HCM, ngày 19 tháng 08 năm 2019 NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ Họ tên học viên : Trần Văn Dũng Giới tính: Nam Ngày tháng năm sinh : 30-08-1988 Nơi sinh : Gia Lai Chuyên ngành : Quản lý xây d
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
-
TRẦN VĂN DŨNG
ỨNG DỤNG ĐỘNG HỌC HỆ THỐNG MÔ PHỎNG NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HÀNH VI KHÔNG AN TOÀN
CỦA CÔNG NHÂN XÂY DỰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP.HỒ CHÍ MINH – 12.2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM HỒNG LUÂN
Cán bộ chấm phản biện 1: TS NGUYỄN ANH THƯ
Cán bộ chấm phản biện 2: TS NGUYỄN THANH VIỆT
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh ngày 10/01/2020
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
1 PGS.TS LƯƠNG ĐỨC LONG
2 TS NGUYỄN ANH THƯ
3 TS TRẦN ĐỨC HỌC
4 TS PHAN HẢI CHIẾN
5 TS NGUYỄN THANH VIỆT
Xác nhận của Chủ tịch hội đồng đánh giá luận văn và Trưởng khoa quản lý chuyên ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
Tp HCM, ngày … tháng … năm …
Trang 3Tp HCM, ngày 19 tháng 08 năm 2019
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên : Trần Văn Dũng Giới tính: Nam
Ngày tháng năm sinh : 30-08-1988 Nơi sinh : Gia Lai
Chuyên ngành : Quản lý xây dựng Mã số : 60 58 03 02
1-TÊN ĐỀ TÀI : ỨNG DỤNG ĐỘNG HỌC HỆ THỐNG MÔ PHỎNG NGUYÊN
NHÂN DẪN ĐẾN HÀNH VI KHÔNG AN TOÀN CỦA CÔNG NHÂN XÂY DỰNG
2-NHIỆM VỤ LUẬN VĂN
Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi không an toàn của công nhân
Nghiên cứu khả năng ứng dụng Động học hệ thống trong quản lý an toàn
Xây dựng mô hình Động học hệ thống mô phỏng nguyên nhân dẫn đến hành
vi không an toàn của công nhân xây dựng
NGÀY GIAO NHIỆM VỤ : Ngày 19 tháng 08 năm 2019
NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ : Ngày 12 tháng 12 năm 2019
Trang 4tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và thực hiện luận văn Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý Thầy, Cô trong Bộ môn Thi công và Quản
lý Xây dựng, Trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh về những kiến thức quý báu mà tôi đã được truyền đạt
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 12 năm 2019
Người thực hiện luận văn
Trần Văn Dũng
Trang 5TÓM TẮT
An toàn lao động là một trong những vấn đề quan trọng trong quản lý xây dựng Mặc dù trong lĩnh vực xây dựng đã có những bước cải tiến đáng kể trong việc tạo ra môi trường xây dựng an toàn hơn Tuy nhiên vẫn tương đối ít các nghiên cứu về các hành vi không an toàn để tiến tới loại bỏ các hành vi này của công nhân trong lĩnh vực xây dựng Các hành vi không an toàn của công nhân xây dựng thường là nguyên nhân trực tiếp của các vụ tai nạn xây dựng, nhưng nguyên nhân cơ bản của các hành vi đó không được hiểu rõ Nghiên cứu này coi việc quản lý an toàn xây dựng là một hệ thống và tìm cách sử dụng động học hệ thống để chứng minh hệ thống ảnh hưởng đến công nhân xây dựng như thế nào về các hành vi không an toàn Đầu tiên, các điều kiện cá nhân và môi trường có thể dẫn đến một hành vi không an toàn được xác định thông qua phân tích nhận thức và điều kiện quản lý toàn diện có ảnh hưởng đến các điều kiện đó được xác định Thứ hai, một mô hình động học hệ thống cho việc gây ra các hành vi không an toàn được phát triển để mô
tả cấu trúc nguyên nhân của hệ thống Mô hình động học hệ thống về nguyên nhân các hành vi không an toàn liên quan đến mối quan hệ giữa quản lý, cá nhân và điều kiện môi trường mà cuối cùng có thể dẫn đến các công nhân hành vi không an toàn Các phân tích mô hình cũng cho thấy rằng, các điều kiện quản lý ở cấp độ giám sát
có hiệu quả trong việc cải thiện nhận thức về an toàn của công nhân, và các hành động phòng ngừa có hiệu quả hơn các hành động phản ứng nhằm tăng cường hiệu suất an toàn Mô hình này cũng có thể được sử dụng làm cơ sở mô phỏng các tình huống trên các công trường khác nhau để khám phá giải pháp tốt nhất để ngăn chặn
và khắc phục các hành vi không an toàn
Từ khóa : Động học hệ thống, An toàn, Hành vi không an toàn, An toàn xây dựng,
Tư duy hệ thống
Trang 6Occupational safety is one of the important issues in construction management Although there have been significant improvements in the construction field in creating a construction environments safer However, relatively few studies on unsafe behaviors have been carried out to eliminate these behaviors from workers in the construction sector Unsafe behaviors of construction workers are often the direct cause of construction accidents, but the underlying cause of such construction practices is not well understood This study sees construction safety management as
a system and seeks to use system dynamics to demonstrate how the system affects construction workers in terms of unsafe behaviors First, individual and environmental conditions that6 can lead to an unsafe behavior are identified through cognitive analysis and comprehensive management conditions that affect those conditions are identified Second, a system dynamics model for causing unsafe behaviors was developed to describe the cause structure of the system The system dynamics model of the causes of unsafe behaviors relates to the relationship between management, individuals and environmental conditions that can ultimately lead to unsafe behavior among workers The model analysis also shows that management conditions at the supervisor level are effective in improving worker safety awareness, and preventive actions are more effective than counter-actions application to enhance safety performance This model can also be used as a basis for simulating situations on different sites to discover the best solution to prevent and remedy unsafe behaviors
Keywords : System dynamics, Safety, Unsafe behavior, Construction safety,
Systems thinking
Trang 7Tôi, Trần Văn Dũng xin cam đoan trong quá trình thực hiện luận văn này, các số liệu và kết quả nghiên cứu được thực hiện hoàn toàn trung thực và nghiêm túc Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về nghiên cứu của mình
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 12 năm 2019
Người thực hiện luận văn
Trần Văn Dũng
Trang 91
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9
1.1 Giới thiệu chung 9
1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu 9
1.3 Cấu trúc của luận văn 12
1.4 Tóm tắt chương: 13
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 14
2.1 Giới thiệu chung 14
2.2 Các khái niệm, định nghĩa và lý thuyết 14
2.2.1 Các khái niệm 14
2.2.2 Các nghiên cứu tương tự đã công bố 15
2.3 Động học hệ thống 22
2.3.1 Hệ thống 22
2.3.2 Động học hệ thống 23
2.3.3 Các yếu tố của mô hình Động học hệ thống 23
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi không an toàn 31
2.4.1 Nhóm các nhân tố liên quan đến điều kiện cá nhân 33
2.4.2 Nhóm các nhân tố liên quan đến điều kiện môi trường 34
2.4.3 Nhóm các nhân tố liên quan đến điều kiện quản lý 35
2.4.4 Nhóm các nhân tố liên quan đến môi trường xã hội 38
2.5 Tóm tắt chương 40
Trang 102
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
3.1 Quy trình nghiên cứu 41
3.2 Thu thập dữ liệu 41
3.2 Công cụ nghiên cứu 42
3.3 Phân tích dữ liệu 42
3.4 Xây dựng, phân tích mô hình 44
3.5 Tóm tắt chương 46
CHƯƠNG 4: THU THẬP VÀ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 47
4.1 Xác định biến ảnh hưởng đến hành vi không an toàn của công nhân 47
4.2 Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát 48
4.3 Thu thập dữ liệu 49
4.4 Phân tích dữ liệu 51
4.4.1 Thống kê mô tả 51
4.4.2 Thứ tự các nhân tố theo giá trị trung bình 55
4.4.3 Phân tích độ tin cậy cronbach’s alpha 57
4.4.4 So sánh với Mean >3, độ tin cậy 95% 59
CHƯƠNG 5: XÂY DỰNG MÔ HÌNH 62
5.1 Các biến chọn để đưa vào mô hình 62
5.2 Các giả thuyết chính 63
5.2.1 Phân tích nhận thức 63
5.2.2 Các giả định chính của mô hình 67
Trang 113
5.3 Dữ liệu đầu vào 68
5.4 Mô hình tham khảo 70
5.5 Mô hình nguyên nhân dẫn đến hành vi không an toàn 71
5.5.1 Mô hình sơ bộ 71
5.5.2 Mô hình động về nguyên nhân dẫn đến hành vi không an toàn của công nhân 74
5.5.3 Ảnh hưởng của quản lý đối với người lao động 75
5.5.4 Giảm thiểu mối nguy 81
5.5.5 Giảm thiểu mối nguy thông qua học tập từ sự cố 82
5.5.6 Giảm thiểu mối nguy thông qua giám sát an toàn và báo cáo mối nguy 84
CHƯƠNG 6: PHÂN TÍCH MÔ HÌNH 86
6.1 Giới thiệu chung 86
6.2 Kiểm tra mô hình 86
6.3 Phân tích mô hình 87
6.4 Kiểm tra chính sách 91
CHƯƠNG 7: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
7.1 Kết luận chung 95
7.2 Ứng dụng Động học hệ thống trong an toàn lao động 95
7.3 Các kết quả của nghiên cứu 96
7.4 Hạn chế của đề tài 97
7.5 Kiến nghị cho các nghiên cứu tiếp theo 97
Trang 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 99
PHỤ LỤC 102
Phụ lục 1: Bảng câu hỏi khảo sát 102
Phụ lục 2: Các phương trình ĐHHT trong mô hình 106
Lý lịch trích ngang 109
Trang 135
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1: Quy trình an toàn dựa vào hành vi, Haroun và cộng sự (2016) 15
Hình 2: Mô hình thái độ và hành vi an toàn, Shin và cộng sự (2014) 17
Hình 3: Mô hình SD-CUB, Jiang và cộng sự (2015) 18
Hình 4: Mô hình chung và tổng hợp về an toàn, Guo và cộng sự (2019) 19
Hình 5: Sơ đồ vòng lặp nhân quả, Sterman (2000) 24
Hình 6: Sơ đồ kho và dòng, Sterman (2000) 26
Hình 7: Các phương trình của kho và dòng, Sterman (2000) 26
Hình 8: Quy trình nghiên cứu 41
Hình 9: Quy trình thu thập dữ liệu từ bảng câu hỏi khảo sát 49
Hình 10: Thời gian công tác trong ngành xây dựng 51
Hình 11: Vai trò trong các dự án đã tham gia 53
Hình 12: Vị trí công tác 54
Hình 13: Số dự án đã từng tham gia 55
Hình 14: Tiến trình nhận thức của công nhân, Shin và cộng sự (2014) 64
Hình 15: Mô hình động Sơ bộ nguyên nhân dẫn đến hành vi không an toàn 72
Hình 16: Mô hình động nguyên nhân dẫn đến hành vi không an toàn của công nhân xây dựng 75
Hình 17: Mối quan hệ nhân - quả giữa điều kiện quản lý và điều kiện cá nhân của công nhân 76
Hình 18: Giảm thiểu mối nguy thông qua học tập từ sự cố 83
Trang 146
Hình 19: Giảm mối nguy thông qua giám sát an toàn 84
Hình 20: Giảm thiểu mối nguy thông qua báo cáo của công nhân 85
Hình 21: Kiểm tra cấu trúc mô hình 87
Hình 22: Kết quả phân tích mô hình của Hành vi không an toàn 88
Hình 23: Kết quả phân tích mô hình của Sự cố 89
Hình 24: Thay đổi về Kiến thức an toàn và Nhận thức về an toàn của công nhân trong thử nghiệm mô hình 89
Hình 25: Tác động của điều kiện quản lý và môi trường đến hành vi không an toàn 91
Hình 26: Mô hình động dùng để phân tích chính sách 92
Hình 27: Ảnh hưởng của các chính sách tới hành vi không an toàn 94
Hình 28: Ảnh hưởng của các chính sách tới sự cố 94
Trang 157
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Nghiên cứu về An toàn tại Đại học Bách Khoa Tp.HCM 21
Bảng 2: Các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi không an toàn 31
Bảng 3: Công cụ nghiên cứu 42
Bảng 4: Đánh giá hệ số Cronbach's Anpha theo George và Mallery (2003) 43
Bảng 5: Quy trình xây dựng mô hình động, Đỗ Công Nguyên (2016) 44
Bảng 6: Các bước để mô hình hóa hệ thống động, theo Sterman (2000) 45
Bảng 7: Các nhân tố chính được chọn để khảo sát 47
Bảng 8: Thời gian công tác trong ngành xây dựng 51
Bảng 9: Vai trò trong các dự án đã tham gia 52
Bảng 10: Vị trí công tác 53
Bảng 11: Số dự án đã từng tham gia 54
Bảng 12: Bảng các nhân tố theo giá trị trung bình 55
Bảng 13: Bảng hệ số Cronbach's Alpha cho 26 biến 57
Bảng 14: Bảng hệ số Cronbach's alpha cho từng biến 57
Bảng 15: Bảng so sánh để chọn biến 59
Bảng 16: Các biến chọn để đưa vào mô hình 62
Bảng 17: Giả định giá trị của các biến đầu vào 68
Bảng 18: Các mô hình tham khảo 71
Bảng 19: Tham số cho các gói chính sách an toàn 93
Trang 168
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Causal loop diagram/ Vòng lặp nhân quả CLD
System Dynamics/ Động học hệ thống SD/ ĐHHT
Trang 17Xây dựng là một ngành công nghiệp sản xuất đặc biệt, theo từng đơn đặt hàng thông qua đấu thầu hoặc chỉ định thầu cho từng công trình Sản phẩm xây dựng mang tính chất đơn chiếc, riêng lẻ Thời gian thi công xây dựng công trình dài, chịu tác động của các rủi ro theo thời gian và thời tiết lớn Quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp đòi hỏi có nhiều lực lương tham gia, phải thực hiện ngoài trời, chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu, thời tiết Do đó cần phải chú ý cải thiện điều kiện làm việc của công nhân trong xây dựng
Với những đặc điểm trên, xây dựng là ngành một trong những ngành công nghiệp nguy hiểm nhất trên thế giới (Dong và cộng sự 1995; Brunette, 2004; Waehrer và cộng sự 2007; Sacks và cộng sự 2009)
Tại Việt Nam tổng số lao động lĩnh vực xây dựng chiếm 6,49% trên tổng số lao động cả nước nhưng số vụ tai nạn chiếm tới 23,8% tổng số vụ tai nạn và 24,5% tổng số người chết (Nguồn Bộ lao động thương binh và xã hội – 2017) Tai nạn lao động gây thiệt hại về tính mạng, vật chất, ảnh hưởng lớn đến năng suất lao động, tiến độ thi công
1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu
An toàn lao động là một trong những vấn đề quan trọng trong quản lý xây dựng Trong những năm gần đây quản lý an toàn trong xây dựng thu hút nhiều sự quan
Trang 1810
tâm từ chính phủ, các bộ ngành, các tổ chức và các nhà nghiên cứu Mặc dù trong lĩnh vực xây dựng đã có những bước cải tiến đáng kể trong việc tạo ra môi trường xây dựng an toàn hơn Nhưng vẫn tương đối ít các nghiên cứu về các hành vi không
an toàn để tiến tới loại bỏ các hành vi này của công nhân trong lĩnh vực xây dựng Chính vì vậy nghiên cứu này xác định các điều kiện cá nhân, môi trường và các điều kiện quản lý có thể dẫn đến hành vi không an toàn được xác định thông qua việc xây dựng mô hình động học hệ thống cho các hành vi không an toàn
Từ quan điểm hành vi không an toàn của công nhân xây dựng là nguyên nhân trực tiếp gây ra tai nạn trên các công trường xây dựng (Reason,1990 trích dẫn bởi J.Zhongming) (Suraji và các tác giả, 2001) sau khi nghiên cứu 500 báo cáo tai nạn
ở Anh đã xác định 88% tai nạn trong các dự án xây dựng có liên quan đến hành động không an toàn Blackmon và Gramopadhye (1995) cho rằng 98% của tất cả các sự cố tai nạn có liên quan đến hành vi không an toàn trích dẫn bởi R.M Choudhry
Quản lý an toàn dựa vào hành vi tập trung vào ngăn ngừa, sửa đổi các hành vi không an toàn của người lao động thông qua các can thiệp như là thiết lập mục tiêu
và phản hồi Tuy nhiên, nghiên cứu về quản lý an toàn dựa trên hành vi nhấn mạnh trách nhiệm của từng công nhân và luôn cho thấy rằng người lao động có thể hành động một cách an toàn trong mọi tình huống DeJoy (2005) trích dẫn bởi Jiang (2015), trong khi bỏ qua các điều kiện quản lý (Pidgeon và O'Leary, 2000) trích dẫn bởi Jiang (2015) Hầu như tất cả các thương tích trong công việc liên quan đến sự tương tác giữa con người và môi trường Theo (Jannadi, 1995) trích dẫn bởi (Tuấn, 2009) thì tai nạn xuất hiện trong điều kiện không an toàn, các hoạt động không an toàn hay kết hợp cả hai nguyên nhân trên Điều kiện không an toàn có thể giải quyết
và chuẩn hóa, nhưng hành vi không an toàn của con người thì không thể thực hiện một cách máy móc
Nghiên cứu về văn hóa an toàn cố gắng xây dựng cầu nối giữa điều kiện quản lý và các điều kiện cá nhân thông qua các phân tích thực nghiệm Tuy nhiên, cơ chế làm
Trang 19Do đó cần mô tả các mối quan hệ nhân quả trong một hệ thống động Hay mô tả các con đường mà thông qua đó các điều kiện quản lý chủ yếu tác động đến hành vi của người lao động, tạo điều kiện cho các chiến lược học tập, thiết kế lại điều kiện an toàn và huấn luyện để cải thiện hành vi của công nhân Từ đó cắt giảm số tai nạn xảy ra trên công trường xây dựng
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu dựa vào các đặc điểm của công nhân tại công trường xây dựng, và các yếu tố tác động từ điều kiện bên ngoài như môi trường làm việc, các điều kiện quản
lý và môi trường xã hội nhằm nhận biết các yếu tố và biết được ảnh hưởng của các yếu tố này đến hành vi không an toàn của công nhân
Các bên trực tiếp tham gia trên các công trường xây dựng như Nhà thầu thi công, tư vấn giám sát, tư vấn quản lý dự án và Ban quản lý dự án của chủ đầu tư
Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại các tổ chức và cá nhân đang hoạt động xây dựng tại thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lân cận Những người tham gia nghiên cứu đang làm việc trong các tổ chức như Chủ đầu tư, nhà thầu, nhà tư vấn và các cán bộ chuyên trách trong lĩnh vực an toàn lao động Họ là những người trực tiếp thực hiện công tác quản lý, đảm bảo an toàn trên công trường, hoặc những cá nhân có kiết thức và kinh nghiệm về an toàn trong các dự án xây dựng
Trang 2012
Các mục tiêu nghiên cứu và đóng góp dự kiến của nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu:
Xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến các hành vi không an toàn của công nhân xây dựng
Xây dựng mô hình động thể hiện sự tương tác giữa các nguyên nhân dẫn đến các hành vi không an toàn của công nhân Từ đó có cái nhìn toàn diện hơn về các hành vi không an toàn của công nhân xây dựng trên công trường
Đóng góp dự kiến về mặt học thuật: ĐHHT ứng dụng rất nhiều trọng lĩnh
vực kinh tế, quản trị….Nhưng trong ngành quản lý xây dựng thì còn khá hạn chế Nghiên cứu này như một cách tiếp cận ĐHHT để xây dựng mô hình các nguyên nhân ảnh hưởng tới hành vi không an toàn của những người trực tiếp tham gia xây dựng trên công trường
Đóng góp dự kiến của nghiên cứu về mặt thực tiễn:
Xác định các nguyên nhân gây tai nạn lao động cho công nhân xây dựng thông qua xem xét hành vi không an toàn của công nhân Xây dựng mô hình ĐHHT thể hiện mối liên hệ và sự tương tác giữ các yếu tố tác động đến hành vi không an toàn của công nhân Phân tích mô hình để tìm hiểu về sự tương tác giữa các nhân tố nhằm làm rõ hơn cơ chế, nguyên nhân của các hành vi không an toàn
Cung cấp một hướng tiếp cận cách hệ thống để giúp các nhà quản lý nắm rõ được các nguyên nhân dẫn đến tai nạn, từ đó đề xuất các chính sách ATLĐ nhằm cải thiện tình hình tai nạn lao động hiện tại, mang lại hiệu quả kinh tế, uy tín và thương hiệu cho công ty
1.3 Cấu trúc của luận văn
Luận văn được chia thành bảy chương Sắp sếp như sau:
Trang 2113
Chương 1: Giới thiệu chung về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Tổng quan
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Thu thập và phân tích dữ liệu
Chương 5: Xây dựng mô hình
Chương 6: Phân tích mô hình
Chương 7: Kết luận và kiến nghị
1.4 Tóm tắt chương:
Giới thiệu sơ lược về đặc điểm của ngành xây dựng Từ các đặc điểm chính này dẫn đến việc khó khăn trong công tác quản lý an toàn Sự cần thiết của việc có một cái nhìn tổng quan hơn về nguyên nhân gây tai nạn lao động trong xây dựng thông qua phân tích các hành vi không an toàn Các chương sau sẽ tập trung làm rõ các nhân
tố ảnh hưởng đến các hành vi không an toàn Xây dựng mô hình ĐHHT để thể hiện mối quan hệ và tương tác giữa các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi không an toàn
Trang 2214
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN2.1 Giới thiệu chung
Chương này đề cập đến các khái niệm, định nghĩa, các lý thuyết chính được sử dụng trong nghiên cứu Động học hệ thống và khả năng áp dụng ĐHHT trong quản lý xây dựng và cụ thể là trong vực quản lý an toàn lao động
2.2 Các khái niệm, định nghĩa và lý thuyết
2.2.1 Các khái niệm
Hành vi là một chuỗi các hành động lặp đi lặp lại Hành vi có thể thuộc về ý thức,
tiềm thức, công khai hay bí mật, và tự giác hoặc không tự giác Hành vi là một giá trị có thể thay đổi qua thời gian (Wikipedia)
Hành vi có nghĩa là các hành động có thể quan sát, bởi vì những thực hành có thể quan sát được là điều quan trọng đối với sự an toàn của người lao động trên các công trường Cách tiếp cận hành vi chỉ rõ cách Công nhân hành xử trong công việc Choudhry (2014)
Hành vi không an toàn: Theo Heinrich (1959) thì hành vi không an toàn là những
hành vi hoặc hoạt động của con người lệch khỏi quy trình an toàn thông thường được chấp nhận Heinrich (1959) ước tính rằng 88% các vụ tai nạn có thể được quy cho các hành vi không an toàn Blackmon và Gramopadhye (1995) tuyên bố rằng 98% tất cả các vụ tai nạn là do hành vi không an toàn Do đó để giảm tai nạn và cải thiện hiệu suất an toàn chỉ có thể đạt được bằng cách tập trung một cách có hệ thống vào những hành vi không an toàn đó tại các công trường xây dựng (Choudhry và Fang, 2008; Choudhry, 2012)
An toàn dựa trên hành vi (behavior based safety -BBS) được biết đến như một
quá trình can thiệp để điều chỉnh hành vi không an toàn của người lao động và giảm
tỷ lệ sự cố/tai nạn Kết quả có thể tập trung vào việc phân tích các sự cố trước đây xảy ra do sự tương tác giữa người lao động và môi trường làm việc của họ Mục
Trang 2315
đích là để xác định những tiền đề nào dẫn đến hành vi không an toàn, (ví dụ: thiếu thiết bị dẫn đến dẫn đến việc sử dụng các công cụ một cách tùy tiện) để thực hiện các hành động khắc phục phù hợp (Cooper, 2009)
Hình 1: Quy trình an toàn dựa vào hành vi, Haroun và cộng sự (2016)
Dù là tiếp cận BBS bằng cách nào, nhiều nghiên cứu đã đề cập để tìm ra quy trình hiệu quả nhất để có kết quả tốt (DePasquale & Geller, 2000; Sulzer-Azaroff & Austin, 2000) Là một quy trình chung cho cấu trúc và an toàn hành vi lý tưởng bắt đầu bằng cách xác định hành vi không an toàn thông qua phân tích các hồ sơ thương tích, sự cố và đã xảy ra trước đó Sau đó thiết lập một danh sách kiểm tra thích hợp
để quan sát bao gồm tất cả các hành vi không an toàn Thực hiện chương trình huấn luyện bao gồm đào tạo và quan sát cho những người tham gia Bước tiếp theo là thực hiện quan sát hành vi để đánh giá hành vi an toàn hiện tại sau khi đã huấn luyện Cuối cùng đưa ra phản hồi, thảo luận về kết quả cho cải thiện tích cực
2.2.2 Các nghiên cứu tương tự đã công bố
2.2.2.1 Các nghiên cứu tương tự đã được công bố trên thế giới
Mohamed and Chinda (2011) đã ứng dụng ĐHHT để hiểu tương tác giữa các yếu
tố chính của xây dựng văn hóa an toàn (lãnh đạo, chính sách và chiến lược, con người, quan hệ đối tác và tài nguyên, quy trình) Các mục tiêu an toàn được xác định trực tiếp trong quá trình lần lượt bị ảnh hưởng bởi bốn mục tiêu khác Mô hình văn hóa an toàn trong xây dựng đã được phát triển bằng cách sử dụng ĐHHT để
Trang 2416
kiểm tra các tương tác và mối quan hệ nhân quả đó trong một khoảng thời gian Chỉ
số Construction Safety Culture (CSC), được phát triển thông qua mô hình hóa, đại diện cho tổng của năm khả năng và mục tiêu tại một thời điểm Chỉ số CSC được phát triển có khả năng hỗ trợ các tổ chức đánh giá mức độ trưởng thành văn hóa an toàn hiện tại của họ và xác định các khu vực để cải thiện an toàn để cho phép tiến tới mức trưởng thành cao hơn Các tổ chức có mức trưởng thành khác nhau sẽ cần các chính sách an toàn và quy trình thực hiện an toàn khác nhau, không thể bắt chước Việc sử dụng mô hình ĐHHT, với chỉ số CSC được phát triển, sẽ giúp các tổ chức lập kế hoạch thực hiện quy trình an toàn hiệu quả nhất để đạt được các mục tiêu an toàn của họ trong khung thời gian dự kiến
Han và cộng sự (2014) ứng dụng ĐHHT để xem xét ảnh hưởng của Áp lực sản
xuất đến hiệu suất an toàn Một sơ đồ vòng lặp nhân quả sơ bộ được thiết lập để xác định mối quan hệ giữa tiến độ và hiệu suất chất lượng (ví dụ, trì hoãn tiến độ và làm lại) và các thành phần liên quan đến chương trình an toàn (ví dụ: nhận thức của công nhân về an toàn, huấn luyện an toàn, giám sát an toàn và quy mô tổ đội) Một Case study được thực hiện bằng thực nghiệm để điều tra mối quan hệ này với sự cố xảy ra với việc sử dụng dữ liệu được thu thập từ một công trường xây dựng Kết quả của nghiên cứu Case study chỉ ra rằng sự chậm trễ tiến độ và làm lại là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự cố xảy ra cho dự án được quan sát
Shin và cộng sự (2014) xem hành vi không an toàn và điều kiện không an toàn là
nguyên nhân gây ra tai nạn Nghiên cứu đã xây dựng một hình ĐHHT về thái độ và hành vi an toàn của công nhân, để hiểu rõ các cơ chế phản hồi và động lực có liên quan
Trang 2517
Hình 2: Mô hình thái độ và hành vi an toàn, Shin và cộng sự (2014)
Mô hình gồm các vòng phản hồi chính như sau: Vòng lặp ra quyết định dựa trên hành vi an toàn (B1), Vòng lặp phục hồi sau tai nạn (B2) và lạc quan (R1), Vòng lặp thói quen (R3, R4) Mô hình sau đó được áp dụng để kiểm tra tính hiệu quả của
ba chính sách cải thiện an toàn: khuyến khích các hành vi an toàn, tăng mức độ giao tiếp và đặt người lao động vào vai trò người bị nạn Thông qua việc phân tích chính sách, xác minh tiềm năng mạnh mẽ của mô hình đã phát triển để hiểu rõ hơn về cách loại bỏ các hành vi không an toàn Kết quả mô hình giúp hiểu rõ hơn về cách loại bỏ các hành vi không an toàn và hoạt động như một chương trình thí điểm để đánh giá hiệu quả của các chương trình an toàn hoặc các buổi huấn luyện trước khi thực hiện
Trang 2618
Jiang và cộng sự (2015) coi hành vi không an toàn là nguyên nhân trực tiếp dẫn
đến các vụ tai nạn Nghiên cứu coi quản lý an toàn là một hệ thống, và áp dụng ĐHHT để chứng minh cách mà hệ thống tác động đến các hành vi không an toàn Các điều kiện cá nhân và môi trường có thể dẫn đến một hành vi không an toàn được xác định thông qua phân tích nhận thức và điều kiện quản lý Một mô hình ĐHHT –nguyên nhân gây ra các hành vi không an toàn (A system dynamics model for the causation of unsafe behaviors - SD-CUB) được phát triển để mô tả cấu trúc nguyên nhân của hệ thống
Hình 3: Mô hình SD-CUB, Jiang và cộng sự (2015)
Một loạt các thử nghiệm mô hình được tiến hành để xây dựng sự phù hợp của mô hình SD-CUB Một cuộc khảo sát và quan sát trong năm tuần về một dự án xây dựng dân dụng được thực hiện để chứng minh rằng mô hình SD-CUB tạo ra các mô hình hành vi chính xác Các thử nghiệm mô hình cũng ngụ ý rằng an toàn và sản xuất thực sự có thể hỗ trợ lẫn nhau, các điều kiện quản lý ở cấp độ giám sát có hiệu
Trang 2719
quả trong việc cải thiện nhận thức về an toàn của công nhân, và các hành động phòng ngừa có hiệu quả hơn các hành động phản ứng nhằm tăng cường hiệu suất an toàn Mô hình SD-CUB cũng có thể được sử dụng làm cơ sở mô phỏng các tình huống trên các công trường khác nhau để khám phá giải pháp tốt nhất để ngăn chặn
và khắc phục các hành vi không an toàn và bằng cách thiết kế lại cấu trúc nguyên nhân, có thể xác định các điểm đòn bẩy và chiến lược quản lý quan trọng
Guo và cộng sự (2019) đã ứng dụng ĐHHT để phát triển mô hình chung và tổng
hợp cho an toàn trong xây dựng Nghiên cứu đề xuất một mô hình động lực hệ thống chung có thể được sử dụng như một khung lý thuyết để điều tra các vấn đề an toàn ở cấp vĩ mô Mô hình chung xác định vai trò của thực hành an toàn, áp lực và điều kiện an toàn cũng như mối quan hệ của chúng
Hình 4: Mô hình chung và tổng hợp về an toàn, Guo và cộng sự (2019)
Ở cấp độ vĩ mô, ba vòng phản hồi chính: (1) học tập phản ứng từ các tai nạn, (2) phản ứng với môi trường và (3) học tập chủ động Được hình thành bởi năm biến tổng hợp chính: điều kiện an toàn, huấn luyện an toàn, áp lực, kết quả an toàn và biến ngoại sinh Một Case study đã được thực hiện để áp dụng mô hình chung để hiểu được động lực của quản lý an toàn trong một dự án xây dựng Mô hình chung này cung cấp một khung lý thuyết để khám phá một cấu trúc hiệu quả của hệ thống
Trang 2820
quản lý an toàn và điều tra cách thức thực hành an toàn và các yếu tố xã hội, tổ chức
và tâm lý này ảnh hưởng lẫn nhau
2.2.2.2 Các nghiên cứu tương tự đã công bố tại Việt Nam
Liên quan đến an toàn lao động đã có khá nhiều nghiên cứu Trần Hoàng Tuấn (2009) đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện an toàn lao động của công nhân trên công trường xây dựng Trên cơ sở xem xét hai khía cạnh là tác động của nhà quản lý và sự tham gia của chính bản thân người lao động Tìm được các mối tương quan: Độ tuổi của người công nhân có tác động đến vấn đề xảy ra tai nạn Giới tính có tác động đến tai nạn lao động Khi người công nhân có học vấn tốt hơn, nhận thức an toàn của họ cũng tốt hơn Học vấn có tác động gián tiếp đến tai nạn
Nguyễn Đỗ Tường Vân (2011) nghiên cứu đánh giá sự an toàn lao động ở các
công trường xây dựng, dựa trên các điều kiện vật chất, kỹ thuật đảm bao sự an toàn trong thi công Kết quả nghiên cứu xác định được 91 yếu tố phân thành 14 nhóm.:
An toàn vệ sinh tổng thể, giàn giáo, công cụ cầm tay, thi công đào đất, máy móc độc cơ, thiết bị hạng nặng, thi công cốp pha, khí nén – hàn gas- hàn điện, giao thông vận chuyển, máy cẩu và các thiết bị nâng chuyển, sử dụng điện an toàn, ý tế và phúc lợi, quản lý an toàn Nghiên cứu chỉ ra rằng các nhà thầu có quy mô lớn, dự án án
có quy mô lớn thì việc tổ chức thực hiện an toàn tốt hơn Sự khác biệt này được lý giải do các quy trình, biện pháp kỹ thuật, quản lý an toàn và các tiện ích tại công trường tốt hơn
Trịnh Minh Trí (2014) nghiên cứu xác định các nguyên nhân sai lầm và đưa ra các
biện pháp quản lý phù hợp với mức độ tác động của các nhân tố gây sai làm trên công trường xây dựng Việt Nam Kết quả xác định được 18 nhân tố gây sai lầm được xác định ở 3 nhóm: nhóm nhân tố liên quan đến tài nguyên, nhóm nhân tố liên quan đến tổ chức – quản lý, nhóm nhân tố liên quan đến thái độ hành vi của công nhân Từ đó, nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý sai lầm như: cải thiện các
Trang 2921
nhân tố liên quan đến tài nguyên, quản lý công nhân, thiết bị đầu vào, công tác huấn luyện và đào tạo, công tác kiểm tra, quản lý công việc, chế tài
Bùi Kiến Tín (2014) nghiên cứu xây dựng mô hình cấu trúc SEM thể hiện sự ảnh
hưởng của các nhóm nguyên nhân tai nạn Tai nạn lao động được xem là kết quả của nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân chính và nguyên nhân phụ trong các mối liên hệ phức tạp Các nhóm nguyên nhân chính như sau: điều kiện thiết bị và làm việc, hệ thống pháp luật, điều kiện quản lý Nghiên cứu kết luận công nhân chưa được đào tạo và không sử dụng bảo hộ cá nhân là nguyên nhân chính, nguyên nhân trực tiếp của các vụ tai nạn, tuy nhiên đây không phải là nguyên nhân gốc rễ Nguyên nhân gốc rễ đó chính là nhận thức của công nhân đối với an toàn lao động
Bùi Hoàng Phương (2014) đã kết hợp mô hình EFQM và System dynamics để cải
thiện văn hóa an toàn Tác giả đã xây dựng được bộ khung để đánh giá sự tác động giữa các nhân tố trong văn hóa an toàn của tổ chức Bao gồm 32 thuộc tính được phân thành 6 nhóm nhân tố: lãnh đạo, con người, quan hệ đối tác và nguồn tài nguyên, chính sách và chiến lượng, quy trình, mục tiêu Một mô hình EFQM của văn hóa an toàn được xây dựng bao gồm 6 nhân tố với 30 tiêu chí cũng đã được xây dựng Và các mô hình động về lãnh đạo, con người, quan hệ đối tác và nguồn tài nguyên, chính sách và chiến lược, về quy trình, mục tiêu, chỉ số văn hóa an toàn cũng đã được xây dựng
Bảng 1: Nghiên cứu về An toàn tại Đại học Bách Khoa Tp.HCM
Lê Thị Nam (2016)
Dự đoán hành vi làm việc an toàn trên công trường xây dựng Việt Nam bằng công cụ ANN và hồi quy đa biến
Đặng Đình Luật (2014)
Ứng dụng Benchmarking để cải thiện sự thực hiện của hệ thống an toàn lao động tại công ty xây dựng Việt Nam
Trang 30Bùi Hoàng Phương (2014) Kết hợp mô hình EFQM và ĐHHT để cải thiện văn
hóa an toàn
Trịnh Minh Trí (2014) Quản lý sai lầm trong hoạt động an toàn trên công
trường xây dựng Việt Nam Bùi Kiến Tín (2014)
Phân tích ảnh hưởng các nguyên nhân tai nạn lao động bằng mô hình SEM (Structural Equation Modelling)
Nguyễn Đỗ Tường Vân
Trần Hoàng Tuấn (2009)
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện
an toàn lao động của công nhân xây dựng và đề xuất các giải pháp cải thiện tình trạng an toàn trên công trường
2.3 Động học hệ thống
2.3.1 Hệ thống
Hệ thống có nghĩa là một nhóm phụ thuộc lẫn nhau tạo thành một mô hình thống
nhất Kirkwood (1998) Hay là tập hợp các yếu tố chứa đựng vấn đề liên quan và giải thích các hành vi quan sát được cùng với các mối quan hệ tồn tại giữa các yếu
tố đó
Hệ thống là tập hợp các yếu tố liên quan đến nhau, bất kỳ yếu tố nào thay đổi sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ tập hợp, sự ảnh hưởng của những phần tử đến hệ thống có
Trang 3123
thể là trực tiếp hoặc gián tiếp Để nghiên cứu hệ thống, chúng ta phải biết được các yếu tố nào tạo nên hệ thống, và mối quan hệ tương tác giữa chúng Khi phân tích một hệ thống, chúng ta thường tập trung vào các đặc điểm của các yếu tố cấu thành nên nó Tuy nhiên, để hiểu sự hoạt động của một hệ thống phức tạp, chúng ta cũng phải tập trung vào mối quan hệ tồn tại giữa các yếu tố đó Juan Martín García (2006)
2.3.2 Động học hệ thống
Động học hệ thống là phương pháp để phát triển mô phỏng, thường là mô hình mô
phỏng máy tính, để giúp chúng ta tìm hiểu về độ phức tạp động, hiểu các nguồn kháng chính sách và thiết kế các chính sách hiệu quả hơn (Sterman, 2000)
Mô hình động học hệ thống là một lý thuyết và kỹ thuật mô hình toán học để thiết lập các khung giới hạn, giúp thấu hiểu các vấn đề phức tạp Được bắt đầu phát triển vào những năm 1950 của thế kỷ trước, động học hệ thống giúp tăng cường sự hiểu biết về các quy trình công nghiệp Hiện nay, động học hệ thống đang được sử dụng rỗng rãi trong các lĩnh vực công và tư cho việc phân tích và hoạch định chính sách
Đỗ Công Nguyên (2016)
2.3.3 Các yếu tố của mô hình Động học hệ thống
Sơ đồ vòng lặp nhân quả (Causal loop diagram -CLD)
Một sơ đồ nhân quả bao gồm các biến được kết nối bằng các mũi tên biểu thị các ảnh hưởng nhân quả giữa các biến Các vòng phản hồi quan trọng cũng được xác định trong sơ đồ Các biến có liên quan bởi các liên kết nhân quả, được hiển thị bằng mũi tên Mỗi liên kết nhân quả được gán một cực, hoặc dương (+) hoặc âm (-)
để chỉ ra cách biến phụ thuộc thay đổi khi biến độc lập thay đổi Có hai dạng vòng hồi đáp chính là vòng hồi đáp tăng cường (với tất cả quan hệ dương hoặc một số chẵn các quan hệ âm) và vòng hồi đáp cân bằng (với một số lẻ các quan hệ âm)
Trang 3325
Liên kết phân cực mô tả cấu trúc của hệ thống, không mô tả hành vi của các biến
Nó mô tả những gì sẽ xảy ra nếu có một sự thay đổi, không mô tả những gì thực sự xảy ra
Một sơ đồ CLD là một lược đồ đơn giản của hệ thống, với tất cả các thành tố của nó cùng tương tác với nhau Bằng cách theo dõi tương tác và vòng hồi đáp, giúp chúng
ta hiểu được cấu trúc hệ thống và có thể dự đoán hành vi của hệ thống qua một khoảng thời gian
Theo Sterman (2000), vòng hồi đáp là một trong những khái niệm cốt lõi của ĐHHT Sơ đồ CLD là một công cụ quan trọng để mô tả cấu trúc của một hệ thống
Sơ đồ kho và dòng (Stock and flow)
Kho là sự tích lũy Kho mô tả trạng thái của hệ thống và tạo ra thông tin dựa trên đó các quyết định và hành động được dựa trên Kho cung cấp cho hệ thống quán tính
và cung cấp cho hệ thống bộ nhớ Kho tạo ra sự chậm trễ bằng cách tích lũy sự khác biệt giữa dòng vào và dòng ra của nó Bằng cách tách tốc độ dòng, Kho là nguồn động lực không cân bằng trong các hệ thống Sterman (2000)
Kho và dòng là quen thuộc với tất cả chúng ta (Số lượng người làm việc bởi một doanh nghiệp là một Kho Số dư trong tài khoản ngân hàng của bạn là một Kho) Kho là thay đổi bởi dòng vào và dòng ra Sự khác biệt giữa kho và dòng là sự chậm trễ thời gian
Trang 3527
Theo Sterman (2000) thời gian trễ giữa việc ra quyết định và ảnh hưởng của nó tới trạng thái của hệ thống là việc thông thường và khá rắc rối Trễ tạo ra sự mất ổn định trong các hệ thống Trễ làm giảm khả năng tích lũy kinh nghiệm, kiểm tra các giả thuyết và học hỏi từ thực tế
Việc chậm trễ thì không được mong đợi, tuy nhiên cần phải có thời gian trễ để đo lường và báo cáo các thông tin, ra quyết định Cũng như phải có thời gian để các
quyết định ảnh hưởng tới trạng thái của hệ thống
Điểm mạnh của Động học hệ thống Chinda (2007)
ĐHHT xem xét các chính sách cũng như các quy trình: ĐHHT cho phép các chính sách được đưa vào trong mô hình cũng như các quy trình, sao cho mọi vấn đề với chính sách đều có thể xảy ra giải quyết Các loại chính sách có thể là chính thức hoặc không chính thức Ví dụ về mức tăng ca cao, có thể xuất phát từ một chính sách không chính thức, được hiểu là cảm giác người ta phải làm việc nhiều giờ Chính sách này có thể được đưa vào mô hình ĐHHT
ĐHHT kích thích tư duy hệ thống nghiêm túc: Ý tưởng của ĐHHT là xem xét vấn
đề một cách tổng thể (đặt các vấn đề trong hệ thống), bao gồm cả những yếu tố ảnh hưởng ảnh hưởng đến hành vi của hệ thống (chẳng hạn như mối quan hệ tương quan nguyên nhân và kết quả giữa các biến hệ thống) Kết quả của nó làm nhằm đề xuất một giải pháp phù hợp hơn
ĐHHT bao gồm mức độ cao (định tính, khái niệm), cũng như mức độ thấp (định lượng, chi tiết) mức độ, phân tích: ĐHHT kết hợp cả hai phân tích định tính (chẳng hạn như nguyên nhân sơ đồ vòng lặp), và phân tích định lượng (kết hợp tỷ lệ và cấp độ) Các phân tích đó cung cấp một cơ sở hữu ích cho việc ra quyết định
Giới hạn của Động học hệ thống Chinda (2007)
Khó áp dụng ở cấp chi tiết: Khó khăn này là kết quả của chi phí yêu cầu phân tích
toán học, đặc biệt khi không sử dụng chương trình máy tính
Trang 3628
Gặp vấn đề về độ trễ của thời gian: Ở cấp độ khái niệm, không có tham chiếu đến
độ dài của độ trễ giữa hai yếu tố; đặt một trì hoãn vào sơ đồ chỉ chứng minh rằng có một sự chậm trễ sẽ ảnh hưởng đến kết quả Tại mức độ định lượng, có thể khó dự đoán chính xác độ dài của độ trễ, mà sau đó có thể ảnh hưởng đến kết quả mô phỏng Một số mô phỏng có thể phải được chạy, với độ dài trễ khác nhau, để có được ý tưởng chung về những gì hiệu ứng có thể được
Khó để thiết lập ranh giới của hệ thống: Để thiết lập ranh giới của hệ thống, tất cả
các yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến vấn đề phải được trình bày Trong thực tế, thật khó để đánh giá những yếu tố nào nên được đưa vào hoặc loại trừ
Sử dụng Động học hệ thống cho nghiên cứu trong luận văn này
Việc ứng dụng ĐHHT cho các nghiên cứu trong lĩnh vực xây dựng như trên đã cho thấy tìm năng to lớn của việc ứng dụng ĐHHT để nghiên cứu trong lĩnh vực xây dựng Theo Sterman 1992 trích dẫn bởi Chinda (2007) mô hình ĐHHT có một số lợi thế giúp nó phù hợp với một tổ chức trong việc phát triển các chiến lược và cải thiện hiệu suất Những lợi thế của ĐHHT là:
Phương pháp được nghiên cứu để đối phó với tính động
Mô hình rất phù hợp cho các vấn đề có nhiều mối quan hệ ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau
Nhấn mạnh tính phi tuyến trong các quy tắc của mô hình
Cả dữ liệu cứng (định hướng khách quan, chính thức và định lượng) và dữ liệu mềm (định hướng học tập, trực quan và định tính) đều có thể sử dụng được trong mô hình
Mô hình có thể được sử dụng để đối phó với các hành vi tương lai của hệ thống
Ứng dụng Động học hệ thống để nghiên cứu các vấn đề về an toàn lao động
Trang 3729
Từ tính “động” của dự án xây dựng, dẫn đến các vấn trong quản lý an toàn lao động cũng có tính “động” tương tự
Có nhiều mối quan hệ phức tạp, ràng buộc lẫn nhau
Các nghiên cứu về an toàn được hỗ trợ bởi các số liệu thống kê, khiến các nhà nghiên cứu khó giải thích các yếu tố một cách thích đáng Zhou và Fang (2009) Do đó, cần phải mô tả các vấn đề an toàn trong một mối quan hệ nhân – quả trong ĐHHT, để xem xét các cấu trúc phản hồi và hành vi của hệ thống phức tạp một cách toàn diện
Phần mềm Động học hệ thống
Dynamo (Dynamic models) là ngôn ngữ mô phỏng ĐHHT đầu tiên; trong một thời
gian dài ngôn ngữ và lĩnh vực được coi là đồng nghĩa Được phát triển đầu tiên bởi Jack Pugh tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), ngôn ngữ này đã được cung cấp thương mại từ Pugh-Roberts vào đầu những năm 1960 Ngày nay, Dynamo chạy trên PC tương thích với DOS / Windows Nó cung cấp một môi trường phát triển dựa trên phương trình cho các mô hình ĐHHT
Powersim (www.powersim.com) Vào giữa những năm 1980, chính phủ Na Uy tài
trợ nghiên cứu nhằm cải thiện chất lượng giáo dục trung học bằng các mô hình ĐHHT Dự án này đã dẫn đến sự phát triển của Mosaic, một hệ thống hướng đối tượng chủ yếu nhằm phát triển các trò chơi dựa trên mô phỏng cho giáo dục Powersim sau đó được phát triển như một môi trường dựa trên Windows để phát triển các mô hình ĐHHT cũng tạo điều kiện cho việc đóng gói như các trò chơi tương tác hoặc môi trường học tập
Stella (Structural Thinking Experimental Learning Laboratory with Animation)
(www.iseesystems.com) Được giới thiệu lần đầu trên Macintosh vào năm 1984, phần mềm STELLA đã cung cấp mặt trước được định hướng bằng đồ họa để phát triển các mô hình ĐHHT Các sơ đồ kho và dòng, được sử dụng trong ĐHHT, được
hỗ trợ trực tiếp với một loạt các công cụ hỗ trợ phát triển mô hình Viết phương
Trang 3830
trình được thực hiện thông qua các hộp thoại có thể truy cập từ sơ đồ kho và dòng STELLA có sẵn cho máy tính chạy hệ điều hành Macintosh và Windows
Vensim (www.vensim.com) Được phát triển lần đầu vào giữa những năm 1980 để
sử dụng trong các dự án tư vấn, Vensim đã được cung cấp thương mại vào năm
1992 Đây là một môi trường tích hợp để xây dựng và phân tích các mô hình ĐHHT Vensim chạy trên hệ điều hành Windows và Macintosh Trong nghiên cứu này sử dụng Vensim © PLE for Window Version 7.3.4 được cung cấp bởi Ventana System, Inc cho mục đính học thuật
Các nghiên cứu về Động học hệ thống tại Việt Nam:
ĐHHT đã là hướng nghiên cứu rộng rãi trên thế giới Tại Việt Nam, bắt đầu bằng nghiên cứu rất sớm của Nguyễn Lương Bách (AIT-1991) về việc tự đáp ứng nhu cầu lương thực của Việt Nam Gần đây đã liên tục có những nghiên cứu ứng dụng ĐHHT Bùi Hoàng Phương (2014) đã đề xuất việc kết hợp giữa EFQM và ĐHHT
để cải thiện văn hóa an toàn Hồ Hoàng Duy nghiên cứu sự thay đổi trong quản lý thiết kế dự án xây dựng tại TPHCM bằng mô phỏng ĐHHT Nguyễn Hữu Thừa ứng dụng ĐHHT để phân tích dòng tiền dự án xây dựng Trần Ngọc Sang ứng dụng ĐHHT để phân tích lợi nhuận công ty sản xuất và thi công lắp đá granite Nguyễn Minh Quang kết hợp Value stream mapping và ĐHHT để quản lý chất lượng thi công cho nhà thầu xây dựng tại Việt Nam Phạm Thanh Hải đã xây dựng mô hình động quản lý sự thực hiện trong các công ty xây dựng bằng ĐHHT Nguyễn Quang Trung sử dụng ĐHHT trong dự báo lợi nhuận của các dự án bất động sản tại TPHCM Châu Trần Minh Nhựt đã sử dụng ĐHHT để đánh giá hiệu quản các chiến lượng quản lý rác thải xây dựng Đỗ Công Nguyên (2016) đã ứng dụng ĐHHT giải quyết tranh chấp về tiến độ trong dự án xây dựng Lê Nho Tuấn (2018) đã áp dụng ĐHHT và Logic mờ để xác định chỉ số thu hút của gói thầu thi công đối với các nhà thầu xây dựng
Trang 3931
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi không an toàn
Tác giả đã nghiên cứu từ sách, các bài báo khoa học chuyên ngành, Google Scholar,
… kết hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam và thủ tục pháp lý có liên quan để tiến hành lập bảng tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi không an toàn của công nhân
Bảng 2: Các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi không an toàn
Stt Các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi
không an toàn của công nhân xây dựng Nguồn tham khảo
A Nhân tố liên quan đến điều kiện cá nhân
1 Nhận thức về an toàn của công nhân Jiang và cộng sự (2015);
2 Kiến thức về an toàn của công nhân Jiang và cộng sự (2015);
3 Thái độ của công nhân Jiang và cộng sự (2015); Shin và cộng
sự (2014)
4 Tiêu chuẩn chủ quan của công nhân Jiang và cộng sự (2015);
5 Tình trạng thể chất của công nhân Yahya Khosravi và cộng sự (2014);
B Nhân tố liên quan đến điều kiện môi trường
1 Tiếp xúc với các mối nguy hiểm Jiang và cộng sự (2015);
2 Điều kiện làm việc không an toàn Yahya Khosravi và cộng sự (2014);
Haroun Zerguine và cộng sự (2016)
3 Các tiện ích dành cho an toàn tại công
trường
Yahya Khosravi và cộng sự (2014); Haroun Zerguine và cộng sự (2016)
Trang 4032
Stt Các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi
không an toàn của công nhân xây dựng Nguồn tham khảo
C Nhân tố liên quan đến điều kiện quản lý
1 Quy mô nhà thầu Yahya Khosravi và cộng sự (2014);
8 Phản hồi về hành vi của công nhân Jiang và cộng sự (2015);
9 Huấn luyện an toàn cho công nhân Jiang và cộng sự (2015);
10 Tài nguyên dành cho an toàn Jiang và cộng sự (2015); Haroun
Zerguine và cộng sự (2016)
11 Học tập từ sự cố Jiang và cộng sự (2015);
12 Tập trung vào sản xuất Jiang và cộng sự (2015); Han và cộng
sự (2014)
D Nhân tố liên quan đến môi trường xã hội
1 Các quy định về an toàn của các cơ quan
quản lý nhà nước
Yahya Khosravi và cộng sự (2014); Haroun Zerguine và cộng sự (2016)
2 Môi trường kinh tế Yahya Khosravi và cộng sự (2014);