Trong đó phòng ngừa lây nhiễm qua tiếp xúc bằns phương pháp rửa tay thường quy là dễ thực hiện nhất và là phương pháp hữu hiệu nhất Tại khoa HSCC và khoa Ngoại là hai khoa thực hiện nhiều thủ thuật xâm lấn như đặt nội khí quản, mở khí quản, sond dạ dầy, sond tiểu trên những bệnh nhân nặng nên nguy cơ nhiễm khuẩn là rất lớn Đẻ hạn chế nguy cơ nhiễm khuẩn cho người bệnh mỗi nhân viên y tế phải tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật, đặc biệt là quy trình rừa tay [11].

Tổ chức Y tế Thế giới đã khẳng định “ Rửa tay là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất trong trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện” Bàn lay là một công cụ đa năng

để chữa trị chăm sóc người bệnh đồng thời cũng là phương tiện chính truyền tải phát ra mầm bệnh và nguồn gốc gây ra từ 50% đến 70% nhiễm trùng bệnh viện cũng như nguy

cơ phơi nhiễm bệnh nghề nghiệp cho nhân viên y tế Rửa tay đúng cách sẽ loại bò hầu hết các vi khuẩn ở bàn tay, từ người bệnh sang dụng cụ và nhân viên y tế, từ vị trí này sang vị trí khác trên cùng một người bệnh và từ nhân viên y tế sang người bệnh [15].Tại Việt Nam những năm gần đây, Bộ Y tế đã phát động phong trào vệ sinh bàn tay tại tất cả các bệnh viện và cộng đồng Theo nhiều báo cáo của chuyên gia kiểm soát nhiễm khuẩn trong và ngoài nước thì các bệnh truyền nhiễm đã và đang diễn ra trong cộng đồng hoàn toàn có thể phòng ngừa được bằng cách giữ gìn vệ sinh tay Theo đó, chỉ một động tác rửa tay sạch đã làm giảm tới 35% khả nũng lây truyền vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy vốn là nguyên nhân gây tử vong hàng triệu người mỗi năm trên thế giới

Trang 6

Vệ sinh bàn tay trong nhân viên y tế hiện nay đã được coi như một chiến lược quan trọng nhằm làm giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn tại các bệnh viện, những hành vi quen thuộc của nhiều người như đưa tay rụi mắt, miệng, cầm nắm đồ vật bẩn nhưng không rửa tay sạch đã vô tình làm cầu nối giúp các vị khách không mời dế dàng vào cơ thể, gây nhiều bệnh nguy hiểm [2], [13].

Khuyến cáo tại Hội nghị kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện khu vực Châu Á Thái Bình Dương lần thứ III năm 2007 dựa vào các nghiên cứu khoa học đã chi ra:

- Rửa tay là biện pháp đơn giản nhất, rẻ tiềm nhất và củng là hiệu quả nhất trong kiểm soát nhiễm khuẩn, do đó cần tăng cường tuân thủ rửa lay [8]

- Rửa tay thường quy hoặc sát khuẩn tay bằng dung dịch chứa cồn là phương pháp tiện ích và hiệu quả nhất trong kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện [8]

Vì vậy rửa tay trong cơ sở y tế là một yêu cầu bắt buộc đối với tất cả Bác sĩ và Điều dưỡng, Hộ lý trước bất kỳ một thao tác y tế nào trực tiếp chăm sóc người bệnh Trong bệnh viện có 2 loại rửa tay đó là rửa tay thường quy và rửa tay ngoại khoa

Trong báo cáo này tôi chỉ đề cập đến rửa tay thường quy là quy trình rửa tay được

áp dụng nhiều nhất trong bệnh viện Cho đến nay chưa có một khảo sát nào đánh giá việc thực hiện rửa tay của nhân viên y tế hai khoa Hồi sức cấp cứu và khoa Ngoại là hai khoa trọng điểm trong bệnh viện huyện Lạng Giang

Xuất phát từ lý do trên tôi lựa chọn chuyên đề “ Đánh giá sự tuân thủ quy trình

kỹ thuật rửa tay thưòng quy của bác sĩ, điều dưỡng tại hai khoa HSCC và khoa Ngoại bệnh viện đa khoa huyện Lạng Giang năm 2015”.

1.2 Mục tiêu:

- Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành quy trình rửa tay thường quy của cán bộ hai khoa HSCC và khoa Ngoại bệnh viện đa khoa Lạng Giang.

- Tim hiểu những yếu tố ảnh hưởng tới sự tuân thù rửa tay thường quy

- Đe xuất một sỗ giải pháp can thiệp để nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành quy trình rửa tay thường quy nhằm làm giảm thiểu nhiễm khuẩn bệnh viện.

Trang 7

2 NỘI DUNG CHUYÊN ĐÈ

2.1 Tổng quan tài liệu.

2.1.1 Cấu trúc giải phẫu da.

Nếu dùng kính hiển vi soi trên bề mặt da, sẽ thấy hình ảnh da giống như bản đồ mặt đất những thung lũng (nếp nhăn), Da chiếm diện tích trên cư thể chúng ta khoảng 2m2, với tổng trọng lượng khoảng 15-20% trọng lượng cơ thể Da là hàng rào bảo vệ cơ thể, giúp cơ thể ồn định thân nhiệt, chống mất nước, bảo vệ cơ thể khỏi các tác nhân dộc hại của môi trường như vi khuẩn, bụi bẩn, ánh nắng Da còn là nơi dón nhận các xúc giác của cơ thể, giúp ta biết đau, nóng, lạnh và khoái cảm [31

2.1.2 Sinh thái học của lớp vi khuẩn trên đôi bàn tay

* Lớp vỉ khuẩn cu* trú thường xuyên

Bình thường trên bàn tay người có lớp vi khuẩn (VK) CƯ trú thường xuyên Chúng nằm trến bề mặt và sâu dưới da; ồn định về mặt số lượng và chủng loại Theo các nhà khoa học, dù không nhìn thấy bằng mắt thường, nhưng quan sát qua kính hiển vi trên lcm 2 da tay người bình thường chứa hơn 40.000 vi khuẩn các loại Chúng thường là

VK không gây bệnh trên người lành như:

• Staphylocoque coagulase negative

* Lớp vi khuẩn cư trú tạm thời

Hằng ngày, thông qua những tiếp xúc với bệnh nhân và môi trường xung quanh; số lượng VK trên bàn tay các NVYT còn tăng lên gấp nhiều lần Lớp VK này có mặt ngay trên bề mặt da bàn tay, chúng rất phong phú về chủng loại cũng như số lượng Chúng thường là những VK gây bệnh cơ hội như:

• Enterobacteries

Trang 8

và làm gia tăng tỷ lệ các bệnh nhiễm trùng [15].

Kết quả kiểm tra ngẫu nhiên của bệnh viện (BV) Chợ Rầy tại thành phố Hồ Chí Minh (HCM) năm 2001 ở 77 nhân viên y tế, số vi trùng đốm được trung bình trên bàn tay hộ lý là 481.273 vi trùng, trên bàn tay bác sĩ 275.110 và nhóm điều dưỡng sạch nhất cũng là 126.875 vi trùng [6]

2.1.3 Lọi ích của rửa tay thường quy:

Định nghĩa rửa tay thường quy: Là rửa tay bằng xà phòng và nước sạch nhằm

loại bô chất bẩn và vi sinh vật vãng lai trên tay [11]

Các nghiên cứu cho thấy bàn tay của một người có thể mang tới 4,6 ứiệu mầm bệnh Các mầm bệnh trên bàn tay bao gồm các loại bám dính, loại thường trú, loại tạm trú Các loại vi khuẩn tập trung một số lượng lớn ở các kẽ tay và móng tay Trong lâm sàng người ta thấy tỷ lệ lớn các mầm bệnh trong các bệnh phẩm nhiễm trùng đồng nhất với vi khuẩn cư trú trên da mà nó được coi là chi số quan trọng xác nhận nhiễm trùng bệnh viện Đây thường là những trường hợp mà người bệnh đã thực hiện các thủ thuật xâm lấn Ngược lại nhân viên y tế cũng nhiễm các bệnh như HIV, viêm gan B, viêm gan c Từ người bệnh thông qua các thao tác thăm khám, chăm sóc, chữa trị mà không mang găng, găng lỗ thủng nhỏ và kể cả khi tháo găng không cẩn thận Trường

Trang 9

hợp bàn tay nhân viên sẵn có tổn thương thì nguy cơ lây nhiễm chéo từ bệnh nhân là rất lớn và ngược lại mầm bệnh nguy hiểm tại vị trí tổn thương có thể nhân lên hàng triệu lần và đó thực sự là hiểm họa cho người bệnh [1].

Trong suốt thế kỷ XIX, ở châu Âu và Mỹ, 25% bà mẹ sinh con tại bệnh viện đã từ vong do sốt hậu sản Nguyên nhân mà mãi sau này, nhờ tiến bộ của khoa học mới phát hiện ra là do vi khuẩn Streptococcus pyogens Năm 1879, tại một hội thảo khoa học ở Paris, bác sĩ Louis pasteur đã lên tiếng: “ Nguyên nhân gây tử vong ở những bà mẹ bị nhiễm trùng hậu sản chính là các bác sĩ đã sử dụng bàn tay khám bà mẹ bị bệnh rồi chính bàn tay đó khám cho các bà mẹ khỏe mạnh” Sau dó ông đưa ra lý thuyết về mầm bệnh và phương pháp tiệt khuẩn Pasteur được sừ dụng đến ngày nay [8]

Trong những năm đó, khuyến cáo rửa tay đã gặp rất nhiều khó khăn bởi thiếu phương tiện rửa tay, thiếu nước sự gia tăng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn cộng với nhân viên y tế rất thiếu kiến thức về vệ sinh bệnh viện là những giải thích cho sự phản ứng của các bác sĩ trước khuyến cáo rửa tay giữa những lần tiếp xúc với những bệnh nhân khác nhau nêu trên Họ cho rằng rừa tay như vậy là quá nhiều Năm 1910, Bác sĩ Rosephine Baker tại Mỹ đã tổ chức khoá tập huấn đầu tiên giảng dạy về vệ sinh bàn tay cho những cán bộ y tế chăm bệnh nhi Năm 1992, một báo cáo khoa học của New Enland đưa ra kết quả một nghiên cứu về rừa tay tại khoa hồi sức cấp cứu Báo cáo cho thấy, mặc dù đã áp dụng những biện pháp giáo dục và giám sát đặc biệt, nhưng tỷ lệ tuân thủ rửa tay ờ cán bộ y tế chỉ sấp xỉ 30% và tỷ lệ cao nhất chỉ đạt 48% Cũng năm

đó CDC (Mỹ) cho biết tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện giao động từ 5- 15% tại các bệnh viện, điều này dẫn đến nguy cơ nhiễm khuẩn mắc phải trên nhân viên y tế và năm 1993

đã có 11 nhân viên y tế mắc bệnh viêm gan A do không rửa tay sau khi tiếp xúc với 1 trong 2 bệnh nhân viêm gan A [8]

Chưa đầy một thế kỷ sau, một nghiên cứu quan trọng khác đã được thiến hành Theo dấu đại dịch tụ cầu những năm 1950, Rammekamp và cộng sự đã chứng minh rằng sự tiếp xúc trực tiếp là nguyên nhân chính làm lây truyền Staphylococcus aureus

Họ cũng chứng minh rằng: Việc rửa tay giữa những lần tiếp xúc với bệnh nhân đã làm

tỷ lệ nhiễm Saureus giảm xúng mức thấp hơn so với lây qua không khí Trong nghiên

Trang 10

cứu của họ, tỷ lệ mang tụ cầu ở nhóm chỉ rửa thường quy là 10% trong khi tỷ lệ mang

tụ cầu ở nhóm chỉ rửa tay khi cảm thấy cần lên tới 43% [14]

Ngày càng nhiều các nghiên cứu trên thế giới chứng minh vai trò của rửa tay thường quy đối với việc làm giảm tỷ lệ nhiễm trùng liên quan tới chăm sóc y tế Theo Conly( 1989), tỷ lệ nhiễm khuẩn liên quan tới chăm sóc y tế đă giảm rõ rệt, từ 33% xuống còn 12% và từ 33% xuống còn 10%, ngay sau hai lằn can thiệp đẩy mạnh việc rửa tay thường quy cách nhau 4 năm [15]

Một trong những nghiên cứu nồi tiếng cho thấy lợi ích của việc tuân thủ rửa tay được tiến hành từ năm 1995-1998( có hồi cứu ) là nghiên cứu của GS.TS Didier Pitet tại Bệnh viện thực hành Genever, Thụy sỹ ồng và cộng sự đã tiến hành nhiều nghiên cứu về vệ sinh bàn tay với nước và xà phòng, rửa tay với dung dịch sát khuẩn tại những thời điểm khuấn cáo rửa tay đều được tính là sự tuân thủ rứa tay Đối tượng được giám sát là là tất cả các cán bộ y tế ờ các khoa lâm sàng Thời diểm giám sát là tát cả các ngày trong tuần, 20 phút đầu tiên của ca làm việc Thời gian giám sát được tính đến khi nào thỏa mãn cỡ mẫu cần thiết Những điều dưỡng chuyên ngành kiểm soát nhiễm khuẩn thực hiện giám sát sự tuân thủ rửa tay Để đánh giá hiệu quả của chương trình rửa tay, nhóm nghiên cứu đã đưa ra các chi sổ đánh giá: tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện, tỷ lệ MRSA (tỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc) và mức độ tiêu thụ dung dịch rửa tay chứa cồn [8]

Tại Việt Nam, kết quả điều tra về vấn đề nhiễm khuẩn bệnh viện năm 2000 do Sở

y tế thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với các chuyên gia y tế Pháp tiến hành cho thấy: Trong 9.900 bệnh nhân của 24 đơn vị bệnh viện trên toàn dịa bàn thành phố phát hiện được 854 ca nhiễm khuẩn mắc phải tại bệnh viện( Chiếm tỷ lệ 8,6%), ữong đó cao nhất

là viêm phổi nhiễm khuẩn ( Chiếm 26,5%), nhiễm khuẩn do đặt thông tiểu là 18,8% [9] Nhiễm khuẩn bệnh viện là những nhiễm khuẩn mắc phải trong thời gian người bệnh nằm viện mà lý do nhập viện không phải lý do nhiễm trùng ấy, thường xuất hiện sau 48 giờ nhập viện Nhiễm khuẩn này không hiện diện cung như không ờ giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện Hậu quả của nhiễm khuẩn bệnh viện là kéo dài thời gian nằm viện, tăng chi phí điều trị, tăng tỷ lệ bệnh nhân tử vong, tăng nguy cơ tạo các

Trang 11

chủng vi khuẩn kháng thuốc Nhiễm khuẩn bệnh viện đang trờ thành một gánh nặng thực sự của ngành y tế Tăng cường sự tuân thủ rửa tay thường quy là điều quan trọng nhất trong các cơ sở y tế, các bệnh viện [11].

Việc tăng cường thực hành rửa tay thường quy trong các bệnh viện ở Việt Nam

đã ghi nhận nhiều thành công Tại bệnh viện Bình Dân, sau khi phát động chương trình

vệ sinh bàn tay, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện đã giảm từ 17,1% xuống còn 2,1%, thời gian nằm viện và chi phí sử dụng kháng sinh cũng đã giảm [15] Bệnh viện Bạch Mai trong những năm gần đây đã chú trọng công tác chống nhicm khuẩn bệnh viện, đồng thời tiến hành tuyên truyền, tập huấn về công tác vệ sinh bàn tay khi thăm khám bệnh nhân Nhờ vậy, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện từ 1,5% (1995) giảm xuống còn 0,8% (2006) [3]

Năm 2009, Tổ chức Y tế Thế giới đã phát động cuộc vận động toàn cầu tham gia chiến dịch “ Bảo vệ sự sổng bằng rửa tay” Nhận thức được tầm quan trọna của vệ sinh bàn tay trong khám, chữa bệnh, ngày 20/4/2009 Bộ Y tế gửi văn bản ủng hộ phong trào vệ sinh bàn tay và kiểm soát nhiễm khuẩn do tổ chức y tế thế giới phát động, Việt Nam đã trở thành nước thứ 118 tuyên bố triển khai cuộc vận động toàn cầu này Cũng trong năm 2009, Bộ Y tế đã ban hành thông tư số 18/2009/TT-BYT về việc hướng dẫn

tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám, chữa bệnh Đặc biệt là ngay điều đầu tiên của thông tư đã quy định về rửa tay thường quy [13]

2.1.4.Tình hình rửa tay thưòng quy của các cơ sở y tế trong nước.

Theo điều tra về tình hình thực hiện các biện pháp dự phòng cơ bàn tại bệnh viện Bạch Mai và một số bệnh viện khu vực phía Bắc được cồng bố ngày 17/3/2007 Tại bệnh viện Bạch Mai: chỉ 2.6% nhân viên y tế rửa tay thường quy trước khi thăm khám bệnh nhân và 4,2% rửa tay thường quy trước khi chuyển từ thao tác bẩn sang thao tác sạch trên cùng một bệnh nhân Tỷ lệ rửa tay thường quy trong ngày của nhân viên y tế còn thấp, chỉ từ 3-5 lần/ngày[7] Theo nghiên cứu của Phạm Đức Mục - Vụ trường Vụ điều trị (Bộ Y tế) cho biết chỉ có 17% nhân viên y tế ờ Việt Nam rửa tay thường xuyên

và đúng cách [6]

7

Trang 12

Nghiên cứu về việc tuân thủ rửa tay thường quy tại BV Saint Paul và Thanh nhàn

năm 2007 cho thấy, tỷ lệ bác sỹ và điều dưỡng không rửa tay lần nào chiếm tỷ lệ

58,3% Tỷ lệ nhân viên y tế rửa tay khi cỏ cơ hội chi là 12,2% [1]

K ết quà khảo sát trong năm 2009 tại 29 khoa lâm sàng thuộc khối ngoại, sản, cấp cứu của 9 BV tuyên Trung ương và tỉnh của khu vực phía Bắc cho thấy: hơn 58% nhân viên y tế không ữ ả lời đúng các câu hỏi về rửa tay thường quy [7] Còn trong lễ phát động “ Bàn tay sạch” được tổ chức tại bệnh viện Nhi Trung ương, 300 nhân viên

y tế có m ặt đều không nắm được quy trình rửa tay thường quy do Bộ Y tế định Những nhân viên y tế thao tác sai quy trình đều không cảm thấy gò bó khi được yêu cầu thực hiện lại [3]

Tóm lại việc tuân thủ rửa tay thường quy là hết sức quan trọng và quan trọng hơn là rửa tay đúng quy trình, đúng các thời điểm nhằm giảm thiểu nhiễm khuẩn bệnh viện

2.2 Tổng kết nội dung nghiên cứu.

2.2.1 Các thời điểm rửa tay thường quy [16].

H lnh 1.1: Hướng dẫn 5 thời điểm RTTQ tại cốc cơ sở y tế [Theo WHO 2009]

- Trước khi tiếp xúc với bệnh nhân

- Trước khi làm thủ thuật đòi hỏi vô khuẩn

Trang 13

- Sau khi tiếp xúc với người bệnh.

- Sau khi tiếp xúc vói máu, dịch cơ thể, các chất bài tiết, tháo bỏ găng

- Sau khi tiếp xúc với dụng cụ bẩn, đồ vải bẩn, chất thài và các vật dụng trong buồng bệnh

2.2.2 Mục đích RTTQ theo khuyến cáo của BYT[12].

- Tránh nhiễm khuẩn thêm cho BN

- Tránh nhiễm khuẩn cho người nhà BN

- Tránh nhiễm khuẩn cho bản thân NVYT

- Phòng tránh nhiễm khuẩn bệnh viện (BV)

- Đảm bảo quy định vệ sinh trong BV

2.2.3 Quy trình rửa tay thường quy của BYT [11].

Định nghĩa rửa tay thường quy: là rửa tay bằng xà phòng và nước nhằm loại bỏ chất bẩn và vi sinh vật vãng lai trên tay

Quy trình RTTQ: Bộ Y tế đã có công văn số 7518/BTY-ĐT ngày 12/10/2007 về việc hướng dẫn thực hiện quy trình RTTQ và sát khuẩn tay nhanh bằng dung dịch chứa cồn

H ình 1.2: Quy trình rửa tay thường quy (Theo công văn số 7518/BTY-ĐT )

Trang 14

* Các bước quy trình rửa tay thường quy bằng xà phòng:

Bước 1: Làm ướt bàn tay, lấy 3-5ml dung dịch rửa tay hoặc chà bánh xà phòng lên

lòng và mu bàn tay Xoa hai lòng bàn tay vào nhau cho xà phòng dàn đều

Bước 2 : Đặt lòng và các ngón của bàn tay này nên mu bàn tay kia và chà sạch mu

bàn tay và kẽ các ngón tay (từng bên)

Bước 3: Đặt lòng hai dàn tay vào nhau, chà sạch lòng bàn tay và kẽ ngón tay.

Bước 4: Móc hai bàn tay vào nhau và chà sạch mặt mu các ngón tay.

Bưóc 5: Dùng lòng bàn tay này xoay và chà sạch ngón tay cái bàn tay kia và ngược

lại

Bước 6: Chụm đầu các ngón tay của bàn tay này và chà sạch đầu các ngón tay vào

lòng bàn tay kia và ngược lại Rửa tay dưới vòi nước, sau dó dùng khăn sạch thấm khô tay

- Dùng khăn lau tay tắt vòi nước, không để tay chạm vào vòi nước

* Các bước quy trình rửa tay thưcmg quy bằng dung dịch có chứa cồn:

Bưó*c 1: Lấy 3 ml dung dịch chứa cồn Chà hai lòng bàn tay vào nhau.

Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ ngoài các ngón tay của bàn tay kia và

ngược lại

Bước 3: Chà hai lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các kẽ ngón tay.

Bưóc 4: Chà mặt ngoài các ngón tay của bàn tay này vào lòng bàn tay kia.

Bước 5: Dùng lòng bàn tay này xoay ngón cái của bàn tay kia và ngược lại

Bưóc 6: Xoay đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại.

Ngày đăng: 04/03/2021, 09:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w