Tinh trạng kháng thuốc của vi khuẩn trên phạm vi toàn cầu hiện đang ở mức báo động đến nỗi Tổ chức y tế thế giới WHO phải cảnh báo rằng “Nếu thế giới không nỗ lực mạnh mẽ hơn để chống lạ
Trang 1lu ii'W i C.JÜ tïûNfi Y ÍT rí AM r ’hj.M Ị
5'cÁ x^ l
Trang 2■A ABwn, ylm n doc APumy tm n y te Aueyên, CK/ioai Pt/tau tlnA CJPu'ny //en, -h Pdc cwvA cAd can, lo APuvny ta n t y le /u ty ê n JlA odl PVida wà cdn
lo y te x â QÈôny APdo , fAii, tïcun, CJtAiodl, P/iàu.
+ Pdc /toc wi&n, lift Pao Aoc y te cony cony A/toa 2 APtr.Mny Pdn, lo
3 a d )t ty y te.
+ %cmy ay, ABan yldm Aléa wà cdc dony ny/tie/i t/ufàny Pao dwny 9A te jVw>n ÇPynAi.
-h 'Vct con9 nydkil tita n , Ion, le
Q /â y iu ji d 5 wà tao d ieu lie n , cAto to i cd we w ât c/tdA, wà tl/nAt tAid/n de toi, w)t td m /toà/>t tAtànAt lo a n won, này
jfA o t twn, nota toi, x in cAtân, tAiwnAt cam Ont
Trân Van Long
Trang 3CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CDC: (control disease center): Trung tâm kiểm soát bệnh tật
WHO ( World health organization): Tổ chức y tế thế giới
Trang 4ĐẶT VẨN Đ Ề 1
MỤC TIÊU NGHIÊN c ú u 4
C hư ơ ng 1: TỔNG QUAN TÀI L IỆ U 5
1 K hái niệm về thuốc kháng sinh 5
1.1 Định nghĩa 5
1.2 Sự phát hiện ra thuốc kháng s in h 5
2 Nguyên tắc sử dụng thuốc kháng sinh trong điều t r ị 6
2.1 Chỉ sử dụng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn 6
2.1.1 Thăm khám lâm sàng 6
2.1.2 Các xét nghiệm cơ b ản 7
2.1.3 Tìm vi khuẩn gây bệnh 7
2.2 Lựa chọn kháng sinh hợp lý 7
2.2.1 Lựa chọn kháng sinh phải phù hợp với độ nhạy cảm của vi khuẩn gây b ệ n h 8
2.2.2 Lựa chọn kháng sinh theo vị trí nhiễm khuẩn 8
2.2.3 Lựa chọn kháng sinh theo cơ địa bệnh nhân 9
2.3 Phối họp kháng sinh phải hơp lý 12
2.4 Phải sử dụng kháng sinh đúng thời gian qui định 12
MỤC LỤC
Trang
Trang 53 Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh hiện nay trên th ế giớ i 14
4 Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh hiện nay tại Việt N a m 16
5 Các yếu tố ảnh hướng đến việc sử dụng K S 18
6 Tình hình kháng kháng sinh của vi k h u ẩ n 19
7 Vài nét về địa bàn nghiên c ứ u 20
Chương 2: Đ ố i TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ú ơ 22
1 Đối tượng và địa điểm nghiên c ứ u 22
1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
1.2 Địa điểm nghiên c ứ u 22
2 Phương pháp nghiên c ứ u 22
2.1 Thiết kế nghiên cứu định lượng 22
2.1.1 Cỡ m ẫ u 22
2.1.2 Phương pháp chọn m ẫu 23
2.2 Thiết kế nghiên cứu định tín h 24
2.2.1 Đối tượng là người dân 24
2.2.2 Đối tượng là người bán thuốc 24
2.2.3 Đối tượng là y, bác sỹ điều trị 24
3 Phương pháp xử lý sô' liệu 24
4 Thời gian nghiên c ứ u 24
5 Định nghĩa các b i ế n 25
6 Cách đánh giá kiến thức và thực hành của người dân về sử dụng thuốc kháng s in h 25
7 H ạn chế của đề t à i 26
8 Những cân nhắc về khía cạnh đạo đứ c 26
Trang 6C hương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u 27
A KẾT QUẢ NGHIÊN c ú u ĐỊNH LUỢNG 27
1 Thông tin chung về đối tượng nghiên c ứ u 27
2 Thông tin về kiến thức của đối tượng phỏng vấn về kháng sin h 30
3 Thực hành của người dân về sử dụng kháng sin h 35
4 Các yếu tố ảnh hưởng .43
B KẾT QUẢ NGHIÊN c ú u ĐỊNH T ÍN H 49
1 T hảo luận nhóm trọng t â m 49
2 Phỏng vấn s â u 50
3 Đóng v a i 50
C hư ơ ng 4: BÀN LUẬN 51
1 Kiến thức của người dân vê' sử dụng thuốc K S 51
2 Thực hành của người dân về sử dụng thuốc K S 54
3 Các yếu tố ảnh hưởng tới kiến thức, thực hành sử dụng KS của người d â n 60
3.1 Bản thân người dân 60
3.2 Yếu tố kinh tế, văn hoá, xã h ộ i 61
3.3 Người cung cấp dịch vụ 62
KẾT LU Ậ N 64
KHUYÊN N G H Ị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 7Biểu đồ 1 : Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu phân theo nghề nghiệp 28
Biểu đồ 2: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu phan theo trình độ học v ấ n 29
Biểu đồ 3: Lý do người dân sử dụng K S 31
Biểu đồ 4: Hiểu biết của người dân về thời gian sử dụng KS 34
Biểu đồ 5: Kiến thức chung của người dân về sử dụng K S : 35
Biểu đồ 6: Tỷ lệ người dân dùng KS kill ốm đ a u 36
Biểu đồ 7: Địa điểm người dân đến khám bệnh 37
Biểu đồ 8: Tỷ lệ người dân sử dụng KS theo đ ơ n 37
Biểu đỒ9: Số ngày dùng KS của người dân trong 1 đợt điều trị 39
Biểu đồ 10: Thực hành sử dụng KS của người d â n 40
Biểu đồ 11 : Số loại KS mà người dân sử dụng trong 1 đợt điều trị 42 Biểu đồ 12: Thời gian thầy thuốc kê đơn KS cho người dân
MỤC LỤC BIỂU ĐỔ
Trang
47
Trang 8Bảng 1: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu theo giói và tu ổ i 27
Bảng 2: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu phân theo nghề nghiệp 28
Bảng 3: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu phân theo trình độ học v ấ n 29
Bảng 4: Tỷ lệ hộ gia đình có phương tiện truyền thông 30
Bảng 5: Tỷ lệ người dân biết phải dùng KS đúng theo đơn hoặc chỉ dẫn của thầy thuốc 30
Bảng 6: Lý do người dân sử dụng KS 31
Bảng 7: Tỷ lệ người dân biết dùng KS không đúng cách là có hại .32
Bảng 8: Hiểu biết của người dân về tác hại của việc sử dụng KS không đ ú n g 32
Bảng 9: Tỷ lệ người dân biết các dối tượng cần thận trọng khi dùng KS 33
Bảng 10: Kiến thức của người dân về thời gian sử dụng K S 33
Bảng 11: Kiến thức chung của người dân về sử dụng K S 34
Bảng 12: Tỷ lệ người dân bị ốm có khám b ệ n h 35
Bảng 13: Tỷ lệ người dân dùng thuốc KS khi mắc bệnh 35
Bảng 14 : Tỷ lệ người dân dùng KS đi khám b ệ n h 36
Bảng 15: Tỷ lệ người dân khám bệnh theo địa điểm 36
Bảng 16: Tỷ lệ người dân dùng KS có đơn của thầy thuốc 37
Bảng 17: Tỷ lệ người dân dùng KS đúng theo đơn của thầy thuốc 38
Bảng 18: Sô' ngày sử dụng KS của người dân trong 1 đợt điều t r ị 38
Bảng 19: Tỷ lệ các thuốc KS được người dân dùng ưong chữa b ệ n h 39
Bảng 20: Số thuốc KS được người dân sử dụng trong 1 đợt điều tr ị 40
Bảng 21: Tỷ lệ người dân sử dụng KS theo nhóm bệnh 41
MỤC LỤC CÁC BẢNG
Trang
Trang 9Bảng 22: Tỷ lệ sử dụng KS theo nhóm tu ổ i 41
Bảng 23: Tỷ lộ người dân biết cách kiểm tra hạn dùng thuốc 42
Bảng 24: Thực hành sử dụng thuốc KS của người d â n 42
Bảng 25: Mối liên quan giữa trình độ học vấn và kiến thức về KS của người dân nói chung (N = 7 6 8 ) 43
Bảng 26: Mối liên quan giữa trình độ học vấn và kiến thức về KS của người dân (n = 212 ) 43
Bảng 27: Mối liên quan giữa trình độ học vấn và thực hành sử dụng KS của người d â n 44
Bảng 28: Mối liên quan giữa nghề nghiệp và kiến thức về KS của người dân nói chung (N = 685) .44
Bảng 29: Mối liên quan giữa nghề nghiệp và kiến thức về KS của người dân (n = 2 0 3 ) 45
Bảng 30: Mối liên quan giũa nghể nghiệp và thực hành sử dụng KS của người dân .45
Bảng 31: Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành sử dụng KS của người dân .: 46
Bảng 32: Thời gian sử dụng KS ghi trong đ ơ n 46
Bảng 33: Thời gian kê đơn KS của thầy thuốc theo vị trì công t á c 47
Bảng 34: Tỷ lệ người bán thuốc theo trình độ chuyên m ôn 47
Bảng 35: Tỷ lệ người bán thuốc hướng dẫn sử dụng KS đầy đ ủ 48
Bảng 36: Nguồn thông tin vể thuốc KS mà người dân tìm kiếm khi cần 48
Bảng 37: Nguồn thông tin về KS mà người dân tin tưởng 49
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỂ
Từ hàng ngàn năm nay thuốc phòng, chữa bệnh đã trỗ thành một nhu cầu tất yếu của cuộc sống con người Thuốc đóng một vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân và nói rộng hon là một trong những yếu
tố chủ yếu nhằm đảm bảo mục tiêu sức khoẻ cho mọi người Nhờ phát minh ra những thuốc mới và nhờ vào cung ứng thuốc cho nhân dân được cải thiện, nhiều bệnh dịch lớn trên thế giới và ờ nước ta đã được hạn chế và thanh toán Nhiều bệnh hiểm nghèo đã từng bước được chữa khỏi [17] Tuy nhiên cần phải nhấn mạnh tính chất đặc biệt của thuốc vì thuốc là một loại hàng hoá có ảnh hưỏng trực tiếp đến sức khoẻ và tính mạng con người, cần phải được sử dụng an toàn hợp lý, có hiệu quả
Trong mấy chục năm qua giá trị thuốc sử dụng trên thế giới ngày càng tăng một cách mạnh mẽ với tỷ lệ tăng hàng năm 9 -10% Giá trị sử dụng thuốc trên đầu người cũng tăng từ 10,3 USD năm 1976 lên 19,4 USD năm 1985 và 40 USD năm 1995 Tuy nhiên sự phân bố tiêu dùng thuốc rất chênh lệch giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển, 25% dân số thế giới thuộc các nước phát triển đã sử dụng 79% lượng thuốc [17], [18]
Hiện tượng con người lệ thuộc vào thuốc, lạm dụng thuốc ngày càng phổ biến và trở thành một hội chứng ở nhũng nước phát triển Việc sử dụng tràn lan các thuốc mới trong khi các thuốc đang sử dụng vẫn đang còn giá trị chữa bệnh
“Cuộc đời” của nhiều loại thuốc ngày càng nát ngắn để bị thay thế bởi các
“Thuốc mới” đôi khi chưa được chứng minh rõ tác dụng và tác h ạ i
Trang 11Nhiều công trình nghiên cứu đã công bố nêu lẻn việc sử dụng không thích hợp các thuốc đắt tiền nhưng không có hiệu quả ờ các nước đang phát triển Người ta cho rằng tình hình sử dụng thuốc ở các nước đang phát triển còn rất nhiều điều bất hợp lý [17], [28], [30], [33].
Trên phạm vi toàn cầu, bệnh nhiễm khuẩn là vấn đề y tế chủ yếu trong châm sóc sức khoẻ Các bệnh nhiễm khuẩn vẫn là căn nguyên hàng đầu gây tử vong, hàng năm cướp đi trên 17 triệu sinh mạng mà đa số là trẻ em [6] Nhiều bệnh nhiễm khuẩn đã được điều trị một cách có hiệu quả bằng KS [6], Vì vậy trong danh mục thuốc chữa bệnh thì KS chiếm một vị trí đặc biệt [4]
Hiện nay trên thế giới việc sử dụng KS nhìn chung còn nhiều điều bất hợp
lý Theo ước tính của CDC thì có khoảng 1/3 trong tổng số 150 triệu đơn thuốc
KS hàng năm là không cần thiết [20], ở châu Phi 50% bệnh nhân ngoại trú dùng
KS [17], [33] ở Bangladesh 67% bệnh nhân nội trú sử dụng KS, có tớị 50% số trường hợp sử dụng không hợp lý [17], [33]
ở Việt Nam trong những năm gần đây mức tiêu thụ thuốc tăng từ 0,5 USD/ người / năm ở thập niên 80 đến 4,0 USD/ người / năm năm 1995, tỷ trọng nhập
KS chiếm từ 30 - 40% số ngoại tệ nhập khẩu thuốc [17] Điều đó cho thấy việc sử dụng thuốc KS ờ nước ta hiện nay là tương đối phổ biến
Theo số liệu đã được công bố của một số công trình nghiên cứu thì có trên một nửa số đơn thuốc có KS [2], [12] Chỉ có khoảng 20% người dùng KS là mua theo đơn của thầy thuốc [6], [12] Có tới 81,2% người dân không tuân thủ hoàn toàn theo đơn của thầy thuốc [12] Rõ ràng việc sử dụng KS à Việt Nam đang là vấn đề đáng lo ngại
Trang 12sử dụng KS không đúng cách có thể dẫn đến không khỏi bệnh, gây bệnh
do thuốc, lãng phí tiền bạc và sức lực, tạo chủng vi khuẩn kháng thuốc Điều này
đã được khẳng định bằng nhiều chương trình thăm dò tính nhạy cảm với KS của
vi khuẩn, điều tra sự kháng thuốc của vi khuẩn v.v [17], [6], [26] Tinh trạng
kháng thuốc của vi khuẩn trên phạm vi toàn cầu hiện đang ở mức báo động đến
nỗi Tổ chức y tế thế giới (WHO) phải cảnh báo rằng “Nếu thế giới không nỗ lực
mạnh mẽ hơn để chống lại bệnh nhiễm trùng, kháng kháng sinh sẽ ngày càng đe
doạ đưa thế giới trở lại thời kỳ chưa có kháng sinh” [20],
Theo báo cáo hoạt động của TTYT huyện Khoái Châu thì một trong
nhũng vấn đề tồn tại là việc quản lý hành nghề Y dược tư nhân còn lỏng lẻo,
người bán thuốc không có chuyên môn tương đối phổ biến Liệu những tổn tại
này có ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành của người dân về sử dụng thuốc
kháng sinh không? Hơn nữa ỏ nước ta hiện nay nói chung và huyện Khoái Cháu
nói riêng, những nghiên cứu về kiến thức và thực hành của người dân về sử dụng
thuốc nói chung và sử dụng KS nói riêng còn ít Vì vây chúng tôi tiến hành
nghiên cúư :
Khoái Châu tình Hưng Yên.
Nhằm cung cấp những thông tin phục vụ cho công tác quản lý y tế trên địa
bàn huyện Khoái Chau
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN c ú u
Mực T IÊÙ CHUNG
Mô tả kiến thức, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng KS của người dân xã Đông Tảo, thị trấn Khoái Châu - huyện Khoái Châu - tỉnh Hưng Yên 6/2000 trên cơ sở đó đề xuất những khuyến nghị thích họp
3 Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới kiến thức, thực hành sử dụng thuốc
KS của người dãn xã Đông Tảo, thị trấn Khoái Châu huyện Khoái Châu
4 Đề xuất nhũlig khuyến nghị phù hợp
Trang 14CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Đại cương về thuốc kháng sinh
1.1 Sự phát hiện ra thuốc kháng sinh
Cho đến đầu thế kỷ XX, nhiễm khuẩn là căn nguyên chính gây bệnh và tử vong Bình minh của “Thời đại kháng sinh” được mò đầu qua việc phát hiện ra penicillin-kháng sinh đầu tiên [6] Năm 1929, Fleming tình cờ nhận thấy rằng nấm pénicillium notatum tiêu huỷ khuẩn lạc của tụ cầu trong một số môi trường nuôi cấy tụ cầu khuẩn mà ông đang theo dõi Nuôi cấy nấm này rồi lọc lấy dịch của mồi trường nuôi cấy nấm đem thử thì thấy có tác dụng trên nhiều vi khuẩn Gr(+), Fleming gọi đó là penicillin Tuy vậy phải đến thế chiến lần thứ II penicilin mới được đưa vào ứng dụng trong lâm sàng [21], [6]
1.2 Định nghĩa KS
Hiện nay có nhiều định nghĩa về thuốc KS, xét về khía cạnh hoá dược thì
KS được định nghĩa như sau:
Kháng sinh là những hợp chất có nguồn gốc sinh vật, tổng hợp hay bán
tổng hợp mà với nồng độ thấp đã thể hiện tác dụng hãm khuẩn hoặc diệt
Trang 15- Kháng sinh có nguồn gốc tổng hợp: Cloramphenicol do tổng họp hoá học toàn phần.
- Kháng sinh có nguồn gốc bán tổng hợp :
Penicillin bán tổng họp: Methicilin, ampicillin
Nồng độ thấp: Dưới lmcg đến vài mcg cho lm l huyết thanh
Như vậy định nghĩa KS theo quan niệm này không bao gồm những hợp chất kháng khuẩn mà cần nồng độ cao hơn, thí dụ như sulfamid [21]
Xét về tác dụng thì KS được định nghĩa là: KS là chất lấy từ vi sinh vật (thường là vi nấm) có tác dụng chống vi khuẩn và được chiết xuất hoặc bán tổng hợp Theo nghĩa rộng, một số thuốc nguồn gốc tổng hợp như metronidazol, các quinolon cũng được xếp vào thuốc kháng sinh [10]
Trong nhiên cứu này chúng tôi dùng định nghĩa thứ hai, bởi vì trong thực
tế người dân có sử dụng những loại thuốc không nằm trong định nghĩa thứ nhất
2 Nguyên tắc sử dụng thuốc KS trong điều trị [1], [9], [10], [24].
2.1 Chỉ sử dụng KS khi có nhiễm khuẩn
Các tác nhân gây bệnh cho người có thể là virus, vi khuẩn, nấm, sinh vật đơn bào (protozoa) hoặc ký sinh vật (giun, sán ) Các KS thồng dụng chỉ có tác dụng với vi khuẩn, rất ít KS có tác dụng với virus, nấm gây bệnh, vi sinh vật đơn bào Mỗi nhóm KS lại chỉ có tác dụng với một số loại vi khuẩn nhất định, do đó trước khi quyết định sử dụng một loại KS nào đó cần phải làm qua các bước sau:
2.1.1 Thăm khám lâm sàng
Bao gổm việc đo nhiệt độ, phỏng vấn bệnh nhân và khám bệnh Đây là bước quan trọng nhất và phải làm trong mọi trường họp
Trang 16Sốt là dấu hiệu điển hình khi có nhiễm khuẩn nên việc đo nhiệt độ góp phần quan trọng để khẳng định nhiễm khuẩn Sốt do vi khuẩn thường gây tăng thân nhiệt trên 39°c trong khi sốt do virus chỉ có nhiệt độ khoảng 38°c - 38,5°c
Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ:
+ Nhiễm khuẩn ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch, bệnh nhãn quá già yếu
có thể chỉ sốt nhẹ
+ Trái lại nhiễm virus như bệnh quai bị, thuỷ đậu, sốt xuất huyết, bại liệt
cơ thể tăng thân nhiệt tới trên 39° c.
Thăm khám lâm sàng và phỏng vấn bệnh nhân giúp thầy thuốc dự đoán tác nhãn gây bệnh qua đường thâm nhập của vi khuẩn, qua các dấu hiệu đặc trưng
2.2 Lựa chọn KS hợp lý
Lựa chọn KS phụ thuộc 3 yếu tố :
- Độ nhạy cảm của vi khuẩn gây bệnh với thuốc KS
- Vị trí nhiễm khuẩn
- Cơ địa bệnh nhân
Trang 172.2.1 Lựa chọn KS phải phù hợp với độ nhạy cảm của vi khuẩn gây bệnh
Đánh giá độ nhạy cảm của vi khuẩn với KS tốt nhất là dựa vào KS đồ Tuy
nhiên không phải trường hợp nào cũng làm xét nghiệm vi khuẩn được và không
phải ở đâu cũng làm được xét nghiệm này vì vậy thăm khám lam sàng để định
hướng mầm bệnh sẽ giúp lựa chọn KS hợp lý tuỳ theo vị trí nhiễm khuẩn, người
thầy thuốc có thể dự đoán khả năng nhiễm loại vi khuẩn nào và căn cứ vào phổ
KS mà lựa chọn cho thích hợp
Để sử dụng KS hợp lý phải biết độ nhạy cảm của KS tại vị trí cư trú Phổ KS
trong các tài Ịiệu chỉ dùng để tham khảo
2.2.2 Lựa chọn KS theo vị trí nhiễm khuẩn
Muốn điều trị thành công, KS phải thâm nhập vào ổ nhiễm khuẩn, như vậy
người thầy thuốc phải nắm vũng các đặc tính dược động học của thuốc mới có
thể chọn được KS thích họp
Mục tiêu của lựa chọn KS là:
- Có hoạt lực cao với vi khuẩn gây bệnh
- Thâm nhập tốt vào tổ chức nhiễm khuẩn
Tuy nhiên không phải trường hợp nào cũng chọn được KS đạt được cả hai
mục tiêu trên
2.2.3 Lựa chọn KS theo cơ địa bệnh nhân
Những khác biệt về sinh lý ở trẻ nhỏ, người cao tuổi hoặc phụ nữ có thai
đều có ảnh hưởng đến dược động học của KS Những thay đổi bệnh lý như suy
giảm miễn dịch, bệnh gan, thận nặng làm giảm rõ rệt chuyển hoá và bài xuất
thuốc gây tăng một cách bất thường nồng độ KS có thể dẫn đến ngộ độc và tăng
Trang 18tác dụng phụ Các trạng thái bệnh lý khác như bênh nhân bị bệnh nhược cơ, thiếu men G6DP đều có thể làm nặng thệm các tai biến và tác dụng phụ của thuốc Nếu bệnh nhân là phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú thì hậu quả của tác dụng phụ có thể ảnh hưởng cả đến thai nhi hoặc đứa con Vì vậy việc lựa chọn KS theo
cá thể người bệnh cũng là một vấn đề rất quan trọng của nguyên tắc sử dụng KS
Khi lựa chọn KS theo cơ địa bệnh nhân người ta thường lưu ý tới những đối tượng sau: Trẻ em, phụ nữ có thai, người già, người bị các bệnh gan, thận
2.2.3.1 KS với trẻ em
Các KS phải chống chỉ định vối trẻ em không nhiều nhung hầu hết đều phải hiệu chỉnh lại liều lượng theo lứa tuổi
2.2.3.2 KS với ngưòi cao tuổi
Nói chung việc sử dụng KS cho người cao tuổi không khác nhiều so với đối tượng bình thường, trừ một số điểm cần lưu ý sau:
+ Do sự suy giảm chức năng gan, thận nên sự chuyển hoá và bài xuất thuốc đều yếu hơn bình thường, do đó cần phải hiệu chỉnh lại liều của những KS
bị chuyển hoá nhiều qua gan hoặc bài xuất chủ yếu qua thận ở dạng còn hoạt tính
+ Do tỷ lệ dị ứng với KS cao hơn bình thường (người trên 65 tuổi có tỷ lệ
dị ứng với KS nhóm beta-lactamin tới 20%) do đó cần hết sức thận trọng khi sử dụng KS nhất là dùng qua đường tiêm
+ Do bị nhiều bệnh nên cùng một lúc thường phải dùng nhiều thuốc, do đó khả năng gặp tương tác thuốc cao hon bình thường, vì vậy phải thận trọng để tránh tương tác gây tăng độc tính hoặc tác dụng phụ
Thí dụ: Furosemid dùng đồng thời với các KS nhóm aminozid sẽ tăng nguy cơ gây suy thận hoặc điếc
Trang 192.23.3 KS vói phụ nữ có thai
Nói chung không có chống chỉ định tuyệt đối đối với phụ nữ có thai Trong trường hợp nhiễm khuẩn nặng đe doạ đến tính mạng thì việc cân nhắc luôn ưu tiên cho người mẹ Tuy nhiên các KS có độc tính cao nhưng có thể dễ dàng thay thế bằng KS khác thì nên tránh tuyệt đối thí dụ như cloramphenycol, tetracyclin, co-trim oxazol
2 Với bệnh nhân suy thận
Tốt nhất là giám sát nồng độ KS trong huyết thanh, tuy nhiên không phải trường hợp nào cũng làm được và cũng tốn kém, do đó phương pháp hiệu chỉnh liều căn cứ vào chỉ số thanh thải cũng rất có ích Mức độ giảm liều hoặc nới rộng khoảng cách đưa thuốc theo mức giảm của chỉ số thanh thải được ghi trong các bảng tính có sẩn hoặc sách chuyên khảo
Một điều cần lưu ý nữa là khi dùng KS cho bệnh nhân suy thận là lượng ion natri có trong chế phẩm Thí dụ: Trong 1.000.000 UI benzyl penicillin Na có chứa 48 mg naừi cần phải tính đến lượng Na+ này để giảm lượng đưa vào hàng ngày
2 Kháng sinh với bệnh nhân suy giảm chức năng gan
Gan là cơ quan chuyển hoá thuốc quan trọng nhất của cơ thể Sự suy giảm chức năng gan kéo theo những thay đổi các thông số dược động học của KS như:
+ Tăng sinh khả dụng của một số KS dùng theo đường uống
Điều này thể hiện rõ ở nhũng KS chịu ảnh hưởng mạnh của vòng tuần hoàn đầu (1st- pass ) như các penicillin nhóm A, các floroquinolon, ketoconazol
và các KS bị chuyển hoá qua gan mạnh (> 70%)
Trang 20+ Kéo dài thời gian bán thải (tị^) của thuốc Tốc độ chuyển hoá thuốc ở gan giảm do hệ men chuyển hoá thuốc ò gan bị tổn thương, đồng thời do chức năng gan giảm nên quá trình sản xuất và bài tiết mật cũng bị chậm lại dẫn tới thời gian tuần hoàn của dạng thuốc còn hoạt tính trong máu kéo dài hơn bình thường Hậu quả của quá trình này làm cho thời gian tác dụng của KS kéo dài hơn và độc tính cũng tăng theo Trong trường hợp này để đảm bảo an toàn cho điều trị, nên thay bằng các KS cùng nhóm nhưng ít chịu ảnh hưởng của sự thay đổi chức năng gan tức là các chít ít bị chuyển hoá ở gan.
Thí dụ: Trong số các fluoroquinolon thì pefloxacin bị chuyển hoá mạnh khi qua gan còn ofloxacin lại chỉ bị chuyển hoá 10%; ờ bệnh nhân sơ gan, tl/2của pefloxacin tăng hơn bình thường 3-5 lần trong khi đó chỉ số này không thay đổi
à ofloxacin
Trong trường hợp không có KS cùng nhóm đáp ứng điều kiện này thì có thể chọn một KS có phổ tương đương nhung ít bị chuyển hoá khi qua gan
2.2.3.6 KS vói người có co địa dị ứng
Dị ứng thực sự với KS rất ít Đa phần dị ứng liên quan đến độ tinh khiết của KS, vì vậy các KS có nguồn gốc tổng hợp và bán tổng hợp ít gặp dị úng hơn các sản phẩm chiết suất từ môi trường nuôi cấy vi sinh vật Có nhiều khả năng gặp dị ứng chéo giữa các nhóm KS có cấu trúc hoá học tương tự Thí dụ: Tỷ lệ dị ứng chéo giữa penicillin và cefalosporin từ 5 - 15% Do đó nếu đã gặp dị ứng với một KS nào đó thì nếu có thể, tốt nhất nên thay bằng một KS khác họ
Do KS có thể gây nhiều biến chứng, nên ở hầu hết các nước, dùng KS phải
có đơn của thầy thuốc [10],
Trang 212.3 Phối hợp kháng sinh phải hựp lý
Phối hợp nhằm nới lộng phổ tác dụng, tăng hiệu quả điều trị và giảm tỷ lệ kháng thuốc
Ngày nay, do sự xuất hiện nhiều loại KS phổ rộng và các dạng chế phẩm phối hợp nên trong điều trị không khuyến khích tự phối hợp vì:
+ Có thể gặp những tương tác bất lợi do không nắm vững cơ chế tác dụng Thí dụ: Phối hợp erythromycin với lincomycin hoặc cloramphenycol; penicillin với tetracyclin đều dẫn tới giảm tác dụng kháng khuẩn
4- Có thể gặp sai lầm khi lựa chọn 2 KS không có cùng các đặc tính dược động học phù hợp, làm cho cặp phối hợp trở nên vô nghĩa Thí dụ: Phối họp 2 KS
có t1/2 khác nhau làm cho sự hiệp đồng tác dụng hạn chế chỉ trong khoảng 2 chất cùng tồn tại trong cơ thể, nếu một trong 2 chất có t1/2 quá ngắn thì tác dụng thực chất chỉ do 1 chất Cặp phối hợp trimetoprim - sulphamethoxazol sở dĩ có tác dụng hiệp đổng vì cả 2 chất đều có t1/2 xấp xỉ 4 giờ
+ Khi phối hợp các KS tiêm, xu hướng chung hay trộn lẫn thuốc trong cùng một bơm tiêm dễ dẫn tới tương kỵ Thí dụ: Trộn lẫn pennicillin G với streptomycin sulfat
+ Tỷ lệ phối hợp thường tuỳ tiện trong khi thực chất không phải tỷ lệ nào cũng cho tác dụng tốt Thí dụ: Trimetoprim - sulfamethoxazol chỉ có tác dụng hiệp đồng diệt khuẩn ở tỷ lệ 1/5
2.4 Phải sử dụng KS đúng thời gian qui định >
Không có qui định cụ thể về độ dài của đợt điều trị với mọi loại nhiễm khuẩn nhưng nguyên tắc chung là sử dụng kháng sinh đến khi hết khuẩn gây
suy giảm miễn dịch.
Trang 22Với nhiễm khuẩn nhẹ, đợt điều trị thường kéo dài khoảng 7-10 ngày, nhưng với nhiễm khuẩn nặng, nhiễm khuẩn ở những tổ chức mà KS khó thâm nhập (màng tim, màng não, xương ) thì đợt điều trị kéo dài hơn Riêng với bệnh lao, phác đồ ngắn ngày cũng phải kéo dài tới 8 tháng Nhung dù sao thời gian sử dụng KS cũng không nên dưới 5 ngày [1],
Việc đánh giá kết quả điều trị bằng KS trong 2 - 3 ngày đầu rất quan trọng Căn cứ vào diễn biến lãm sàng, khi thấy tình trạng bệnh có tiến bộ rõ rệt, biểu hiện bằng nhiệt độ giảm dần, ăn ngủ tốt hơn, tỉnh táo đó là bệnh đã đáp ứng với
KS và có thể tiếp tục điều trị như trước Trong trường hợp bệnh không thuyên giảm phải xem xét lại, có thể chẩn đoán nhầm hoặc lựa chọn KS chưa hợp lý
*Điều trị “Chớp nhoáng”
Điều trị một số dạng nhiễm khuẩn tiết niệu, sinh dục chưa có biến chứng như viêm bàng quang, niệu đạo, lậu có thể sử dụng các KS thải mạnh qua nước tiểu ở dạng còn hoạt tính như peíloxacin, spectinomycin (trobicin) một liều duy nhất là đủ làm sạch ổ nhiễm khuẩn
Cần phân biệt “Điều trị chớp nhoáng” (traitements - minute) với kiểu điều trị một liều duy nhất (administations - minute) Loại thứ nhất chỉ cần sử dụng KS
có thời gian tác dụng ngắn nhung có hoạt tính cao khi thải trừ qua đường tiết niệu, còn loại thứ hai dùng các loại KS có thời gian bán thải dài, có khả năng tập trung cao tại nơi nhiễm khuẩn Trường hợp thứ hai thực chất tuy thuốc chỉ dùng một liều duy nhất nhung nồng độ thuốc giữ được rất lâu trong cơ thể, có khi tới vài ngày hoặc nhiều tuần Thí dụ dùng benzathin-penicillin G một mũi duy nhất 1.200.000 UI trong trong đợt thấp khớp cấp đế ngăn ngừa viêm màng trong tim
Trang 233 Tình hình sử dụng thuốc KS hiện nay trên thê giới
KS chiếm một tỷ lộ đáng kể trong chi phí về thuốc của nhiều nước và lài
nhóm sản phẩm lớn nhất trong chi dùng thuốc ở các nước đang phát triển Theo
số liệu thống kê năm 1987 cho thấy thuốc KS chiếm 20% thị phần thuốc ở các nước đang phát triển [17]
Nhìn chung việc sử dụng KS trên thế giới còn nhiều điều bất hợp lý [6], [30], [33] Một biểu hiện đáng chú ý trong sử dụng thuốc nói chung và thuốc KS nói riêng của các nước trên thế giới là tình trạng người bệnh không tuân thủ chỉ định dùng thuốc, thường là sử dụng KS không đủ liều Tại Bangladesh 50% số người mua thuốc KS dùng cho 1 ngày [32],
Năm 1990 Juan Calva tiến hành nghiên cứu ngang, mô tả việc sử dụng KS tại cộng đồng dân cư ở ngoại ô thành phố Mexico bằng cách phỏng vấn ngẫu nhiênl659 hộ gia đình (8279 khẩu) và quan sát việc mua thuốc của nguời dân ở 6 hiệu' thuốc cho thấy 2/3 số người được hỏi nói rằng họ sử dụng KS ít hơn 5 ngày, 18% sử dụng KS không đơn, trong số nhũng người sử dụng KS có 58% điều trị bệnh đường hô hấp, 25% dùng KS khi bị ỉa chảy và các bệnh khác là 17%, thời gian sử dụng KS kê trong đơn của thầy thuốc trung bình là 4 ngày trong đó 54%
số đơn KS thầy thuốc kê ít hơn 5 ngày, tỷ lệ dùng 1 loại KS là 82% [30] Kết quả một nghiên cứu khác tại Philippine năm 1990 có tới 90% số lần mua thuốc KS dưới 10 viên [32]
Có nhiều lý do dẫn tới việc người bệnh không tuân thủ chỉ định dùng thuốc nhưng lý do căn bản nhất khiến người bệnh dùng KS không đủ liều là do người bệnh cảm thấy khoẻ hơn sau 2 - 3 ngày dùng KS Một nghiên cứu của Branthwaite, Pechere và cộng sự tiến hành tại 6 nước châu Âu (Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bỉ, Thổ Nhĩ Kỳ) cho thấy rằng 80% đối tượng điều tra dùng KS sau 3 ngày thấy giảm các triệu chứng của bệnh [25]
Trang 24Một trong những bệnh nhiễm khuẩn luôn là vấn đề y tế toàn cầu bởi tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong cao, nhất là à trẻ em các nước đang phát triển đó là nhiễm khuẩn hô hấp mắc phải tại cộng đồng Hiện nay khoảng 75% số lượrtg KS được sử dụng để điều trị nhiễm khuẩn hô hấp cấp, mà trong đó nhiều trường hợp không có chỉ định đúng, điều đó không chỉ gây lãng phí mà còn làm gia tăng sự kháng thuốc của vi khuẩn [6] Nhiễm khuẩn hô hấp mắc phải tại cộng đồng được điều trị theo kinh nghiệm của thầy thuốc vì thầy thuốc thường không biết vi khuẩn nào là nguyên nhân gây bệnh cho bệnh nhân khi bệnh nhân đến khám và điều trị [30] Hơn nữa, một điều quan trọng là thầy thuốc tại cộng đồng thường không đựơc cung cấp những thông tin về vấn đề kháng thuốc cũng như độ nhạy
:
cảm của các vi khuẩn đối với những KS đang được sử dụng phổ biến tại cộng đồng của họ Chính vì vậy các thầy thuốc tại cộng đổng thường phải điều trị theo hướng bao vây và sử dụng những KS có phổ rộng [28], [33],
Một nhân tố cực kỳ quan trọng góp phần vào việc sử dụng KS không đúng
là nhận thức chưa đúng của người dân về nguyên nhân gây bệnh và tác hại của việc sử dụng thuốc KS không đúng trong chữa bệnh Chúng ta biết rằng KS rất hiệu quả trong tiêu diệt vi khuẩn nhưng không tiêu diệt được virus, mà virus lại là nguyên nhân chính gây nên cảm cúm và một số bệnh khác [9] Collett, Pappas, Evans, Hay den nghiên cứu kiến thức của cha mẹ trẻ về nhiễm khuẩn hô hấp thường gặp và liệu pháp KS cho thấy 46% số người được hỏi tin tưởng rằng KS
có thể diệt được virus và 60% số người được hỏi cho biết chưa từng nghe nói đến kháng KS [31]
1
i sự ở những nước đang
s không cần đơn [17],
Trang 25Việt Nam là một trong những nước đang phát triển, trong mô hình bệnh tật mặc dù đã có những thay đổi nhưng bệnh nhiễm khuẩn vẫn đang là căn bệnh hàng đầu Hàng năm, số tiền chi phí để nhập KS chiếm tới 30- 40% [17], [18] Điều đó chứng tỏ rằng KS đựơc sử dụng rất nhiều tại nước ta.
Theo kết quả đã được công bố của một số công trình nghiên cứu cho thấy nhận thức của người dân về sử dụng thuốc nói chung và sử dụng KS nói riêng tương đối khác nhau
Năm 1995 Nguyễn Văn Hùng, Đào Văn Phan, Lê Ngọc Trọng, Trương Việt Dũng, Nguyễn Trọng Thông tiến hành nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc tại các hộ gia đình trên phạm vi toàn quốc (n = 3224) Đối tượng phỏng vấn là người quyết định việc dùng thuốc cho các thành viên trong gia đình Kết quả cho thấy có 77 - 99% người được phỏng vấn trả lời dùng thuốc phải theo đơn của thầy thuốc Người dân thường tự sử dụng KS để điều trị trong các trường hợp như cảm cúm 7,6%, ỉa chảy 54,5%, ho + sốt 70,5%, mụn nhọt 80% [8]
Một nghiên cứu khác của Nguyên Đình Hường và cộng sự thực hiện năm
1995 phỏng vấn 300 bà mẹ có con dưới 5 tuổi về thời gian sử dụng KS thì chỉ có 36% trả lời đúng và cũng chỉ có 36% bà mẹ nói rằng cần lời khuyên của thầy thuốc khi dùng KS [7],
Năm 1997 Lê Hùng Lâm, Lê Tiến và cộng sự phỏng vấn 323 người ( nam 41,5%, nữ 58,5%); 92% thuộc lứa tuổi 20-60, 78% có trinh độ văn hoá từ cấp II trở xuống trên phạm vi 7 tinh cho thấy 88,3% người dân nói rằng dùng thuốc không đúng thì có hại và cần phải dùng thuốc đúng theo đơn Những bệnh thường được người dân tự điều trị bằng KS là mụn nhọt 80%, ho 70,5%, ỉa chảy 51,5% [12]
4 Tình hình sử dụng thuốc KS hiện nay tại Việt Nam
Trang 26Cũng như những nước đang phát triển khác, việc sử dụng KS ờ nước ta có nhiều điều bất hợp lý Để chứng minh cho việc sử dụng KS bất hợp lý của người dân chúng tôi xin được nêu ra đây kết quả của một số công trình nghiên cứu đã được công bố: Tháng 7/1994 Đặng Đức Trạch và cộng sự tiến hành điều tra cắt ngang về việc sử dụng KS của người tiêu dùng tại các cửa hàng quốc doanh ở Hà nội gồm 37 điểm bán thuốc của 4 quân và 5 huyện trong toàn thành phố cho thấy thuốc KS được tự sử dụng khá rộng rãi, chiếm 28% trong các thuốc tiêu thụ Trong số người dùng KS chỉ có 18,4% mua KS theo đơn thầy thuốc, thuốc được mua nhiều nhất không qua kê đơn là ampicillin 86,6% [6].
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thành Đô và cộng sự năm 1994 cho thấy từ 79 - 85% số người được phỏng vấn tại Hà Nội đã tự dùngKS, trong đó có tới 55 - 66% dùng không đủ liều và thời gian cần thiết Một điều tra khác của chương trình viêm phổi trẻ em đã đưa ra tỷ lệ xấp xỉ 84% số trẻ em nghi là viêm phổi đã được gia đình tự điều trị bằng KS, trong đó có 53 % dùng không đúng chủng loại hoặc liều lượng [6]
Năm 1994, Đỗ Thị Phương, Quách Bích Liên tiến hành nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc hợp lý, an toàn tậi cộng đổng 2 xã Hồng Sơn - Đại Sơn - huyện Đô Lương - tỉnh Nghệ An bằng cách phỏng vấn người dân, cán bộ y tế, bệnh nhân điều trị nội, ngoại trú tại trạm y tế của 2 xã theo bộ câu hỏi Kết quả cho thấy 42,4% sử dụng KS sai chẩn đoán (n = 75), 100% sử dụng KS không đủ thời gian cần thiết (n = 26) [15]
Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Thành Đô và Dương Thị Hà Thanh qua quan sát, ghi chép việc mua thuốc của người dân tại 30 nhà thuốc, hiệu thuốc tại thành phố Huế năm 1997 (n = 1012) cho thấy số người mua thuốc không đơn chiếm 70,5% SỐ lần tự mua KS chiếm tỷ lệ 43,7% trong đó số KS cần kê đơn chiếm 40,7% Trong tổng số 300 đon khảo sát có 165 đơn thuốc có KS chiếm tỷ lệ 55% [2]
Rõ ràng trong thực tế ở Việt Nam, người dân đã sử dụng KS sai rất nhiều trong khi kiến thức thì ít sai hơn [5]
Trang 275 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng KS
Có nhiều yếu tố tác động tới việc sử dụng KS của người dân Nghiên cứu của Calvin M Kunnin đã chứng minh rằng các yếu tố như trình độ kê đon của thầy thuốc thực hành, niềm tin, thói quen thực hành của người bệnh là nhũng yếu tố quan trọng tác động đến việc sử dụng KS [33], Theo nghiên cứu này thì chất lượng kê đơn sẽ bị ảnh hưởng lớn bởi kiến thức và hành vi của các thầy thuốc thực hành cùng với sự hỗ trợ kỹ thuật của cận lâm sàng Có rất nhiều thầy thuốc có xu hướng sử dụng KS theo phương pháp “Điều trị bao vây” do không được đào tạo đầy đủ và do điều kiện cách biệt với sự hỗ trợ của đồng nghiệp, nhưng cũng có không ít các thầy thuốc cho rằng KS có thể điều trị hoặc dự phòng các tai biến của cả các bệnh không nhiễm khuẩn
Theo kết quả nghiên cứu của Dương Văn Đạt, Lê Văn Truyền, Binns và cộng sự tại Hà Nội thì 92,4% người được hỏi tin tưởng vào hướng dẫn của người bán hàng nhưng ngược lại người bán hàng lại có hiểu biết về KS rất kém, 83% nhân viên bán hàng gợi ý cho khách hàng mua 2 - 4 viên KS [32]
Bên cạnh đó thói quen sử dụng KS của người bệnh cũng là một yếu tố có tác động quan trọng, ở một số nền văn hoá KS được xem là một loại “Thần dược” có khả năng chữa rất nhiều loại bệnh tật khác nhau [33] Nhiều người tin rằng KS tiêm sẽ có tác dụng tốt hơn rất nhiều so với thuốc uống hoặc thuốc càng đắt tiền thì càng mạnh, càng tốt Các yếu tố này sẽ ảnh hưởng tới việc sử dụng
KS của người dân
Trang 28Năm 1940, ngay trong giai đoạn đầu KS được đưa vào ứng dụng trong lâm sàng người ta đã phát hiện và mô tả được cơ chế kháng thuốc penicillin của vi khuẩn E coli Năml944 Kirby cũng phân lập được 7 chủng tụ cầu vàng có hiện tượng bất hoạt penicillin tương tự như ở E coli Năm 1948, 50% các chủng E coli được phân lập tại một số bệnh viện đã kháng KS, tỷ lệ này tăng lên 80% vào năm 1957 [6].
Trong cuộc chạy đua giữa sự phát triển KS mới với sự để kháng mới của vi sinh vật thì cho đến nay vi sinh vật vẫn là kẻ chiến thắng Quá trình này được thúc đẩy mạnh nếu thiếu sự hiểu biết đầy đủ và sử dụng KS sai trong điều trị [6], [ 10],
Các chủng kháng thuốc xuất hiện với nhiều cách khác nhau, nhưng thường liên quan tới áp lực chọn lọc qua việc sử dụng KS Sự kháng thuốc của các vi khuẩn thường không bị giới hạn bời biên giới và hiện nay vi khuẩn kháng KS đang là vấn đề y tế công cộng nổi cộm của toàn cầu, vấn đề này có sự góp phần của nhiều yếu tố như:
Báo cáo thường niên mới đây của WHO về bệnh nhiễm trùng đã vẽ nên bức tranh toàn cảnh về tác dụng ngày càng hạn chế của penicillin và các KS khác trong việc chống lại những bênh nhiễm khuẩn đã từng được chữa trị rất đơn giản Nguyên nhân chính khiến thuốc mất hiệu lực là việc sử dụng thuốc bừa bãi
6 Tình hình kháng KS c ủ a VI khuẩn
Trang 29Hầu hết những bệnh nhiễm trùng chính đang dần trở nên kháng với những thuốc hiện có Ví dụ: ở Estonia, Latvia và nhiều vùng ỏr Nga và Trang Quốc, hơn 10% số bệnh nhân lao bị mắc những chủng lao kháng với 2 trong số những thuốc chữa lao mạnh nhất hiện nay Các bác sĩ Thái Lan hiện nay không thể dùng 3 trong số những thuốc chống sốt rét phổ biến nhất, ở một số vùng Đông Nam Á 98% số chủng lậu cầu đã kháng với penicillin [20].
Tại khu vực Tây Thái Bình Dương, phế cầu đã kháng hầu hết với các KS thường dùng Một trong những KS có tác dụng nhất và tương đối rẻ tiền là penicilin G đã kháng rất cao ở Hàn Quốc (78,1%), Nhật Bản (55,1%) còn các nước khác trong khu vực cũng đã kháng tới trên 10%
Tại Việt Nam, tỷ lệ phế cầu kháng penicillin G là 13,3%, co-trimoxazol (173%) và Cloramphenicol (42,0%) Tụ cầu kháng penicillin G, gentamicin với tỷ
lệ tương ứng là 94,8% và 34,7% [26]
Chiến lược hiệu quả nhất là phải làm đúng công việc ngay từ đẩu bằng cách tiêu diệt vi khuẩn trước khi chúng có khả năng kháng thuốc Để đạt được mục tiêu này, bác sĩ ở những nước nghèo phải khuyến khích bệnh nhân dùng hết thuốc và bác sĩ à những nước giàu chi được kê đơn KS khi thật cần thiết [20],
7 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
Khoái Châu là một huyện mới được tách ra từ huyện Châu Giang năm
1999 Là một huyện nằm trên vùng châu thổ sông Hổng thuộc tỉnh Hưng Yên có diện tích 124,4 km2 Sinh sống trên 104 thôn thuộc 25 xã, thị trấn của huyện có 180.000 dân Khoái Châu cách thủ đô Hà Nội 40 km về phía Đông, phía Bắc giáp huyện Văn Giang, phía Đông giáp Yên Mỹ và Ân Thi, phía Nam giáp Kim Động
và phía Tây giáp sông Hồng( bên kia sông là tỉnh Hà Tây) Giao thông đi lại khá thuận tiện, huyện có quốc lộ 39 chạy qua, đường liên xã là đường cấp phối, đường liên thôn chủ yếu là bê tông
Trang 30v ề kinh tế - xã hội, hầu hết người dân trong huyện làm nông nghiệp, những lúc nông nhàn có nhiều người đi buôn bán hoặc đi nơi khác làm theo mùa
vụ Thu nhập bình quân đầu người khoảng 3 triệu/ năm theo số liệu năm 1999
Có 4 trường hướng nghiệp và dạy nghệ, 1 trường Cao đẳng sư phạm kỹ thuật TW
I và không có cơ sở sản xuất công nghiệp nào đóng trên địa bàn của huyện Các
xã đều có trường mầm non, tiểu học và phổ thông cơ sở, và cả huyện có 2 trường PTTH
Về công tác y tế, tổng số cán bộ y tế của huyện là 238, số làm việc ở TTYT là 138 trong đó chỉ có 24 bác sỹ, số làm việc tại trạm y tế xã là 100 trong
đó chỉ có 3 bác sỹ, cả hai điểm nghiên cứu của chúng tôi (xã Đông Tảo, thị trấn Khoái Châu) đều không có bác sỹ Công tác y tế luồn được sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền vì vậy ngcành y tế cũng đã làm khá tốt công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Tuy nhiên theo báo cáo công tác y tế năm 1999 của TTYT huyện Khoái Châu thì còn một số vấn đề y tế tồn tại đáng chú ý, một trong những vấn đề làm cho lãnh đạo ngành y tế địa phương phải lo lắng là tình trạng quản lý hành nghề y dược tư nhan còn lỏng lẻo, tình trạng người bán thuốc không có chuyên môn là tương đối phổ biến
Chúng ta biết rằng việc sử dụng KS nói riêng và sử dụng thuốc nói chung
có đạt kết quả cao hay không phụ thuộc vào cả hai đối tượng người dân (người tiêu thụ) và người cung cấp dịch vụ ( thầy thuốc, người bán thuốc) Trưóc thực trạng hành nghề y dược ở Khoái Châu còn lỏng lẻo như đã trình bày, chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực trạng kiến thức và thực hành của nguời dân ở đây về việc sử dụng KS, trên cơ sở những kết quả nghiên cứu thu được, góp một phần nào đó giúp cơ quan y tế địa phương có bức tranh toàn cảnh về việc sử dụng KS trong cộng đổng và tìm hướng khắc phục thích hợp
Trang 31CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
1.1 Đối tượng nghiên cứu
1.1.1 Những người quyết định việc sử dụng thuốc chữa bệnh cho các thành viên trong gia đình tại xã Đông Tảo và thị trấn Khoái Châu tỉnh Hưng Yên(
vợ hoặc chổng)
1.1.2 Người bán thuốc hợp pháp trên địa bàn xã Đông Tảo và thị trấn
Khoái Châu
1.1.3 Một số cán bộ y tế xã, tư nhân
1.2 Địa điểm nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên địa bàn xã Đông Tảo và thị trấn Khoái Châu
2 Phương pháp nghiên cứu
, ‘ '
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
Nghiên cứu định lượng phối hợp với định tính
2.1 Thiết kế nghiên cứu định lượng
2.1.1 Cỡ mẫu
Tính theo công thức ngẫu nhiên đơn đối với mỗi xã, thị tiấn
- n = z2* p(l-p)/s2
Trang 32k, cứ như thế đến khi -nào đủ số lượng mẫu cần thiết.
Chọn toàn bộ những người bán thuốc hợp pháp (trên địa bàn xã Đông Tảo và thị trấn Khoái Chau do TTYT quản lý, cả nhà nước lẫn tư nhân)
Trang 332.2 Thiết kế nghiên cứu định tính
- Thảo luận nhóm trọng tâm: Nhóm 5 - 7 người dân
- Nội dung thảo luận: Thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức,
thực hành của người dân về sử dụng thuốc KS
2
Chúng tôi sử dụng phương pháp đóng vai: Người nghiên cúư đóng vai
người dân đến các hiệu thuốc (cả nhà nước và tư nhân trên địa bàn nghiên cứu)
để kể bệnh và mua thuốc Mục đích là để đánh giá sự hướng dẫn sử dụng thuốc
của người bán hàng thông qua bảng kiểm đã được thiết kế từ trước Tinh huống
chúng tôi đưa ra là gia đình có trẻ dưới 5 tuổi bị tiêu chảy phân không nhày mũi
2.2.3 V ó i đ ố i tư ọ n g là y , b á c s ỹ đ iề u trị:
Phỏng vấn sâu 1 - 2 cán bộ y tế xã (nhũng người được nhiều người dân tín
nhiệm hay đến khám và điều trị) theo mẫu đã có tìt trước
3 Phương pháp xử lý sô liệu
- Xử lý số liệu định lượng bằng phương pháp thống kê thông thường dựa
trên phần mềm Epi - Infor 6.04
- Xử lý số liệu định tính: Tổng hợp, trích dẫn ỷ kiến người tham gia thảo
Trang 345 Định nghĩa các biến
- Kiến thức của người dan về sử dụng thuốcKS: Là những kiến thức cơ bản
của người dãn về sử dụng KS trong chữa bệnh được đánh giá dựa trên các tiêu chí:
+ Khi nào cần sử dụng KS
+ Sử dụng k s phải theo đơn, hướng dẫn của thầy thuốc
+ Thời gian, liều lượng sử dụng KS
+ Cầch đánh giá chất lượng thuốc.(hạn dùng, bao bì)
+ Tác hại của việc sử dụng KS không đúng
+ Các đối tượng cần thận trọng khi dùng thuốc KS
- Thực hành của người dan về sử dụng thuốc KS: Là hành động thực tế của người dân khi dùng thuốc KS trên cơ sở các tiêu chí trên
6 Cách đánh giá kiến thức và thực hành sủ dụng KS của người dân
- Để đánh giá kiến thức của người dan về thuốc KS chúng tôi có 6 câu hỏi
và được tính theo các bước sau:
Bước 1: Mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm câu nào sai thì được 0 điểm, những
câu quan trọng được tính hệ số 2
Bước 2: Tính tổng số điểm của từng đối tượng
Bước 3: Tính điểm trung bình của tất cả các đối tượng
Bước 4: Đối tượng nào có tổng sô' điểm lớn hơn điểm trung bình thì được coi là
“Đạt” ký hiệu là K+, đối tượng nào có tổng số điểm nhỏ hơn hoặc bằng điểm trung bình thì được coi là “Chưa đạt” ký hiệu là K-
Trang 35- Cũng bằng cách tính điểm tương tự chúng tồi chia điểm thực hành sử dụng KS của người dân thành 2 mức:
+ Sử dụng KS có hiểu biết ký hiệu là p+ là những người có tổng số điểm lớn hơn điểm trung bình
+ Sử dụng KS sai ký hiệu là P- bao gồm những người có tổng số điểm nhỏ hơn hoặc bằng điểm trung bình
7 Hạn chế của đề tài
- Việc sử dụng KS đúng cách là một vấn đề hết sức phức tạp, phụ thuộc vào những yếu tố như: Chẩn đoán bệnh có đúng không? Có cần phải sử dụng KS không? Có làm KS đồ không? Phối hợp thuốc ra làm sao? Liều lượng và thời gian điều trị có đủ không? v i khuẩn kháng thuốc Việc sử dụng KS đúng cách,
có hiệu quả cũng còn phụ thuộc vào chính các thầy thuốc, người bán thuốc, và người dân Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu kiến thức, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng KS của người dân
- Nghiên cứu của chúng tôi trong phạm vi 1 xã và 1 thị trấn của huyện Khoái Châu, một huyện vùng châu thổ sông Hồng vì vậy các địa phương khác chỉ sử dụng kết quả nghiên cứu như một tài liệu tham khảo
8 Những cân nhắc về khía cạnh đạo đức
- Khi tiến hành nghiên cứu những đối tượng nào được chọn vào trong diện phỏng vấn có quyền từ chối trả lời phỏng vấn (để đề phòng trường hợp này chúng tôi đã tăng kích thước mẫu lên 5%)
- Thông tin thu được từ những người tham gia nghiên cứu đều được giữ bí mật
Trang 36CHƯƠNG 3
K Ế T QUẢ N G H IÊ N c ứ u
Chúng tôi đã phỏng vấn được 768 người đại diện cho 768 hộ gia đình, 10 người bán thuốc do TTYT quản lý và 2 trạm trưởng y tế xã, thị trấn Sau khi phân tích số liệu thu được từ 768 hộ gia đình và 10 người bán thuốc, kết quả như sau:
A KẾT QUẢ NGHIÊN cứu ĐỊNH LƯỢNG
1 Thông tin chung về đối tượng nghiên CÚ11
Trong số 768 người trả lời phỏng vấn có 469 nữ (61,1%), 299 nam (38,9%) 20,8 % số hộ có trẻ < 5 tuổi
Bảng 1: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu phân theo giới và tuổi
Từ bảng 1 chúng tôi nhận thấy rằng đối tượng được phỏng vấn nằm trong
độ tuổi 30-49 chiếm đa số (56,0%) Đối tượng được phỏng vấn nằm trong độ tuổi
< 29 có tỷ lệ thấp nhất 10,7%
Trang 37Bảng 2: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu phân theo nghề nghiệp
Trang 38Bảng 2: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu phân theo nghề nghiệp
Trang 39Bảng 3: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu phân theo trình độ học vấn
Đ aih o c trô
Cấp III Cao® n* A i ẻ „ n s %
13,0%
Cấp II 55,0%
Mù chữ 5,6%
C ấp l21,4%
Biểu đồ 2: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu phân theo trình độ học vấn
Trang 40Bảng 4: Tỷ lệ hộ gía đình có phương tiện truyền thông
2 Kiến thức của đối tượng phỏng vấn về sử dụng KS
Bảng 5: Tỷ lệ người dân biết phải dùng KS đúng theo đon hoặc chỉ dẫn của thầy thuốc
mà không cần sự chỉ dẫn của thầy thuốc, tỷ lệ này chiếm 29%