+ Trong truyện ngắn Hai đứa trẻ Thạch Lam thể hiện cái nhìn xót thương cho cuộc đời số phận quẩn quanh, tối tăm và bế tắc của những người dân nơi phố huyện nghèo – những con người không[r]
Trang 1HAI ĐỨA TRẺ- CHÍ PHÈO THẠCH LAM-NAM CAO Các đề liên hệ, so sánh xung quanh:
ĐỀ 1 : Anh/ chị hãy phân tích chi tiết tiếng sáo trong đêm tình mùa xuân ở Hồng
Ngài (trích Vợ chồng A phủ – Tô Hoài), từ đó liên hệ với chi tiết bát cháo hành của Thị Nở mang cho Chí Phèo ( trích Chí Phèo– Nam Cao) để làm rõ vai trò của chi
tiết nghệ thuật trong truyện ngắn
Dàn ý đáp án
a MB: Giới thiệu khái quát về 2 tác giả, 2 tác phẩm, 2 chi tiết nghệ thuật. 0,25
b TB:
* Giải thích:
– Chi tiết nghệ thuật chính là “các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa
lớn về cảm xúc và tư tưởng” (Từ điển thuật ngữ văn học) trong tác phẩm
văn học Chi tiết nghệ thuật được biểu hiện phong phú, có thể là một nét
chân dung nhân vật, một hành vi lời nói, một biểu hiện cử chỉ, phản ứng
nội tâm, một nét phong cảnh, môi trường, một biểu hiện sinh hoạt, một
khâu quan hệ nào đó trong đời sống của nhân vật…
– Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Đặc điểm của truyện ngắn phải
ngắn gọn, cô đúc, kiệm lời, dung lượng nhỏ nhưng sức chứa lớn Các chi
tiết được lựa chọn đưa vào truyện ngắn phải độc đáo, giàu ý nghĩa nghệ
thuật
+ Chi tiết tiếng sáo trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ là một nét vẽ rất
thực về cảnh Tây Bắc, trực tiếp đưa người đọc vào không khí náo nức, rộn
ràng, khơi gợi nhiều khát khao của con người những đêm tình mùa xuân
+ Chi tiết bát cháo hành trong truyện ngắn Chí phèo là biểu hiện tình người
ấm nóng nơi làng Vũ Đại khô khát yêu thương, khơi dậy tình thương trong
con người
→Trong tác phẩm văn học, chi tiết đóng vai trò quan trọng góp phần làm
nên nét độc đáo trong nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của tác
phẩm
0,5
* Phân tích :
* Chi tiết tiếng sáo trong đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài.
– Hình tượng tiếng sáo nằm ở phần giữa tác phẩm, đó là những thanh âm
của tiếng sáo vùng núi cao Tây Bắc trong đêm tình mùa xuân Sau những
chuỗi ngày sống chỉ mang ý nghĩa của sự tồn tại, tê liệt, chai lì cái nồng
1,5
Trang 2nàn của lửa, của men rượu, cái tươi vui rộn rã của mùa xuân Hồng Ngài đã
đánh thức tâm hồn Mị, tiếng sáo đã vọng đến đôi tai Mị Tiếng sáo được
miêu tả từ xa đến gần, với những cung bậc khác nhau: khi tiếng sáo lấp ló
ngoài đầu núi, tiếng sáo văng vẳng gọi bạn đầu làng, tiếng sáo lửng lơ
bay ngoài đường, trong đầu Mị , rập rờn tiếng sáo, tiếng sáo đưa Mị đi
theo những cuộc chơi
+ Trước hết, đây là chi tiết có ý nghĩa tả thực về nét đẹp văn hóa của miền
núi cao Tây Bắc
∟Tiếng sáo vang lên với những cung bậc khác nhau, khi xa khi gần, khi
trầm bổng khoan thai, khi rập rờn, khi lấp ló…
∟Âm thanh tiếng sáo vang lên những ca từ mộc mạc thể hiện lẽ sống hồn
nhiên, yêu đời, phóng khoáng của những con người nơi đây
→ Tiếng sáo mang đến chất thơ, làm dịu mát cuộc sống trăm đắng ngàn
cay với nỗi đời cơ cực của con người nơi đây, khiến mảnh đất Tây Bắc vốn
xa lạ, hoang vu trở nên gần gũi, thơ mộng
+ Không dừng lại ở ý nghĩa tả thực, chi tiết tiếng sáo góp phần diễn tả vẻ
đẹp tâm hồn Mị trong đêm tình mùa xuân
∟Tiếng sáo lay thức tâm hồn Mị, khiến lòng Mị thiết tha, bổi hồi, nhẩm
thầm bài hát của người đang thổi và những kí ức đẹp đẽ nồng nàn của
người con gái đã trở về
∟Tiếng sáo đã làm bừng lên khát vọng sống, Mị ý thức hiện tại mình vẫn
còn trẻ, Mị ý thức về quyền hạnh phúc
∟Tiếng sáo khiến Mị quên đi thực tại khổ đau: khi Mị định ăn lá ngón để
chết ngay chứ không muốn nghĩ về ngày trước nữa thì tiếng sáo lửng lơ
ngoài đường lại đưa Mị trở về với niềm khát sống, khi bị trói đứng cả đêm,
tâm hồn Mị vẫn bay bổng cùng tiếng sáo, tiếng sáo đưa Mị theo những
cuộc chơi
→Tiếng sáo trở thành biểu tượng đẹp đẽ cho khát vọng tự do, khát vọng
sống, khát vọng tình yêu trong tâm hồn Mị Chi tiết tiếng sáo trong đêm
tình mùa xuân đã góp phần thể hiện tư tưởng, thái độ của nhà văn và thành
công của ngòi bút Tô Hoài Đó là tấm lòng nâng niu trân trọng của nhà văn
đối với nét đẹp văn hóa của và vẻ đẹp tâm hồn con người Tây Bắc Chi tiết
giàu chất thơ, lai láng dư vị trữ tình có sức sống lâu bền trong tâm hồn
người đọc
* Chi tiết bát cháo hành khi Thị Nở mang cho Chí Phèo
– Bát cháo hành xuất hiện ở gần cuối thiên truyện Khi Chí Phèo uống rượu
nhà Tự Lãng đã không về túp lều của mình mà ra thẳng bờ sông Ở đó, Chí
bắt gặp Thị Nở – người đàn bà ngớ ngẩn, xấu ma chê quỷ hờn, đi kín nước
nhưng ngủ quên ở bờ sông Khung cảnh hữu tình cùng với hơi men của
1,0
Trang 3rượu đã đưa đến mối tình Chí Phèo – Thị Nở Sau đêm đó, Chí bị cảm, Thị
Nở thương tình, sau một đêm trằn trọc suy nghĩ, Thị chạy đi tìm gạo và nấu
cháo hành mang sang cho Chí
+ Bát cháo hành – biểu tượng của tình người rất thật, rất hồn nhiên, vô tư,
không vụ lợi mà Thị Nở dành cho Chí
+ Bát cháo hành – vị thuốc giải cảm cho Chí Ăn bát cháo hành hơi nóng
nghi ngút đã làm cho Chí “vã mồ hôi ra như tắm” Bát cháo tưởng vặt vãnh
đã trở thành liều thuốc giải cảm hữu hiệu cho Chí
+ Bát cháo hành – vị thuốc giải độc cho cuộc đời Chí Không chỉ giải cảm,
bát cháo hành – tình người duy nhất đã gợi thức phần lương tri ngủ quên
trong lốt “con quỷ dữ Chí Phèo” Từ ăn năn, hối hận, Chí bỗng thấy thèm
lương thiện, thèm trở về cuộc sống ngày trước Bát cháo hành đã dẫn
đường cho hi vọng hoàn lương
+ Bát cháo hành cũng chính là chi tiết đẩy bi kịch của Chí lên tới đỉnh
điểm, dẫn tới một kết thúc thảm thương đầy đau đớn
→Bát cháo hành – một chi tiết nghệ thuật mang đầy dụng công của Nam
Cao Nó góp phần thể hiện tư tưởng nghệ thuật của nhà văn: Điều mà
chúng ta thiếu đó chính là lòng tốt – một lòng tốt rất bình thường cũng có
thể cứu rỗi con người Và kết cục của Chí Phèo thể hiện một niềm tin của
nhà văn: dẫu có bị bầm dập về nhân hình lẫn nhân tính, lương thiện trong
con người đặc biệt là những người nông dân cũng không mất đi, nó chỉ cần
đợi có cơ hội là sẽ bùng lên mạnh mẽ Qua chi tiết nó cũng cho ta thấy một
hiện thực mà nhà văn đau đáu: đó là những định kiến làng xã nông thôn đã
tước đi quyền được sống của con người… Qua đó nhà văn cũng gióng lên
một hồi chuông khẩn thiết đòi thay máu cho xã hội để ít nhất con người
được sống lương thiện
* Đánh giá chung:
Như vậy, việc lựa chọn chi tiết “đắt giá” đưa vào truyện ngắn không chỉ
thể hiện tài quan sát, tài vận dụng đồng thời còn là quan niệm nghệ thuật
của nhà văn về con người, về cuộc sống Chính vì thế có ý kiến cho
rằng Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn.
0,5
c KB: Khẳng định lại vai trò của chi tiết nghệ thuật làm nên sức lâu bền
của tác phẩm và sự thành công của nhà văn
ĐỀ 2 : Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Mị trong đêm cứu A Phủ (Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài, Ngữ văn 12 – Tập 2,NXB GD Việt Nam 2016) Từ đó, liên hệ với tâm trạng của hai chị em Liên trong cảnh đợi tàu (Hai đứa trẻ –Thạch Lam, Ngữ
Trang 4văn 11 tập 1, NXB GD Việt Nam 2016) để nhận xét về cách nhìn và tình cảm của
nhà văn đối với người lao động trong xã hội cũ./
Dàn ý đáp án
* Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm, đoạn trích 0.25
* Cảm nhận nhân vật Mị trong đêm cởi trói cho A Phủ:
– Nội dung:
+ Lúc đầu : Khi nhìn thấy A Phủ bị trói Mị vẫn thờ ơ, lạnh lùng, vô cảm, vẫn
“thản nhiên thổi lửa, hơ tay” vì cảnh trói người ở nhà thống lí Pá Tra đã quá
quen thuộc và chính Mị cũng từng bị trói như thế Hay vì ở lâu trong cái khổ
tâm hồn Mị đã trở nên chai sạn, vô cảm trước nỗi đau của người khác cho
nên “ Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi”
+ Sau đó : Mị nhìn thấy “ dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã
xám đen lại của A phủ.:
++ Lòng Mị chợt bồi hồi nhớ lại cảnh mình cũng bị A Sử trói đứng thế kia,
có nhiều lần khóc nước mắt rơi xuống miệng, xuống cổ không lau đi được
Mị chợt nhận ra người ấy giống mình về cảnh ngộ, mà những người cùng
cảnh ngộ rất dễ cảm thông cho nhau
++ Mị nhớ lại những chuyện thật khủng khiếp lúc trước kia, “chúng nó bắt
trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở trong cái nhà này” Lý trí giúp
Mị nhận ra “Chúng nó thật độc ác” Việc trói người đến chết còn ác hơn cả
thú dữ trong rừng
++ Nhớ đến những chuyện ngày trước, trở về với hiện tại, Mị đau khổ cay
đắng cho thân phận của mình: “Ta là thân đàn bà chúng nó đẵ bắt ta về trình
ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết chờ ngày rũ xương ở đây thôi” Nghĩ về mình,
Mị lại nghĩ đến A Phủ “có chừng này, chỉ đêm nay thôi là người kia chết,
chết đau, chết đói, chết rét, phải chết Người kia việc gì mà phải chết như
thế A Phủ… Mị phảng phất nghĩ như vậy”
++ Trong đầu Mị bỗng nhiên nghĩ đến cảnh A Phủ bỏ trốn và chính Mị sẽ là
người chết thay cho A Phủ trên cái cột tưởng tượng đó
-> Từ thương mình chuyển sang thương người, hình thành sợi dây đồng cảm
Mị đã cắt dây cởi trói cho A Phủ
++ Sau khi cắt dây cởi trói cho A Phủ, Mị thì thào lên một tiếng “đi ngay”
rồi Mị nghẹn lại A Phủ vùng chạy đi, còn Mị vẫn đứng lặng trong bóng tối
Thế là cuối cùng sức sống tiềm tàng đã thôi thúc Mị phải sống và Mị vụt
chạy theo A Phủ Trời tối lắm nhưng Mị vẫn băng đi Thế là Mị và A Phủ
dìu nhau chạy xuống dốc núi
=> Có thể nói tình thương, sự đồng cảm giai cấp và niềm khát khao tự do,
2.0
Trang 5sức sống mãnh liệt đã thôi thúc Mị cắt dây cởi trói cho A phủ Hành động ấy
bất ngờ nhưng tất yếu mang tính logic của một sức sống đã được hồi sinh
mãnh liệt Mị cởi trói cho A Phủ cũng chính là tự cởi trói cho chính mình
– Nghệ thuật:
+ Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo
+ Cách trần thuật uyển chuyển, linh hoạt, ngắn gọn; dẫn dắt tình tiết khéo
léo
+ Ngôn ngữ sinh động, chọn lọc và sáng tạo…
* Liên hệ với tâm trạng của hai chị em Liên trong cảnh đợi tàu:
– Liên chờ tàu không phải để bán hàng cũng không phải sự hiếu kì mà là nhu
cầu tinh thần hàng đêm Bởi vậy, An mặc dù đã buồn ngủ díu cả mắt vẫn cố
dặn chị “tàu đến chị đánh thức em dậy nhé” ” Hai chị em Liên chời đợi tàu
trong tâm trạng háo hức, bồi hồi bởi đó là chuyến tàu từ Hà Nội về – gợi
những kí ức về cuộc sống tươi đẹp trong quá khứ; chuyến tàu giúp Liên và
An được cảm nhận cuộc sống dù là trong một giây lát
– Đoàn tàu đến trong sự mong chờ của chị em Liên Liên và An hướng cả
tâm hồn mình vào đoàn tàu khi còn ở xa “tiếng còi đã rít lên và tàu rầm rộ
đi tới với những toa hạng sang, mạ kền và mạ đồng lấp lánh, các cửa kính
sáng ” Con tàu đã đem đến một thế giới khác đi qua, một thế giới rực rỡ, vui
vẻ, huyên náo- một thế giới khác hẳn với sự nghèo khôt hàng ngày
– Đoàn tàu chỉ xuất hiện trong một khoảnh khắc rất ngắn rồi vụt qua đi vào
đêm tối Ta bắt gặp phía sau đoàn tàu một nguồn ánh sáng nhỏ nhoi chỉ chực tan hòa vào bóng tối An nhận ra tàu hôm nay “kém sáng hơn”, nhưng Liên
vẫn “lặng theo mơ tưởng” Đoàn tàu không làm thay đổi cuộc sống nơi phố
huyện nhưng sự xuất hiện của nó đủ để lại niềm khao khát cho những con
người nơi đây “chừng ấy con người…của họ”
– Nghệ thuật:
+ Truyện ngắn Hai đứa trẻ là một truyện không có truyện, không có những
biến cố căng thẳng dồn nén, những xung đột gay gắt, những tình tiết căng
thẳng, thời gian ngắn, nhân vật không nhiều
+ Nghệ thuật phân tích tâm lí của ngòi bút Thạch Lam tạo nên sự thành công
của thiên truyện
+ Thủ pháp nghệ thuật đối lập
* Nhận xét cách nhìn và tình cảm của nhà văn đối với con người:
– Giống nhau:
+ Phản ánh cuôc sống vất vả, tối tăm của người lao động trong xã hội cũ
+ Thể hiện thái độ thương cảm, trân trọng của nhà văn với những ước mơ,
Trang 6niềm khát vọng của con người.
+ Qua đó thể hiện cái nhìn hiện thực và nhân đao sâu sắc của Thạch Lam và
Tô Hoài
– Khác nhau:
+ Trong truyện ngắn Hai đứa trẻ Thạch Lam thể hiện cái nhìn xót thương
cho cuộc đời số phận quẩn quanh, tối tăm và bế tắc của những người dân nơi
phố huyện nghèo – những con người không bao giờ được biết đến ánh sáng
và hạnh phúc, sống mòn mỏi trong nỗi buồn chán và sự vô nghĩa đến ước mơ
cũng chỉ là chờ một chuyến tàu đêm đi qua
+ Trong Vợ chồng A Phủ nhà văn Tô Hoài đã khẳng định bằng sức sống
mãnh liệt những người lao động như Mị và A Phủ đã tự giải phóng mình
khỏi cuộc sống tối tăm để hướng đến cuộc sống và tương lai tốt đẹp đó là
con đường đến với cách mang
-> Đây là nét hiện thưc mới cũng là nhân đạo mới của văn học 1945 – 1975
so với văn học 1930 – 1945
Đề 3: Cảm nhận của anh/chị về sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong tác
phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (Ngữ Văn 12, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam 2016) Từ đó liên hệ với nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻcủa Thạch Lam (Ngữ Văn 11, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam 2016) để nhận xét
quan niệm của hai nhà văn về sức sống của con người.
Dàn ý đáp án
a Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
Mở bài giới thiệu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài khái
b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Cảm nhận về sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng
A Phủ của Tô Hoài Liên hệ với nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ
của Thạch Lam để bàn về sức sống của con người 0,5
c Triển khai vấn đề nghị luận
Vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng
* Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm và sức sống tiềm tàng của nhân
vật Mị.
* Cảm nhận về sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị
Thí sinh có thể cảm nhận theo nhiều cách nhưng cần đảm bảo các nội dung
Trang 7– Khái quát lại cuộc đời Mị từ trước và sau khi về làm dâu trừ nợ nhà thống
lí PáTra
+ Trước khi làm dâu gạt nợ, Mị là một cô gái hầu như tập trung được những
vẻ đẹp tiêu biểu của người phụ nữ miền núi: Mị vừa đẹp người, vừa đẹp nết, cần cù, đảm đang, hiếu thảo, giàu đức hi sinh vị tha, ham sống, yêu đời và rấtmực tài hoa
+ Khi về làm con dâu cho nhà thống li, dưới mấy tầng áp bức của cường quyền, thần quyền, những hủ tục phong kiến nơi miền núi, Mị gần như tê liệt
hết về sức sống, Mị trở thành con người cam phận sống cuộc sống “thân phận con rùa”, “Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong
xó cửa”.
– Sức sống tiềm tàng của Mị
+ Khi mùa xuân đến
Mùa xuân về trên rẻo cao, đặc biệt là đêm tình mùa xuân với tiếng sáo, tiếng khèn của trai làng gọi bạn tình có ý nghĩa như một hoàn cảnh điển hình làm cho sức sống tiềm tàng trong con người Mị trỗi dậy một cách mãnh liệt Ngày Tết, Mị cũng uống rượu Với những tác động của ngoại cảnh và men rượu, Mị đã thoát khỏi tâm trạng dửng dưng bấy lâu để trở thành con người thức tỉnh, vươn tới những ý nghĩ và khát vọng đẹp đẽ Chú ý phân tích diễn
biến tâm lí của Mị trong đêm tình mùa xuân: “Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng” -> lòng Mị đang phơi phới sống về những ngày trước Mị thấy “trong lòng đột nhiên vui sướng… Mị trẻ lắm… Mị muốn đi chơi” -> Ý
thức về bản thân trỗi dậy, Mị phẫn uất mãnh liệt và thấm thía nỗi tủi nhục của mình, Mị muốn chết -> trong khi đó, tiếng sáo, biểu tượng của khát vọng
tự do và tình yêu tuổi trẻ “đang rập rờn” trong đầu Mị -> Mị khêu to ngọn đèn cho sáng như thể khêu ngọn lửa của lòng ham sống, của sự khát khao -> Hành động: “Mị quấn lại tóc, với tay lấy chiếc váy hoa” chuẩn bị đi chơi ngày Tết Nhưng giữa lúc lòng ham sống trong Mị trỗi dậy thì cũng là lúc Mị
bị vùi dập một cách khắc nghiệt, lạnh lùng A Sử, chồng Mị thản nhiên “trói
đứng Mị vào cột nhà” -> “Như không đang biết mình đang sợ bị trói… Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi”, quên mọi đau đớn về
thể xác, “Mị đã vùng dậy bước đi”
+ Khi chứng kiến cảnh A Phủ bị trói
Bên cạnh bếp lửa, nhìn thấy A Phủ bị trói đứng một cách thảm khốc, mấy đêm đầu Mị vẫn thản nhiên vì chuyện đánh người, trói nguời ở nhà Pá Tra xảy ra như cơm bữa Vả chăng, Mị cũng chỉ là một nạn nhân bất lực Nhưng
trông thấy hai hàng nước mắt “lấp lánh” bò xuống hai hõm má đã “xám đen lại của A Phủ”, Mị càng thương mình, càng thương người Tình thương,
Trang 8niềm đồng cảm giữa những con người cùng cảnh ngộ ấy đã lấn át nỗi sợ và
cái chết, nó đã dẫn đến hành động táo bạo: cắt dây trói giải thoát cho A Phủ, cùng nhau trốn khỏi Hồng Ngài
Đây là hành động tuy tự phát nhưng là kết quả của một quá trình, nó minh chứng sức sống tiềm tàng, âm ỉ không ngừng trong con người Mị Nó là một bước ngoặt trong tính cách và cuộc đời Mị
* Liên hệ với nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam để nhận xét quan niệm của hai nhà văn về sức sống của con người.
– Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam là một cô bé nhà nghèo,
sớm phải lo toan vất vả Cuộc sống của Liên và những người dân nơi phố
huyện chìm đắm trong không gian tù túng, ngột ngạt, đơn điệu và đầy bóng tối Vì tuổi thơ từng sống ở Hà Nội nên Liên ý thức rất rõ cuộc sống hiện tại Nhưng bằng tất cả sức sống của một tâm hồn trẻ thơ tươi sáng, Liên đã
không chịu “khuất phục” cái bóng tối dày đặc, ánh mắt em luôn thiết tha
kiếm tìm những nguồn sáng Ánh sáng rực rỡ của con tàu mang hình ảnh
chứa đựng khát vọng về tương lai, đánh thức sức sống mãnh liệt của tâm hồnLiên
– Cả Thạch Lam và Tô Hoài không chỉ phản ánh chân thực cuộc sống nghèo khổ, bế tắc của người lao động trong xã hội cũ mà còn trân trọng và ngợi ca sức sống mãnh liệt trong tâm hồn của con người dù phải sống trong hoàn
cảnh nào Đây chính là chiều sâu nhân đạo của tác phẩm Nhưng Thạch Lam với cảm quan lãng mạn chưa cho phép nhà văn đi xa hơn trong việc tìm thấy con đường giải thoát thực sự cho người lao động Còn Tô Hoài vốn am hiểu phong phú sâu sắc về đời sống của những người nông dân vùng cao và viết
chân thực về cuộc đời của họ Không khí của cuộc cách mạng trên mảnh đất Tây Bắc đã khiến nhà văn phản ánh được sức sống mãnh liệt của họ và quá
trình tự đấu tranh đến với cách mạng để thay đổi cuộc sống của mình
ĐỀ 4: Cảm nhận của anh/ chị về niềm khao khát muốn đi chơi của nhân vật
Mị trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài) Từ đó, liên hệ với niềm mong đợi chuyến tàu đêm đi qua phố huyện của chị em Liên, An (Hai đứa trẻ – Thạch Lam) và nhận xét quan niệm của mỗi nhà văn về cuộc sống
có ý nghĩa.
Dàn ý đáp án
1 Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm)
2 Cảm nhận về niềm khao khát muốn đi chơi của nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân (2,25 điểm)
Trang 9– Giới thiệu sơ lược về đặc điểm con người và số phận đau khổ của Mị trong nhà
– Niềm khao khát được đi chơi là biểu hiện cho sức sống, khao khát tự do, ý thức làm người bấy lâu bị tê liệt nay đã hồi sinh ở Mị
3 Liên hệ với niềm mong đợi chuyến tàu đêm đi qua phố huyện của chị em Liên,
4 Nhận xét quan niệm của mỗi nhà văn về cuộc sống có ý nghĩa (0,5 điểm)
– Với Thạch Lam: Viết về đề tài thị dân nghèo, quan tâm đến mảnh đời nhỏ bé, thương xót cho những kiếp người vô danh nhất là những em bé nên ao ước cuộc sống tốt đẹp, tươi sáng hơn Nhưng nhà văn lãng mạn – dù có cái nhìn gắn với thựctại đời sống – chưa tìm được lối thoát cho nhân vật
– Với Tô Hoài: Viết về đề tài cuộc sống của người lao động trong xã hội cũ nhưng
có cách nhìn, cách lí giải mới gắn với đổi thay trong tư tưởng của nhà văn, vì thế, cuộc sống có ý nghĩa là cuộc sống được tự do, được sống trong niềm vui sống của tuổi trẻ
5 Đánh giá (0,25 điểm)
– Về nhân vật Mị
– Về giá trị nhân đạo của hai tác phẩm
Đề 5: Cảm nhận của anh/chị về giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ nhặt (Kim
Lân) Từ đó, liên hệ đến truyện ngắn Chí Phèo (Nam Cao) và làm rõ sự tương
Trang 10đồng, khác biệt trong tư tưởng nhân đạo của mỗi nhà văn.
Dàn ý
* Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, vấn đề cần nghị luận
– Kim Lân là một trong những cây bút xuất sắc của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại Ông viết nhiều và viết hay về người nông dân và đề tài nông thôn
– Vợ nhặt là một trong những sáng tác tiêu biểu của Kim Lân.
– Giới thiệu vấn đề cần nghị luận (giá trị nhân đạo của truyện ngắn)
* Cảm nhận về giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ nhặt
– Giải thích sơ lược về khái niệm “giá trị nhân đạo”:
+ Nhân đạo: lòng yêu thương con người
+ Giá trị nhân đạo (trong văn chương) được biểu hiện ở: thái độ ngợi ca vẻ đẹp (cả thể chất và tâm hồn) của con người; thấu hiểu, đồng cảm với nỗi đau khổ của con người đồng thời lên án, phê phán các thế lực phi nhân tính chà đạp lên quyền sống của con người; bênh vực con người nhỏ bé…
– Giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ nhặt:
+ Thấu hiểu, đồng cảm, xót xa, đau đớn trước thân phận rẻ rúng và hoàn cảnh éo lecủa con người (anh cu Tràng vì quá nghèo mà không lấy được vợ, thân phận rẻ rúng của người “vợ nhặt”, “đám cưới” ngày đói…), từ đó gián tiếp tố cáo tội ác của bè lũ thực dân – phát xít
+ Ngợi ca tình người (lòng vị tha anh cu Tràng dành cho người vợ nhặt; lòng yêu con của bà cụ Tứ; tấm lòng nhân hậu bà cụ Tứ dành cho người vợ nhặt); ngợi ca khát vọng sống của con người (trong hoàn cảnh cận kề cái chết, con người vẫn vươn lên sự sống, vẫn yêu thương, đùm bọc nhau; tinh thần lạc quan của bà cụ Tứ)
+ Khác biệt:
Vợ nhặt: Kim Lân đặc biệt ngợi ca sức mạnh của tình người.
Chí Phèo: Nam Cao thể hiện niềm tin tưởng mãnh liệt vào nhân tính, vào bản
Trang 11chất lương thiện của người nông dân.
Làm phong phú hơn cho giá trị nhân đạo của văn học Việt Nam
* Lý giải sự tương đồng, khác biệt: do hoàn cảnh sáng tác, khuynh hướng sáng tác
và cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn
ĐỀ 6: Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Tràng khi gặp thị và quyết định đưa thị
về làm vợ (Vợ nhặt- Kim Lân) Từ đó liên hệ với nhân vật Chí Phèo khi gặp thị Nở (Chí Phèo – Nam Cao) để thấy được ước mơ tốt đẹp của người nông dân nghèo trong tác phẩm văn học.
– Ngoại hình: Tràng có ngoại hình xấu xí và thô kệch, là một người nông dân bình
dị, nghèo khổ lại xấu xí Trong nạn đói khủng khiếp Tràng lại lấy được vợ mà nói cho chính xác hơn thì Tràng “nhặt được vợ”
– Hạnh phúc đến quá tình cờ khiến Tràng choáng váng “Mới đầu anh chàng cũng
chợn” nhưng ngay sau đó lại “tặc lưỡi một cái: – Chật, kệ!” Tấm lòng thương
người và sâu xa bên trong là niềm khao khát hạnh phúc, đã khiến Tràng dám liều lĩnh thách thức với cái đói (dẫn người đàn bà về nhà, mua dầu thắp…)
– Kim Lân đã diễn tả rất hay tâm lí của Tràng trước cái hạnh phúc tình cờ nhặt được
+ Đoạn văn miêu tả cảnh Tràng đưa vợ về nhà đã thể hiện chân thực tâm trạng của một anh chàng dở hơi mà bỗng nhiên có vợ Niềm hạnh phúc bộc lỗ rõ nét mặt và
cử chỉ của nhân vật: “Mặt hắn có một vẻ gì phớn phở khác thường Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”; thấy bọn trẻ con chạy ra đón, “Tràng vội vàng nghiêm nét mặt, lắc đầu ra hiệu không bằng lòng” vì sợ
chúng đùa dai như mọi khi; biết mọi người trong xóm đang chăm chú nhìn mình,
hắn thích ý và “cái mặt cứ vênh lên tự đắc với mình”; lúc chỉ có hai người trên quãng đường vắng, “hắn định nói với thị một câu rõ tình tứ mà chẳng biết nói thế nào Hắn cứ lúng ta lúng túng, tay nọ xoa xoa vào vai kia đi bên bạnh người đàn bà” Vì e thẹn, ngượng nghịu, nên cuộc đối thoại giữa Tràng và người đàn bà thật
rời rạc, toàn những lời nhát gừng, cộc lốc Hạnh phúc đến quá bất ngờ, đến nỗi hai
Trang 12người đi bên nhau mà vẫn chưa kịp hết xa lạ với nhau Xúc động nhất là đoạn văn
miêu tả trực tiếp những cảm giác trong lòng Tràng: “Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, nên cả những tháng ngày trước mặt Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy Nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng” Cái cảm giác mà Tràng không biết
gọi là gì ấy, chính là hạnh phúc
+ Cho đến sáng hôm sau, lúc hai người đã thực sự là vợ chồng rồi, Tràng vẫn còn
ngỡ ngàng: “Trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngơ ngàng như không phải”.
+ Sức mạnh kì diệu của hạnh phúc đã làm thay đổi hẳn con người Tràng Không còn cái dáng đi “từng bước mệt mỏi” bây giờ đã cái dáng đi đàng hoàng và tỉnh
táo: “Hắn chắp hai tay sau lừng lững thững bước ra sân”,và sau đó lại cái
dáng “xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại ngôi nhà” Sự thay đổi của dáng vẻ bên ngoài nói lên sự thay đổi lớn lao
của tâm hồn Nhìn cảnh người mẹ đang dọn vườn, người vợ đang quét sân, Tràng
vô cùng xúc động “Cảnh tượng ấy thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại rất thấm thía cảm động Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng Hắn đã có một gia đình Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng Một nguồn vui sướng phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn
có bổn phận lo lắng cho vợ con sau này” Người đàn ông dở hơi ấy đến lú này đã trở nên tỉnh táo “nên người”, có ý thức sâu sắc về tình cảm và trách nhiệm gia
đình, đồng thời cũng biết nghĩ đến tương lai
* Liên hệ với nhân vật Chí Phèo khi gặp thị Nở (Chí Phèo – Nam Cao) để thấy được ước mơ tốt đẹp của người nông dân nghèo trong tác phẩm văn học.
– Giống nhau: Cả hai nhận vật Tràng và Chí Phèo đều là những người nông dân
nghèo, có ước mơ bình dị và khát vọng tốt đẹp ở tương lai
+ Tràng: Niềm khát khao tổ ấm gia đình, cũng là khát khao hạnh phúc của nhân vậtTràng là khát khao mãnh liệt dẫu rất thô sơ, chất phác, hồn nhiên Khát vọng đó đã vượt qua cả những nỗi lo âu, sợ hãi và toan tính trước nạn đói và trước cái chết.+ Chí Phèo: Cứ tưởng Chí Phèo sống mãi kiếp thú vật rồi kết thúc cuộc đời bằng cách vùi xác tại một bờ bụi nào đó Nhưng không, một bước ngoặt lớn đã diễn ra trong cuộc đời Chí Kể từ khi gặp thị Nở, Chí Phèo đã thức tỉnh Đầu tiên là tỉnh
Trang 13rượu rồi mới đến tỉnh ngộ Sau đó là niềm hy vọng : Ước mơ lương thiện trở về, Chí thấy thèm lương thiện và muốn làm hòa với mọi người… Chí đặt hy vọng lớn
vào thị Nở: “thị Nở sẽ mở đường cho hắn Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lại không thể được… Họ sẽ lại nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện” Chí hình dung về tương lai tươi đẹp khi
chung sống cùng với thị Nở Rồi Chí ngỏ lời với thị
– Khác nhau :
+ Cuộc đời của Tràng tiêu biểu cho số phận của người dân nghèo trước cách mạng tháng Tám Khi chưa có nạn đói thì nghèo đến nỗi không lấy nổi vợ, trong nạn đói lại lấy vợ, niềm hạnh phúc đan xen với bất hạnh
+ Chí Phèo điển hình cho tầng lớp nông dân bị bần cùng hóa, lưu manh hóa không
có lối thoát trong xã hội cũ, cho số phận bi thảm của những con người khổ nghèo, tăm tối dưới ách áp bức bóc lột tàn bạo, xảo quyệt của giai cấp thống trị ở nước ta trước Cách mạng tháng Tám
* Ước mơ tốt đẹp của người nông dân nghèo trong tác phẩm văn học.
Sự sâu sắc của các tác giả khi thể hiện niềm khát khao hạnh phúc của người nông dân khốn khổ là ở chỗ nhá văn đã cho ta thấy: người dân lao động, dẫu đứng trước cái chết hay rơi vào bi kịch vẫn luôn nghĩ tới cuộc sống và họ không ngừng tìm kiếm hạnh phúc Đó là giá trị nhân bản sâu sắc nhất của tác phậm văn học
ĐỀ 7: Cảm nhận của anh/ chị về hai chi tiết “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá Tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá.Tiếng của mấy người đàn bà đi chợ về”(Chí Phèo – Nam Cao) với ” Tiếng sáo vọng về tha thiết nồi hồi” (Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài)
Dàn ý
1 Về chi tiết “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá Tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá.Tiếng của mấy người đàn bà đi chợ về” (Chí Phèo – Nam Cao)
Trang 14+ Tiếng sáo xuất hiện nhiều lần.
+ Mị lấy hũ rượu uốc ừng ực từng bát một Cô uống như dồn nén uất hận, như quên đi thực tại
+ Mị xắn mỡ bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng Mị quấn lại tóc Mị với tay lấy váy hoa…
– Về nghệ thuật:
+ Là một trong những chi tiết góp phần làm thay đổi trạng thái tâm lý của nhân vật.+ L ảnh thiên nhiên hiện ra với những nét phong tục sinh hoạt rất riêng, đọc đáo, góp phần bộc lộ chủ đề tư tưởng của tác phẩm
3 So sánh:
– Sự tương đồng
+ Đó là những âm thanh hết sức kì lạ, nó len lỏi vào tận sâu tâm hồn vốn tưởng như đã chết của nhân vật để khơi dậy trong họ niềm ham sống và khát khao sống mãnh liệt
+ Là những chi tiết góp phần tô đậm giá trị nhân đạo cho 2 tác phẩm
– Sự khác biệt
+ Ở tác phẩm CP là những âm thanh quen thuộc của cuộc sống xung quanh, âm thanh ấy hôm nào cũng có Nhưng hôm nay Chí mới nghe thấy vì chỉ đến hôm hay Chí mới hoàn toàn tỉnh táo, các giác quan mới trở lại hoạt động bình thường
+ Chi tiết trong VCAP là tác nhân quan trọng nhất đã giúp cho Mị từ 1 con người
tê dại, vô cảm về tâm hồn giờ đã muốn đi chơi Nghĩa là muốn phá phách, muốn nổi loạn, để quên đi thực tại phũ phàng, nghiệt ngã, quay về với những tháng năm xưa êm đềm, hạnh phúc của tuổi trẻ và tình yêu
Trang 15– Lí giải sự khác nhau:
+ Do phong cách sáng tác của nhà văn
+ Do văn chương luôn đòi hỏi sự sáng tạo, khám phá điều mới mẻ
ĐỀ 8 : Cảm nhận của anh/chị về hai hình ảnh cái lò gạch cũ trong truyện ngắn Chí
Phèo (Nam Cao, theo Ngữ văn 11, tập một) và rừng xà nu trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nguyễn Trung Thành (theo Ngữ văn 12, tập hai) ?
– Cả hai hình ảnh đều tạo nên kết cấu đặc sắc đầu cuối tương xứng
– Cả hai đều được hiểu theo hai nghĩa, tả thực và ẩn dụ tượng trưng
– Cả hai đều rất ấn tượng, ám ảnh, là dụng ý nghệ thuật của nhà văn, có ý nghĩa sâu sắc, góp phần thể hiện nội dung tư tưởng chủ đề tác phẩm
2.2 Khác nhau
1 Hình ảnh cái lò gạch cũ
* Nghĩa tả thực : Cái lò nung gạch đã cũ, không còn sử dụng, bỏ không, trước đây
xuất hiện nhiều ở những vùng quê
* Nghĩa ẩn dụ tượng trưng :
+ Hình ảnh cái lò gạch cũ xuất hiện ở phần đầu tác phẩm khi một anh đi thả ống lươn nhặt được Chí Phèo trần truồng và xám ngắt trong một cái váy đụp để bên cái lò gạch bỏ không và xuất hiện ở phần cuối tác phẩm khi Chí Phèo chết, thị
Nở nhớ lại những lúc ăn nằm với hắn… rồi nhìn nhanh xuống bụng và đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người lại qua… ẩn dụ cho cái vòng luẩn quẩn của những kiếp Chí Phèo Chí Phèo bố chết đi
rất có thể sẽ lại có một Chí Phèo con ra đời và cuộc đời, số phận của nó cũng sẽ giống như bố nó, cũng sẽ lại rơi vào con đường lưu manh tha hoá… Từ đó, tác giả muốn khẳng định : Chí Phèo không phải là hiện tượng cá biệt mà đây là hiện tượng
có tính phổ biến, qui luật trong xã hội cũ Khi nào còn tồn tại chế độ áp bức bóc lộtcủa thực dân phong kiến thì khi đó còn tồn tại những kiếp Chí Phèo
+ Hình ảnh thể hiện cái nhìn bi quan, bế tắc của Nam Cao đối với số phận người nông dân
à Hình ảnh cái lò gạch cũ tập trung thể hiện giá trị hiện thực tố cáo của tác phẩm vàbộc lộ hạn chế của Nam Cao
Trang 16Hình ảnh rừng xà nu
* Ý nghĩa tả thực :
+ Đoạn văn mở đầu tác phẩm giới thiệu với người đọc gần như đầy đủ các thông tin về một loài cây ở Tây Nguyên, đó là cây xà nu :
– Hình dáng : Khi còn nhỏ hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời ; khi đã trưởng
thành cành lá sum sê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ
– Đặc điểm : Sinh trưởng rất khoẻ, một cây ngã xuống có bốn năm cây con mọc
lên để thay thế (cấp số nhân) ; ưa ánh sáng mặt trời đến kì lạ, phóng lên rất nhanh
để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp ; có nhựa, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn.
+ Rải rác trong suốt tác phẩm, hình tượng cây xà nu trở đi trở lại với ý nghĩa tả thực tác dụng của nó đối với đời sống con người : Gỗ xà nu làm củi ở mỗi bếp ; khói xà nu làm đen bảng để trẻ con học chữ ; nhựa xà nu làm đuốc để thắp sáng…
à Cây xà nu gắn bó thân thiết với đời sống dân làng Xô Man
* Ý nghĩa ẩn dụ tượng trưng :
+ Rừng xà nu như một nhân vật tham gia vào kết cấu câu truyện :
– Mở đầu tác phẩm là đoạn văn miêu tả rừng xà nu trong bom đạn của kẻ thù Kết
thúc đoạn văn là hình ảnh : Những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời.
– Kết thúc tác phẩm là hình ảnh : Những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời.
à Như vậy, rừng xà nu tạo nên kết cấu vòng tròn đầu cuối tương xứng Đây cũng là
lí do giải thích vì sao tác phẩm có tên là Rừng xà nu.
+ Rừng xà nu như một nhân vật tham gia, chứng kiến những sự kiện có ý nghĩa trọng đại của dân làng Xô Man :
– Đêm đêm người dân Xô Man thức mài vũ khí dưới ánh lửa xà nu Hoạt động nàyđánh dấu giai đoạn chuẩn bị nổi dậy
– Giặc đốt mười đầu ngón tay của Tnú bằng nhựa xà nu Hành động này làm bùng lên ngọn lửa căm thù của dân làng Xô Man vốn âm ỉ đã từ lâu, đánh dấu giai
đoạn mình phải cầm giáo (vũ khí) như cách nói của cụ Mết.
– Xác mười tên giặc nằm ngổn ngang quanh đống lửa xà nu Đó là chiến công đầu
tiên của dân làng Xô Man khi đã cầm giáo, đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử đấu
tranh vũ trang của người dân Tây Nguyên
– Dân làng tập trung đông đủ quanh đống lửa xà nu để nghe cụ Mết kể về cuộc đời Tnú Xà nu như chứng kiến ngày vui của cả cộng đồng và một tương lai đầy hứa hẹn đang mở ra trước mắt người dân Tây Nguyên
+ Rừng xà nu được miêu tả bằng bút pháp nhân hoá và luôn trong thế đối sánh với con người :
– Rừng xà nu được nhân hoá ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho
làng Rừng xà nu lúc này đúng là người anh hùng của Tây Nguyên, là một nhân vật
trong câu truyện
Trang 17– Nhiều lần trong tác phẩm, xà nu được đặt trong thế đối sánh với con người : Máu
Tnú được ví như nhựa xà nu ; ngực cụ Mết căng như một cây xà nu lớn…
– Nếu nói tập thể dân làng Xô Man như một cánh rừng xà nu thì ở đó có đầy đủ các thế hệ cây xà nu : Cụ Mết là cây xà nu cổ thụ, tượng trưng cho lịch sử, truyền thống của cả cánh rừng ; Tnú tượng trưng cho những cây xà nu trên mình mang đầy thương tích nhưng vẫn vươn lên, vẫn chiến thắng bom đạn của kẻ thù ; Dít tượng trưng cho những cây xà nu đã trưởng thành, đang bảo vệ dân làng ; bé Heng
tượng trưng cho thế hệ cây non, đầy hứa hẹn cho những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời sau này.
+ Rừng xà nu là hình ảnh tượng trưng cho phẩm chất và cuộc sống của con người Tây Nguyên :
– Rừng xà nu trong bom đạn của kẻ thù với hình ảnh hàng vạn cây xà nu không cây nào không bị thương, tượng trưng cho đau thương, uất hận của dân làng Xô Man nói riêng và đồng bào Tây Nguyên nói chung trong cuộc kháng chiến chống
Mĩ cứu nước
– Sức sống mãnh liệt của rừng xà nu tượng trưng cho sức sống mãnh liệt của con người Tây Nguyên, không bom đạn nào, không kẻ thù nào có thể tiêu diệt được Đây cũng là sức sống bất diệt của con người Việt Nam nói chung
– Những cây xà nu không chịu khuất mình trong bóng râm, luôn vươn lên tiếp lấy ánh sáng mặt trời như tượng trưng cho khát vọng tự do, tinh thần phóng khoáng, cho ý chí vươn lên vì lí tưởng cao đẹp của con người Tây Nguyên
– Các thế hệ cây xà nu nối tiếp, thay thế nhau trong mưa bom bão đạn tượng trưng cho những thế hệ người Tây Nguyên nối tiếp nhau cầm súng đứng lên chống lại kẻ thù
à Là một hình ảnh đẹp, đầy ấn tượng, đầy ám ảnh và rất giàu ý nghĩa
Lí giải nguyên nhân
Giống : Xây dựng những hình ảnh ấn tượng, ám ảnh, giàu ý nghĩa là một dụng ý
nghệ thuật của các nhà văn
Khác
+ Do hoàn cảnh sáng tác và hoàn cảnh lịch sử :
– Chí Phèo : Nam Cao sáng tác trước Cách mạng tháng Tám 1945 trong hoàn cảnh
đen tối của xã hội Việt Nam đương thời
– Rừng xà nu : Nguyễn Trung Thành sáng tác năm 1965, khi cuộc kháng chiến
chống Mĩ đang ở giai đoạn ác liệt
+ Do khuynh hướng sáng tác :
– Chí Phèo : Thuộc khuynh hướng văn học hiện thực phê phán, chưa nhìn thấy lối
thoát của người nông dân
– Rừng xà nu : Thuộc nền văn học Cách mạng 1945-1975, có khả năng và cần thiết
phải chỉ ra chiều hướng phát triển tích cực của đời sống xã hội