Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật phân tích dòng chảy FIA dùng detector điện hóa để đánh giá ô nhiễm chì và cadimi trong nước mặt Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật phân tích dòng chảy FIA dùng detector điện hóa để đánh giá ô nhiễm chì và cadimi trong nước mặt luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
- -
PHAN THỊ THANH HẢO
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT PHÂN TÍCH
DÒNG CHẢY (FIA) DÙNG DETECTOR ĐIỆN HÓA ĐỂ ĐÁNH GIÁ Ô
NHIỄM CHÌ VÀ CADIMI TRONG NƯỚC MẶT
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Phan Thị Thanh Hảo
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT PHÂN TÍCH
DÒNG CHẢY (FIA) DÙNG DETECTOR ĐIỆN HÓA ĐỂ ĐÁNH GIÁ
Ô NHIỄM CHÌ VÀ CADIMI TRONG NƯỚC MẶT
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã ngành: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐỖ PHÚC QUÂN
TS LÊ THỊ HOÀNG OANH
HÀ NỘI – 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, với lòng biết ơn và sự kính trọng sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn TS Đỗ Phúc Quân, Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu công nghệ Môi trường và Phát triển Bền vững (Trung tâm CETASD), Trường Đại học Khoa học
Tự nhiên tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em thực hiện đề tài luận văn
Em xin chân thành cảm ơn TS Lê Thị Hoàng Oanh – giảng viên khoa Môi trường, trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã động viên và cũng như lời khuyên
bổ ích cho em những kiến thức về đánh giá ô nhiễm môi trường để em có thể hoàn thành tốt luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô thuộc Bộ môn Công nghệ môi trường, Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia
Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em có thể học tập và làm việc trong suốt thời gian nghiên cứu
Đặc biệt, em xin trân trọng cảm ơn Trường đại học Khoa học Tự Nhiên - đơn vị chủ trì đề tài “Nghiên cứu thiết kế, chế tạo thiết bị quan trắc môi trường trực tuyến đa kênh theo nguyên lý kỹ thuật phân tích dòng chảy FIA nhằm xác định một số kim loại độc hại trong nước”, mã số: ĐTĐL CN.46/16 do TS Đỗ Phúc Quân làm chủ nhiệm đã tạo điều kiện để em có thể tham gia và sử dụng kết quả nghiên cứu của đề tài nghiên cứu khoa học để hoàn thành luận văn này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè luôn quan tâm động viên
và đóng góp ý kiến giúp đỡ em trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Ngày 20 tháng 01 năm 2018 Học viên
Phan Thị Thanh Hảo
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1.TỔNG Q UAN 3
1.1.Ô nhiễm chì và cadimi trong nư ớc mặt 3
1.1.1 Tình hình ô nhiễm chì và cadimi trong nước mặt 3
1.1.2 Tác động đến môi trường và sức khỏe 7
1.1.2.1 Giới thiệu chung 7
1.1.2.2 Tác động đến môi trường và sức khỏe của chì 8
1.1.2.3 Tác động đến môi trường và sức khỏe của cadimi 10
1.2.Phân tích định lượng kim loại nặng bằng kỹ thuật phân tích dòng chảy FIA12 1.2.1 Nguyên tắc hoạt động 14
1.2.2 Các thành phần cơ bản 17
1.2.3 Detector trong hệ FIA 19
1.2.3.1 Các loại detector trong hệ FIA 19
1.2.3.2 Detector điện hóa 20
1.2.4 Một số nghiên cứu xác định kim loại nặng bằng kỹ thuật phân tích dòng chảy (FIA) sử dụng detector điện hóa 22
CHƯƠNG 2.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1.Đối tượng nghiên cứu 26
2.2.Thiết bị, dụng cụ và hóa chất 26
2.2.1 Thiết bị và dụng cụ 26
2.2.2 Hóa chất 27
2.3.Nghiên cứu xây dựng quy trình phân tích bằng hệ thống dòng chảy (FIA) sử dụng detector điện hóa 27
2.3.1 Chế tạo và tối ưu hóa detector điện hóa (điện cực biến tính) 27
2.3.2 Tối ưu hóa các điều kiện hoạt động của hệ FIA 29
2.4.Phương pháp nghiên cứu 30
2.4.1 Phương pháp điện hóa 30
2.4.2 Phương pháp phân tích đối chứng 30
2.4.3 Phương pháp thống kê xử lý số liệu thực nghiệm 31
Trang 52.4.4 Phương pháp đánh giá hiện trạng và nguy cơ ô nhiễm chất lượng nước mặt
31
2.4.4.1 Chọn điểm lấy mẫu 31
2.4.4.2 Lấy mẫu, bảo quản mẫu 33
2.4.4.3 Xử lý mẫu 33
CHƯƠNG 3.KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
3.1.Khảo sát điều kiện hoạt động của hệ thống phân tích dòng chảy FIA sử dụng detector điện hóa 34
3.1.1 Điều kiện chế tạo và điều kiện đo tối ưu của detector điện hóa 34
3.1.1.1 Vật liệu biến tính điện cực 34
3.1.1.2 Nghiên cứu cấu trúc bề mặt điện cực biến tính 37
3.1.1.3 Điều kiện biến tính tối ưu của điện cực GC/CNT/PDA/SbNPs 41
3.1.1.4 Ảnh hưởng của một số chất gây nhiễu 49
3.1.1.5 Điều kiện đo tối ưu 52
3.1.2 Kết quả khảo sát điều kiện hoạt động tối ưu của hệ FIA 55
3.1.2.1 Tốc độ dòng chảy 55
3.1.2.2 Thời gian bơm mẫu 56
3.2.Kết quả khảo sát độ nhạy và độ chính xác của hệ thống phân tích dòng chảy FIA dùng detector điện hóa 57
3.2.1 Đối với mẫu chuẩn 57
3.2.2 Đối với mẫu thực 59
3.3.Đánh giá mức độ ô nhiễm chì và cadimi tổng trong nước mặt của sông Kim Ngưu, sông Tô Lịch, sông Nhuệ và đề xuất giải pháp quản lý ô nhiễm 62
3.3.1 Hàm lượng chì và cadimi tổng trong nước mặt được đo bằng hệ thống FIA dùng detector điện hóa 62
3.3.2 Đánh giá mức độ ô nhiễm chì và cadimi trong nước mặt của sông Kim Ngưu, sông Tô Lịch, sông Nhuệ và đề xuất giải pháp quản lý ô nhiễm 63
KẾT LUẬN VÀ K IẾN N GHỊ 68
TÀI LIỆU THAM K HẢO 70
PHỤ LỤC 74
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
ABS Dung dịch đệm axetat (Acetate buffer solution)
CA Dòng – thời gian (i-t) (Chronoamperometry)
CNT-SDS Ống nano cacbon đa vách – Natri dodexyl sunphát (Carbon
nanotubes - sodium dodecyl sulfate)
CV Von – ampe vòng (Cyclic voltammetry)
DPASV Von – ampe hoàn tan xung vi phân (Differential pulse
anodic stripping voltammetry) EDS Phổ tán xạ năng lượng tia X (Energy dispersive X-ray
spectroscopy) GCE Điện cực glasy cacbon (Glassy carbon electrode)
ITO Điện cực oxit thiếc indi (Indium tin oxide)
FIA Phân tích dòng chảy (Flow injection analysis)
PDA Polydopamin (Polydopamine)
SbNPs Hạt nano antimon (Antimon nanoparticles)
SEM Kính hiển vi điện tử quét (Scanning electron microscope)
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1-1 Các nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng vào môi trường nước 3
Hình 1-2 Ô nhiễm kim loại nặng ở sông Rio Tinto, Tây Ban N ha [9] 4
Hình 1-3 Biểu hiện do nhiễm độc chì [15] 10
Hình 1-4 Bệnh Itai-Itai 12
Hình 1-5 Thành phần cơ bản của hệ FIA 13
Hình 1-6 Quá trình phân tán điển hình trong hệ FIA 15
Hình 1-7 Sơ đồ của một hệ thống phân tích dòng chảy (FIA) đơn giản 18
Hình 2-1 Thiết bị Autolab PGSTAT302N 26
Hình 2-2 Thành phần cấu tạo của hệ thống phân tích dòng chảy FIA 29
Hình 3-1 Tín hiệu DPV của Cd2+ trên điện cực GC/SbNPs (a) và GC/CN T/PDA/SbNPs (b) 35
Hình 3-2 Tín hiệu DPV của Pb2+ trên điện cực GC/SbNPs (a) và GC/CN T/PDA/SbNPs (b) 35
Hình 3-3 Đường chuẩn của Cd2+ (a) và Pb2+ (b) trên điện cực GC/CN T/PDA/SbNPs 36
Hình 3-4 Kết quả chụp ảnh SEM 38
Hình 3-5 Kết quả chụp ảnh EDS của CNT/PDA/SbNPs 38
Hình 3-6 Tín hiệu CV và đường biểu diễn I-v1/2 khi đo dung dịch Fe(CN)6 4-/3-5mM trong KCl 0,1M với điện cực GC/SbNPs (a), GC/CNT/SbNPs (b), GC/CN T/PDA/SbNPs (c) 40
Hình 3-7 Tín hiệu DPV và đường chuẩn của Cd2+ (a) và Pb2+ (b) tại thời gian điện phân PDA tối ưu 42
Hình 3-8 Tín hiệu DPV và đường chuẩn của Cd2+ (a) và Pb2+ (b) tại thế điện phân antimon tối ưu 44
Hình 3-9 Tín hiệu DPV và đường chuẩn của Cd2+ (a) và Pb2+ (b) tại thời gian điện phân antimon tối ưu 46
Hình 3-10 Tín hiệu DPV của Cd2+ 100 µg/l (a) và Pb2+ 100 µg/l (b) trong dung dịch ABS pH 4,5 sau 7 lần đo 48
Hình 3-11 Tín hiệu DPV của Pb2+ khi tăng dần nồng độ Cd2+ (a) và sự phụ thuộc của cường độ tín hiệu của Pb2+ vào nồng độ của Cd2+ (b) 49
Hình 3-12 Đường chuẩn của Cd2+ trong dung dịch chứa Pb2+ 100 µg/l 50
Trang 8Hình 3-13 Tín hiệu DPV của Cd2+ khi tăng dần nồng độ Pb2+ (a) và sự phụ thuộc của cường độ tín hiệu của Cd2+ vào nồng độ của Pb2+ (b) 50Hình 3-14 Đường chuẩn của Pb2+ trong dung dịch chứa Cd2+ 100 µg/l 51Hình 3-15 Tín hiệu DPV của Cd2+ (a) và Pb2+ (b) khi thêm Cu2+ 52Hình 3-16 Ảnh hưởng của thế điện phân làm giàu đến tín hiệu của Cd2+ (a) và Pb2+
(b) 53Hình 3-17 Ảnh hưởng của thời gian điện phân làm giàu đến tín hiệu của Cd2+ (a)
và Pb2+ (b) 54Hình 3-18 Ảnh hưởng của tốc độ bơm đến tín hiệu của Cd2+ (a) và Pb2+ (b) 55Hình 3-19 Ảnh hưởng của thời gian bơm mẫu đến tín hiệu của Cd2+ (a) và Pb2+(b) 56Hình 3-20 Tín hiệu DPV và đường chuẩn của Cd2+ (a) và Pb2+ (b) đo bằng hệ FIA 57Hình 3-21 Tín hiệu DPV thêm chuẩn (a) và đồ thị thêm chuẩn (b) của Cd2+ trong mẫu nước mặt 60Hình 3-22 Tín hiệu DPV thêm chuẩn (a) và đồ thị thêm chuẩn (b) của Pb2+ trong mẫu nước mặt 60Hình 3-23 Biến động hàm lượng của cadimi (a) và chì (b) trong nước sông Tô Lịch, sông K im Ngưu và sông Nhuệ 63
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bả ng 1-1 Giá trị giới hạn của cadimi và chì trong nước mặt [1] 6
Bả ng 1-2 Một số kỹ thuật thường được sử dụng trong hệ FIA 19
Bả ng 1-3 Một số kỹ thuật điện hóa thường được sử dụng trong hệ FIA 21
Bảng 1-4 Một số nghiên cứu xác định kim loại nặng bằng kỹ thuật phân tích dòng kết hợp detector điện hóa 22
Bả ng 2-1 Vị trí lấy mẫu nước 32
Bảng 3-1 Đặc trưng điện hóa của điện cực GC/CNT/PDA/SbNPs khi thời gian điện phân PDA thay đổi 41
Bảng 3-2 Đặc trưng điện hóa của điện cực GC/CNT/PDA/SbNPs khi thế điện phân antimon thay đổi 43
Bảng 3-3 Đặc trưng điện hóa của điện cực GC/CNT/PDA/SbNPs khi thời gian điện phân antimon thay đổi 45
Bả ng 3-4 Điều kiện biến tính tối ưu của điện cực GC/CNT/PDA/SbNPs 47
Bảng 3-5 Độ lặp lại của phép đo điện hóa sử dụng điện cực GC/CNTPDA/SbNPs 48
Bảng 3-6 Ảnh hưởng của thế điện phân làm giàu (Ed ) đến cường độ tín hiệu (Ip)
Trang 10đô thị, chất thải công nghiệp chưa qua xử lý
Hiện nay, mối quan tâm về ô nhiễm kim loại nặng ngày càng tăng đã dẫn đến
sự tăng nhu cầu về giám sát lượng vết của các kim loại nặng trong các lĩnh vực khác nhau như công nghiệp [17], lâm sàng [29], môi trường [8] Thông thường, phân tích lượng vết các kim loại được thực hiện trong phòng thí nghiệm kết hợp với các bước lấy mẫu, vận chuyển và bảo quản mất nhiều thời gian Vì vậy, việc quan trắc tại chỗ lượng vết các kim loại nặng đang là nhu cầu cần thiết trong quá trình sản xuất công, nông nghiệp và lĩnh vực bảo vệ môi trường Trong kiểm soát chất lượng nước, quá trình giám sát liên tục những kim loại độc hại để có thể thực hiện những biện pháp khắc phục kịp thời nhằm tránh được các rủi ro môi trường ngày càng đóng vai trò quan trọng Những phép đo tại chỗ cũng giúp tránh các sai số do nhiễm bẩn, mất mát
và những thay đổi khác (cân bằng), kết hợp với bước thu thập mẫu đơn giản có thể làm giảm chi phí phân tích kim loại một cách đáng kể Một số kỹ thuật như trắc quang, hấp thụ nguyên tử (AAS, GF-AAS), huỳnh quang tia X (XRF), quang phổ phát xạ nguyên tử plasma cảm ứng (ICP-ASE), khối phổ plasma cảm ứng (ICP-MS)….thường được sử dụng để đo lượng vết của các kim loại nặng trong phòng thí nghiệm, nhưng lại không phù hợp với các yêu cầu thử nghiệm hiện trường [35]
Phân tích điện hóa hòa tan được công nhận là một công cụ hữu hiệu để phân tích lượng vết kim loại, bởi vì nó cung cấp dải tuyến tính rộng, giới hạn phát hiện cỡ nanomol, độ nhạy, độ chọn lọc cao, thiết bị đơn giản, giá thành tương đối thấp và phù
Trang 11hợp với khả năng tự động hóa [34, 35] Tuy nhiên, việc áp dụng ASV để xác định đồng thời nhiều chất phân tích trong các nền mẫu phức tạp rất khó thực hiện
Hệ phân tích dòng chảy (FIA) sử dụng detector điện hóa [21] đã được nghiê n cứu để xác định hàm lượng kim loại trong nhiều đối tượng khác nhau với độ nhạy và
độ chính xác cao, đáp ứng điện hóa được mô tả chính xác và đầy đủ hơn, tránh làm nhiễm bẩn mẫu, có thể phân tích đồng thời và hiển thị thông tin của nhiều chất cùng lúc và khả năng phân tích nhanh tại hiện trường bằng trực tuyến Hơn nữa, các hệ thống phân tích dòng chảy thu nhỏ (vi lưu) [25, 34, 35] có thể làm giảm lượng mẫu
và thuốc thử sử dụng cũng như tăng khả năng làm giàu mẫu
Ở nước ta, xác định kim loại nặng bằng phương pháp phân tích điện hóa sử dụng điện cực giọt thủy ngân hoặc màng thủy ngân đã được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Tuy nhiên, hiện nay điện cực dùng thủy ngân ít được sử dụng do độc tính của chúng và dần được thay thế bằng các vật liệu mới như polyme dẫn, vật liệu nano cacbon hoặc các hạt nano kim loại ít độc như antimon và bismut ít gây độc hại cho người phân tích và môi trường Với mục tiêu nghiên cứu một quy trình phân tích nhanh, chính xác và chọn lọc để phục vụ cho nghiên cứu đánh giá kim loại nặng trong
nước mặt, đề tài luận văn thạc sĩ về “Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật phân tích dòng
chảy (FIA) dùng detector điện hóa để đánh giá ô nhiễm chì và cadimi trong nước mặt” đã được nghiên cứu với các nội dung sau:
- Khảo sát điều kiện hoạt động của hệ thống phân tích dòng chảy (FIA) sử dụng detector điện hóa
- Đánh giá độ nhạy và độ chính xác của hệ thống phân tích dòng chảy (FIA) dùng detector điện hóa Kết quả của phương pháp nghiên cứu này được đối chứng với phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS)
- Xác định hàm lượng và đánh giá ô nhiễm chì và cadimi trong mẫu nước mặt của các sông Kim Ngưu, sông Tô Lịch và sông Nhuệ và từ đó đề xuất giải pháp quản lý ô nhiễm
Trang 12CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN 1.1 Ô nhiễm chì và cadimi trong nước mặt
1.1.1 Tình hình ô nhiễm chì và cadimi trong nước mặt
Ngày nay, sự phát triển của các ngành kinh tế công nghiệp (sản xuất hóa chất, sơn, mạ kim loại,…), nông nghiệp (sử dụng thuốc trừ sâu,…), khai thác mỏ (quặng đồng, kẽm,…) đã gây ô nhiễm kim loại nặng cho nguồn nước mặt do phải tiếp nhận những nguồn nước thải ô nhiễm chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đảm bảo theo yêu cầu xả thải Ngoài ra, nước thải đô thị cũng là một nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng vào nước mặt khi xả trực tiếp ra hệ thống sông, ngòi… Các nguồn gây ô nhiễm chính được thể hiện trong hình 1-1
Hình 1-1 Các nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng vào môi trường nước
Trong môi trường nước, một phần kim loại bị hòa tan, một phần hấp phụ lên các hạt lơ lửng, một phần được tích lũy trong sinh vật thủy sinh Các hạt lơ lửng này theo thời gian lắng xuống và tích tụ trong trầm tích Quá trình hòa tan của các kim loại trong nước mặt chủ yếu được kiểm soát bởi các yếu tố: pH, dạng tồn tại, hàm lượng chất mà kim loại có thể hấp phụ, trạng thái oxy hóa của các thành phần trong nước và điều kiện oxy hóa khử của môi trường
Trang 13❖ Trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới, nhiều hệ thống sông bị ô nhiễm kim loại nặng trầm trọng do khai khoáng như ở Rio Tinto (Huelva, Tây Ban Nha) Sông Rio Tinto trải dài 100 km dọc theo đất nước Tây Ban Nha, bắt nguồn từ vùng núi Sierra Morena và chảy về vùng vịnh Gulf Nước sông có pH thấp, hàm lượng kim loại nặng cao do quá trình khai thác mỏ từ 5.000 năm trước trên thượng nguồn Ngày nay, Rio Tinto đã trở thành một trong những hệ thống sông – cửa sông bị ô nhiễm nhất trên thế giới [9] Thực trạng nước sông tại Rio Tinto như hình 1-2
Hình 1-2 Ô nhiễm kim loại nặng ở sông Rio Tinto, Tây Ban Nha [9]
Nhiều công trình khảo sát về mức độ ô nhiễm kim loại nặng trong nước mặt trên thế giới đã được thực hiện Saeed, S M và Shaker, I M (2008) đã khảo sát hàm lượng các kim loại nặng (Fe, Zn, Cu, Mn, Cd, Pb) trong nước và trầm tích ở một số
hồ thuộc vùng châu thổ phía bắc của Ai Cập gồm: Edku, Borollus và Manzala đồng thời đánh giá sự tích lũy của các kim loại nặng trong một số bộ phận (bắp thịt, mang
Trang 14nhất Trong nước, hàm lượng sắt, mangan, chì và cadimi ở hồ Manzala và mangan, chì ở hồ Borollus vượt giới hạn cho phép Trong trầm tích, hàm lượng mangan (ở hồ Edku) và cadimi (ở hồ Manzala) cao hơn giới hạn cho phép Đặc biệt, hàm lượng chì
và cadimi trong cá rô phi ở sông Nin cao, có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người khi cung cấp cho thị trường [31]
Để nghiên cứu, đánh giá sự ô nhiễm kim loại nặng trong nước bề mặt và nước ngầm ở một số vùng của huyện Jalgaon (Maharashtra, Ấn Độ), Baride và cộng sự (2012) đã thu thập 64 mẫu nước từ các nguồn: sông, suối, giếng khoan và giếng ngầm trong khu vực để phân tích hàm lượng các kim loại nặng: sắt, crom, đồng, niken, kẽm, mangan và chì bằng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử AAS Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng các kim loại đều vượt quá quy định của BIS (Cục tiêu chuẩn Ấn Độ
- Bureau of Indian Standards) (2004) và WHO (2004) Nguyên nhân chủ yếu là do sự
xả thải từ các khu công nghiệp, đô thị và khu vực chôn lấp chất thải rắn [6]
Kar và cộng sự (2008) đã thu thập tổng cộng 96 mẫu nước bề mặt trên sông Ganga ở Tây Bengal để phân tích các kim loại nặng Sắt, mangan, kẽm, niken, crom
và chì được phát hiện trong 92 mẫu với hàm lượng tương ứng 0,025-5,49; 0,025-2,72; 0,012-0,370; 0,012-0,375; 0,001-0,044 và 0,001-0,250 mg/l Trong khi cadimi và đồng được phát hiện trong 20 và 36 mẫu dao động tương ứng trong khoảng 0,001-0,003 và 0,003-0,032 mg/l Nhìn chung, hàm lượng sắt, mangan, cadimi và crom có
sự biến động theo mùa cụ thể hàm lượng lớn nhất tương ứng 1,520 mg Fe/l xảy ra vào mùa hè, 0,423 mg Mg/l vào mùa mưa, 0,003 mg Cd/l và 0,020 mg Cr/l xảy ra vào mùa đông[16]
❖ Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiều ngành công nghiệp được mở rộng quy mô sản xuất, cũng như phạm vi phân bố Cùng với đó là sự gia tăng lượng nước thải, nhưng mức đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải chưa đáp ứng được yêu cầu Vùng Đông Nam Bộ, với toàn bộ các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nơi tập trung các khu công nghiệp lớn là
Trang 15vùng có lượng phát sinh nước thải công nghiệp lớn nhất cả nước Số lượng khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải vẫn đang ở mức trung bình (50-60 %), hơn 50 % trong số đó vẫn chưa hoạt động hiệu quả [1] Nhiều ngành công nghiệp xả nước thải
bị ô nhiễm kim loại nặng ra sông, kênh rạch làm ô nhiễm nguồn nước mặt đặc biệt là ngành khai khoáng, sản xuất hóa chất, luyện kim, Hơn nữa, Việt Nam là một nước nông nghiệp, việc sử dụng nước bị nhiễm kim loại nặng để tưới tiêu có thể gây ra những hệ quả lớn liên quan đến sức khỏe con người khi kim loại tích lũy trong chuỗi
thức ăn Vì vậy, quy chuẩn QCVN 08: 2015/BTNMT đã đưa giá trị giới hạn các thông
số chất lượng nước mặt được áp dụng để đánh giá và kiểm soát chất lượng của nguồn nước mặt, làm căn cứ cho việc bảo vệ và sử dụng nước một cách phù hợp Giá trị giới hạn của chì và cadimi theo QCVN 08: 2015/BTNMT được tổng hợp trong bảng 1-1 [1]
(Bộ Tài nguyên và môi trường)
Sông Nhuệ ở Việt Nam là nguồn nước chính cho đất nông nghiệp ngoại thành
và trang trại cá, tuy nhiên việc xả thải từ các nhà máy công nghiệp nằm dọc theo con sông này đã làm suy thoái chất lượng nước của sông Kikuchi và cộng sự (2009) đã quan trắc, đánh giá sự thay đổi chất lượng nước theo không gian và thời gian bằng phép đo các thành phần chính, phân tích cục bộ kim loại nặng trong nước sông Nhuệ (ở nông thôn/ ngoại thành) và một trong các nhánh của nó là sông Tô Lịch (ở đô thị/ nội thành Hà Nội) Hàm lượng các kim loại nặng này thấp hơn tiêu chuẩn chất lượng
Trang 16ngọt của thế giới cụ thể: 0,42-43 lần đối với sông Nhuệ và 0,13-32 lần đối với sông
Tô Lịch [19]
Hiện nay, việc sử dụng nước thải sinh hoạt cho mục đích tưới tiêu là phổ biến
ở các vùng ven đô Việt Nam Vì vậy, Chu Anh Đào và cộng sự (2010) đã thực hiện nghiên cứu đánh giá đặc tính nước thải sinh hoạt của thành phố Hà Nội về mặt giá trị dinh dưỡng và nguy cơ tiềm ẩn khi sử dụng trong nông nghiệp [7] Mẫu được thu từ bốn con sông thoát nước chính của thành phố Hà Nội gồm có sông Lu, sông Sét, sông Kim Ngưu và sông Tô Lịch từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2010 Kết quả phân tích cho thấy nước thải chứa nhiều chất vô cơ từ nguồn thải sinh hoạt và công nghiệp với hàm lượng 1,09-2,14 µg/l Cd; 0,16-0,33 mg/l Cu; 2,75-4,02 µg/l Pb
Nguyễn Công Vinh và cộng sự (2012) đã nghiên cứu chất lượng nước mặt và đất ở khu vực Lâm Thao, Phú Thọ (Việt Nam) [33] Kết quả cho thấy, hàm lượng kim loại nặng (đồng, kẽm, cadimi và chì) trong đất khu vực trồng lúa gần các khu công nghiệp cao, vượt quá tiêu chuẩn tối đa cho phép của Việt Nam do sự xả thải từ các ngành công nghiệp
1.1.2.Tác động đến môi trường và sức khỏe
1.1.2.1 Giới thiệu chung
Kim loại nặng là thuật ngữ dùng để chỉ những kim loại có khối lượng riêng lớn hơn 5 g/cm3 [31]
Hiện nay, những ứng dụng đa dạng của kim loại nặng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: công nghiệp, đồ gia dụng, nông nghiệp, y tế và công nghiệp đã dẫn đến sự phân bố rộng của chúng trong môi trường; làm gia tăng những lo ngại về ảnh hưởng của chúng đối với sức khỏe con người và môi trường [31]
Độc tính của kim loại nặng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: liều lượng, đường thâm nhập, loại hóa chất cũng như độ tuổi, giới tính, di truyền học và tình trạng dinh dưỡng của cá thể tiếp xúc Do độc tính cao cadimi, chì được xếp vào những kim loại
ưu tiên, có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng Những kim loại này được coi là các chất độc
Trang 17hệ thống gây hại đến nhiều cơ quan ngay cả khi hàm lượng phơi nhiễm thấp Chúng cũng được phân loại là chất gây ung thư đối với con người theo Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ và các cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế [31]
Nhìn chung, kim loại nặng khi xâm nhập vào môi trường mà từ đó đi vào chuỗi thức ăn và cuối cùng là cơ thể con người Ngày nay, nhu cầu an toàn thực phẩm ngày càng cao dẫn đến vấn đề ô nhiễm kim loại nặng ngày càng được xã hội quan tâm [26]
Cả triệu người bị nhiễm độc mãn tính kim loại nặng đã trở thành một vấn nạn y tế trên toàn thế giới, hàng năm có tới 1,6 triệu trẻ em chết do các bệnh mà nước uống bị
ô nhiễm là nguyên nhân hàng đầu [10]
❖ Nguồn phơi nhiễm
Chì có thể xâm nhập vào môi trường theo một số cách khác nhau như:
- Hoạt động tự nhiên: Núi lửa phun trào, …
- Hoạt động nhân tạo: Chì được sử dụng chủ yếu trong ngành sản xuất ắc quy axit, sơn bảo vệ chứa chì, đóng tàu, xây dựng, chế tạo thủy tinh và sản xuất pha lê chì, khắc pha lê, khai thác mỏ, luyện kim, tái chế chất thải điện và điện tử, sử dụng xăng pha chì, tinh chế kim loại màu, đốt nhiên liệu hóa thạch… [15, 36]
chì-❖ Con đường phơi nhiễm: Chì chủ yếu ảnh hưởng đến sức khỏe của con người thông qua chuỗi thức ăn, nước và không khí
Đường tiêu hóa: Hàm lượng chì trong thực phẩm cao do sự hấp thụ chì trong
đất của thực vật Một số loại cây trồng chứa hàm lượng chì cao như ngũ cốc và nhiều loại gia vị Bên cạnh đó, việc sử dụng sản phẩm có chứa chì trong sản xuất, phân phối hoặc bảo quản sẽ làm tăng hàm lượng chì trong thực phẩm đặc biệt là đối với các loại thực phẩm hoặc đồ uống có tính axit
Hàm lượng chì trong nước máy cao một phần nhỏ là do sự hòa tan từ các nguồn
tự nhiên, phần lớn là do sự thôi nhiễm từ ống, mối hàn và phụ tùng có chứa chì của
hệ thống ống nước hộ gia đình [36]
Trang 18Đường hô hấp: Hút thuốc lá làm tăng khả năng hấp thụ chì vào cơ thể Sự phơi
nhiễm với chì qua đường hô hấp có thể xảy ra do quá trình tiếp xúc với bụi có chứa
chì trong một số ngành công nghiệp hoặc sử dụng xăng pha chì [36]
❖ Ảnh hưởng đến sức khỏe
Ước tính trong năm 2004, sự phơi nhiễm với chì là nguyên nhân gây ra 143.000 người chết và 0,6 % bệnh tật trên toàn cầu [36] Khi xâm nhập vào cơ thể, chì được vận chuyển đến các cơ quan như não, gan, thận và tích lũy theo thời gian trong răng và xương Sự phơi nhiễm của con người có thể được đánh giá trực tiếp bằng cách đo hàm lượng chì trong máu, răng hay xương [36]
bụng và các triệu chứng khác nhau liên quan đến hệ thần kinh Bệnh não chì được đặc trưng bởi triệu chứng mất ngủ và bồn chồn Ở trẻ em có thể ảnh hưởng đến rối loạn hành vi, học tập và khả năng tập trung Trong trường hợp nhẹ hơn, có thể xảy ra trường hợp rối loạn tâm thần cấp tính và giảm ý thức Khi hàm lượng chì trung bình trong máu dưới 3 mmol/l một số dấu hiệu của triệu chứng thần kinh ngoại vi như tốc
độ truyền dẫn thần kinh giảm và da dễ bị nhạy cảm có thể xảy ra [15, 36]
Nhiễm độc mãn: Nếu phơi nhiễm lâu dài, hàm lượng chì trong máu ở trẻ em
từ 30 µg/100 ml máu trở lên, người lớn khoảng từ 7-35 µg/100 ml sẽ tác hại đến cơ quan tạo máu; hệ thần kinh: bệnh não do chì, thần kinh ngoại biên; thận: tổn thương ống thận, bệnh thận mãn tính không hồi phục; tiêu hóa: cơn đau bụng chì; tim mạch: động mạch thận biến đổi, xơ hóa, tăng huyết áp, viêm cơ tim; sinh sản: đẻ non, chết yểu, giảm khả năng sinh sản ở nam giới; nội tiết: Suy giảm chức năng tuyến giáp, thượng thận [15, 36] Hình 1-3 là một số biểu hiện do nhiễm độc chì
Trang 19Hình 1-3 Biểu hiện do nhiễm độc chì [15]
Tác động đến trẻ em và phụ nữ mang thai: Trẻ em hấp thụ chì gấp 4-5 lần
người lớn (ngoài phụ nữ mang thai) Chì tác động mạnh nhất lên sự phát triển của hệ thống thần kinh Hàm lượng chì trong máu thấp hơn 5 mg/dl (50 mg/l) không gây ảnh hưởng đến chỉ số thông minh (IQ), tuy nhiên tác động tăng khi hàm lượng chì trong
máu tăng Phụ nữ mang thai khi phơi nhiễm với chì cao có thể gây sẩy thai, thai chết
lưu, sinh non và sinh thiếu cân, bị dị tật [36]
IARC (Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế - International Agency for Research on Cancer) đã phân loại các hợp chất chì hữu cơ có khả năng gây ung thư đối với con người (nhóm 2A) [36]
❖ Nguồn phơi nhiễm
Cadimi có thể xâm nhập vào môi trường theo một số cách khác nhau như:
- Hoạt động tự nhiên: Núi lửa phun trào, xói mòn, …
- Hoạt động nhân tạo: Hút thuốc lá, khai thác mỏ, luyện kim và tinh chế kim loại
màu, đốt nhiên liệu hóa thạch, đốt rác thải thành phố (đặc biệt là nhựa và pin chứa cadimi), sản xuất phân bón phốt phát và tái chế phế liệu thép mạ cadimi và chất
Trang 20❖ Con đường phơi nhiễm của cơ thể người với cadimi
Đường tiêu hóa: Cadimi trong môi trường đất và nước có thể được hấp thụ bởi
một số cây trồng và thủy sinh vật từ đó tích tụ trong chuỗi thức ăn Đối với người không hút thuốc, thực phẩm là nguồn tích lũy cadimi chủ yếu Hàm lượng cadimi cao nhất được tìm thấy trong thận và gan của động vật có vú, một số loài hàu, sò, hến và động vật giáp xác Axit hóa đất bị nhiễm cadimi có thể làm tăng lượng cadimi trong cây trồng
Khả năng phơi nhiễm cadimi trong nước uống so với trong thức ăn là tương đối thấp Tuy nhiên, sự thôi nhiễm cadimi từ ống mạ kẽm, hợp kim hàn trong phụ tùng, máy làm nóng, máy làm mát và vòi nước có thể dẫn đến hàm lượng cadimi cao trong nước uống [37]
Đường hô hấp: Hàm lượng cadimi thường được tích lũy tương đối cao trong
lá cây thuốc lá Hút thuốc lá có thể làm tăng đáng kể hàm lượng cadimi trong thận
[15, 37] Gần 10 % tổng số trường hợp phơi nhiễm xảy ra do hít thở và uống nước có chứa cadimi [32]
❖ Ảnh hưởng đến sức khỏe
Mức độ sinh khả dụng và tiềm năng gây ảnh hưởng khác nhau phụ thuộc vào dạng tồn tại của cadimi
Nhiễm độc cấp: Khi hít phải một lượng lớn cadimi, người nhiễm độc bị kích
thích hô hấp nặng xuất hiện các triệu chứng tức ngực, khó thở, xanh tím, sốt, rét run, tim đập nhanh, có thể viêm phổi hóa chất, chết do phù phổi Khi ăn phải một lượng lớn, người bệnh bị buồn nôn, nôn nhiều, đau bụng, tăng tiết nước dãi, rối loạn dạ dày,
tá tràng, co cứng cơ bụng và ỉa chảy, suy thận
Nhiễm độc mãn: Hấp thụ lượng lớn và lâu dài cadimi có thể dẫn đến tổn thương
thận, phổi (khí thũng, tắc nghẽn phổi …), rối loạn chuyển hóa canxi dẫn đến tổn thương xương (mềm xương, loãng xương, bị mất chất khoáng dễ gây gãy xương),
đau loét niêm mạc mũi, răng vàng, phế nang bị dãn, thiếu máu [10, 12, 15, 37]
Ở Nhật Bản, có khu vực đất bị ô nhiễm cadimi do khai thác kẽm, chì, bệnh Itai-Itai đã từng lan rộng và hiện nay vẫn còn thấy ở phụ nữ trên 50 tuổi Bệnh được
Trang 21đặc trưng bởi triệu chứng nhuyễn xương, loãng xương, gãy xương và rối loạn chức năng thận [11] Biểu hiện đặc trưng của người mắc bệnh Itai-Itai như trong hình 1-4
Hình 1-4 Bệnh Itai-Itai
(Environmental toxicity of cadmium and health effect)
IARC (Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế - International Agency for Research on Cancer) đã phân loại cadimi và các hợp chất của cadimi là chất gây ung thư đối với con người (nhóm I) [37] Khi phơi nhiễm qua đường hô hấp, cadimi là một chất gây ung thư Tuy nhiên, khi phơi nhiễm qua đường tiêu hóa, cadimi không được xem là một chất gây ung thư [32]
Phơi nhiễm cadimi thường được xác định bằng phép đo hàm lượng cadimi trong máu hoặc trong nước tiểu [37]
1.2 Phân tích định lượng kim loại nặng bằng kỹ thuật phân tích dòng chảy FIA
Trong nước mặt, kim loại nặng thường có hàm lượng thấp, thành phần mẫu phức tạp vì vậy phép phân tích kim loại nặng cần phải có độ nhạy cao Có rất nhiều phương pháp được sử dụng để xác định lượng vết kim loại nặng trong nước như trắc quang, hấp thụ nguyên tử (AAS, GF-AAS), huỳnh quang tia X (XRF), quang phổ phát xạ nguyên tử plasma cảm ứng (ICP-ASE), khối phổ plasma cảm ứng (ICP-
Trang 22MS)… Những phép đo này có độ chính xác cao, giới hạn phát hiện thấp tuy nhiên chi phí phân tích cao và thường được thực hiện trong phòng thí nghiệm kết hợp với các bước lấy mẫu, vận chuyển và bảo quản mất nhiều thời gian, dễ bị nhiễm bẩn không phù hợp để phân tích hiện trường trong những hoàn cảnh cụ thể như yêu cầu giám sát liên tục chất lượng nước Vì vậy phát triển hệ thống quan trắc tự động tại chỗ với mục đích giám sát lượng vết của các kim loại nặng là cần thiết để có thể thực hiện các biện pháp can thiệp kịp thời nhằm duy trì hàm lượng nằm trong giới hạn cho phép [34]
Các hệ thống phân tích tự động thương mại ra đời để đáp ứng nhu cầu của các phòng thí nghiệm lâm sàng do nhu cầu xác định thường xuyên hơn 30 thành phần có trong các mẫu máu và nước tiểu Hàng trăm triệu các phân tích lâm sàng được thực hiện hàng năm vì vậy rõ ràng cần thiết phải có một phương pháp đơn giản, chính xác, nhanh chóng và có chi phí thấp Đây là động lực để thúc đẩy sự phát triển các hệ thống phân tích tự động đầu tiên Ngày nay, tự động là yêu cầu quan trọng trong phân tích hóa học hiện đại [20] Kỹ thuật phân tích dòng (FIA) được giới thiệu lần đầu tiên bởi Ruzicka vào năm 1975 đã trở thành một trong những kỹ thuật phân tích phổ biến nhất trong một khoảng thời gian ngắn bởi tính đơn giản và dễ sử dụng [23] Những thành phần cơ bản của hệ FIA được thể hiện trong hình 1-5
Hình 1-5 Thành phần cơ bản của hệ FIA
Trang 23Hệ thống FIA có nhiều ưu điểm như khả năng phân tích số lượng mẫu lớn (tần
số lấy mẫu khoảng 30-120 mẫu/giờ), dễ tự động hóa, tiêu thụ một lượng thuốc thử nhỏ (0,4-2,0 ml/phút), độ linh hoạt đáng kể, không cần thiết phải vận hành dưới điều kiện hóa học ở trạng thái ổn định, dễ duy trì và yêu cầu chi phí chế tạo và vận hành thấp do thiết kế đơn giản [20, 24]
Độ phân tán D của vùng mẫu trong dòng chất mang chuyển động được định nghĩa là tỷ số của nồng độ chất phân tích trước và sau quá trình phân tán Đỉnh thường được mô tả theo hệ số phân tán (D) với:
𝐷 = 𝐶𝑜
𝐶𝑚𝑎𝑥 (1) Trong đó: 𝐶o là nồng độ ban đầu của chất phân tích,
𝐶max là nồng độ lớn nhất của chất phân tích,
D bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: thể tích mẫu, tốc độ dòng mang, độ nhớt của dòng mang, chiều dài và cấu trúc dòng chảy
Độ phân tán càng lớn thì mẫu bị pha loãng càng nhiều do đó làm giảm độ lớn tín hiệu của chất phân tích Vì vậy, phải tìm điều kiện tối ưu để giới hạn sự phân tán của vùng mẫu để đạt độ nhạy cao Nhìn chung, thời gian lưu và đường kính ống càng
Trang 24nhỏ thì độ phân tán của vùng mẫu càng nhỏ Quá trình phân tán điển hình diễn ra trong hệ FIA được mô tả trong hình 1-6
Hình 1-6 Quá trình phân tán điển hình trong hệ FIA
Hệ FIA có thể được lập trình để pha loãng hoặc làm giàu chất phân tích Rõ ràng, quá trình phân tán lớn là cần thiết nếu mẫu quá đậm đặc Có thể tăng quá trình phân tán bằng cách giảm thể tích mẫu bơm vào, tăng thể tích kênh hoặc chọn dữ liệu đầu ra tại điểm khác đỉnh cực đại Độ phân tán D:
- 1<D<3: Độ phân tán nhỏ thường được áp dụng khi kết hợp với những detector như điện cực chọn lọc ion và quang phổ nguyên tử
- 3<D<10: Độ phân tán trung bình, được sử dụng đối với những phương pháp liên quan đến phát hiện quang phổ và huỳnh quang
- D>10: Độ phân tán lớn, được sử dụng khi cần pha loãng mẫu với thuốc thử [20]
Các yếu tố ảnh hưởng đến độ phân tán D
Thời gian
Trang 25Vì vậy, bằng cách thay đổi thể tích mẫu có thể thay đổi được độ phân tán D của vùng mẫu: muốn D nhỏ thì thể tích mẫu bơm phải lớn nhưng không được lớn hơn giá trị Vs(1/2) (Vs(1/2) là thể tích mẫu bơm vào hệ FIA để đạt được chiều cao đỉnh bằng
½ chiều cao đỉnh ở trạng thái dừng Vs(1/2) là thể tích mẫu lớn nhất được phép bơm vào hệ FIA để thu được mối quan hệ tuyến tính giữa chiều cao của đỉnh và hàm lư ợng chất phân tích Tăng thể tích mẫu làm tăng độ nhạy của phép đo
• Tốc độ bơm pha động
Vùng mẫu bắt đầu được hình thành từ thời điểm mẫu phân tích được bơm vào
hệ FIA và chuyển động đến bình dòng chảy của detector dưới tác dụng đẩy của dòng chất mang Vì thế, tốc độ bơm của dòng chất mang có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành, tồn tại và phân tán của vùng mẫu Sự hình thành đó được biểu diễn bằng phương trình sau:
𝑡𝑅 = 𝑉𝑟
𝑄 (3) Trong đó: tR là thời gian lưu
𝑉𝑟 là thể tích vòng mẫu
𝑄 là tốc độ bơm
Khi thay đổi tốc độ bơm, thời gian lưu thay đổi làm thay đổi quá trình pha loãng Khi D thay đổi thì nồng độcũng thay đổi kéo theo tín hiệu thay đổi tương ứng Khi tốc độ bơm dòng chất mang tăng thì khả năng trộn mẫu với thuốc thử tăng tuy nhiên mức độ tăng tốc độ dòng bơm cũng có giới hạn vì khi tốc độ quá lớn thì vùng mẫu sẽ mở rộng dẫn đến đỉnh tín hiệu bị mở rộng làm giảm chiều cao đỉnh [20, 24]
• Đường ống phân phối
Độ phân tán tỉ lệ thuận với bán kính ống dẫn Nên sử dụng đầu nối có thể tích chết bằng 0 giữa những đường ống khác nhau để tránh được sự thay đổi đường kính ống
Trang 26Độ phân tán cũng bị ảnh hưởng đáng kể bởi cấu trúc dòng chảy Nếu đường ống có dạng cuộn, chất lỏng chảy qua ống sẽ chịu ảnh hưởng của dòng thứ cấp gây
ra bởi lực hướng tâm tác dụng lên các phần tử chất lỏng dẫn đến sự phân tán của chất lỏng Vì vậy, các cuộn phản ứng được ưu tiên sử dụng trong hệ FIA Hiệu quả trộn mẫu với thuốc thử thậm chí còn cao hơn khi sử dụng các đoạn ống phản ứng thắt nút hoặc sử dụng chuỗi các đoạn phản ứng đơn giọt (singlebead string reactors, SBSR gồm ống dài được nhồi các hạt thủy tinh nhỏ [20]
Trong hệ thống FIA đơn kênh, khi vùng mẫu di chuyển đến detector, tín hiệu của hệ thống FIA tại thời điểm được chọn trong dòng mang phụ thuộc vào hai quá trình: quá trình vật lý vùng phân tán và quá trình hóa học xảy ra giữa thuốc thử và mẫu Phản ứng hóa học xảy ra theo phương trình:
𝐴 + 𝑅 → 𝑃 (4) Trong đó: A là chất phân tích
R là thuốc thử
P là sản phẩm
Nhìn chung, tín hiệu thu được ở detector liên quan trực tiếp đến nồng độ của sản phẩm P (Cp) và phụ thuộc vào một vài thông số như tốc độ phản ứng hóa học (k), nồng độ chất phân tích ban đầu (CAo) và thuốc thử (CRo), hệ số khuếch tán (D), thời gian lưu trong hệ FIA (tR)
Khi phân tích lượng vết, độ nhạy của phép đo được nâng cao bằng cách bơm một thể tích mẫu lớn, giảm thể tích kênh, làm giàu chất phân tích Với kỹ thuật làm giàu, mỗi chu kì lấy mẫu phải bao gồm 2 chế độ sau: làm giàu và hòa tan Hệ số khuếch tán có thể làm giảm xuống đến 0,01 khi áp dụng phương pháp này
1.2.2 Các thành phần cơ bản
Hệ FIA đơn giản gồm bộ phận chính là detector (bộ phận phát hiện) và các bộ phận hỗ trợ khác gồm bộ đẩy, bơm dòng, bộ phận trộn/ tách/ biến tính và bộ phận phân tích dữ liệu như hình 1-7
Trang 27Hình 1-7 Sơ đồ của một hệ thống phân tích dòng chảy (FIA) đơn giản
Trong thực tế, các thiết bị trong hệ FIA được thiết kế một cách rất linh hoạt
Ví dụ, nếu phép phân tích yêu cầu nhiều thuốc thử, dòng bổ sung có thể được sáp nhập với dòng mang tại những điểm thích hợp trong bộ phân phối Bơm nhu động, bơm lưu lượng hình sin và bình nén khí có thể được sử dụng như bộ đẩy trong FIA Theo yêu cầu thực tế, van 6 chiều, 8 chiều, 10 chiều hoặc hai van liên kết có thể được
dòng
Trộn/ tách/ biế n tính
Bơm thủy động
Bơm định lượng
Cuộn phản ứng
Phân hủy/ phản ứng quang/ tách Nút phản ứng
Phản ứng chuỗi hạt đơn
Trang 28sử dụng để trích mẫu Trong những ứng dụng khác nhau có thể lựa chọn những detector phù hợp
1.2.3 Detector trong hệ FIA
1.2.3.1 Các loại detector trong hệ FIA
Hệ thống phân tích dòng chảy cần một hoặc nhiều thiết bị phát hiện được sử dụng để cảm biến sự thay đổi của độ hấp thụ, quang hóa, huỳnh quang, phát
xạ hoặc hấp thụ nguyên tử, pH, thế điện cực, dòng khuếch tán, độ dẫn điện, độ đục,… Detector cần có thể tích quét nhỏ (6-30 µl) để tránh sự phân tán vùng mẫu quá mức,
sự xuất hiện của các bọt khí hoặc sự hấp phụ của các sản phẩm phản ứng bị nhuộm màu Các detector trong FIA và các kỹ thuật liên quan phải tạo ra tín hiệu nhanh, lặp lại, không có những hiệu ứng trễ, dải tuyến tính rộng, có độ bền cơ học khi tiếp xúc với các chất có trong thành phần mẫu và thuốc thử Một số kỹ thuật thường được sử dụng trong hệ FIA được tổng hợp trong bảng 1-2 [20]
Trang thiết bị phức tạp, đắt tiền, giá thành phân tích cao
Điện hóa
Độ dẫn (conductometry), điện thế (potentiometry), Von – ampe (voltammetry)
và đo dòng (amperometry)
Độ nhạy và độ tin cậy cao Sử dụng ít năng lượng Chi phí phù hợp, thiết bị gọn
Trắc quang
Sự hấp thụ và phát xạ: trắc quang, quang phổ, mảng diode, …
Giới hạn phát hiệ n tương đối cao
Phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm
và kỹ năng của người phân tích
Trang 291.2.3.2 Detector điện hóa
Phân tích hòa tan điện hóa luôn được công nhận là một công cụ tốt để phân tích lượng vết kim loại Phương pháp này được đặc trưng bởi độ nhạy cao, dải tuyến tính rộng, thể tích nhỏ, đáp ứng nhanh, thiết bị tương đối đơn giản và giá thành hợp
lý [27]
Nguyên tắc: Hàm lượng chất phân tích được phát hiện dựa trên những tính
chất điện hóa của chúng Đối với detector điện hóa theo nguyên tắc đo dòng theo thời gian (i-t), phát hiện điện hóa thường được thực hiện bằng cách kiểm soát thế điện cực làm việc tại một giá trị không đổi và giám sát dòng như là một hàm của thời gian Vì vậy, đáp ứng dòng phản ánh nồng độ của các hợp chất này khi chúng đi qua bộ phát hiện Qua bộ phát hiện của hệ thống phân tích dòng chảy thu được kết quả đỉnh dòng nhọn, theo đó, độ lớn của đỉnh dòng được sử dụng để tính toán nồng độ của chất cần phân tích Các đỉnh dòng được xếp chồng trên dòng nền không đổi (gây ra bởi phản ứng oxy hóa khử của dung dịch mang hoặc pha động) Dòng nền lớn (dự kiến là ở thế cao) làm tăng độ nhiễu (phụ thuộc vào tốc độ dòng chảy) Ngoài ra, phát hiện catot của chất khử bị cản trở bởi sự hiện diện ở lượng vết của oxy trong dung dịch chảy Nhiễu nền bị ảnh hưởng mạnh bởi xung động của máy bơm [34] Một số kỹ thuật điện hóa sử dụng phổ biến trong FIA được thể hiện trong bảng 1-3
Trang 30Ba ̉ ng 1-3 Một số kỹ thuật điện hóa thường được sử dụng trong hệ FIA
Chronopotentionmetry
Phân tích hòa tan thế
Phép đo thế ứng với thời gian khi dòng không đổi
phép đo độ dẫn
Potentionmetry
Điện cực chọn lọc ion
Điện cực oxy hóa khử
Transistor hiệu ứng trường chọn
lọc ion (ISFET-Ion-Sensitive
Field-Effect Transistor)
Đo thế
Voltammetry (Von – ampe)
Polarography
Hòa tan anot hoặc catot
Đo dòng ở thế thay đổi
Trong đó, von – ampe hòa tan anot (ASV) là một trong những phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất bởi vì nó cung cấp dải tuyến tính rộng, giới hạn phát hiện thấp, độ nhạy, độ chọn lọc cao, thiết bị đơn giản, giá thành tương đối thấp, có khả năng di động và phù hợp với khả năng tự động hóa
Tuy nhiên, việc áp dụng ASV để xác định đồng thời nhiều chất phân tích [5, 13] trong các nền mẫu phức tạp rất khó thực hiện do xảy ra quá trình hấp phụ các thành phần ảnh hưởng lên bề mặt điện cực làm mất hoạt tính của điện cực dẫn đến kết quả không lặp lại Hơn nữa, rất khó có thể phân tích mẫu đa thành phần do cực phổ phức tạp Chọn lựa dung dịch hỗ trợ điện phân thích hợp có thể làm tăng hiệu
Trang 31quả của kỹ thuật điện hóa khi phân tích đồng thời nhiều chất nhưng yêu cầu xử lý nhiều dữ liệu liên quan đến hoạt động điện hóa của kim loại trong những môi trường khác nhau, sự ảnh hưởng hóa học giữa từng yếu tố và thành phần mẫu, sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các ion có mặt, sự chồng chéo các đỉnh hoặc sự dịch chuyển đỉnh cũng như thời gian phân tích tối thiểu và hiệu quả phân tích
Hệ thống FIA kết hợp với kỹ thuật điện hóa [8, 14, 17, 18, 21, 30] nâng cao hiệu quả của quá trình xử lý mẫu và thí nghiệm làm cho đáp ứng điện hóa được mô
tả chính xác và đầy đủ hơn, tránh bị nhiễm bẩn khi làm việc trong hệ kín, có thể phân tích đồng thời và hiển thị thông tin của nhiều chất cùng lúc và khả năng phân tích nhanh tại hiện trường bằng trực tuyến Hơn nữa, các hệ thống dòng thu nhỏ có thể giảm thiểu lượng mẫu và thuốc thử cũng như tăng khả năng làm giàu mẫu
1.2.4 Một số nghiên cứu xác định kim loại nặng bằng kỹ thuật phân tích
dòng chảy (FIA) sử dụng detector điện hóa
Trên thế giới, nhiều công trình nghiên cứu sử dụng hệ thống dòng chảy kết hợp detector điện hóa đã được thực hiện để phân tích lượng vết kim loại nặng trong nhiều mẫu khác nhau như nước ngọt, nước mặn, nước uống thậm chí môi trường [8,
14, 17, 18, 21, 30] được tổng kết trong bảng 1-4
dòng kết hợp detector điện hóa
thuật
Ion phân tích
Giới hạn phát hiện (µg/l)
Dải tuyến tính (µg/l) Năm Tài
Trang 322013
[17]
Trang 33Staden và Matoetoe (2000) đã sử dụng kỹ thuật von – ampe xung vi phân trong
hệ thống dòng chảy để xác định đồng thời Cu2+, Cd2+, Pb2+ và Zn2+ bằng điện cực glasy cacbon (GC) thu được dải tuyến tính là 50-500 µg/l đối với Cu2+, Cd2+, Pb2+ và 100-400 µg/l đối với Zn2+ [28] Giới hạn phát hiện của Cu2+, Cd2+, Pb2+ và Zn2+ tương ứng là 39; 9,6; 16,6 và 14,7 µg/l
Kefala và Economou (2006) sử dụng điện cực màng bismut phủ polyme để xác định Cd2+ và Zn2+ bằng kỹ thuật von – ampe hòa tan anot sóng vuông (SWASV) trong chế độ phân tích trích dòng tuần tự (SIA) [18] Đối với thể tích mẫu 1,2 ml, giới hạn phát hiện thu được là 2 µg/l đối với Pb2+ và Cd2+, 6 µg/l đối với Zn2+ và dải tuyến tính là 2-60 µg/l đối với Pb2+ và Cd2+ 6-80 µg/l đối với Zn2+ Tần số đo từ 10 đến 20
h-1 (phụ thuộc vào thể tích mẫu hút), độ lệch chuẩn tại nồng độ 20 µg/l là 5,1 % đối với Cd2+, 5,9 % đối với Pb2+ và 6,2 % đối với Zn2+ Tác giả đã chứng minh rằng điện cực màng Bi phủ polyme kết hợp với SIA có độ nhạy cao và thân thiện với môi trường
để giám sát trực tuyến lượng vết của các kim loại nặng bằng ASV một cách nhanh chóng với chi phí thấp
Ninwonga và cộng sự (2012) đã phân tích trực tuyến Pb2+ và Cd2+ bằng cách kết hợp kỹ thuật ASV với SIA sử dụng điện cực CNT in lưới phủ bismut thu được giới hạn phát hiện 0,01 µg/l đối với cả Pb2+ và Cd2+ [21] Phương pháp được thực hiện dựa trên quá trình làm giàu ion kim loại bằng cách chiết pha rắn sử dụng cột nhựa mini chứa phức Analig TE-05 Sau đó, những ion kim loại được rửa giải khỏi cột nhựa bằng axit HCl 1M và được tích tụ trên bề mặt điện cực ở -1,3 V và sau đó được đo bằng ASV Dưới điều kiện tối ưu, khả năng làm giàu của Pb2+ và Cd2+ tương ứng gấp 11,9 và 6,6 lần, dải tuyến tính chia làm hai khoảng 0,5-15 µg/l và 15-70 µg/l
Điện cực cacbon in lưới đã được Keawkim và cộng sự (2013) biến tính thành công bằng nafion/ ete vòng/ màng bismut nhằm mục đích xác định Pb2+ và Cd2+ bằng von – ampe hòa tan anot (ASV) trong phân tích dòng tuần tự (SIA) Giá trị giới hạn phát hiện thu được là 0,11 µg/l đối với Pb2+ và 0,27 µg/l đối với Cd2+, dải tuyến tính
là 0,5-60 µg/l
Trang 34Ở Việt Nam, phân tích định lượng kim loại nặng bằng kỹ thuật phân tích dòng chảy chưa được nghiên cứu rộng rãi tuy nhiên phân tích điện hóa đã được quan tâm, nghiên cứu Nhiều công trình khoa học đã được thực hiện nhằm nghiên cứu chế tạo những cảm biến xác định kim loại nặng có giới hạn phát hiện thấp trong các môi trường khác nhau
Phan Thị Ngọc Như và Nguyễn Bá Hoài Anh (2009) đã khảo sát và ứng dụng điện cực vàng màng thủy ngân và vi điện cực vàng màng bismut để phân tích hàm lượng vết chì bằng phương pháp von – ampe hòa tan thu được giới hạn phát hiện của chì trên vi điện cực vàng màng bismut là 0,7 µg/l (tích tụ 60 s), và trên màng thủy ngân là 2,4 µg/l (tích tụ 60 s) Độ lặp lại RSD thu được trên vi điện cực vàng màng bismut là 5 % và 3 % tương tứng với nồng độ Pb2+ 10 µg/l trong 15 s tích tụ, và Pb2+
30 µg/l trong 60 s tích tụ (n = 5); vi điện cực vàng màng thủy ngân là 11 %, 8 %, và
4 % tương ứng với nồng độ Pb2+ 10 µg/l, 30 µg/l và 70 µg/l trong 60 s tích tụ (n = 4) [4]
Cao Xuân Hoàng và cộng sự đã biến tính thành công điện cực xác định đồng thời hàm lượng siêu vết Pb2+ và Cd2+ bằng kỹ thuật DPV trên điện cực cacbon paste phủ bismut Phương pháp này đã làm tăng độ lặp lại của dòng đỉnh hòa tan của các ion kim loại: RSD = 0,8 % (n = 9) đối với Pb2+ và 1,1 % (n = 9) đối với Cd2+, giới hạn phát hiện thấp 0,05 µg/l cho mỗi kim loại với thế điện phân làm giàu là -1,2 V trong khoảng thời gian điện phân 60-120 s Quy trình phân tích DPV sử dụng điện cực cacbon paste phủ màng bismut đã được áp dụng thành công để phân tích đồng thời Pb2+ và Cd2+ trong một số mẫu nước tự nhiên ở tỉnh Bình Định, Việt Nam [3]
Tuy nhiên, phân tích nhanh kim loại bằng cách kết hợp hệ thống phân tích dòng chảy (FIA) với kỹ thuật điện hóa vẫn còn khá mới mẻ và chưa được nghiên cứu sâu để ứng dụng trong thực tế vì vậy việc nghiên cứu hệ thống dòng chảy là cần thiết
Trang 35CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu chế tạo điện cực và khảo sát điều kiện tối ưu của hệ thống phân tích dòng chảy FIA
- Phân tích hàm lượng chì và cadimi trong mẫu nước sông Kim Ngưu, sông Tô Lịch và sông Nhuệ bằng hệ thống phân tích dòng chảy FIA và đánh giá ô nhiễm chì và cadimi trong nước sông Kim Ngưu, Tô Lịch và sông Nhuệ
2.2 Thiết bị, dụng cụ và hóa chất
2.2.1 Thiết bị và dụng cụ
- Thiết bị Autolab PGSTAT302N, Eco Chemie, Hà Lan; phần mềm GPES 4.9 như hình 2-1
- Điện cực glasy cacbon (GC) (Metrohm, Thụy Sĩ)
- Điện cực so sánh Ag/AgCl (Metrohm, Thụy Sĩ)
- Điện cực đối platin (Metrohm, Thụy Sĩ)
- Máy nước khử ion NanoPure Diamond (Mỹ)
- Máy rung siêu âm Elma D-78244 (Singen/HTW, Đức)
- Máy đo pH 744 (Metrohm, Thụy Sĩ)
Trang 362.2.2 Hóa chất
- Dung dịch chuẩn gốc Cd(NO3)2, Pb(NO3)2, Sb(NO3)3 (dung dịch chuẩn phân tích hấp thụ nguyên tử 1000 mg/l, Sigma-Aldrich)
- Axit HCl, H2SO4, HNO3, CH3COOH và CH3COONa.3H2O (Merck)
- K3Fe(CN)6, K4Fe(CN)6, KCl (Merck)
- Dung dịch gốc của Pb2+ và Cd2+, Sb3+ được chuẩn bị bằng cách pha loãng từ dung dịch gốc chuẩn tương ứng
- Dung dịch đệm ABS 0,1 M, pH 4,5 được chuẩn bị bằng cách hòa tan 1,224 g
CH3COONa.3H2O vào 100 ml nước khử ion, thêm 0,914 ml CH3COOH và định mức 250 ml
- Dung dịch K3Fe(CN)6/K4Fe(CN)6 5,0 mM trong KCl 1,0 M được pha bằng cách hòa tan 0,1646 g K3Fe(CN)6, 0,2112 g K4Fe(CN)6 và 0,745 g KCl vào nước và định mức 100ml
- Dung dịch HCl, H2SO4, HNO3 được pha loãng từ các dung dịch gốc tương ứng
- Tất cả các dung dịch đều được chuẩn bị bằng nước khử ion
- Các đồ dùng, dụng cụ bằng thủy tinh được tráng rửa bằng axit và ngâm qua đêm trong axit
2.3 Nghiên cứu xây dựng quy trình phân tích bằng hệ thống dòng chảy (FIA) sử dụng detector điện hóa
2.3.1 Chế tạo và tối ưu hóa detector điện hóa (điện cực biến tính)
Quy trình biến tính điện cực
- Bước 1: Làm sạch bề mặt điện cực Đánh bóng bề mặt điện cực GC bằng bột
nhôm có kích thước 3 µm Rung siêu âm trong 20 s để loại bỏ bột nhôm còn bám trên bề mặt sau đó rửa sạch bằng nước khử ion Quét CV trong dung dịch Fe(CN)63-/Fe(CN)64- để kiểm tra khả năng dẫn điện của điện cực
- Bước 2: Phân tán CNT: CNT chưa biến tính không phân tán trong dung dịch
do bề mặt của CNT có độ kỵ nước cao Vì thế, CNT cần được phân tán trong
Trang 37natri dodexyl sunfat (SDS) 0,1 M sao cho phần trăm khối lượng của CNT trong
dung dịch là 0,1 %, rung siêu âm khoảng 1 giờ, sau đó để ổn định
Chuẩn bị điện cực GC/CNT: Phủ 3 µl CNT-SDS lên trên bề mặt điện cực GC
và làm khô ở nhiệt độ phòng sẽ tạo thành một lớp màng mỏng CNT-SDS trên
bề mặt của điện cực GC (điện cực được ký hiệu GC/CNT)
- Bước 3: Tổng hợp lớp polydopamin lên điện cực GC/CNT Lớp màng
polydopamin được tổng hợp lên điện cực GC/CNT bằng phương pháp điện hóa trong dung dịch DA 10 mM Polyme hình thành sau khi quét CA ở thế 0,5 V; trong một khoảng thời gian nhất định, điện cực so sánh Ag/AgCl (KCl bão
hòa) Điện cực sau khi điện phân PDA được ký hiệu là GC/CNT/PDA
- Bước 4: Điện phân hạt nano antimon lên bề mặt điện cực Các hạt antimo n
được hình thành trên bề mặt điện cực GC/CNT/PDA bằng cách quét thế không đổi trong dung dịch Sb3+ 2 mg/l pha trong HCl 0,01 M ở thế -1,2 V, trong một khoảng thời gian nhất định Điện cực sau khi điện phân antimon được ký hiệu
là GC/CNT/PDA/SbNPs
Quy trình tối ưu hóa các điều kiện của detector điện hóa (điện cực biến tính): Thực
hiện quá trình biến tính bằng cách cố định các thông số ảnh hưởng đến tín hiệu đo và
thay đổi điều kiện chế tạo của thông số cần khảo sát như sau:
- Vật liệu dùng biến tính điện cực trần GC
- Thời gian điện phân dopamin
- Thế và thời gian điện phân antimon
- Ảnh hưởng của một số chất gây nhiễu
Quy trình tối ưu hóa điều kiện đo Cd 2+ và Pb 2+ : Khảo sát ảnh hưởng của một số điều
kiện đo có ảnh hưởng đến tín hiệu của Cd2+ và Pb2+ bằng cách cố định các thông số ảnh hưởng đến tín hiệu đo và thay đổi:
- Thời gian làm giàu mẫu
- Thế điện phân làm giàu
Trang 382.3.2 Tối ưu hóa các điều kiện hoạt động của hệ FIA
Thiết kế hệ thống phân tích dòng chảy (FIA)
Hệ thống phân tích dòng chảy (FIA) gồm các thành phần: bơm nhu động, ống dòng, tế bào dòng chảy (điện cực so sánh, điện cực đối, điện cực làm việc) được kết nối với autolab và máy tính như hình 2-2
Hình 2-2 Thành phần cấu tạo của hệ thống phân tích dòng chảy FIA
Tối ưu hóa các điều kiện hoạt động của hệ FIA: Sau khi tối ưu hóa được
điều kiện biến tính điện cực, thực hiện lắp ráp vào hệ FIA theo sơ đồ hình 2-2 và khảo sát các yếu tố có thể ảnh hưởng đến tín hiệu của Cd2+ và Pb2+ như sau:
- Tốc độ dòng chảy: Tốc độ dòng bơm mẫu ảnh hưởng đến tốc độ khuếch tán
ion kim loại từ môi trường lên bề mặt điện cực Khả năng làm giàu tương ứng với giới hạn phát hiện, độ dốc và khoảng tuyến tính của kim loại cần khảo sát
Điện cực đối
Điện cực làm việc (detector điện hóa)
Điện cực so sánh
Trang 39Thí nghiệm khảo sát tốc độ bơm dòng mẫu được thực hiện bằng cách cố định thể tích mẫu và thay đổi tốc độ bơm từ 1,65 ml/phút đến 2,1 ml/phút Chọn pha động cho hệ FIA là dung dịch đệm ABS 0,1 M, pH 4,5
- Thời gian bơm mẫu bơm: Thời gian bơm mẫu ảnh hưởng đến thời gian làm
giàu mẫu trên bề mặt điện cực từ đó làm tăng độ nhạy của phép đo Khi thể tích mẫu phân tích bơm vào hệ FIA tăng thì độ phân tán của vùng mẫu giảm Khi đó mẫu ít bị pha loãng và tín hiệu FIA thu được tốt hơn Tuy nhiên khi tăng thể tích mẫu đến một giá trị nào đó sẽ làm tăng độ rộng pic và sử dụng mẫu không cần thiết Vì vậy cần phải nghiên cứu chọn thể tích mẫu phân tích
là tối ưu để đảm bảo thu được tín hiệu tốt, tránh lãng phí mẫu
Để khảo sát ảnh hưởng của thời gian bơm mẫu vào hệ FIA, tiến hành tương tự với thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của tốc độ dòng chất mang, cố định tốc độ bơm
và thay đổi thể tích mẫu khác nhau từ 90 s đến 300 s
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp điện hóa
Sử dụng kỹ thuật quét DPV để đo tín hiệu của Cd2+ và Pb2+, quá trình gồm 2 giai đọan:
Giai đoạn làm giàu: Chất phân tích được làm giàu lên bề mặt điện cực làm
việc bằng cách áp thế không đổi trong một khoảng thời gian nhất định trong dung dịch chứa đệm ABS 0,1 M, pH 4,5 và ion kim loại cần phân tích
Giai đoạn hoà tan: Sau khi làm giàu chất phân tích, ngừng khuấy và sau 10 s,
thế được ghi lại bằng cách quét DPV (thế bước 6 mV, biên độ 50 mV, thời gian xung 0,2 s) Trước chu kỳ tiếp theo, thực hiện quá trình làm sạch bằng cách áp thế 0,3 V trong 60 s (có khuấy) để loại bỏ ion kim loại cần phân tích
2.4.2 Phương pháp phân tích đối chứng
Độ chính xác của phương pháp nghiên cứu được thực hiện bằng cách sử dụng
hệ số chuẩn Fisher để đánh giá sự phù hợp của kết quả phân tích hàm lượng chì và
Trang 40cadimi trong mẫu thực thu được bởi phương pháp phân tích dòng chảy sử dụng detector điện hóa với phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS, máy quang phổ hấp thụ nguyên tử Shimazu 630 (Nhật)
2.4.3 Phương pháp thống kê xử lý số liệu thực nghiệm
Số liệu thực nghiệm và đường chuẩn: sử dụng phần mềm Excel, hệ số chuẩn Fisher để xử lý số liệu
2.4.4 Phương pháp đánh giá hiện trạng và nguy cơ ô nhiễm chất lượng
nước mặt
2.4.4.1 Chọn điểm lấy mẫu
Sông Tô Lịch bắt nguồn từ Hồ Tây và chảy vào sông Nhuệ Sông Tô Lịch là dòng sông nhận phần lớn lượng nước thải sinh hoạt của thành phố Hà Nội Sông bắt đầu từ cống Phan Đình Phùng, qua các kênh Thụy Khuê, Bưởi, Cầu Giấy, Cầu Mới đến đập Thanh Liệt đổ ra sông Nhuệ tại cầu Tó hoặc chảy vào đập Hòa Bình ở phía Nam Hà Nội Sông Tô Lịch dài 14,8 km, rộng 30-40 m, sâu 3-4 m Vùng lưu vực chính, trừ vùng lưu vực của 3 sông trên, là 2.000 ha, lưu lượng nước thải là 110.000 đến 125.000 m3/ngày với dân số hơn 560 nghìn người Sông Tô Lịch là một phức hợp của các nhà máy: cơ khí, cao su, xà phòng và thuốc lá ở khu vực Thượng Đình, các nhà máy da thuộc và sơn ở khu vực Thanh Liệt Sự ô nhiễm nước sông và trầm tích của dòng sông này gây ra bởi hàm lượng các chất hữu cơ và các kim loại nặng (cadimi, crom, đồng, chì, kẽm) trong nước xả từ các khu công nghiệp, làng nghề cao
Sông Nhuệ bắt nguồn từ cống Liên Mạc, lấy nước từ sông Hồng trong địa phận quận Bắc Từ Liêm (thành phố Hà Nội) chảy về Phủ Lý (tỉnh Hà Nam) hợp lưu vào sông Đáy Sông chảy qua các quận, huyện, thị trấn gồm các quận: Bắc Từ Liêm, Nam
Từ Liêm, Hà Đông, các huyện: Thanh Trì, Thường Tín, Thanh Oai, Phú Xuyên của thành phố Hà Nội, huyện Duy Tiên của tỉnh Hà Nam và cuối cùng đổ vào sông Đáy
ở khu vực thành phố Phủ Lý Diện tích lưu vực của nó khoảng 1.075 km² (phần bị các đê bao bọc) Nước sông Tô Lịch thường xuyên xả vào sông Nhuệ với lưu lượng trung bình từ 11-17 m3/s, lưu lượng cực đại đạt 30 m3/s Đây là nguyên nhân chủ yếu