Các thuộc tính cơ bản của tri giác Tính đối tượng của tri giác: +Khái niệm: Do sự tác động của những sự vật, hiện tượng nhất định của thế giới xung quanh vào giác quan của ta mà tính đối tượng của tri giác được hình thành. Ví dụ: Phía trước là một vũng nước, tri giác giúp chúng ta nhận ra có một vũng nước ở trước mắt nó sẻ định hướng cho chúng ta tránh không đi vào chỗ đó nữa. +Vai trò: Là cơ sở của chức năng định hướng cho hành vi và hoạt động của con người +Ứng dụng sư phạm: Trong giảng dạy giáo viên nên thay đổi màu sắc hoặc dùng màu phấn khác nhau để gạch dưới những từ cần chú ý để làm nổi bật lên ý chính. Tính lựa chọn của tri giác: +Khái niệm: Tính lựa chọn của tri giác là khả năng phản ánh 1 vài đối tượng nào đó trong số các sự vật, hiện tượng ở xung quanh, nghĩa là ta đã tách sự vật đó ra khỏi bối cảnh xung quanh, lấy nó làm đối tượng phản ánh của mình. Ví dụ: Khi chúng ta tri giác giáo viên trên lớp, thì người giáo viên trở thành đối tượng của tri giác của chúng ta, tất cả những cái còn lại xung quanh người giáo viên như bàn, ghế, bảng, sách, vở,… đều trở thành bối cảnh (cái nền) của sự tri giác. Lưu ý: Vai trò của đối tượng và bối cảnh có thể hoán đổi cho nhau. Tính lựa chọn của tri giác phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan (hứng thú, nhu cầu, tâm thế,… của cá nhân) và khách quan (đặc điểm của vật kích thích, ngôn ngữ của người khác, đặc điểm của hoàn cảnh tri giác,…) +Ứng dụng sư phạm: Khi dạy học giáo viên nên lựa chọn những ý chính để đi sâu vào phân tích rõ hơn cho học sinh dễ hiểu. Tránh việc nói và giảng quá nhiều vấn đề “không cần thiết” cho học sinh như vậy dễ gây rối loạn kiến thức. Gggggggggggggggggggggggggggggggggg 1.2.Không nên nói trẻ em là người lớn thu nhỏ lại Khi nói: “Trẻ em là người lớn thu nhỏ lại” thì tương ứng với việc nói rằng: “trẻ em là một người lớn” chỉ khác là nhỏ hơn người lớn mà thôi chứ không hề khác nhau về chất. Từ đó người ta sẽ tìm kiếm ở những đứa trẻ đó những nét giống ở thế hệ đi trước như mẹ, cha, ông, bà,… họ xem đó như là một sự di truyền để rồi từ đó lấy người lớn làm thước đo mọi thứ đối với trẻ em. +Bạn sẽ nghĩ như thế nào về lời nói của một người mẹ rằng: “việc gì phải ngạc nhiên về tính bướng bỉnh của thằng bé nhà tôi. Nó hoàn toàn giống bố nó Cả bố nó lẫn ông nội nó đều bướng bỉnh cả”. Vậy nếu như thằng bé đó ngoan ngoãn, không bướng thì sao? Thì là không giống bố nó – đơn giản chỉ như vậy > Vậy trẻ em và người lớn khác nhau về chấy, trẻ em là trẻ em, trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại. Không nên nói: “Trẻ em là người lớn thu nhỏ lại” bởi “trẻ em có những cách nhìn, cách suy nghĩ và cảm nhận riêng của nó” +Chẳng hạn như: Những em bé khi còn bồng trên tay mẹ, hoạt động giao lưu cảm xúc trực tiếp với người lớn phát triển mạnh, đặc biệt là đối với mẹ. Nếu ngủ dậy không thấy mẹ nó sẻ khóc, đói nó sẽ khóc, buồn ngủ nó cũng khóc, đặc biệt là có nhiều trường hợp đứa bé đó không cho người lạ bế nếu bế nó cũng khóc. Nguyên nhân do đâu? Vì trẻ em có cách suy nghĩ, cách nhìn và cách cảm nhận riêng của nó mà phần lớn ở giai đoạn này là theo cảm tính. Nếu nói “trẻ em là người lớn thu nhỏ lại” thì tại sao đứa bé ở trên lại phải khóc? Nếu là “người lớn thu nhỏ lại” thì đứa bé đó sẽ suy nghĩ và nhận thức được rằng ai là kẻ xấu, người tốt để rồi tránh xa trong những điều kiện nhất định khác nhau. Trẻ em cũng có những nhận thức và suy nghĩ nhưng đó không phải là nhận thức, suy nghĩ lí tính mà phần lớn do cảm tính xây dựng thành. Từ đó có thể thấy được rằng: “Trẻ em vận động và phát triển theo quy luật của trẻ em”, không thể lấy người lớn làm “thước đo” mọi thứ cho trẻ em được, Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại mà đứa trẻ là một con người sẽ dần dần trở thành một người lớn. Mà đặc trưng của nó chính là sự trưởng thành, sự tăng trưởng. Tăng trưởng ở đây chính là sự khác nhau về chiều cao, cân nặng,… sự tiến bộ không ngừng của đứa trẻ sẻ chuyển biến từ những phản ứng đơn giản thành những hoạt động phức tạp hơn, hợp lí hơn. Mọi kinh nghiệm, mọi cái hiểu biết mới và thu nhập được không chỉ đơn thuần bổ sung vào cái đã có mà còn làm cho chúng thay đổi.
Trang 1TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM A.TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
Chương I.Tâm lý học là một môn khoa học
1.1.Khái niệm: Là hiện tượng tinh thần được nảy sinh trên não bộ và điều khiển tất cả các hoạt
động của con người
1.2.Bản chất tâm lý người
Chức năng của não:
- Hoạt động theo cơ chế phản xạ
+ Phản xạ không điều kiện
+ Phản xạ có điều kiện
Tạo thành các hiện tượng tâm lý
- Chi phối, tác động qua lại giữa hai hệ thống
+ Tín hiệu thứ nhất
+ Tín hiệu thứ hai
Hệ thống chức năng thần kinh cơ động của toàn bộ não
Phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua chủ thể
- Diễn ra từ đơn giản đến phức tạp và có sự chuyển hóa lẫn nhau
- Là thứ vật chất đặc biệt có tổ chức cao nhất của bộ não
- Tạo ra hình ảnh tâm lý như “một bản sao” về thế giới
+ Mang tính sinh động, sáng tạo
+ Mang tính chủ thể
Bản chất xã hội, lịch sử
- Hình thành, phát triển và biến đổi cùng với sự phát triển của lịch sử cá nhân, lịch sử dân tộc và cộng đồng
- Là kết quả của quá trình lĩnh hội, tiếp thu vốn kinh nghiệm xã hội
- Là sản phẩm của hoạt động và mối quan hệ giao tiếp
=>Khi giao tiếp với một cá nhân nào đó cần phải tôn trọng những điều riêng tư, cá tính của họ (trình độ, phong tục tập quán, tính cách,…), vì tâm lý xuất phát từ các chủ thể, mỗi chủ thể khác nhau sẻ có cảm nhận, đánh giá … không giống nhau
1.3.Cách phân loại hiện tượng tâm lý
Quá trình tâm lý: Diễn ra trong thời gian ngắn, có bắt đầu và có kết thúc, có diễn biến
Ví dụ: Hiện tượng nhận thức của con người hoặc là hiện tượng cảm xúc hoặc chú ý
Trạng thái tâm lý: Diễn ra trong thời gian tương đối dài nhưng mở đầu, diễn biến và kết thúc rất khó phát hiện
Ví dụ: Hiện tượng chú ý
Thuộc tính tâm lý: Diễn ra trong thời gian quá dài, bền vững và kéo dài khó thay đổi
Ví dụ: Tính cách của con người
->Mối quan hệ của 3 quá trình trên rất khó tách biệt
Chương II Cơ sở tự nhiên và cơ sở xã hội của tâm lý người
2.1.Hoạt động và tâm lý
2.1.1.Khái niệm: Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới để tạo ra
sản phẩm cả về phía thế giới cả về phía con người (về hai phía)
2.1.2.Quá trình
Quá trình đối tượng hóa (quá trình “xuất tâm”) chủ thể chuyển năng lực của mình thành sản phẩm của hoạt động -> tâm lý con người (chủ thể) được bộc lộ trong quá trình làm ra sản phẩm
Trang 2Quá trình chủ thể hóa (quá trình “nhập tâm”) hoạt động của con người chuyển từ khách thể vào bản thân mình những quy luật, bản chất của thế giới để tạo nên tâm lí, ý thức, nhân cách của bản thân nhằm chiếm lĩnh (lĩnh hội) thế giới
2.1.3.Đặc điểm
Đối tượng: Động cơ -> tác động vào khách thể thay đổi nó, biến đổi nó tạo thành 1 cấu tạo mới, một năng lực mới (khi chuyển vào đầu óc mình)
Chủ thể: Có thể là 1 hoặc nhiều người (để thực hiện hoạt động)
Mục đích: Biến đổi thế giới (khách thể) và biến đổi bản thân chủ thể (mục đích gắn liền với tính đối tượng)
Nguyên tắc vận hành: Gián tiếp (mỗi hoạt động đều phải tiến hành các thao tác, muốn thực hiện các thao tác cần phải có công cụ để tạo ra sản phẩm Như vậy, công cụ tâm lý, ngôn ngữ và công cụ lao động giữ vai trò làm chức năng trung gian giữa chủ thể và khách thể, tạo ra tính gián tiếp của hoạt động)
2.1.4.Các loại hoạt động
Phương diện cá thể: vui chơi, học tập, lao động, hoạt động xã hội
Phương diện sản phẩm (vật chất hay tinh thần):
-Hoạt động thực tiến: Hướng vào vật hay quan hệ, tạo ra sản phẩm vật chất là chủ yếu
-Hoạt động lý luận: Diễn ra với các hình ảnh, biểu tượng, khái niệm… tạo ra sản phẩm tinh thần
Theo các cách phân loại khác
-Hoạt động biến đổi
-Hoạt động nhận thức
-Hoạt động định hướng giá trị
-Hoạt động giao lưu
2.1.5.Cấu trúc hoạt động (Theo quan điểm của A.N.Lêônchiev)
Quy trình diễn ra hoạt động theo sơ đồ trên: Về phía chủ thể hay còn gọi là mặt kĩ thuật của hoạt động gồm: Hoạt động, hành động và thao tác Về phía khách thể hay còn gọi là mặt tâm lý của hoạt động gồm: Động cơ, mục đích và phương tiện Quá trình diễn ra như sau:
-Hoạt động hợp bởi các hành động
Dòng các hoạt động
Khách thể (mặt tâm lý của hoạt động) Chủ thể (mặt kĩ thuật của hoạt động)
Động cơ Hoạt động cụ thể
Mục đích Hành động
Sản phẩm
Trang 3-Hành động diễn ra bằng các thao tác
-Hoạt động luôn hướng vào động cơ
-Động cơ là mục đích chung, mục đích cuối cùng của hoạt động
-Mục đích được thể hiện bằng các mục đích cụ thể, mục địch bộ phận mà từng hành động hướng vào
-Để đạt được mục đích con người phải sử dụng phương tiện
-Tùy vào điều kiện khác nhau, phương tiện mà con người thực hiện các thao tác, tiến hành hành động đạt mục đích
->Sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể tạo ra “sản phẩm kép” (về 2 phía)
Chương III.Hoạt động nhận thức
3.1.Nhận thức cảm tính
3.1.1.Cảm giác
Khái niệm: Là một quá trình nhận thức phản ánh 1 cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật, hiện tượng khi chúng đang tác động trực tiếp vào giác quan của ta Ví dụ: “Thầy bói xem voi” ->Đặc điểm bên ngoài không thể xác định chính xác bản chất bên trong của sự vật
Đặc điểm:
-Quá trình nhận thức: Có nảy sinh, diễn biến và kết thúc
-Phản ánh riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật, hiện tượng ->Cảm giác là mức độ nhận thức thấp nhất
-Phản ánh hiện thực khách quan một cách trực tiếp ->Mức độ thấp của cảm giác nói riêng và nhận thức cảm tính nói chung trong sự phản ánh hiện thực khách quan
-Bản chất xã hội:
+Cảm giác phát triển thông qua quá trình lao động
+Cảm giác không chỉ phản ánh với tín hiệu thứ nhất mà còn thông qua tín hiệu thứ 2 (ngôn ngữ) +Cảm giác còn phát triển mạnh mẽ thông qua hoạt động và giáo dục
Phân loại:
-Cảm giác bên ngoài: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, mạc giác (nóng, lạnh, ném, chạm, đau….)
-Cảm giác bên trong: Cảm giác vận động và sờ mó (là sự kết hợp giữa cảm giác vận động và cảm giác đụng chạm), cảm giác thăng bằng, cảm giác cơ thể, cảm giác rung
Các quy luật cơ bản của cảm giác:
-Quy luật về ngưỡng cảm giác:
+Khái niệm: Ngưỡng cảm giác là giới hạn của cường độ mà ở đó kích thích gây ra
++Ngưỡng cảm giác phía trên: Là cường độ kích thích tối đa mà ở đó vẫn còn gây ra được cảm giác Ví dụ: Ngưỡng phía trên của thị giác ở người là những sóng ánh sáng có bước sóng là 780mm
++Ngưỡng cảm giác phía dưới: là cường độ kích thích tối đa mà ở đó vẫn còn gây ra được cảm giác Ví dụ: Ngưỡng phía dưới của thị giác ở người là những sóng ánh sáng có bước sóng là 390mm
++Ngưỡng cảm giác sai biệt: Là mức độ chênh lệch tối thiểu về cường độ hoặc tính chất của 2 kích thích đủ để ta phân biệt được 2 kích thích đó Ví dụ: Ngưỡng giao thoa (tức ngưỡng trung gian) chuyển từ ngưỡng phía dưới của thị giác sang ngưỡng phía trên của thị giác ở người đủ để
ta phân biệt được 2 kích thích đó với những bước sóng khác nhau
+Ứng dụng sư phạm: Giáo viên dạy nên nói đủ lớn để học sinh có thể nghe và viết chữ trên bảng
đủ lớn để học sinh có thể nhìn thấy Do mỗi học sinh có ngưỡng cảm giác khác nhau
-Quy luật về sự thích ứng của cảm giác:
Trang 4+Khái niệm: Là khả năng thay đổi độ nhạy cảm cho phù hợp với sự thay đổi của cường độ kích thích: Khi cường độ kích thích tăng thì giảm độ nhạy cảm, khi cường độ kích thích giảm thì tăng
độ nhạy cảm Ví dụ: Khi chúng ta đi ngoài đường nắng trong một thời gian khá dài lúc mới vào nhà sẽ không nhìn thấy gì cả, phải sau một thời gian ta mới dần thấy rõ (sự thích ứng)
+Ứng dụng sư phạm: Khi dạy học giáo viên nên chọn những nơi có đủ ánh sáng để học sinh có thể nhìn thấy và bật đèn nếu không có đủ ánh sáng cho học sinh
-Quy luật về sự tác động lẫn nhau giữa các cảm giác:
+Khái niệm: Sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các cảm giác là sự thay đổi tính nhạy cảm của 1 cảm giác này dưới ảnh hưởng của một cảm giác kia Ví dụ: Khi chúng ta uống một cốc nước đường còn nóng thì cảm thấy ít ngọt hơn khi uống cũng cốc nước đường đó nhưng để nguội (nhiệt giác ảnh hưởng đến vị giác) Sự tác động qua lại giữa các cảm giác có thể diễn ra 1 cách đồng thời hay nối tiếp, giữa các cảm giác cùng loại hay khác loại Sự tương phản chính là hiện tượng tác động qua lại giữa các cảm giác thuộc cùng một loại Ví dụ: Sau khi chúng ta nhúng tay vào nước lạnh nếu ta nhúng tay vào nước ấm thì ta sẽ có cảm giác nước có vẻ nóng hơn
+Ứng dụng sư phạm: Các giáo viên nên chú ý đến không gian và thời gian để tìm chỗ dạy ít tiếng động mạnh ở xung quanh hay những nơi thường tạo ra sự tập trung (ngoài ý muốn) để giúp học sinh tập trung hơn vì nếu không làm như vậy học sinh rất dễ bị phân tâm
3.1.2.Tri giác
Khái niệm: Là quá trình nhận thức phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính của sự vật, hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan của ta Tri giác phản ánh sự vật, hiện tượng theo những cấu trúc nhất định Ví dụ: Khi ta tri giác ngôn ngữ của người khác mà hiểu được là vì các từ của họ phát ra nằm trong một cấu trúc nhất định, với mối liên hệ qua lại xác định giữa các thành phần cấu trúc ấy
Đặc điểm:
-Tính trọn vẹn của tri giác là do tính trọn vẹn khách quan của bản thân sự vật và hiện tượng quy định
-Tri giác phản ánh sự vật, hiện tượng theo những cấu trúc nhất định
-Tri giác không phải là 1 tổng số các cảm giác
Phân loại tri giác:
-Phân loại theo cơ quan phân tích: Tri giác nhìn, nghe, sờ mó,…
-Phân loại theo đối tượng được phản ánh: Tri giác không gian, tri giác thời gian, tri giác vận động, tri giác con người (tri giác xã hội)
Các thuộc tính cơ bản của tri giác
-Tính đối tượng của tri giác:
+Khái niệm: Do sự tác động của những sự vật, hiện tượng nhất định của thế giới xung quanh vào giác quan của ta mà tính đối tượng của tri giác được hình thành Ví dụ: Phía trước là một vũng nước, tri giác giúp chúng ta nhận ra có một vũng nước ở trước mắt nó sẻ định hướng cho chúng
ta tránh không đi vào chỗ đó nữa
+Vai trò: Là cơ sở của chức năng định hướng cho hành vi và hoạt động của con người
+Ứng dụng sư phạm: Trong giảng dạy giáo viên nên thay đổi màu sắc hoặc dùng màu phấn khác nhau để gạch dưới những từ cần chú ý để làm nổi bật lên ý chính
-Tính lựa chọn của tri giác:
+Khái niệm: Tính lựa chọn của tri giác là khả năng phản ánh 1 vài đối tượng nào đó trong số các
sự vật, hiện tượng ở xung quanh, nghĩa là ta đã tách sự vật đó ra khỏi bối cảnh xung quanh, lấy
nó làm đối tượng phản ánh của mình Ví dụ: Khi chúng ta tri giác giáo viên trên lớp, thì người giáo viên trở thành đối tượng của tri giác của chúng ta, tất cả những cái còn lại xung quanh
Trang 5người giáo viên như bàn, ghế, bảng, sách, vở,… đều trở thành bối cảnh (cái nền) của sự tri giác Lưu ý: Vai trò của đối tượng và bối cảnh có thể hoán đổi cho nhau Tính lựa chọn của tri giác phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan (hứng thú, nhu cầu, tâm thế,… của cá nhân) và khách quan (đặc điểm của vật kích thích, ngôn ngữ của người khác, đặc điểm của hoàn cảnh tri giác,…) +Ứng dụng sư phạm: Khi dạy học giáo viên nên lựa chọn những ý chính để đi sâu vào phân tích
rõ hơn cho học sinh dễ hiểu Tránh việc nói và giảng quá nhiều vấn đề “không cần thiết” cho học sinh như vậy dễ gây rối loạn kiến thức
-Tính có ý nghĩa của tri giác:
+Khái niệm: Những hình ảnh tri giác mà con người thu nhận được luôn có một ý nghĩa xác định (tri giác gắn chặc với tư duy), điều đó có nghĩa là gọi được tên của sự vật đó ở trong óc và xếp được sự vật đang tri giác vào một nhóm, một lớp các sự vật xác định, khái quát nó trong 1 từ xác định, chỉ ra công dụng và ý nghĩa của nó Ví dụ: Khi tri giác bức tranh 2 nghĩa (khi chúng ta xem ảnh không gian 3 chiều)
+Ứng dụng sư phạm: Dùng ngôn ngữ, chữ viết (tín hiệu thứ 2) để trình bày cho học sinh dễ hiểu hơn Để giải thích sự vật, hiện tượng nào đó để học sinh có thể nắm bài Tránh hiện tượng người giáo viên chỉ ngồi giảng và không “tóm gọn” ý chính cho học sinh
-Tính ổn định của tri giác:
+Khái niệm: Tính ổn định của tri giác là khả năng phản ánh sự vật, hiện tượng một cách không thay đổi khi điều kiện tri giác bị thay đổi Ví dụ: Một con voi đứng cách xa chúng ta 100 m, một con mèo đứng cách ta vài m Ảnh của con voi trên võng mạc chúng ta bé hơn rất nhiều so với ảnh con mèo Nhưng ta vẫn tri giác con voi lớn hơn con mèo
+Vai trò: Tính ổn định của tri giác là 1 điều kiện cần thiết của đời sống và hoạt động của con người Nếu không có nó thì con người không thể nào định hướng được trong thế giới đa dạng và biến đổi vô tận này Tính ổn định của tri giác do kinh nghiệm mà có
+Ứng dụng sư phạm: Trong giảng dạy, giáo viên nên thường xuyên cho học sinh xem các sự vật, hiện tượng trong nhiều điều kiện khác nhau để nhận ra tính ổn định (không thay đổi) của các sự vật, hiện tượng
-Tổng giác:
+Khái niệm: Sự phụ thuộc của tri giác và nội dung của đời sống tâm lí con người vào đặc điểm nhân cách của họ, được gọi là hiện tượng tổng giác Ví dụ: Nếu ai đó thích hoa hồng thì khi tri giác bông hoa hồng người đó sẽ thấy hoa hồng rực rỡ hơn nhiều so với các loại hoa khác Tri giác phụ thuộc vào nội dung, đời sống tấm lí con người vào đặc điểm nhân cách của người đang tri giác Tri giác là một quá trình tích cực, ta có thể điều khiển được nó
+Ứng dụng sư phạm: Trong giảng dạy, thường có một số trường hợp học sinh học rất giỏi môn này nhưng lại học rất yếu môn kia Chẳng hạn như có một số học sinh học rất tốt môn văn nhưng lại học rất yếu môn toán, có thể là học sinh đó tri giác rất thích văn thì sẽ thấy môn văn dễ học,
dễ hiểu hơn so với môn toán Giáo viên không nên thấy vậy mà cho rằng các em biếng nhác, không tích cực trong học tập mà nên tìm các cách khắc phục để học sinh tri giác nhiều hơn tới môn toán
Sự giống và khác nhau của tri giác và cảm giác
-Giống nhau:
+Đều là những quá trình của tâm lý
+Đều là một quá trình của nhận thức, phản ánh hiện thực khách quan một cách trực tiếp
+Đều là quá trình phản ánh các sự vật, hiện tượng ở bên ngoài
-Khác nhau:
+Cảm giác: Phản ánh sự vật, hiện tượng 1 cách riêng lẻ
Trang 6+Tri giác: Phản ánh sự vật, hiện tượng 1 cách trọn vẹn
Vai trò của nhận thức cảm tính
-Định hướng trong hoạt động của con người
-Cung cấp nguyên vật liệu cho nhận thức lí tính
-Bảo đảm trạng thái hoạt động của võ nào, giúp cho hoạt động tinh thần con người được bình thường
-Điều chỉnh hành vi và hoạt động của con người trong thế giới xung quanh
-Tri giác là thành phần chính của nhận thức cảm tính, nhất là đối với người trưởng thành
Tính nhạy cảm và năng lực quan sát
-Tính nhạy cảm:
+Là một sản phẩm của nhân cách
+Việc tham gia lâu dài vào một hoạt động đòi hỏi sự nhạy cảm đặc biệt của một cảm giác nào đó,
sẽ làm tăng độ nhạy cảm của cảm giác đó lên Ví dụ: Người thợ dệt lâu năm có thể phân biệt tới
60 sắc thái khác nhau của màu đen
-Quan sát:
+Là mức độ phát triển cao của tri giác, nhằm phản ánh đầy đủ, rõ rệt các sự vật, hiện tượng và những biến đổi của chúng
+Năng lực quan sát của mỗi người là khác nhau
+Năng lực quan sát được hình thành trong quá trình hoạt động và rèn luyện
+Muốn quan sát tốt cần chú ý những yêu cầu sau:
++Xác định rõ ràng mục đích, ý nghĩa, yêu cầu nhiệm vụ quan sát
++Chuẩn bị chu đáo (tri thức và phương tiện) trước khi quan sát
++Tiến hành quan sát có kế hoạch, có hệ thống
++Khi quan sát cần tích cực sử dụng các phương tiện ngôn ngữ
++Đối với trẻ nhỏ, nên tạo điều kiện cho các em sử dụng nhiều giác quan khi quan sát
++Cần ghi lại các kết quả quan sát, xử lí kết quả và rút ra nhận xét
Chương IV.Tình cảm và ý chí
4.1.Vai trò của cảm xúc và tình cảm
-Xúc cảm và tình cảm có vai trò to lớn trong đời sống của con người cả về mặt sinh lí lẫn tâm lí +Con người không có xúc cảm thì không thể tồn tại được, chỉ trừ những người bị bệnh tâm thần – những người bị chứng vô tình cảm
+Xúc cảm, tình cảm thúc đẩy con người hoạt động, giúp con người khắc phục những khó khăn, trở ngại gặp phải trong quá trình hoạt động
+Tình cảm có 1 ý nghĩa đặc biệt trong công việc sáng tạo (trạng thái “dâng trào cảm hứng”) +Tình cảm có vai trò quan trọng đối với quá trình nhận thức của con người “Nếu không có” những xúc cảm của con người “thì xưa nay không có và không thể có sự tìm tòi chân lí” (V.I.Lênin)
+Tình cảm vừa là điều kiện, vừa là phương tiện, vừa là nội dung của giáo dục trong công tác giáo dục
+Cảm xúc và tình cảm có thể giúp cho con người hiểu nhau hơn, sống chan hòa và quan tâm, tin tưởng, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau
Chương V.Nhân cách và sự hình thành, phát triển nhân cách
5.1.Trong phần cấu trúc của nhân cách Phân tích khí chất và tính cách của nhân cách 5.1.1.Tính cách
-Khái niệm: Tính cách là một thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân bao gồm một hệ thống thái
độ của nó đối với hiện thực, thể hiện trong hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng tương ứng
Trang 7-Đặc điểm:
+Tính cách mang tính ổn định và bềnh vững tính thống nhất và độc đáo, riêng biệt điển hình của mỗi cá nhân
+Tính cách cá nhân chịu sự chế ước của xã hội
-Cấu trúc của tính cách:
+Hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng của cá nhân (là sự thể hiện cụ thể ra bên ngoài): Người
có tính cách tốt, nhất quán thì thái độ sẽ tương ứng với hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng (thái độ là mặt nội dung còn hành vi, cử chỉ, cách nói năng là hình thức biểu hiện của chúng) +Hệ thống thái độ của cá nhân:
++Thái độ đối với tập thể và xã hội: là lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, thái độ chính trị,… ++Thái độ đối với lao động: Tình yêu lao động,…
++Thái độ đối với mọi người: Lòng yêu thương con người, tính cởi mở,…
++Thái độ đối với bản thân: Tính khiêm tốn, lòng tự trọng, tinh thần tự phê bình,…
5.1.2.Khí chất:
-Khái niệm: Là thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân, biểu hiện cường độ, tốc độ, nhịp độ của các hoạt động tâm lý, thể hiện sắc thái hành vi, cử chỉ, cách nói năng của cá nhân
-Tính chất: Khí chất cá nhân có cơ sở sinh lí thần kinh nhưng khí chất mang bản chất xã hội lại chịu sự chi phối của các đặc điểm xã hội, biến đổi do rèn luyện và giáo dục
-Các kiểu khí chất:
+Hăng hái:
++Ưu điểm: Sôi nổi, hoạt bát, nhận thức nhanh, phản ứng nhanh, vui tính, cởi mở,…
++Nhược điểm: Thiếu sâu sắc, tình cảm dễ xuất hiện nhưng dễ thay đổi, thiếu kiên định, hấp tấp, vội vàng, làm việc tùy hứng, dễ nản lòng,…
+Bình thản:
++Ưu điểm: Bình tĩnh, điềm đạm, tự chủ cao, biết kiềm chế những cơn rung động, tức giận ++Nhược điểm: Chậm thích nghi với hoàn cảnh mới, hay do dự, bỏ lỡ thời cơ,…
+Nóng nảy:
++Ưu điểm: Nhận thức nhanh, phản ứng nhanh, nóng nảy, bộc trực, mãnh liệt, thẳng thắng,… ++Nhược điểm: Vội vàng, hấp tấp, tự chủ kém, liều mạng, thiếu tế nhị, tính khí thất thường, dễ trở nên thô lỗ, gay gắt,…
+Ưu tư:
++Ưu điểm: Nhạy cảm, hiền diệu, dễ cảm thông với mọi người xung quanh, tình cảm kín đáo, dè dặt, thận trọng và bền vững, hay mơ mộng, tưởng tượng,…
++Nhược điểm: Hay lo lắng, thiếu tự tin, nhút nhát, bi quan, chán nản, ủy mị, ít sôi nổi, ít cởi
mở, khó làm quen trong giao tiếp
B.TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ SƯ PHẠM
Chương I.Lý luận về sự phát triển tâm lý trẻ em
1.1.Một số quan niệm về trẻ em
-Theo lịch sử:
+Thời cổ đại: Trẻ em là một vật tình cảm, một thành phần quan trọng của gia đình, biểu tượng của tương lai, là một nhân thể tiềm năng, là tài sản của một người cha
+Thời trung đại: Trẻ em như là một vật với tầm quan trọng là thần học, một tâm hồn cứu rỗi, nhân danh chúa
+Thời phục hung: Trẻ em là một vật để trao đổi và không có khả năng tự xử lí mọi việc
Trang 8-Một số người cho rằng: Trẻ em là người lớn thu nhỏ lại, trẻ em chỉ khác người lớn ở tầm cỡ, kích thước cơ thể, khác về mức độ biểu hiện, trình độ đạt được về nhận thức, tư tưởng, tình cảm, chứ không khác nhau về chất
-Theo Rutxô: Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại, trẻ em có những cách nhìn, cách suy nghĩ riêng của nó
-Theo Osterrieth: Đứa trẻ trở thành con người tùy thuộc vào trình độ văn hóa và nhóm gia đình
mà đứa trẻ tham gia
-Theo Claparede: Đứa trẻ không phải là đứa trẻ vì nó còn nhỏ, mà đứa trẻ là một con người sẽ dần dần trở thành người lớn
-Theo GSTS Hồ Ngọc Đại: Trẻ em là một thực thể tự vận động theo quy luật của bản thân nó Sự vận động tất yếu ở trẻ em do quá trình phát triển bên trong của nó sẻ tự phủ định bản thân mình
để chuyển hóa sang một trình độ khác về chất
-Theo Hồ Chí Minh: Trẻ em như búp trên cành
-Theo cổ ngôn ở Trung Quốc: Mỗi đứa trẻ như một tờ giấy trắng
-Theo khoa học: Trẻ em là trẻ em, trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại, sự khác nhau giữa trẻ em và người lớn là sự khác nhau về chất, trẻ em vận động và phát triển theo quy luật của trẻ em
-Quan điểm của Đảng ta về trẻ em: Trẻ em là trẻ em là một công dân của xã hội, được đối xử và bình đẳng trước pháp luật
1.2.Không nên nói trẻ em là người lớn thu nhỏ lại
-Khi nói: “Trẻ em là người lớn thu nhỏ lại” thì tương ứng với việc nói rằng: “trẻ em là một người lớn” chỉ khác là nhỏ hơn người lớn mà thôi chứ không hề khác nhau về chất Từ đó người ta sẽ tìm kiếm ở những đứa trẻ đó những nét giống ở thế hệ đi trước như mẹ, cha, ông, bà,… họ xem
đó như là một sự di truyền để rồi từ đó lấy người lớn làm thước đo mọi thứ đối với trẻ em +Bạn sẽ nghĩ như thế nào về lời nói của một người mẹ rằng: “việc gì phải ngạc nhiên về tính bướng bỉnh của thằng bé nhà tôi Nó hoàn toàn giống bố nó! Cả bố nó lẫn ông nội nó đều bướng bỉnh cả” Vậy nếu như thằng bé đó ngoan ngoãn, không bướng thì sao? Thì là không giống bố nó – đơn giản chỉ như vậy -> Vậy trẻ em và người lớn khác nhau về chấy, trẻ em là trẻ em, trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại
-Không nên nói: “Trẻ em là người lớn thu nhỏ lại” bởi “trẻ em có những cách nhìn, cách suy nghĩ và cảm nhận riêng của nó”
+Chẳng hạn như: Những em bé khi còn bồng trên tay mẹ, hoạt động giao lưu cảm xúc trực tiếp với người lớn phát triển mạnh, đặc biệt là đối với mẹ Nếu ngủ dậy không thấy mẹ nó sẻ khóc, đói nó sẽ khóc, buồn ngủ nó cũng khóc, đặc biệt là có nhiều trường hợp đứa bé đó không cho người lạ bế - nếu bế nó cũng khóc
Nguyên nhân do đâu? Vì trẻ em có cách suy nghĩ, cách nhìn và cách cảm nhận riêng của nó mà phần lớn ở giai đoạn này là theo cảm tính Nếu nói “trẻ em là người lớn thu nhỏ lại” thì tại sao đứa bé ở trên lại phải khóc? Nếu là “người lớn thu nhỏ lại” thì đứa bé đó sẽ suy nghĩ và nhận thức được rằng ai là kẻ xấu, người tốt để rồi tránh xa trong những điều kiện nhất định khác nhau Trẻ em cũng có những nhận thức và suy nghĩ nhưng đó không phải là nhận thức, suy nghĩ lí tính
mà phần lớn do cảm tính xây dựng thành Từ đó có thể thấy được rằng: “Trẻ em vận động và phát triển theo quy luật của trẻ em”, không thể lấy người lớn làm “thước đo” mọi thứ cho trẻ em được,
-Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại mà đứa trẻ là một con người sẽ dần dần trở thành một người lớn Mà đặc trưng của nó chính là sự trưởng thành, sự tăng trưởng Tăng trưởng ở đây chính là sự khác nhau về chiều cao, cân nặng,… sự tiến bộ không ngừng của đứa trẻ sẻ chuyển
Trang 9biến từ những phản ứng đơn giản thành những hoạt động phức tạp hơn, hợp lí hơn Mọi kinh nghiệm, mọi cái hiểu biết mới và thu nhập được không chỉ đơn thuần bổ sung vào cái đã có mà còn làm cho chúng thay đổi
+Khi trẻ tập nói (từ 1 đến 3 tuổi), nó sẽ “bắc chước” lời nói của những người ở xung quanh nó Nếu trong giai đoạn tập nói mà không cho trẻ tiếp xúc với lời nói thì hệ thống ngôn ngữ sẻ không xuất hiện ->Khẳng định: “không nên nói trẻ em là người lớn thu nhỏ lại”
1.3.Phát triển tâm lý
1.3.1.Phát triển tâm lý là:
-Quá trình tích lũy kinh nghiệm xã hội loại người
-Việc sử dụng kinh nghiệm đã có thể giải quyết những vấn đề của cuộc sống (quan hệ, áo quần, học tập,…)
-Từ những tích lũy đó tạo nên những phẩm chất cần thiết cho con người
1.3.2.Một số quan niệm về sự phát triểm tâm lý
-Thuyết tiền định:
+Thuyết này cho rằng: Tâm lý con người là do bẩm sinh, do tiềm năng sinh vật gây ra có sẵn trong cấu trúc sinh vật, do cơ chế di truyền qua gen quyết định
+Yếu tố bẩm sinh chỉ là tiền đề vật chất cho sự phát triển tâm lý con người, chúng không hoàn toàn định sẵn từ trước Cũng cùng chung một tiền đề vật chất như nhau nhưng do sự tác động của giáo dục khác nhau, sự rèn luyện và mức độ tích cực hoạt động khác nhau của con người sẽ dẫn đến sự khác nhau về tâm lí
+Ví dụ: Một cặp sinh đôi, hoàn toàn giống nhau, cặp sinh đôi đó được đào tạo trong một môi trường giáo dục, rèn luyện giống như nhau nhưng giữa chúng sẻ có những khả năng và năng lực khác nhau (được đánh giá bằng những mức độ tích cực trong các hoạt động giữa chúng là khác nhau)
-Thuyết hoàn cảnh:
+Thuyết này cho rằng: môi trường là nhân tố quyết định sự phát triển tâm lý con người Môi trường và giáo dục chế ước đầy đủ tuyệt đối sự phát triển về tâm lý
+Theo Mác – Leenin: Hoàn cảnh có vai trò nhất định tác động đối với sự phát triển tâm lý, nhưng con người không phụ thuộc vào hoàn cảnh Hoạt động con người là hoạt động cải tạo, sáng tạo thế giới và cải tạo chính bản thân con người Vì chỉ có con người mới là chủ thể nhất định để khẳng định tính sáng tạo và vai trò của mình trong mọi hoạt động
+Ví dụ: Do sự mâu thuẫn giữa LLSX và mối QHSX đã dẫn đến sự mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị lỗi thời và giai cấp cách mạng từ đó khiến cho cuộc sống của quần chúng nhân dân gặp nhiều khó khăn, đói nghèo, mất mát… dẫn đến tâm lý quần chúng nhân dân bị thay đổi Chính từ
sự đau khổ, mất mát đó đã dẫn đến sự đấu tranh giai cấp và cách mạng XH đã xảy ra Hoàn cảnh tác động một cách nhất định đối với tâm lý, nhưng con người mới là chủ thể có vai trò sáng tạo
và cải tạo, ý thức con người chuyển từ tự phát lên tự giác Con người biết tận dụng thời cơ một cách sáng tạo để tiến hành đấu tranh, cải tạo lại thế giới
-Thuyết hội tụ hai yếu tố di truyền và môi trường:
+Thuyết này cho rằng: cả hai yếu tố này quyết định tâm lý con người
++Di truyền là yếu tố quyết định
++Môi trường là điều kiện biến những đặc điểm tâm lý đã được định sẵn trong gen thành hiện thực
-Sai lầm của cả 3 thuyết là
+Thừa nhận tâm lý người được định sẵn do tiềm năng sinh vật di truyền hoặc do ảnh hưởng của môi trường bất biến
Trang 10+Đánh giá thấp vai trò giáo dục, xem nhẹ nhân tố xã hội, lịch sử
+Phủ nhận vai trò tích cực của con người đối với tư cách là một chủ thể, coi trẻ em như một thực thể tự nhiên thụ động
-Thuyết khoa học:
+Bẩm sinh di truyền là yếu tố tiền đề của sự phát triển tâm lí
+Hoàn cảnh sống có vai trò quan trọn, hoàn cảnh xã hội, nền văn hóa xã hội quyết định gián tiếp đến sự phát triển tâm lý con người, trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo
+Tính tích cực hoạt động của cá nhân là nhân tố quyết định trực tiếp sự phát triển tâm lý con người
1.3.3.Sưu tầm các câu tục ngữ và ca dao để chứng minh cho các học thuyết sai lầm của tâm
lý trẻ em
-Di truyền:
“Trứng rồng lại nở ra rồng
Liu điu lại nở ra dòng liu điu”
-Hoàn cảnh:
“Con vua thì được làm vua
Con sải ở chùa thì quét lá đa”
“Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”
“Ở bầu thì tròn ở ống thì dài”
1.3.4.Điều kiện để phát triển tâm lý
-Điều kiện thể chất: Đặc điểm cơ thể, đặc điểm các giác quan, hệ thần kinh… được coi là tiền đề vật chất, tạo điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn cho sự phát triển tâm lý (ví dụ: người bệnh tâm thần -> điều kiện không thuận lợi, nghệ sĩ, ca sĩ -> điều kiện thuận lợi nhờ vào tài năng)
-Điều kiện sống: Điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế, môi trường xã hội (quan hệ xã hội, pháp luật, đạo đức…) gián tiếp tác động đến sự phát triển tâm lý của con người (ví dụ: khả năng rèn luyện, giáo dục, lĩnh hộ thế giới, khả năng ý thức tự phát và tự giác khác nhau giữa mỗi người) -Tính tích cực của con người là nhân tố quyết định trực tiếp đến sự phát triển tâm lý (ví dụ: sống trong môi trường khó khăn, đói nghèo nhưng con người sống tích cực sẽ khác rất nhiều với một môi trường nhưng người khác lại sống tha hóa, ích kỉ,… dẫn tới sự khác nhau về sự phát triển tâm lý)
->Giáo dục hình thành nhân cách, cải tạo điều kiện sống, phát triển tâm lý một cách bền vững và đầy đủ
1.3.5.Động lực phát triển tâm lý
-Động lực của sự phát triển tâm lý là sự nảy sinh các mâu thuẫn và giải quyết các mâu thuẫn đó ->Con người luôn luôn tìm cách giải quyết các mâu thuẫn ở bên trong mình
Chương II.Đặc điểm tâm lý học sinh THCS
2.1.Thiếu niên không còn là trẻ em nhưng chưa phải là người lớn
2.1.1.Thiếu niên chưa phải là người lớn (thiếu niên có những đặc điểm của trẻ em)
-Đặc điểm về giải phẩu sinh lý:
+Cơ thể thiếu niên thiếu cân đối và chưa hoàn thiện
+Ở thiếu niên thường bộc lộ sự vụng về, lóng ngóng, không khéo léo, thiếu thận trọng khi làm việc, hay làm đỗ vỡ các đồ vật… khi có sự quan sát của người lớn, nhận xét, đánh giá các em thường khóc và “đỗ lỗi” cho “những vật xung quanh” tác động
+Thể tích tim tăng nhanh nhưng không cân đối như ở người lớn