Phân tích số liệu của một số công trình xây dựng bằng thống kê toán học Phân tích số liệu của một số công trình xây dựng bằng thống kê toán học Phân tích số liệu của một số công trình xây dựng bằng thống kê toán học luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN -
ĐẶNG THỊ PHƯƠNG MAI
PHÂN TÍCH SỐ LIỆU CỦA MỘT SỐ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
BẰNG THỐNG KÊ TOÁN HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lý thuyết xác suất và thống kê toán học
Hà Nội - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
ĐẶNG THỊ PHƯƠNG MAI
PHÂN TÍCH SỐ LIỆU CỦA MỘT SỐ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
BẰNG THỐNG KÊ TOÁN HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lý thuyết xác suất và thống kê toán học
Mã số:60 46 15
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hồ Đăng Phúc
Hà Nội - 2012
Trang 3Trang
Lời cảm ơn………
Lời mở đầu……… 1
Chương 1 Mô hình tuyến tính tổng quát……… 2
1.1 Giới thiệu mô hình tuyến tính tổng quát………2
1.1.1 Mục đích của hồi quy bội……… …2
1.1.2 Những tính toán để giải phương trình hồi quy bội……… … …3
1.1.3 Mở rộng của mô hình hồi quy bội thành mô hình tuyến tính tổng quát …….6
1.2 Một số ví dụ về mô hình tuyến tính tổng quát……… 9
1.2.1 Lập phương trình dạng ma trận……… 11
1.2.2 Ước lượng tham số……… 12
1.2.3 Quan điểm hình học……… …… 16
1.3 Mô hình tuyến tính tổng quát đa biến ……….……18
1.3.1 Ước lượng bình phương bé nhất cho mô hình tuyến tính tổng quát……… 18
1.3.2 Tính chất của ma trận sai số…… ……… ……… …….…….20
1.3.3 Tính chất của ma trận hệ số hồi quy……… ……… ……… 21
1.3.4 Tổng các bình phương và tích chéo ứng với giả thuyết và ứng với sai số… 21
1.3.5 Thống kê kiểm định giả thuyết tuyến tính tổng quát đa biến……… …… 22
1.4 Phân phối phần dư trong mô hình tuyến tính tổng quát… ……… 24
1.4.1 Phần dư đơn biến……… ……… ……… 29
1.4.2 Phân phối đồng thời của phần dư đơn biến……… 33
Trang 4Chương 2 Phân tích số liệu kiểm toán của một số công trình xây dựng…… 43
2.1 Mô tả số liệu……… 43
2.1.1 Địa điểm thi công……….… 44
2.1.2 Loại công trình phân theo đặc tính kỹ thuật……….… 47
2.1.3 Loại công trình phân theo chức năng sử dụng……….… 48
2.1.4 Cỡ công trình……….… 51
2.2 Phân tích mức ảnh hưởng của các nhân tố đến tỷ lệ sai phạm……… 54
2.2.1 Phân tích phương sai cho 4 nhân tố ……….… 54
2.2.2 Mô hình hồi quy tuyến tính tổng quát……… … 55
Kết luận và kiến nghị……… 61
Tài liệu tham khảo……… 62
Trang 5Lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của tôi xin dành tặng cho PGS TS Hồ Đăng Phúc Chính nhờ sự hướng dẫn tận tình của thầy mà tôi mới thực hiện và hoàn thành được luận văn này Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc cùng các nhân viên phòng Kiểm toán đầu tư xây dựng của công ty Hợp danh kiểm toán Việt Nam (CPA Việt Nam) vì đã cung cấp cho tôi những số liệu chính xác, có giá trị thống kê của các công trình xây dựng mà công ty đã thực hiện kiểm toán Nhờ những số liệu này mà tôi đã thực hiện được phần phân tích ở chương 2 của luận văn Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa, các giảng viên trong Khoa Toán – Cơ – Tin học và các học viên của lớp Cao học Toán
2007 – 2009 trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã động viên, khuyến khích, chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập vừa qua
Trong quá trình làm luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô và bạn bè đồng nghiệp
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Mô hình tuyến tính tổng quát đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học và đời sống khác nhau Trong luận văn này, tôi trình bày các cơ sở lý thuyết của mô hình tuyến tính tổng quát và ứng dụng của nó trong việc phân tích các kết quả kiểm toán của một số công trình xây dựng Luận văn được chia thành 2 chương
Chương đầu tiên là những giới thiệu về mô hình tuyến tính tổng quát Trong chương này, tôi đưa ra sự mở rộng của mô hình hồi quy bội thành mô hình tuyến tính tổng quát Sau đó là một vài ví dụ về mô hình tuyến tính tổng quát như mô hình hồi quy tuyến tính, mô hình so sánh hai mẫu bằng phép kiểm định t, mô hình ANOVA một nhân tố… Tiếp theo là phương trình của mô hình tuyến tính đa biến
và các tính chất của ước lượng tổng bình phương bé nhất, tính chất của ma trận sai
số, tính chất của ma trận hệ số hồi quy,… Phần cuối của chương 1 là nội dung trình bày về phân phối phần dư trong mô hình tuyến tính tổng quát Trong đó, chúng ta xem xét các định nghĩa, định lí của phần dư đơn biến, phân phối đồng thời của phần
dư đơn biến, phân phối đồng thời của phần dư đa biến và phân phối đồng thời cho trường hợp đặc biệt của phần dư đơn biến
Chương thứ hai giới thiệu kết quả ứng dụng mô hình tuyến tính tổng quát vào việc nghiên cứu số liệu kiểm toán của 129 công trình xây dựng đã được công ty CPA Việt Nam thực hiện công tác kiểm toán trong thời gian gần đây Chương này tìm hiểu, xem xét các yếu tố của công trình như địa điểm, đặc điểm, chức năng sử dụng và cỡ công trình ảnh hưởng như thế nào đối với khả năng xảy ra sai sót trong công tác quyết toán tài chính đối với mỗi công trình Thông qua việc áp dụng mô hình tuyến tính tổng quát, chương này chỉ ra trong các yếu tố trên thì yếu tố nào tác động một cách có ý nghĩa lên tỷ lệ sai phạm của các các công trình khi quyết toán (so với kiểm toán) Từ đó có thể rút ra được một số kết luận có ý nghĩa thực tế
Trang 7CHƯƠNG 1: MÔ HÌNH TUYẾN TÍNH TỔNG QUÁT
1.1 GIỚI THIỆU MÔ HÌNH TUYẾN TÍNH TỔNG QUÁT
Mô hình tuyến tính tổng quát có thể xem là mở rộng của hồi quy tuyến tính bội Hiểu rõ về mô hình hồi quy bội là bước chuẩn bị để tìm hiểu về mô hình tuyến tính tổng quát Vì vậy chúng ta sẽ xem xét mục đích của hồi quy bội, các thuật toán tính toán được sử dụng để giải quyết vấn đề hồi quy và làm thế nào để mở rộng mô hình hồi quy bội thành mô hình tuyến tính tổng quát
1.1.1 Mục đích của hồi quy bội
Mục đích chung của hồi quy bội là định lượng mối quan hệ giữa một vài biến độc lập (còn gọi là biến dự báo) và một biến phụ thuộc (biến đáp ứng) Ví dụ, một đại lý bất động sản có thể dựa trên kích thước của mỗi căn nhà, số lượng phòng ngủ, thu nhập trung bình trong khu phố tương ứng theo số liệu điều tra dân số để đánh giá chủ quan về giá bán của căn nhà Sau khi thông tin này được tổng hợp lại nó sẽ cho ta biết xem liệu yếu tố nào liên quan và ảnh hưởng như thế nào đến mức giá mà một ngôi nhà được bán Ví dụ, người ta có thể thấy rằng số lượng phòng ngủ có vai trò dự báo tốt hơn về giá mà một ngôi nhà bán tại một khu phố cụ thể so với yếu tố
”nhà đẹp” (đánh giá chủ quan)
Các nhà quản lý nhân sự thường sử dụng phương pháp hồi quy bội để xác định mức lương thích hợp cho nhân viên được tuyển dụng Họ có thể xác định một số yếu tố như "khả năng đáp ứng" (KNDU) hoặc “số người cần giám sát" (No_GS) là một trong những đóng góp vào giá trị của công việc Các nhà phân tích thường tiến hành một cuộc khảo sát lương so sánh giữa các công ty trên thị trường, ghi mức lương và những đặc điểm tương ứng (ví dụ, mức độ công việc) cho các vị trí khác nhau Thông tin này có thể được sử dụng trong một phân tích hồi quy bội để xây dựng một phương trình hồi quy có dạng:
Mức lương = 0,5 * KNDU + 0.8 * No_GS
Trang 8Khi phương trình hồi quy đã được xác định, các nhà phân tích bây giờ có thể dễ dàng xây dựng một biểu đồ của mức lương dự kiến (dự đoán) và tiền lương thực tế của những người đang đương chức trong công ty của họ Vì vậy, các nhà phân tích
có thể xác định các vị trí đã trả lương thấp (dưới đường hồi quy) hoặc trả quá nhiều (ở trên đường hồi quy), hoặc trả lương công bằng
Trong xã hội và khoa học tự nhiên, phương pháp hồi quy bội được sử dụng rất rộng rãi trong nghiên cứu Nói chung, hồi quy bội cho phép các nhà nghiên cứu đặt
ra câu hỏi (và hy vọng câu trả lời) về những vấn đề tổng quát "dự báo tốt nhất về …
là gì" Ví dụ, các nhà nghiên cứu giáo dục có thể muốn tìm hiểu các yếu tố dự đoán tốt nhất về kết quả học tập ở trường trung học là gì Xã hội học có thể muốn tìm ra nhiều chỉ số xã hội dự đoán tốt nhất về việc nhóm người nhập cư mới có thích ứng
và được hoà nhập vào xã hội hay không,
1.1.2 Những tính toán để giải phương trình hồi quy bội
Không gian con một chiều trong không gian hai chiều là một đường thẳng được định nghĩa bởi phương trình Y =b0+b1X Theo phương trình này, biến Y có thể
được biểu diễn như một hàm của hằng số (0) và tích của hệ số (1) với biến X
Hằng số 0 cũng được gọi là hệ số chặn, còn 1 được gọi là hệ số dốc hay hệ số hồi quy Ví dụ, điểm trung bình các môn học của học sinh được dự đoán bằng công
thức 1 + 0,02 * IQ Vì vậy, khi biết rằng một học sinh có chỉ số IQ là 130, chúng ta
sẽ dự đoán rằng điểm trung bình các môn học của học sinh đó sẽ là 3,6
Trong trường hợp hồi quy bội, khi có nhiều biến dự báo, không gian con hồi quy thường không được hình dung trong một không gian hai chiều, nhưng tính toán là một sự mở rộng trực tiếp của các tính toán trong trường hợp dự báo đơn biến Ví dụ,
nếu ngoài các yếu tố IQ chúng ta có thêm vài yếu tố để dự đoán (ví dụ: Động lực, ý
thức kỷ luật), chúng ta có thể xây dựng một phương trình tuyến tính có chứa tất cả các biến đó Nói chung, các phương pháp hồi quy bội sẽ ước lượng một phương trình tuyến tính có dạng:
Trang 90 1 1 2 2 k k
với k là số các yếu tố dự báo Lưu ý rằng trong phương trình này, các hệ số hồi quy
(1, , k) đại diện cho những đóng góp độc lập của mỗi biến dự báo vào giá trị của
biến phụ thuộc Nói cách khác thì đó chính là sự tương quan của biến X i với biến Y,
sau khi kiểm soát tác động của tất cả các biến độc lập khác Loại tương quan này cũng được gọi là tương quan riêng phần Ví dụ sau sẽ làm rõ vấn đề này
Bình thường người ta có thể thấy sự tương quan có ý nghĩa giữa chiều dài tóc và chiều cao con người (người thấp có mái tóc dài hơn) Tuy nhiên, nếu chúng ta thêm biến Giới tính vào phương trình hồi quy bội, sự tương quan này sẽ biến mất Điều này là do tính trung bình thì phụ nữ có mái tóc dài hơn nhưng cũng thấp hơn so với nam giới Như vậy, sau khi chúng ta loại bỏ sự khác biệt giới tính bằng cách đưa biến giới tính vào phương trình, mối quan hệ giữa chiều dài tóc và chiều cao biến mất bởi vì chiều dài tóc không có tác động đặc biệt nào cho các dự báo chiều cao Nói một cách khác, sau khi kiểm soát biến giới tính, sự tương quan giữa chiều dài tóc và chiều cao là không có ý nghĩa
Không gian con hồi quy (một đường thẳng trong hồi quy đơn, một phẳng hoặc không gian con có số chiều cao hơn trong hồi quy bội) là dự đoán tốt nhất của biến
phụ thuộc Y, được đưa ra bởi các biến độc lập X Tuy nhiên, thực tế là rất hiếm khi chúng ta hoàn toàn dự đoán được chính xác giá trị của Y và thường có sự sai lệch
giữa những điểm quan sát được so với không gian con hồi quy thích hợp Độ lệch của một điểm cụ thể từ điểm tương ứng gần nhất trên không gian con hồi quy dự đoán (dự đoán giá trị của nó) được gọi là phần dư Vì mục tiêu của các phương pháp hồi quy tuyến tính là đưa ra một không gian con là một hàm tuyến tính của các biến
X nhằm quan sát biến Y càng gần càng tốt, các giá trị dư cho những điểm quan sát
có thể được sử dụng để đưa ra một tiêu chuẩn "phù hợp nhất" Cụ thể, trong bài toán hồi quy, không gian con được tính sao cho tổng các bình phương độ lệch của các điểm quan sát được so với không gian con đó là nhỏ nhất Như vậy, phương pháp chung gọi là ước lượng bình phương bé nhất
Trang 10Các tính toán thực tế liên quan đến việc giải quyết các bài toán hồi quy có thể
được biểu diễn gọn gàng và tiện lợi bằng cách sử dụng ma trận Giả sử rằng n giá trị quan sát của Y và n giá trị quan sát cho k biến X khác nhau Sau đó Y i , X ik và i có
thể đại diện tương ứng cho các quan sát thứ i của biến Y, các quan sát thứ i của các biến X, và giá trị phần dư chưa biết Tập hợp những số hạng này đưa vào ma trận, ta
hệ số hồi quy chưa biết Vì mục tiêu của hồi quy bội là tổng bình phương độ lệch nhỏ nhất nên hệ số hồi quy cần tìm thoả mãn phương trình chuẩn tắc
Kết quả này đưa ra lời giải cho phương trình hồi quy trong đó chỉ có 2 ma trận X
và Y với 3 phép toán cơ bản của ma trận là: (1) chuyển vị ma trận bao gồm việc đổi
chỗ các phần tử của hàng và của cột trong một ma trận, (2) phép nhân ma trận,
Trang 11trong đó bao gồm việc tìm tổng các tích của các phần tử cho mỗi tổ hợp hàng và cột của hai hoặc nhiều ma trận, và (3) nghịch đảo ma trận, trong đó bao gồm việc tìm
ma trận có tính chất giống với số nghịch đảo, nghĩa là ma trận thỏa mãn
1
A AA A- =
cho một ma trận A
Tuy nhiên mô hình hồi quy bội còn có những hạn chế cần chú ý là (1) nó được
sử dụng để phân tích duy nhất một biến phụ thuộc, (2) nó không thể cung cấp một
lời giải cho các hệ số hồi quy khi các biến X là không độc lập tuyến tính và do đó nghịch đảo của X'X không tồn tại Khi khắc phục những hạn chế này thì mô hình
hồi quy bội được chuyển thành mô hình tuyến tính tổng quát
1.1.3 Mở rộng của mô hình hồi quy bội thành mô hình tuyến tính tổng quát
Một trong những điểm mà mô hình tuyến tính tổng quát khác với mô hình hồi
quy bội là số lượng của các biến phụ thuộc có thể được phân tích Véc tơ Y của n quan sát của một biến Y duy nhất có thể được thay thế bằng một ma trận Y gồm n quan sát của m biến Y khác nhau Tương tự, vector của hệ số hồi quy cho một
biến Y duy nhất có thể được thay thế bởi ma trận B của hệ số hồi quy, với một véc
tơ của hệ số B cho mỗi biến trong số m biến phụ thuộc Những thay thế đó cho phép
mô hình được gọi là mô hình hồi quy đa biến, nhưng cần nhấn mạnh rằng các công thức ma trận của mô hình hồi quy bội và đa biến là giống hệt nhau, ngoại trừ số
lượng các cột trong ma trận Y và B Phương pháp giải các hệ số B cũng giống nhau,
đó là, tập m các hệ số hồi quy khác nhau được xác định riêng rẽ cho m biến phụ
thuộc khác nhau trong mô hình hồi quy đa biến
Mô hình tuyến tính tổng quát tiến một bước vượt lên trên mô hình hồi quy đa biến bằng cách chấp nhận các phép biến đổi tuyến tính hoặc tổ hợp tuyến tính của nhiều biến phụ thuộc Sự mở rộng này mang lại cho mô hình tuyến tính tổng quát nhiều lợi thế quan trọng hơn mô hình hồi quy bội và mô hình hồi quy đa biến Một lợi thế đầu tiên là các kiểm định đa biến có thể được áp dụng trên một tập nhiều
Trang 12biến phụ thuộc có liên quan Các phép kiểm định riêng rẽ về ý nghĩa của các biến phụ thuộc liên quan là không độc lập với nhau và có thể không thích hợp Các phép kiểm định đa biến của các tổ hợp tuyến tính độc lập của các biến phụ thuộc có thể giúp thấy rõ những tổ hợp nào của các biến độc lập liên quan đến các biến dự báo,
tổ hợp nào không liên quan Một lợi thế khác là khả năng phân tích ảnh hưởng của các nhân tố được đo lặp lại Các thiết kế phép đo lặp lại hoặc các thiết kế nội đối tượng thường được phân tích bằng cách sử dụng kỹ thuật phân tích phương sai ANOVA Các tổ hợp tuyến tính của các biến đáp ứng phản ánh hiệu quả của phép
đo lặp (biến độc lập được đo dưới những điều kiện khác nhau) có thể được thiết kế
và kiểm định ý nghĩa bằng cách tiếp cận đơn biến hoặc đa biến để phân tích các phép đo lặp trong mô hình tuyến tính tổng quát
Một điều quan trọng thứ hai mà mô hình tuyến tính tổng quát khác với mô hình hồi quy bội là nó có thể cung cấp một lời giải cho các phương trình chuẩn tắc khi
các biến X không độc lập tuyến tính và nghịch đảo của X'X không tồn tại Sự dư thừa của các biến X có thể là không thực chất (ví dụ, có thể xảy ra hai biến dự báo
hoàn toàn tương quan trong một tập dữ liệu nhỏ), là ngẫu nhiên (ví dụ, hai bản sao của cùng một biến có thể vô tình được sử dụng trong một phân tích) hoặc có chủ định (ví dụ, biến chỉ thị với các giá trị đối nhau có thể được sử dụng trong phân tích, như khi cả hai biến dự báo Nam và Nữ được sử dụng trong việc thể hiện giới tính) Tìm nghịch đảo chính quy của một ma trận có hạng không đầy đủ cũng giống như việc tìm nghịch đảo của số 0 trong số học thông thường Không có nghịch đảo bởi
vì không được phép chia cho số 0 Vấn đề này được giải quyết trong mô hình tuyến
tính tổng quát bằng cách sử dụng một nghịch đảo suy rộng của ma trận X'X trong việc giải các phương trình chuẩn tắc Một nghịch đảo suy rộng cho một ma trận A là
ma trận A- bất kỳ thỏa mãn
AA A A- =
Ma trận nghịch đảo suy rộng là không duy nhất và chỉ duy nhất khi ma trận A có
hạng đầy đủ Khi đó, nó chính là ma trận nghịch đảo chính quy Ma trận nghịch đảo
Trang 13suy rộng của một ma trận có hạng không đầy đủ có thể được tính bằng cách đơn giản bằng cách thay các phần tử 0 vào các hàng và cột dư của ma trận Giả sử rằng
có một ma trận X'X với r-cột độc lập tuyến tính (với r là hạng của X’X) thì ta phân
chia như sau
11 12
21 22
'
với A11 là ma trận vuông cấp r Sau đó, nghịch đảo chính quy của A11 tồn tại và một
nghịch đảo tổng quát của X'X là
21 22
0'
Tuy nhiên trong thực tế, một nghịch đảo tổng quát đặc biệt của X'X để tìm một
lời giải cho các phương trình chuẩn tắc thường được tính bằng cách sử dụng toán tử quét Nghịch đảo suy rộng này, được gọi là nghịch đảo g2, có hai tính chất quan trọng Một là việc gán các phần tử 0 trong các hàng và các cột dư là không cần thiết
Hai là sự phân vùng hoặc sắp xếp lại các cột của X'X là không cần thiết, vì vậy ma
trận có thể tự nghịch đảo “tại chỗ”
Có vô số nghịch đảo tổng quát của một ma trận X'X không có hạng đầy đủ, do
đó có vô số nghiệm của các phương trình chuẩn tắc Điều này có thể gây ra sự khó hiểu về bản chất của mối quan hệ của các biến dự báo và biến phụ thuộc, bởi vì các
hệ số hồi quy có thể thay đổi tùy thuộc vào nghịch đảo suy rộng cụ thể được chọn
để giải các phương trình chuẩn tắc Tuy nhiên, điều đó không đáng ngại vì tính chất bất biến quan trọng của nhiều kết quả có thể thu được bằng cách sử dụng mô hình tuyến tính tổng quát
Sau đây là một ví dụ đơn giản để minh họa các tính chất bất biến quan trọng nhất của việc sử dụng nghịch đảo suy rộng trong mô hình tuyến tính tổng quát Nếu
Trang 14cả hai biến dự báo Nam và Nữ với giá trị đối nhau được sử dụng trong một phân tích giới tính, tùy vào từng trường hợp mà biến dự báo được coi là phần dư thừa (ví
dụ, biến Nam có thể được coi là phần dư thừa với biến Nữ, hoặc ngược lại) Bất kỳ biến dự báo nào được coi là phần dư thừa, bất kỳ nghịch đảo suy rộng tương ứng nào được sử dụng trong việc giải các phương trình chuẩn tắc, và bất kỳ kết quả phương trình hồi quy nào được sử dụng để tính toán các giá trị dự đoán về các biến phụ thuộc, các giá trị dự đoán và các phần dư tương ứng cho nam và nữ sẽ không thay đổi Trong việc sử dụng mô hình tuyến tính tổng quát, người ta phải nhớ rằng việc tìm kiếm một nghiệm cụ thể của các phương trình chuẩn tắc chỉ là một bước trung gian để xác định giá trị đáp ứng của các biến phụ thuộc
Không giống như mô hình hồi quy bội thường được áp dụng cho trường hợp các
biến X liên tục, mô hình tuyến tính tổng quát hay sử dụng để phân tích cho một mô
hình phân tích phương sai ANOVA hoặc MANOVA với các biến dự báo rời rạc hoặc với cả hai loại biến dự báo rời rạc và liên tục, cũng như mô hình hồi quy bội hay đa biến với các biến dự báo liên tục Ví dụ, giới tính rõ ràng là một biến độc lập rời rạc Có hai phương pháp cơ bản mà giới tính có thể được mã hoá thành một hay nhiều biến dự báo và được phân tích bằng cách sử dụng mô hình tuyến tính tổng quát
1.2 MỘT SỐ VÍ DỤ VỀ MÔ HÌNH TUYẾN TÍNH TỔNG QUÁT
Giả thiết rằng chúng ta sẽ tiến hành một thí nghiệm trong đó chúng ta sẽ quan
sát một biến đáp ứng hay biến phụ thuộc Y j , trong đó j = 1,…,J là các chỉ số của quan sát Y j là một biến ngẫu nhiên Chúng ta cũng giả thiết rằng với mỗi một quan
sát chúng ta có một tập gồm K (K < J) biến giải thích hay biến độc lập x jk (được đo
đạc mà không có sai số), với k = 1,…,K là chỉ số của các biến độc lập (hay biến giải
thích) Các biến độc lập có thể là các hiệp biến liên tục hoặc rời rạc, các hàm của các hiệp biến, hoặc chúng có thể là các biến hình thức chỉ thị các mức độ của một nhân tố thực nghiệm
Trang 15Một mô hình tuyến tính tổng quát biểu diễn các biến đáp ứng Y j theo các số hạng của một tổ hợp tuyến tính của các biến độc lập cộng với phần sai số,
Nhiều phương pháp thống kê tham số cổ điển là các trường hợp riêng của mô hình tuyến tính tổng quát Chúng ta sẽ minh họa điểm này bằng việc xem xét các phương trình của hai mô hình nổi tiếng sau
a Mô hình hồi quy tuyến tính
Một ví dụ đơn giản là hồi quy tuyến tính trong đó chỉ một biến độc lập liên tục
duy nhất x j được quan sát (không có sai số) trong mỗi quan sát j = 1,…,J Mô hình
thường được viết như sau
j j j
Y = +m x b e+
Trong đó các tham số chưa biết là µ, một hằng số trong mô hình, hệ số hồi quy β
và sai số e j iid: N(0,s2) Biểu thức này có thể được viết lại theo dạng mô hình tuyến
tính tổng quát bằng việc sử dụng một biến hình thức lấy giá trị x j1 = 1 cho mọi j,
1 2 2
j j j j
Y = x m + x b +e
mà đó là một dạng của phương trình (1.1) khi thay thế β1 bằng µ
b Mô hình so sánh hai mẫu bằng phép kiểm định t
Mô hình so sánh hai mẫu là một trường hợp đặc biệt của một mô hình tuyến tính
tổng quát, trong đó giả thiết rằng Y j1 và Y j2 là hai nhóm độc lập của các biến ngẫu
Trang 16nhiên, phép so sánh Y qj iid:N(m s q, 2), với q = 1, 2, và đánh giá giả thuyết H: µ1 = µ2
Chỉ số j đánh số các điểm dữ liệu trong cả hai nhóm Phương pháp biểu diễn mô
hình thống kê theo quy chuẩn như sau
khi nào quan sát Y qj ở nhóm thứ nhất, trong trường hợp đó nó có giá trị 1 khi q = 1,
và 0 khi q = 2 Tương tự như vậy
2
0 1
qj
x ì
= í î
Hệ trên có dạng ma trận tương đương như sau
nếu q = 1 nếu q = 2
Trang 17trong đó Y là vector cột của các quan sát, ε là vector cột của các số hạng sai số, β là
vector cột của các tham số b =[b1, ,¼ b k, ,¼ b K]T Ma trận X có cấp J x K, với phần tử thứ jk là x jk, được gọi là ma trận thiết kế Ma trận này có một dòng cho mỗi quan sát, và một cột (biến giải thích) cho mỗi tham số của mô hình Điểm quan trọng về ma trận thiết kế đó là nó là một mô tả gần hoàn chỉnh mô hình với phần dư của mô hình là các số hạng sai số
1.2.2 Ước lượng tham số
Khi một thực nghiệm đã được hoàn tất, chúng ta có các quan sát của các biến
ngẫu nhiên Y j , được ký hiệu là y j Thông thường các phương trình của hệ biểu diễn
mô hình tuyến tính tổng quát (với ε = 0) không thể giải được vì số lượng K các tham
số thường được chọn nhỏ hơn số lượng J của các quan sát Do đó một số phương
pháp ước lượng tham số đòi hỏi dữ liệu “thích hợp nhất” cần phải được sử dụng Điều này đạt được bằng cách sử dụng phương pháp bình phương bé nhất thông thường
Ký hiệu một tập các giá trị ước lượng tham số bởi ° °1, ,± T
Trang 18đó đo đạc mức độ phù hợp của mô hình với các ước lượng đó của các tham số Các ước lượng bình phương bé nhất là các ước lượng tham số làm nhỏ nhất tổng bình phương các phần dư, với dạng đầy đủ là
Nếu (X T X) khả nghịch, mà thực tế nó sẽ là như vậy nếu và chỉ nếu ma trận tính
toán X có hạng đầy đủ, thì các ước lượng bình phương bé nhất sẽ là
a Các mô hình không có lời giải duy nhất
Nếu X có các cột phụ thuộc tuyến tính, nó sẽ là ma trận có hạng không đầy đủ, khi đó (X T X) suy biến và không khả nghịch Trong trường hợp này mô hình được
gọi là tham số hóa dư thừa: có vô hạn các tập hợp tham số mô tả cùng một mô hình
Trang 19Tương ứng, sẽ có vô hạn các ước lượng bình phương bé nhất µb thỏa mãn các phương trình
b Mô hình ANOVA một nhân tố
Một ví dụ đơn giản về một mô hình như vậy là mô hình phân tích phương sai một nhân tố cổ điển (ANOVA) Một cách tổng quát, một mô hình ANOVA xác định biến thiên của một biến đáp ứng được quan sát chịu các ảnh hưởng của các mức tác nhân Phần biến thiên không giải thích còn lại được sử dụng để đánh giá mức ý nghĩa của các tác động Mô hình ANOVA một nhân tố được viết như sau:
qj q qj
Y = +m a +e
Trong đó Y qj là quan sát thứ j trong nhóm q = 1,…,Q Các tham số của mô hình này rõ ràng không xác định duy nhất với bất kỳ µ và α q nào, các tham số µ’ = µ + d
và α q ’ = α q – d cho một mô hình tương đương với bất kỳ hằng số d nào Đó chính là
mô hình là không xác định cho đến mức của một hằng số cộng giữa biểu thức hằng
số µ và các tác động nhóm α q Có thể lập luận tương tự như trên cho bất kỳ tập các ước lượng bình phương bé nhất µ ¶m a nào Ở đây có một bậc vô định trong mô , q
hình, điều đó làm cho ma trận tính toán có hạng Q nhỏ hơn số các tham số (số các cột của ma trận X) Nếu vector dữ liệu Y có các quan sát được sắp xếp theo nhóm, khi đó trong trường hợp 3 nhóm (Q = 3), ma trận tính toán và các vector tham số là:
1 2 3
1 1 0 0
1 1 0 0
1 0 1 0 ; =
1 0 1 0
1 0 0 1
1 0 0 1
X
m a b a a
Trang 20Rõ ràng rằng ma trận này có hạng không đầy đủ: cột đầu tiên là tổng của các cột khác Do đó trong mô hình này, người ta không thể kiểm tra trong mô hình này tác
động của một hay nhiều nhóm Tuy nhiên lưu ý rằng việc cộng vào hằng số µ
không tác động đến các hiệu số tương đối giữa các cặp của các tác động nhóm Do
đó các hiệu số trong các tác động nhóm được ước lược duy nhất mà không cần xét đến tập cụ thể của các ước lượng tham số được sử dụng Nói cách khác, thậm chí nếu mô hình là tham số hóa dư thừa, vẫn có các tổ hợp tuyến tính có ích của các tham số (chính là các hiệu số giữa các cặp của các tác động nhóm)
c Ràng buộc nghịch đảo suy rộng
Trong mô hình với tham số không xác định duy nhất, một tập các ước lượng bình phương bé nhất có thể được xác định bằng việc đưa vào các ràng buộc đối với
các ước lượng hoặc bằng việc sử dụng cho (X T X) Trong trường hợp nào thì cũng
cần chú ý rằng các ước lượng thực sự thu nhận được phụ thuộc vào ràng buộc cụ thể hoặc phụ thuộc vào phương pháp lấy nghịch đảo suy rộng được lựa chọn
Có một số ràng buộc cụ thể dựa trên việc loại bỏ các cột từ ma trận tính toán Trong ví dụ ANOVA một nhân tố, người ta có thể loại bỏ biểu thức hằng số để xây dựng một ma trận tính toán có các cột là độc lập tuyến tính Với các tính toán phức tạp hơn, dạng của ma trận tính toán có thể thay đổi rất nhiều làm cho mô hình ban đầu trở nên khó nhận biết
Một cách khác là phương pháp lấy nghịch đảo suy rộng ma trận có thể được sử dụng Đặt (X X T )-ký hiệu cho một ma trận nghịch đảo suy rộng của (X T X) Khi đó
chúng ta có thể sử dụng (X X T )- thay vì ( T ) 1
X X - trong phương trình (1.3) Một tập các ước lượng bình phương bé nhất được cho bởi bµ =(X X T )-X Y T = X Y- Điều đó cho các ước lượng tham số bình phương bé nhất với tổng các bình phương
là bé nhất (cực tiểu L2 theo chuẩn µ|| ||b ) Ví dụ, với mô hình ANOVA một nhân tố, 2
phương pháp này cho các ước lượng tham số µ Q1( )q (1 )
=
Trang 21µq Y q µ
a = · -m Chúng ta sử dụng Yq·để ký kiệu giá trị trung bình của Y trong quan sát chỉ số j, chính là trung bình của dữ liệu trong nhóm q
Sử dụng nghịch đảo suy rộng trong ước lượng tham số ở các mô hình với tham
số không xác định duy nhất là một giải pháp thường được sử dụng Như đã được giới thiệu ở trên, phương pháp này vẫn không cho phép kiểm tra các tổ hợp tuyến tính của các tác động mà có một số lượng vô hạn các ước lượng tham số Chú ý
rằng ràng buộc giả nghịch đảo cho ta giữ nguyên tất cả các cột của ma trận X
 , không gian Euclide J chiều X b ° là một tổ hợp tuyến tính của các cột của ma
trận tính toán X Các cột của ma trận X là các vector J do đó X b ° với một b ° cho
trước định nghĩa một điểm trong không gian ÂJ Điểm này nằm trong không gian con của ÂJ được xây dựng nên bởi các cột của ma trận tính toán, không gian X Chiều của không gian con là rank(X) Nhắc lại rằng không gian được xây dựng nên
từ các cột của X là một tập các điểm Xc với mọi c thuộc không gian ÂJ Phần dư tổng các bình phương cho các ước lượng tham số ° b là khoảng cách từ X b ° đến Y
Do vậy các ước lượng bình phương bé nhất b µ tương ứng với điểm trong không
gian xây dựng bởi các cột của X mà gần nhất với dữ liệu Y Đường vuông góc từ Y vào không gian X giao với không gian đó tại điểm Yµ = Xµb Bây giờ sẽ rõ ràng là
tại sao không có các ước lượng bình phương bé nhất duy nhất nếu không gian X có hạng không đầy đủ; khi đó bất kỳ điểm nào trong không gian X có thể nhận được bằng các tổ hợp tuyến tính vô hạn các cột của X, chính là nghiệm tồn tại trên một
siêu mặt và không phải là một điểm
Trang 22Nếu X có hạng đầy đủ, khi đó định nghĩa ma trận của phép chiếu là
vào không gian X Tương tự như vậy ma trận của các phần dư là R =(I J -P X ),
trong đó I J là ma trận đơn vị có hạng J Như vậy RY = e, và R là một phép chiếu ma trận vào không gian trực giao với không gian X
Sau đây là một ví dụ có liên quan mật thiết, xem xét một hồi quy tuyến tính chỉ với ba quan sát Dữ liệu được quan sát là y=[y y y1, ,2 3]T định nghĩa một điểm trong không gian Euclide ba chiều Â3 Mô hình dẫn đến ma trận tính toán
1 2 3
Cho trước các giá trị x j khác nhau, các cột của X hình thành nên một không gian con
hai chiều trong Â3, một mặt phẳng (Hình 1.1)
Hình 1.1
Trang 231.3 MÔ HÌNH TUYẾN TÍNH TỔNG QUÁT ĐA BIẾN
Mô hình tuyến tính tổng quát đa biến là sự mở rộng của các trường hợp đơn
biến Thay vì có một biến phụ thuộc trong một cột của vectơ y, chúng ta có một tập
p biến phụ thuộc trong một số cột của ma trận Y Do đó mô hình này là
Ta thấy rằng số lượng các cột của ma trận B phù hợp với số lượng các cột của
ma trận Y Mô hình có thể trình bày lại như sau
với mỗi cột Y đưa vào một phương trình hồi quy với các cột tương ứng của B coi
như là các vector hệ số Ta có thể diễn tả mô hình một cách ngắn gọn nhất bằng cách sử dụng
1.3.1 Ước lượng bình phương bé nhất cho mô hình tuyến tính tổng quát
Làm thế nào để ước lượng được các giá trị chưa biết trong ma trận B? Khi sai số
ε của Y chỉ là một vectơ, ta có thể chọn hàm mục tiêu là ' e e Mặt khác ma trận ' e e
không là một đại lượng vô hướng mà là một tổng bình phương và tích chéo của ma
trận cấp p x p Trong trường hợp này ta sẽ làm vết của ' e e đạt giá trị nhỏ nhất
Hàm mục tiêu sẽ là
Trang 24Cần lưu ý rằng Tr B X Y( ’ ’ )=Tr Y XB( ’ ) và Tr Y XB tương đương với Tr(BY’X) ( ’ )
Chúng ta có thể viết lại phương trình trên một cách đơn giản là
Trang 251.3.2 Các tính chất của ma trận sai số
Để nói về sự phân phối của ma trận sai số ε, chúng ta sẽ phải sắp xếp lại nó một
chút bằng cách sử dụng toán tử Vec(.) được định nghĩa như sau:
Cho ma trận A cấp m x n với các hàng a1’,…, am’, ta định nghĩa
' 1.
'
' ' ' 2.
1 2 .
'
m
a a
Chúng ta giả sử, trong một mô hình đa biến tương tự đối với các giả thiết Gauss
Markov rằng phân phối của ma trận ε cỡ n x p là
Các ma trận hiệp phương sai cho Vec(ε) là ma trận cấp np x np Ma trận hiệp
phương sai đó có một cấu trúc đặc biệt Nó gợi nhớ tới cấu trúc trong trường hợp đơn biến là s2I =I.s2 Thay vào đó chúng ta có ma trận phân vùng như sau
Trang 26L L L L
Lvới các ma trận å trên đường chéo, còn các ma trận ngoài đường chéo đều bằng 0
1.3.3 Tính chất của ma trận hệ số hồi quy
Bây giờ ta sẽ xem xét kỳ vọng và phương sai của ước lượng trong phương trình (1.5) Nhưng trước tiên, ta cần xem xét một số các tính chất của kỳ vọng và phương sai Các kỳ vọng sẽ là đơn giản, vì
Ta thấy q hàng của A kiểm định giả thuyết liên quan đến k biến độc lập Do vậy,
A là một ma trận cấp q x k với q ≤ k Đồng thời r cột của M kiểm tra giả thuyết về p
biến phụ thuộc, nên M là ma trận cấp p x r với r ≤ p
1.3.4.Tổng các bình phương và tích chéo ứng với giả thuyết và ứng với sai số
Trong mô hình tuyến tính đơn biến, tổng bình phương ứng với giả thuyết là một đại lượng vô hướng tương ứng với biến phụ thuộc duy nhất Phương trình sau đây
Trang 27đưa đến tổng bình phương và tích chéo của ma trận ứng với giả thuyết được thể hiện trong phương trình (1.6)
-Kết quả là ma trận cấp r x r với r là số cột của M và C, hay nói cách khác là số
lượng các biến phụ thuộc được biến đổi trong giả thuyết trong phương trình (1.6)
Tổng bình phương và tích chéo ứng với sai số cũng là một ma trận cấp r x r,
1
E M Y Y Y X X X= éë - - X Y Mùû
Trong trường hợp đơn biến, chúng ta gọi F là tỷ lệ giữa tổng bình phương ứng với
giả thuyết và tổng bình phương ứng với sai số Đó chính là tỷ số giữa độ biến động
ứng với giả thuyết và độ biến động do yếu tố ngẫu nhiên gây ra F được tính như
1.3.5 Thống kê kiểm định giả thuyết tuyến tính tổng quát đa biến
Nếu s là hạng của E H-1 , thì ta có giá trị riêng l1³l2 ³ ¼ ³l s của hệ
Trang 28i i
i
l q
l
=+
do đó
1
i i
i
q l
q
=-Trong đó, i tương tự như tỷ lệ F, là giá trị riêng của E H- 1 Trong khi i là tương
tự như bình phương tương quan đa biến, là giá trị riêng của ( ) 1
trong đó, như ở phần trước, q là số hàng hoặc hạng của A, r là số cột hoặc hạng của
M, nhưng có thêm một số tham số khác Cụ thể là có giá trị
2 ,4
rq
Trang 29-1 ,2
với n là kích thước mẫu, k là số cột của X Bậc tự do của F’ là r • q và ct – 2u Xấp
xỉ là chính xác nếu s = Min (r, q) ≤ 2, tức là hạng của E H-1 nhỏ hơn hoặc bằng 2
1.4 PHÂN PHỐI PHẦN DƯ TRONG MÔ HÌNH TUYẾN TÍNH TỔNG QUÁT
Xét mô hình tuyến tính tổng quát đa biến
với Y và e là ma trận ngẫu nhiên cấp n x p, X là ma trận cấp n x q đã biết và B là ma
trận cấp q x p của tham số chưa biết được gọi là hệ số hồi quy, X có hạng a q£ ;
n³ + Đầu tiên, chúng ta giả sử p a e là một ma trận ngẫu nhiên phân phối chuẩn
với A- là nghịch đảo suy rộng của A sao cho AA A A- = Do đó ước lượng °X B là
bất biến dù bất kỳ nghịch đảo suy rộng (X X T )-nào của X X được sử dụng Hơn T
nữa, X B và °° å có phân phối độc lập; ° ( , ( T ) T )
n x p
nếu r2+q2- > 5 0nếu r2+q2- £5 0
Trang 30° p( , )
nå:W n- åa Cuối cùng, chúng ta ký hiệu ¶XB=X B°và µå = ån° / (n-a)
tương ứng cho ước lượng không chệch của XB và S
Ma trận phần dư được định nghĩa là
-với H = XX + , H=(h ij ) với i = 1, , n là hình chiếu trực giao lên không gian con bất
biến của X Do đó $ e là một ma trận ngẫu nhiên phân phối chuẩn hạng ( p n a- tức )
Các véc tơ $e có thể phụ thuộc tuyến tính với nhau Chúng ta định nghĩa các chỉ i
số I ={i1, ., i k}với i s = 1, , n ; s = 1, , k và k n£ - sao cho véc tơ $a e , , $ i1 e i k
k
T i I T i
e e e
Trang 31- : phần dư student hóa ngoại vi
với || ||y là chuẩn Eclulid của vectơ y; µ s2 = e 2 (n-a) và µs là độ lệch ước lượng
chuẩn tắc Ở đó µs thu được bằng cách loại bỏ quan sát thứ i từ mẫu ( )i
Tương tự như khi định nghĩa $e , ta xây dựng I
$µ
$µ
1
1 1 1
1/2
1
1
T
I I
i i
h r
r
h
e s
e s
e s
với D-1/2 là ma trận đường chéo với các phần tử (1-h i i1 1)-1/2, ,(1-h i i k k)-1/2
Hơn nữa, cần lưu ý rằng T
u và u có thể được định nghĩa tương tự I
Nhưng trong trường hợp này thì
Trang 32I I
h u
e e
Có thể nảy sinh một số khó khăn trong việc xác định phân phối xác suất của các
ma trận đó Một tình huống tương tự cũng xảy ra đối với u Để tránh các vấn đề I
như vậy, có một định nghĩa thay thế được đề xuất cho T
với µs là độ lệch chuẩn được hình thành bằng cách loại bỏ các quan sát tương ứng ( )I
có chỉ số trong tập I từ không gian mẫu
Cần lưu ý rằng trong bất kỳ định nghĩa nào của phần dư student hóa nội tại thì
T
u = =u u , I ={ }i (1.11) Phần dư đơn vị hóa và chuẩn tắc hóa có thể được định nghĩa tương tự là
Trang 33$ µ
$ µ
1/2 1/2
1/2 1/2
T
I I
-
( )
1/2 1/2
-
Các dạng đa biến của biểu thức (1.9) và (1.11) cũng đúng trong các trường hợp đó Nghiên cứu tất cả các loại phân phối phần dư rất quan trọng trong các lĩnh vực khác nhau của thống kê, đặc biệt là trong phân tích độ nhạy (hoặc kiểm định hệ số hồi quy) và trong mô hình tuyến tính Ảnh hưởng của một biến vào mô hình hồi quy thường được nghiên cứu bằng cách sử dụng nhiều loại biểu đồ có sẵn khác nhau Tương tự như vậy, ảnh hưởng của một hay nhiều quan sát vào các tham số của mô hình hồi quy được đánh giá hay đo đạc bằng các độ đo hay hàm khoảng cách khác nhau Những độ đo này có thể biểu diễn bởi các hàm của phần dư student hóa nội tại và ngoại vi Tương tự như vậy, các độ đo tiêu chuẩn trong kiểm định dựa trên thể tích của miền tin cậy dạng ellipsoid hoặc thương của các phương sai có thể được biểu diễn như một hàm của phần dư student hóa nội tại và ngoại vi Thật không may
là phân phối của nhiều độ đo như vậy là không rõ ràng, có nghĩa là kết quả phải được đưa ra trên cơ sở của một biểu đồ có sẵn và một danh sách các giá trị gốc, được tính toán trên các số liệu mẫu để đối chiếu
Nhiều nhà nghiên cứu đã tìm cách tránh việc tìm phân phối đồng thời của các loại phần dư khác nhau vì nói chung phân phối của các phần dư đó là kỳ dị đối với
độ đo Lebesgue trong Rn Vấn đề được khắc phục khi quan sát thấy rằng phân phối
kỳ dị lại có giá trị khi xét với độ đo Hausdorff được định nghĩa trên một không gian con Affin Tuy nhiên khi các loại phần dư khác nhau thu được theo các phép biến đổi của phân phối kỳ dị thì việc xác định các Jacobians đối với độ dô Hausdor là cần thiết
Bây giờ ta định nghĩa các lớp còn lại của phần dư cho các trường hợp đơn biến
và đa biến Chúng ta bắt đầu với $e và sau đó xác định mật độ của chúng, nó là I
không kỳ dị theo giả thuyết của mô hình (1.8)