Phân tích tình hình quản lý môi trường ở tỉnh Thái Nguyên và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện Phân tích tình hình quản lý môi trường ở tỉnh Thái Nguyên và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện Phân tích tình hình quản lý môi trường ở tỉnh Thái Nguyên và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
NGUYỄN THỊ THUÝ VÂN
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG Ở TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ ĐỀ XUẤT MỘT
SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: T.S NGUYỄN ÁI ĐOÀN
HÀ NỘI - 2004
Trang 2DANH SÁCH C ÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Các công ước quốc tế về môi trường mà Việt nam đã tham gia Bảng 2.1 Đơn vị hành chính cơ sở tỉnh Thái nguyên
Bảng 2.2 Trữ lượng một số khoáng sản tỉnh Thái nguyên
Bảng 2.3 Dân số các đô thị tỉnh Thái nguyên năm 2000
Bảng 2.4 Lượng nước thải của các ngành công nghiệp
Bảng 2.5 Nồng độ trung bình của bụi và khí độc trên các tuyến đường giao thông của tỉnh Thái nguyên
Bảng 2.6 Nồng độ trung bình của bụi và khí độc tại các khu vực xung quanh nhà máy và khu công nghiệp tỉnh Thái nguyên
Bảng 2.7 Mức ồn tại các khu khai thác mỏ và sản xuất vật liệu xây dựng Bảng 2.8 Mức ồn tại một số nhà máy chế biến nông - lâm sản
Bảng 2.9 Mức ồn tại một số nhà máy chế biến khoáng sản
Bảng 2.10 Mức ồn tại một số tuyến đường tỉnh Thái nguyên
Bảng 2.11 Mức ồn tại một số điểm dân cư tỉnh Thái nguyên
Bảng 2.12 Lượng rác phát sinh và tình hình thu gom tại các đô thị Thái nguyên
Bảng 2.13 Lượng chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp Bảng 2.14 Lượng chất thải rắn phát sinh từ hoạt động y tế
Bảng 2.15 Mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp Bảng 2.16 Ví dụ về cách tính phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp
Trang 3Hình 1.4 Thuế ô nhiễm tối ưu
Hình 1.5 Lệ phí thải tối ưu
Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức Chi cục Môi trường tỉnh Thái nguyên
Hình 3.2 Đề xuất khung quản lý môi trường tỉnh Thái nguyên
Trang 41.1 Khái niệm về môi trường và các chức năng cơ bản của môi trường 8
1.3 Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế 30
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TỈNH THÁI NGUYÊN
52
2.1 Những điều kiện tự nhiên- kinh tế- xã hội của tỉnh Thái nguyên 52
Trang 52.2 Hiện trạng môi trường tỉnh Thái nguyên 55
2.3.2 Các công cụ quản lý môi trường tỉnh Thái nguyên 73 2.3.3 Những tồn tại trong công tác quản lý môi trường ở tỉnh Thái nguyên 88
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN
LÝ MÔI TRƯỜNG TỈNH THÁI NGUYÊN
92
3.1 Giải pháp quản lý môi trường bằng công cụ pháp lý 92
3.2 Giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường bằng công cụ kinh tế 94
3.3 Giải pháp kỹ thuật để quản lý và bảo vệ môi trường 96
3.4 Xây dựng chương trình monitoring (quan trắc) môi trường 99
3.5 Đào tạo, giáo dục, truyền thông, nghiên cứu khoa học nhằm nâng
cao nhận thức về môi trường và bảo vệ môi trường
Trang 6MỞ ĐẦU
Môi trường hiện đang là một vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu, đòi hỏi
sự quan tâm, hợp tác của tất cả các quốc gia trong việc tìm kiếm các giải khắc phục các vấn đề môi trường
Trong những năm vừa qua sự gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, sự phân hoá xã hội đã tạo nên những thách thức to lớn đối với môi trường Quá trình khai thác các yếu
tố môi trường để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của xã hội loài người đã tạo nên mâu thuẫn ngày càng sâu sắc giữa sự hữu hạn của tài nguyên và tham vọng vô cùng của con người về phát triển
Từ những yêu cầu của thực tiễn các quốc gia đã cùng nhau tìm kiếm một
mô hình phát triển hợp lý trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới, đó là
mô hình phát triển bền vững Phát triển bền vững trước hết là sự phát triển cân đối hài hoà trên cả ba lĩnh vực: kinh tế, xã hội và môi trường
Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững cũng như giải quyết các vấn đề môi trường hiện tại, con người phải quản lý môi trường Quản lý môi trường là cần thiết, khách quan Đặc biệt là sự quản lý Nhà nước về môi trường, bằng các công cụ luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, giáo dục môi trường…
Cũng như nhiều nước đang phát triển khác trên thế giới có thu nhập thấp với dân số đông, Việt nam đang đối đầu với những vấn đề gay cấn do tài nguyên thiên nhiên bị xuống cấp và sự sa sút của chất lượng môi trường Chiến lược quốc gia về Môi trường và Phát triển bền vững đã được phác thảo năm 1985, sau
đó đề ra Chương trình hành động quốc gia về môi trường và phát triển bền vững,
đã được thực hiện từng phần Dựa trên Chương trình quốc gia, nhiều hoạt động
Trang 7đã được thực thi trên phạm vi cả nước về các mặt pháp chế, công tác quản lý, giáo dục, nghiên cứu và thực nghiệm
Thái nguyên là một tỉnh có tiềm năng về tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên khoáng sản phục vụ cho sản xuất trong nhiều ngành công nghiệp Trong những năm vừa qua, sự gia tăng dân số, sự phát triển công nghiệp, nông nghiệp… đã dẫn đến những ảnh hưởng xấu đến môi trường của tỉnh, cản trở sự phát triển kinh
tế và làm suy giảm sức khoẻ của nhân dân do ảnh hưởng của chất thải trong sản xuất và tiêu dùng
Tỉnh Thái nguyên có khu công nghiệp Gang thép Thái nguyên và khu công nghiệp cơ khí Sông công có tiếng trong cả nước, có tiềm năng phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng Nhưng trong thời gian dài, do sự phát triển kinh tế - xã hội chưa tính đến yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững nên hiện nay môi trường của tỉnh đang bị suy thoái nghiêm trọng, diện tích rừng đầu nguồn bị suy thoái nghiêm trọng, suy giảm đa dạng sinh học, suy giảm chất lượng nguồn nước mặt, đặc biệt là nước sông Cầu ngày càng bị ô nhiễm Ô nhiễm môi trường xảy ra ở hầu hết các đô thị Thái nguyên, đặc biệt là các khu vực khai thác khoáng sản Vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống quản lý môi trường
của tỉnh là hết sức cấp thiết trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới
Để thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường chung của nhà nước và bảo vệ môi trường riêng trên địa bàn tỉnh, Thái nguyên đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý môi trường, tìm kiếm các giải pháp khắc phục các vấn đề môi trường, đặc biệt là giải pháp quản lý môi trường Thông qua việc đánh giá hiện trạng các thành phần môi trường, những tồn tại trong công tác quản lý môi trường để xây dựng một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý môi trường tỉnh Thái nguyên trong thời gian tới
Trang 8* Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài phân tích tình hình quản lý môi trường của tỉnh Thái nguyên dựa trên việc phân tích các số liệu về hiện trạng môi trường của tỉnh Đánh giá ưu, nhược điểm của hệ thống quản lý môi trường và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý môi trường tỉnh Thái nguyên trong thời gian tới
* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu hoạt động của hệ thống quản lý môi trường trên địa bàn tỉnh Thái nguyên ( trọng tâm là thành phố Thái nguyên)
* Phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Thu thập và phân tích tổng hợp các số liệu: phân tích hiện trạng môi trường và tình hình quản lý môi trường dựa vào các số liệu thu thập được
- Phương pháp nghiên cứu, khai thác các nguồn thông tin sẵn có: nghiên cứu các tài liệu của các cơ quan quản lý môi trường, tài liệu hội thảo và các tài liệu khác
* Nội dung của đề tài
- Mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lý luận về môi trường và quản lý môi trường
- Chương 2: Phân tích thực trạng quản lý môi trường tỉnh Thái nguyên
- Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý môi trường tỉnh Thái nguyên
Trang 9CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ QUẢN LÝ
MÔI TRƯỜNG 1.1 Khái niệm về môi trường và các chức năng cơ bản của môi trường
1.1.1 Khái niệm về môi trường
Môi trường là một khái niệm rộng, được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, đặc biệt sau hội nghị Stockholm năm 1972
Theo Điều 1, chương I, Luật Bảo vệ môi trường nước CHXHCN Việt nam:
"môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo quan
hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người; có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên"
Có rất nhiều tác giả khi nghiên cứu về môi trường đã đưa ra định nghĩa riêng của mình Theo R G Sharme thì con người là một thực thể sống và môi
trường là "tất cả những gì bao quanh con người " Như vậy, khái niệm về môi
trường sẽ được cụ thể hoá tuỳ theo đối tượng và mục đích nghiên cứu
Đối với cơ thể sống thì "môi trường sống" là tổng hợp những điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của cơ thể (Lê Văn Khoa, 1995) Đối với con người thì " môi trường sống của con người " là tổng hợp các điều kiện vật lý, hoá học, sinh học, xã hội bao quanh con người, có ảnh hưởng đến sự sống và phát triển của từng cá nhân, từng cộng đồng và toàn bộ loài người trên hành tinh
Môi trường sống của con người là cả vũ trụ bao la, trong đó hệ Mặt trời và Trái đất là bộ phận có ảnh hưởng trực tiếp và rõ nét nhất
Về mặt vật lý, Trái Đất gồm thạch quyển, bao gồm tất cả các vật thể ở dạng rắn của Trái Đất và có độ sâu khoảng 60 km; thuỷ quyển tạo nên bởi các đại
Trang 10dương, biển cả, sông suối, hồ ao và các thuỷ vực khác; khí quyển là toàn bộ môi trường không khí bao quanh mặt đất
Về mặt sinh học, trên Trái Đất có sinh quyển bao gồm các cơ thể sống, thuỷ quyển và khí quyển tạo thành môi trường sống của các cơ thể sống và thạch quyển tạo thành lớp phủ thổ nhưỡng đa dạng Trong sinh quyển, ngoài vật chất, năng lượng, còn có thông tin với tác dụng duy trì cấu trúc và cơ chế tồn tại của các vật thể sống Dạng thông tin ở mức độ phức tạp và phát triển cao nhất là trí tuệ con người, có tác động ngày càng mạnh mẽ đến sự tồn tại và phát triển của Trái Đất Từ nhận thức đó, đã hình thành "quyển" thứ 5 của Trái Đất là trí quyển, bao gồm những bộ phận trên Trái Đất có tác động trí tuệ của con người Những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật cho thấy rằng trí quyển đang thay đổi một cách nhanh chóng, có tác động trên phạm vi rộng lớn làm biến đổi sâu sắc mọi hoạt động sống và phát triển của con người và môi trường Trí quyển tạo nền móng cho sự phát triển nền kinh tế mới ở thế kỷ XXI - nền kinh tế tri thức, trong đó khoa học và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thông tin
và tri thức trở thành nguồn tài nguyên quốc gia; hàm lượng trí tuệ trong từng sản phẩm ngày càng gia tăng; công nghệ thông tin, đặc biệt là internet là phương tiện lao động phổ biến và có hiệu quả nhất
Môi trường sống của con người được phân chia thành các loại sau:
* Môi trường tự nhiên: bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, có ảnh hưởng tới sự sống, sự tồn tại và phát triển của con người, đồng thời các yếu tố đó chịu tác động ít nhiều
từ các hoạt động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi, sông, biển, không khí, động thực vật, đất và nước…
Trang 11* Môi trường xã hội: là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con người Đó là luật lệ, thể chế, cam kết, quy định ở các cấp khác nhau Môi trường
xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, con người có ý thức, tổ chức và các mối quan hệ xã hội tạo nên sự khác biệt giữa con người với các sinh vật khác
1.1.2 Các chức năng cơ bản của môi trường
1 1.2.1 Môi trường là không gian sống cho con người và sinh vật
Các sinh vật nói chung và con người nói riêng muốn tồn tại và phát triển cần có các nhu cầu tối thiểu về ăn, mặc, ở, hít thở không khí… Môi trường là nơi cung cấp các yếu tố đó để đáp ứng cho nhu cầu thường xuyên, liên tục của con người và sinh vật
Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi người cần một không gian nhất định cho các hoạt động sống của mình như nhà ở, nơi nghỉ, dất để sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, kho tàng, bến cảng… Trung bình mỗi ngày mỗi người cần khoảng 4m3 không khí sạch để thở, 2.5 lít nước để uống, một lượng lương thực, thực phẩm tương ứng với 2.000- 2.400 calo Môi trường là nơi đáp ứng các yêu cầu đó của con người Con người không chỉ đòi hỏi một không gian sống với phạm vi nhất định mà đòi hỏi không gian sống với chất lượng tiện nghi cần thiết như trong lành, sạch đẹp, không có ô nhiễm và suy thoái môi trường Diện tích
bề mặt Trái Đất là nơi con người và các sinh vật sinh sống, không thay đổi phạm
vi từ trước đến nay Nhưng sự gia tăng dân số dần thu hẹp không gian sống bình quân của mỗi người
Yêu cầu về không gian sống của con người thay đổi theo trình độ khoa học công nghệ Thời kỳ trước và trong cuộc cách mạng nông nghiệp, khoa học và công nghệ chưa phát triển, sản xuất lạc hậu manh mún, năng suất lao động thấp
Trang 12và con người cần một không gian sống với phạm vi rộng cho nhu cầu sống, đặc biệt là đất cho sản xuất nông, lâm nghiệp để đáp ứng nhu cầu thiết yếu Ngày nay, khoa học và công nghệ đang trên đà phát triển và ở trình độ cao, năng suất lao động càng cao thì nhu cầu về không gian sản xuất càng giảm xuống Theo quan điểm phát triển bền vững thì con người, ngày hôm nay, phải duy trì và tạo
ra không gian sống với phạm vi và chất lượng tiện nghi cần thiết cho các thế hệ tương lai Muốn vậy, ngay từ bây giờ con người phải tự bảo vệ và gìn giữ không gian sống của chính mình
Tuy nhiên, sự khai thác các tài nguyên thiên nhiên trong quá trình phát triển
có ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, phá vỡ sự cân bằng sinh thái, làm mất hoặc suy giảm nơi sinh sống của sinh vật, gây ô nhiễm và suy thoái môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của cộng đồng
1.1.2.2 Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người
Sản xuất ra của cải vật chất là hoạt động cơ bản của xã hội loài người Con người muốn sống, tồn tại và phát triển cần phải thực hiện hoạt động sản xuất Sản xuất chính là quá trình biến đổi các yếu tố đầu vào (lao động, nguyên vật liệu, thông tin…) thành các sản phẩm đầu ra phục vụ cho nhu cầu xã hội Như vậy, khai thác tài nguyên (tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn) từ môi trường cũng là tất yếu của sự sống và sự phát triển Phát triển là quy luật tất yếu của mọi sinh vật nói chung và con người nói riêng Và môi trường, đảm nhận chức năng cung ứng các nguồn tài nguyên cần thiết cho hoạt động sản xuất của con người Nhưng tài nguyên được sử dụng cho đến nay chủ yếu vẫn không mất tiền (không phí tổn) Các chi phí về tài nguyên là các chi phí trong khai thác và chi phí này gia tăng khi sự khan hiếm các tài nguyên xuất hiện; phí tổn cao còn
Trang 13do sự điều chỉnh đền bù và phần nhiều do các yêu cầu trách nhiệm của các biện pháp phòng ngừa ngăn chặn hay giảm thiểu thiệt hại, phí tổn do đòi hỏi của môi trường là đất, nước, không khí, phong cảnh… sử dụng là nơi tiếp nhận các đầu ra không mong muốn (phế thải) của quá trình sản xuất và tiêu dùng Ví dụ, chi phí đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải , khí thải, lệ phí thải…
Sự phát triển của xã hội loài người kéo theo sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, sự phức tạp của các hoạt động sản xuất để cho ra đời những sản phẩm đa dạng và sự quá tải về lượng chất thải vào môi trường Điều này dẫn đến sự khai thác ồ ạt, bừa bãi các nguồn tài nguyên nhằm đạt được lợi ích kinh tế trước mắt Các nước nghèo, các nước đang phát triển thường dựa chủ yếu vào việc khai thác các nguồn tài nguyên để đảm bảo cho sự phát triển nhưng họ lại thiếu các phương tiện để khai thác, công nghệ lạc hậu dấn đến hiệu quả khai thác thấp, lãng phí các tài nguyên và thường gây ra ô nhiễm môi trường do không có phương tiện xử lý chất thải Các nước giầu, các nước phát triển do nhu cầu tiêu dùng vàkhả năng thanh toán cao họ thường khai thác tài nguyên ở các nước nghèo, các nước thuộc địa với giá rẻ mạt gây ra nhiều vấn
đề môi trường trong quá trình khai thác và chế biến sản phẩm
Tuy nhiên, nguồn tài nguyên của Trái Đất ngày càng khan hiếm và cạn kiệt không chỉ do khai thác mà sự suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường đang làm suy giảm dần chức năng cung ứng tài nguyên của môi trường
Ngày nay sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ thì môi trường cung cấp các nguồn tài nguyên có hàm lượng trí tuệ và thông tin cao, đảm bảo sự phát triển của xã hội
1.1.2.3 Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất
Trang 14Hoạt động sản xuất là tất yếu của sự phát triển và khai thác tài nguyên là yếu tố đầu vào cần thiết của mọi quá trình sản xuất Có thể nói rằng trong mọi hoạt động sống của con người đều tạo ra các chất thải ở các dạng khác nhau: rắn, lỏng, khí, tiếng ồn…
Con người khai thác tài nguyên tạo ra phế thải trong quá trình khai thác, phế thải của hoạt động sản xuất sản phẩm và phế thải khi tiêu dùng các sản phẩm
ấy
Như vậy tổng lượng chất thải được tạo ra sẽ là W = WR + WC + WP Theo Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng thì tổng lượng tài nguyên được khai thác sẽ bằng tổng lượng chất thải được tạo ra Điều này cho thấy, xã hội càng phát triển, lượng tài nguyên được sử dụng càng nhiều, quá trình sản xuất càng phức tạp thì lượng chất thải tạo ra càng lớn, càng phức tạp và khó phân huỷ trong môi trường tự nhiên Và môi trường chính là nơi tiếp nhận các chất thải của các hoạt động sống của con người Nhưng không phải môi trường lưu giữ toàn bộ
Lượng chất thải theo thời gian mà môi trường với chức năng là nơi chứa đựng các chất thải có khả năng đồng hoá nhất định đối với chất thải Chất thải có
Khai thác tài nguyên
là đầu vào cho quá
trình sản xuất
Quá trình sản xuất sản phẩm Tiêu dùng
Chất thải trong quá
trình khai thác tài
nguyên (WR)
Chất thải trong quá trình sản xuất: phế liệu, nước, khí thải… (WP)
Chất thải trong quá trình tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ (WC)
Trang 15thể bị phân huỷ , biến đổi từ phức tạp đến đơn giản, khó phân huỷ đến dễ phân huỷ nhờ tác động của các vi sinh vật và các yếu tố môi trường khác
Trong thời kỳ sơ khai khi dân số nhân loại ít, sản phẩm tiêu dùng thường lấy trực tiếp từ tự nhiên, chế biến đơn giản, lượng chất thải ít nhờ quá trình phân giải của môi trường mà sau một thời gian chất thải lại trở về trạng thái nguyên liệu của các quá trình sản xuất và tiêu dùng tiếp theo
Ngày nay sự gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hoá làm gia tăng nhanh chóng về tổng lượng, chủng loại các chất thải đặc biệt là chất thải nguy hại , chất thải khó phân huỷ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở nhiều khu vực Chính các hoạt động của con người đã và đang thu hẹp khả năng tiếp nhận của môi trường trong khi ở nhiều nơi, lượng chất thải đang ở mức quá tải Khả năng tiếp nhận và phân huỷ chất thải trong một phạm vi nhất định được gọi
là khả năng đệm của khu vực đó Nếu lượng chất thải lớn hơn khả năng đệm hoặc thành phần chất thải có nhiều chất độc, vi sinh vật gặp nhiều khó khăn trong quá trình phân huỷ thì chất lượng môi trường sẽ giảm và môi trường có thể
bị ô nhiễm Ví dụ, môi trường có khả năng hấp thụ khoảng 1/2 lượng khí CO2 do
tự nhiên và hoạt động của con người tạo ra , còn lại được lưu giữ trong bầu khí quyển và đang gây ra nhiều vấn đề môi trường có tính toàn cầu như hiêụ ứng nhà kính, mưa a xít…
1.2 Quản lý môi trường
1.2.1 Sự cần thiết phải quản lý môi trường
Quá trình phát triển của con người đặc biệt là sự phát triển kinh tế luôn có những tác động tiêu cực đến môi trường Trong các giai đoạn phát triển trước đây, đặc biệt là trong cuộc cách mạng công nghiệp, con người đã đặt mục tiêu phát triển kinh tế lên hàng đầu để từ đó khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên, gây
Trang 16ra sự ô nhiễm và suy thoái môi trường Ngược trở lại, môi trường bị suy thoái và
ô nhiễm có ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động sống và phát triển của con người, đe doạ sự sống còn của loài người trên Trái đất Những tác động đó buộc con người phải nhìn nhận lại vai trò của môi trường đối với sự phát triển Phát triển và môi trường là hai mặt của một vấn đề chứ không phải là hai khía cạnh đối kháng trong sự lựa chọn phát triển của các quốc gia Chính vì vậy các yếu tố môi trường luôn luôn được đặt bên cạnh chiến lược phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia nào
Con người muốn đạt được mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững phải quản lý môi trường bằng các chính sách, chiến lược và các công cụ khác nhau
Ngày nay, sự gia tăng dân số, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân hoá về thu nhập đã tạo nên nhiều nhu cầu và khả năng mới về khai thác tài nguyên thiên nhiên và can thiệp vào môi trường Con người đã can thiệp trực tiếp, nhiều khi thô bạo vào các hệ tự nhiên tạo nên những mâu thuẫn sâu sắc giữa mục tiêu phát triển kinh tế của xã hội loài người với các quá trình diễn biến của
tự nhiên, tính khan hiếm của tài nguyên Sự phát triển như vũ bão giai đoạn vừa qua đã và đang dẫn đến những vấn đề môi trường toàn cầu Các quốc gia đang phải cùng nhau tìm kiếm những giải pháp khắc phục và tìm kiếm một mô hình phát triển mới, trong đó môi trường cũng đồng thời là một thành tố của sự phát triển
Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất của con người gây ra những ngoại ứng tiêu cực đến môi trường Và, để hạn chế những ngoại ứng tiêu cực, giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường thì con người cũng phải quản lý môi trường
Trang 17Quản lý môi trường đề cao vai trò của quản lý Nhà nước về môi trường Chỉ
có Nhà nước mới kiểm soát, giữ gìn môi trường bằng các công cụ tổ chức hành chính, luật pháp, kinh tế, kỹ thuật, giáo dục… một cách có hiệu quả
Tóm lại, quản lý môi trường là cần thiết, là tất yếu khách quan để đạt được mục tiêu phát triển bền vững
1.2.2 Nội dung của quản lý môi trường
Quản lý môi trường môi trường là một lĩnh vực của hoạt động quản lý của con người Quản lý môi trường có tầm quan trọng đặc biệt, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà vấn đề môi trường đang là vấn đề quan tâm lo ngại của nhiều quốc gia trên toàn thế giới Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý môi trường Theo một số tác giả, thuật ngữ quản lý môi trường bao gồm hai nội dung chính: quản lý nhà nước về môi trường và quản lý của các doanh nghiệp, khu vực dân cư về môi trường
Quản lý Nhà nước về môi trường giữ vai trò then chốt trong bảo vệ môi trường quốc gia, kiểm soát ô nhiễm, là hoạt động chủ yếu trong quản lý môi trường
Quản lý Nhà nước về môi trường xác định rõ chủ thể là nhà nước, bằng chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của mình đưa ra các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế- kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế - xã hội quốc gia
Ở nội dung thứ hai, quản lý của các doanh nghiệp về môi trường có mục tiêu chủ yếu là tăng cường hiệu quả của hệ thống sản xuất (hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14000) và bảo vệ sức khoẻ người lao động, dân cư sống trong khu vực chịu ảnh hưởng của người sản xuất
Trang 18Như vậy, có thể định nghĩa tóm tắt quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người, xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên, quản lý môi trường được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, văn hoá, xã hội, giáo dục… Các biện pháp này có thể đan xen, phối hợp theo từng vấn đề môi trường đặt ra, ở từng khu vực cụ thể Việc quản lý môi trường được thực hiện ở mọi quy mô: toàn cầu, khu vực, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ sở sản xuất…
1.2.3 Mục tiêu của quản lý môi trường
Mục tiêu của quản lý môi trường là phát triển bền vững, giữ cho được sự cân bằng giữa phát triển kinh tế- xã hội và bảo vệ môi trường
Theo Uỷ ban môi trường và phát triển thế giới (WCED) thì "phát triển bền
vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai"
Có thể thấy rằng, mọi vấn đề môi trường đều bắt nguồn từ sự phát triển Nhưng phát triển là tất yếu của lịch sử và con người cũng như mọi sinh vật không thể ngừng sự phát triển của mình Chúng ta phải chấp nhận phát triển nhưng giữ sao cho phát triển không tác động tiêu cực đến môi trường, phát triển làm biến đổi môi trường nhưng giữ sao cho môi trường dù bị biến đổi vẫn làm đầy đủ được ba chức năng cơ bản của nó Đó chính là sự phát triển bền vững
Trang 19Thế giới muốn đạt được mục tiêu phát triển bền vững, phải bảo vệ môi trường và con người muốn nâng cao chất lượng cuộc sống phải thực hiện quản lý môi trường
Quản lý môi trường tốt tạo ra các tiềm năng tự nhiên và xã hội mới cho công cuộc phát triển kinh tế- xã hội trong tương lai Tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, hệ thống pháp lý, mục tiêu phát triển ưu tiên của từng quốc gia, mục tiêu quản lý môi trường có thể thay đổi theo thời gian và có những điểm khác biệt đối với mỗi quốc gia
Theo Chỉ thị 36 CT/TW của Bộ Chính trị Ban chấp hành TW ĐCSVN ngày
25 tháng 6 năm 1998 "về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ
CNH - HĐH đất nước", một số mục tiêu cụ thể của công tác quản lý môi trường
Việt nam hiện nay là:
* Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong các hoạt động sống của con người Trong giai đoạn hiện nay, các biện pháp khắc
phục và phòng chống ô nhiễm môi trường chủ yếu là:
- Thực hiện nghiêm chỉnh quy định của luật bảo vệ môi trường về báo cáo đánh giá tác động môi trường trong việc xét duyệt cấp phép các quy hoach, dự án phát triển Nếu báo cáo đánh giá tác động môi trường không được chấp nhận thì không cấp phép cho các dự án này
- Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh đang hoạt động, căn cứ vào kết quả đánh giá tác động môi trường, các Bộ, Ngành, tỉnh, thành phố tổ chức phân loại
các cơ sở và có kế hoạch xử lý phù hợp
- Trong hoạt động sản xuất kinh doanh cần ưu tiên áp dụng các công nghệ sạch, công nghệ ít phế thải, tiêu hao ít nguyên liệu và năng lượng bằng cách
Trang 20trang bị, đầu tư các thiết bị, công nghệ mới, công nghệ tiên tiến, cải tiến và sản xuất các thiết bị tiêu hao ít năng lượng và nguyên vật liệu
- Các khu đô thị, các khu công nghiệp cần sớm có và thực hiện tốt các phương án xử lý chất thải, ưu tiên xử lý chất thải độc hại, chất thải bệnh viện như đầu tư kinh phí cho việc vận hành các lò đốt đặc biệt chất thải y tế, xử lý nước thải trước khi thải vào các kênh, rạch, sông…
- Thực hiện các kế hoach quốc gia ứng cứu, sự cố tràn dầu trên biển, kế hoạch khắc phục hậu quả chất độc hóa học dùng trong chiến tranh, quản lý các hoá chất độc hại và chất thải nguy hại
* Hoàn chỉnh hệ thống văn bản luật pháp bảo vệ môi trường, ban hành các chính sách về phát triển kinh tế, xã hội gắn với bảo vệ môi trường, nghiêm chỉnh thi hành luật bảo vệ môi trường Để thực hiện mục tiêu trên cần quan tâm đến
- Thể chế hoá việc phối hợp giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế với bảo
vệ môi trường trong các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội phải có các chỉ tiêu, biện pháp bảo vệ môi trường Tính toán hiệu quả kinh tế, phải tính đầy đủ các chi phí và lợi ích bảo vệ môi trường
* Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về môi trường từ TW đến địa phương, công tác nghiên cứu, đào tạo cán bộ về môi trường
Trang 21- Nâng cấp cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường đủ sức thực hiện tốt các nhiệm vụ chung của đất nước
- Xây dựng mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia, vùng, lãnh thổ và gắn chúng với hệ thống các trạm quan trắc toàn cầu và khu vực
- Xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu môi trường quốc gia và quy chế thu thập và trao đổi thông tin môi trường quốc gia và quốc tế
- Hình thành hệ thống cơ sở nghiên cứu và đào tạo cán bộ chuyên gia về khoa học và công nghệ môi trường đồng bộ, đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường quốc gia và từng ngành
- Kế hoạch hoá công tác bảo vệ môi trường từ TW đến địa phương, các bộ, ngành
* Phát triển kinh tế xã hội theo 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững được Hội nghị Rio 1992 đề ra:
- Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng
- Cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người
- Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của Trái Đất
- Giữ vững khả năng chịu đựng của Trái Đất
- Thay đổi thái độ, hành vi và xây dựng đạo đức mới vì sự phát triển bền vững
- Tạo điều kiện để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình
- Tạo ra một cơ cấu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát triển bền vững
- Xây dựng khối liên minh toàn cầu về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
- Xây dựng một xã hội bền vững
Trang 22*Xây dựng các công cụ hữu hiệu về quản lý môi trường quốc gia, các vùng lãnh thổ riêng biệt
- Xây dựng các công cụ quản lý môi trường thích hợp cho từng ngành, từng địa phương
- Hình thành và thực hiện đồng bộ các công cụ quản lý môi trường (luật pháp, kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, giáo dục…)
1.2.4 Các công cụ quản lý môi trường
Để đạt được các mục tiêu cụ thể, trong từng thời kỳ và mục tiêu tổng quát
về sự phát triển bền vững, các quốc gia đã xây dựng và thực hiện các công cụ quản lý môi trường
Công cụ quản lý môi trường là các biện pháp hành động thực hiện công tác quản lý môi trường của nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất Công cụ quản lý môi trường rất đa dạng, mỗi công cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau Mỗi một quốc gia, địa phương, tuỳ theo điều kiện cụ thể có thể lựa chọn các công cụ thích hợp cho từng hoạt động riêng biệt Bên cạnh việc sử dụng các công cụ quản lý môi trường, để thực hiện hoạt động quản lý môi trường, cần phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung nhằm nâng cao hiệu lực, tính hiện thực của các công cụ này
Công cụ quản lý môi trường có thể phân loại theo bản chất thành ba loại:
Trang 23định, quy định, tiêu chuẩn môi trường, giấy phép môi trường…), các kế hoạch chiến lược và chính sách môi trường quốc gia, địa phương và các ngành kinh tế
* Luật quốc tế về môi trường là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm quốc tế
điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa các quốc gia và tổ chức quốc tế trong việc ngăn chặn, loại trừ thiệt hại gây ra cho môi trường trong từng quốc gia
và môi trường toàn cầu Luật quốc tế về bảo vệ môi trường do nhiều quốc gia ký kết hoặc tham gia, không có hiệu lực trực tiếp trên lãnh thổ một quốc gia cụ thể Các quy phạm của luật quốc tế chỉ có hiêu lực trên lãnh thổ một quốc gia khi nó được chuyển hoá thành các quy phạm pháp luật quốc gia và được nhà nước đó phê chuẩn
* Luật môi trường quốc gia là tổng hợp các quy phạm pháp luật, các
nguyên tắc pháp lý điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình các chủ thể sử dụng hoặc tác động đến một hoặc một vài yếu tố của môi trường trên cơ sở kết hợp các phương pháp điều chỉnh khác nhau, nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường
Hệ thống luật bảo vệ môi trường của một quốc gia thường bao gồm luật chung (luật bảo vệ môi trường) và luật riêng đối với việc sử dụng các thành phần môi trường, ví dụ như luật Biển, luật Đất đai…
Bảng 1.1 Các công ước quốc tế về môi trường mà Việt nam đã tham
Trang 242 Công ước về thông báo sớm các sự cố hạt nhân 29/09/1987
3 Công ước về hỗ trợ trong trường hợp sự cố hạt nhân hoặc
4 Công ước về vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế,
đặc biệt là nơi cư trú của loài chim nước RAMSAR 20/09/1989
5 Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tầu biển
6 Công ước quốc tế về buôn bán quốc tế những loài động thực
vật có nguy cơ bị đe doạ (công ước CTTES) 20/01/1994
7 Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô zôn 26/01/1994
10 Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu 16/11/1994
12 Công ước về kiểm soát vận chuyển xuyên biên giới các chất
thải nguy hại và việc loại bỏ chúng (Công ước Basel) 13/03/1995
(Nguồn: Tài liệu tại Hội thảovề Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, tr 42)
* Quy định là những văn bản dưới luật nhằm cụ thể hoá hoặc hướng dẫn
thực hiện các nội dung của luật
Để thực hiện quản lý môi trường, các quốc gia đưa ra hệ thống các tiêu chuẩn môi trường Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mức, giới hạn cho phép, được quy định và được dùng làm căn cứ để quản lý môi trường Tiêu chuẩn môi trường có quan hệ mật thiết với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Hệ thống tiêu chuẩn môi trường phản ánh trình độ khoa học công nghệ, tổ chức quản lý và tiềm lực kinh tế xã hội của mỗi quốc gia
Trang 25Bên cạnh việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường, các quốc gia, tuỳ theo điều kiện tự nhiên- kinh tế-xã hội của mình có những chính sách, chiến lược bảo vệ môi trường riêng, gắn mục tiêu bảo vệ môi trường với các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu đó trong một giai đoạn nhất định
* Chính sách môi trường là tổng thể các quan điểm, các biện pháp, thủ
thuật nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước
Để thực hiện được những mục tiêu chiến lược, các quốc gia phải quan tâm đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường về nhân lực, cơ sở hạ tầng, hoàn thiện và nâng cấp bộ máy quản lý môi trường từ Trung ương đến địa phương, các ngành… Cần phải kết hợp chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường với định hướng phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong thời gian dài và trong từng thời
kỳ
* Giáo dục môi trường
Môi trường là cái nôi của nhân loại và trách nhiệm bảo vệ môi trường không chỉ của các cấp chính quyền mà còn là trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân sống trong môi trường đó Để các tổ chức, cá nhân tự ý thức được thái độ
và hành vi bảo vệ môi trường thì họ phải có những nhận thức nhất định về môi trường, về những giá trị mà môi trường cung cấp và những tác động của mọi hoạt động sống đến môi trường
Giáo dục môi trường có mục đích "làm cho các cá nhân và các cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, lý học, xã hội, kinh tế và văn hoá; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thực hành để
Trang 26họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vân đề môi trường và quản lý chất lượng môi trường" (Hội nghị quốc tế về giáo dục môi trường của LHQ, năm 1977)
Với định nghĩa trên, giáo dục môi trường nói chung (không phân biệt giáo dục môi trường cho cộng đồng dân cư, giáo dục trong các trường phổ thông, giáo dục đại học, giáo dục chuyên nghiệp) có mục tiêu đem lại cho đối tượng các vấn
đề sau:
- Hiểu biết về bản chất các vấn đề môi trường: tính phức tạp, tính hạn chế của tài nguyên, khả năng chịu đựng của môi trường, quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển, giữa môi trường địa phương, vùng, quốc gia với môi trường
khu vực và toàn cầu Mục tiêu này trang bị cho các đối tượng các kiến thức về môi trường
- Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môi trường như một nguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển, đối với cá nhân cũng như đối với cộng đồng dân cư, quốc gia và quốc tế, từ đó có thái độ, cách ứng xử đúng đắn trước các vấn đề môi trường, xây dựng cho mình quan niệm đúng đắn về ý thức trách nhiệm, về giá trị nhân cách để dần hình thành các kỹ năng thu thập số
liệu Mục tiêu này có định hướng xây dựng thái độ, cách đối xử thân thiện với
môi trường
- Tri thức, kỹ năng, phương pháp hành động để nâng cao năng lực trong việc lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng một cách hợp lý và khôn ngoan các nguồn tài nguyên để họ có thể tham gia có hiệu quả vào việc phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường cụ thể tại nơi sống và làm việc
Mục tiêu này nhằm tạo khả năng hành động bảo về và quản lý môi trường
Hiểu biết về môi
trường Thái độ đúng đắn về môi trường
Khả năng hành động có hiệu quả về môi trường
Trang 27Giáo dục môi trường trong một quốc gia thường được phân thành các bộ phận phù hợp với trình độ nhận thức và tính chất đặc thù của cương vị công tác như:
- Giáo dục cho cộng đồng dân cư nhằm nâng cao nhận thức về môi trường được thực hiện chủ yếu thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các hoạt động truyền thông…
- Giáo dục môi trường cho nhà quản lý các cấp, các bộ phận ra quyết định được thực hiện bằng nhiều biện pháp phù hợp
- Giáo dục môi trường trong hệ thống giáo dục và đào tạo ở các trường từ mẫu giáo đến đại học
- Đào tạo nhân lực chuyên môn về môi trường, bao gồm công nhân lành nghề, kỹ thuật viên, kỹ sư, cán bộ nghiên cứu, giảng dạy
Như vậy giáo dục môi trường nhằm hướng tới xã hội hoá các vấn đề môi trường, tạo ra những công dân có nhận thức, trách nhiệm về môi trường, biết sống vì môi trường
Đối với nhiều quốc gia, giáo dục môi trường được xem như công cụ hàng đầu để bảo vệ môi trường Ở Việt nam, giáo dục môi trường được coi là giải pháp đầu tiên để thực hiện việc quản lý môi trường Chỉ thị 36-CT/TW của Bộ chính trị ngày 25 tháng 6 năm 1998 "về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước" có đưa ra 8 giải pháp lớn để bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước trong thời gian tới Trong đó giải pháp đầu tiên là "thường xuyên giáo dục, tuyên truyền xây dựng thói quen, nếp sống
và các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường" Giải pháp thứ 7 là "đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và công nghệ, đào tạo cán bộ chuyên gia về lĩnh vực môi trường "
Trang 28Giáo dục môi trường được thực hiện thường xuyên, liên tục và sâu rộng nhằm hình thành ý thức hệ về bảo vệ và quản lý môi trường
1.2.4.2 Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức, cá nhân chạy theo mục tiêu lợi nhuận đã dùng nhiều cách thức khác nhau tác động vào môi trường nhằm khai thác tài nguyên với giá rẻ nhất, khai thác quá mức các tài nguyên gây suy thoái
và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Bên cạnh việc sử dụng công cụ pháp lý, bảo vệ môi trường trong nền kinh tế thị trường có hiệu quả cao hơn khi sử dụng các công cụ kinh tế nhằm tác động vào lợi ích, chi phí của các chủ thể sử dụng môi trường, hướng hành vi của họ theo mục tiêu lợi ích kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường
Thị trường định giá các yếu tố môi trường và các cá nhân, tổ chức tự điều chỉnh hành vi của mình Điều này khuyến khích các chủ thể sử dụng các yếu tố môi trường nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên, đổi mới công nghệ nhằm giảm thiểu lượng chất thải trong khai thác, sản xuất và tiêu dùng sản phẩm Công
cụ kinh tế dựa trên nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền" (nguyên tắc
PPP: Poluter Pays Principle) Nguyên tắc này do tổ chức Hợp tác kinh tế và Phát triển (OECD) đưa ra và được áp dụng trên thực tế năm 1972 Các công cụ kinh
Trang 29- Trợ cấp môi trường
Các công cụ này chỉ áp dụng có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường
1.2.4.3 Các công cụ kỹ thuật quản lý môi trường
Các công cụ kỹ thuật quản lý môi trường thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất ô nhiễm trong môi trường Các công cụ kỹ thuật quản lý môi trường có thể gồm các đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường, xử lý chất thải, tái chế và sử dụng chất thải…
"Đánh giá tác động môi trường là một quá trình nghiên cứu được sử dụng
để dự báo những hậu quả môi trường của một dự án phát triển quan trọng được
dự kiến thực thi" (Chương trình môi trường LHQ: UNEP) Đánh giá tác động
môi trường được xem là một công cụ hữu hiệu để bảo vệ và quản lý môi trường Đánh giá tác động môi trường thực chất là việc xem xét ảnh hưởng đến môi trường của một dự án phát triển cả về mặt định tính và định lượng, từ đó đưa ra những giải pháp giảm thiểu những tác động tiêu cực đến môi trường Những dự
án không đảm bảo về mặt môi trường sẽ không được cấp phép thực hiện dự án Trên thực tế, rất nhiều quốc gia đặc biệt là những nước nghèo thường chấp nhận những dự án đạt hiệu quả kinh tế cao hay những dự án hấp dẫn về kinh tế
mà bỏ quên đi những ảnh hưởng xấu đến môi trường
Bên cạnh đó, để quản lý môi trường các quốc gia còn triển khai nghiên cứu
và áp dụng công nghệ, đặc biệt là việc áp dụng công nghệ sạch, công nghệ tái chế và tái sử dụng chất thải Sự phát triển của khoa học công nghệ tạo ra lợi ích lớn cho con người, con người vừa tiết kiệm tài nguyên, vừa giảm được lượng chất thải vào môi trường, giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường Ví dụ, Braxin có thể sản xuất điện từ khí metan (CH4) thoát ra từ các bãi rác thải Điều này cho
Trang 30phép tiết kiệm nhiên liệu và năng lượng để sản xuất điện năng vừa giảm nguy cơ
ô nhiễm môi trường
1.2.5 Tổ chức công tác quản lý môi trường
Tổ chức thực hiện công tác quản lý môi trường là nhiệm vụ quan trọng nhất của ngành môi trường ở mỗi quốc gia Các bộ phận chức năng của ngành môi trường bao gồm:
1 Bộ phận nghiên cứu, đề xuất kế hoạch, chính sách, các quy định pháp luật dùng trong công tác bảo vệ và quản lý môi trường
2 Bộ phận quan trắc, giám sát, đánh giá thường kỳ chất lượng môi trường
3 Bộ phận thực hiện các công tác kỹ thuật, đào tạo cán bộ môi trường
4 Bộ phận nghiên cứu giám sát việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường
ở địa phương, các cấp, ngành
Mỗi một quốc gia có một cách riêng trong việc tổ chức thực hiện công tác bảo vệ môi trường Ví dụ, ở Đức, Mỹ hình thành Bộ Môi Trường để thực hiện công tác quản lý môi trường quốc gia, ở Thái Lan hình thành Uỷ ban Môi Trường quốc gia do Thủ tướng Chính phủ làm chủ tịch và các công cụ quản lý chuyên ngành môi trường trong Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường Ở Việt nam, công tác quản lý môi trường hiện nay được thực hiện ở nhiều cấp Hệ thống quản lý môi trường ở Việt nam được thực hiện theo sơ đồ sau:
Trang 31Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức hệ thống QLNN về bảo vệ môi trường ở Việt nam
Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ở Việt nam được quy định trong Luật Bảo vệ Môi trường (Điều 38) và Nghị định 175- NĐ/CP của Chính phủ về "hướng dẫn thi hành luật Bảo vệ môi trường" như sau:
Theo nhiệm vụ và quyền hạn của mình Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước
Bộ Tài nguyên và Môi trường trịu trách nhiệm trước Chính Phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện việc bảo vệ môi trường trong ngành và các cơ sở thuộc quyền quản lý trực tiếp
Bộ Tài nguyên và Môi trường
Cục môi
Uỷ ban nhân
Các vụ khác
Trang 32Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường tại địa phương
Sở Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc bảo vệ môi trường ở địa phương
Các nội dung trên được cụ thể hoá trong Nghị định 175-NĐ/CP (Điều 4, Điều 5, Điều 6)
Để thực hiện có hiệu quả hoạt động bảo vệ và quản lý môi trường đòi hỏi sự phối hợp hoạt động của các cơ quan trên trên cơ sở phân định rõ chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ cụ thể của từng cơ quan, tránh sự quản lý chồng chéo dẫn đến vô hiệu quả
1.3 Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế
1.3.1 Môi trường trong nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường Cơ chế thị trường là cơ chế vận hành theo các quy luật của thị trường, lấy tín hiệu giá cả là thông số truyền đạt thôn tin cho việc phân phối sản phẩm trên thị trường Trong nhiều trường hợp, giá cả không phản ánh đầy đủ các chi phí, lợi ích của người sản xuất hay tiêu dùng Đó là do sự tồn tại của các ngoại ứng và các hàng hoá công cộng Đây chính là nguyên nhân cơ bản gây ra sự suy thoái và
ô nhiễm môi trường
* Ngoại ứng
Ngoại ứng là tác động của hoạt động sản xuất và tiêu dùng không được phản ánh trên thị trường Ngoại ứng có thể xuất hiện giữa những người sản xuất với nhau, giữa những khách hàng với nhau, hay giữa người sản xuất và người tiêu dùng Ngoại ứng tồn tại dưới hai dạng: ngoại ứng tích cực và ngoại ứng tiêu cực Ngoại ứng tiêu cực xuất hiện khi một bên áp đặt những chi phí cho bên khác
Trang 33không được phản ánh vào giá cả sản phẩm Ngoại ứng tích cực xuất hiện khi một bên làm lợi cho bên khác
Đa phần các hoạt động sản xuất đều gây ra ngoại ứng tiêu cực và có ảnh hưởng xấu đến môi trường, gây suy thoái và ô nhiễm môi trường Giả sử một xí nghiệp sản xuất chôn các chất thải rắn và chất thải nguy hại làm ô nhiễm nguồn nước, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của dân cư khu vực lân cận nhưng nhà máy không chịu trách nhiệm về các chi phí ngoại ứng mà nó áp đặt cho cộng đồng dân cư khi đề ra các quy định sản xuất của mình Trong trường hợp này xí nghiệp gây ra một ngoại ứng tiêu cực
* Hàng hoá công cộng
Hàng hoá công cộng thuần tuý có hai đặc điểm: chúng là không kình địch (phi cạnh tranh) và không chuyên hữu (phi loại trừ) Tính không kình địch thể hiện ở chỗ, ở bất kỳ mức sản xuất nào, chi phí cận biên để có thêm một người sử dụng bằng 0 Điều này đối lập với hàng hoá tư nhân, khi sản xuất thêm một đơn
vị sản phẩm thì chi phí cận biên lớn hơn 0 Tính không chuyên hữu thể hiện ở chỗ, nếu như có một hàng hoá công cộng được sản xuất thì mọi người đều có quyền sử dụng nó Do đó, thật khó hoặc không thể đòi người ta phải trả giá để sử dụng các sản phẩm không chuyên hữu
Trên thực tế tồn tại một số hàng hoá công cộng là không chuyên hữu nhưng
có tính kình địch Ví dụ một đại dương hay một hồ lớn là không chuyên hữu, nhưng việc đánh bắt thuỷ sản là kình địch vì việc này áp đặt cái giá phải trả cho những người khác, càng nhiều người đánh bắt thì càng giảm lượng cá cho những người khác
Một số hàng hoá công cộng là chuyên hữu nhưng không kình địch Ví dụ, tín hiệu vô tuyến, khi tín hiệu đã được phát đi, chi phí biên để cho thêm một
Trang 34người sử dụng bằng 0 Nhưng tín hiệu phát đi là chuyên hữu, bởi lẽ bằng cách thay đổi tần số tín hiệu và định ra một mã hiệu để người khác không thể thu trộm các chương trình phát truyền hình rồi thu tiền sử dụng mã hiệu ấy, một công ty
vô tuyến truyền hình có thể loại trừ một số người sử dụng
Có những hàng hoá công cộng vừa mang tính chuyên hữu vừa mang tính kình địch, giống như một hàng hoá tư nhân Chúng ta xem xét việc quản lý một công viên quốc gia Công chúng có thể không dạo chơi trong công viên khi các chi phí vào cửa tăng Việc sử dụng công viên cũng có tính kình địch, vì trong điều kiện tụ họp đông đảo, một chiếc ô tô đi vào công viên cũng có thể làm giảm hứng thú của mọi người
* Ô nhiễm như là một ngoại ứng
Xét về mặt kinh tế, ô nhiễm môi trường phụ thuộc vào tác động của chất thải Đó là hiệu ứng vật lý đối với sinh vật như thay đổi giống loài, giảm sút năng suất sinh học, hay là phản ứng của con người đối với tác động đó như không hài lòng, buồn phiền, lo lắng Ví dụ, khi một nhà máy giấy hoạt động tạo
ra các khí thải như SO2, CO2, H2S… và nước thải có lẫn axit HCl làm ô nhiễm môi trường không khí và môi trường nước khu vực lân cận Ngoài ra còn có các chất thải rắn như bùn, vôi, sợi… làm ô nhiễm môi trường đất, ảnh hưởng xấu đến các sinh vật và sức khoẻ của con người
Như vậy, các ngoại ứng thể hiện ảnh hưởng của một hoạt động xảy ra bên trong một hệ sản xuất lên các yếu tố khác ngoài hệ sản xuất đó
Các ngoại ứng tiêu cực gây tổn thất phúc lợi đối với các tác nhân khác, mà tổn thất phúc lợi đó không được đền bù thì chính nó đã gây ra chi phí bên ngoài (chi phí không phải trả tiền) Hoạt động sản xuất gây ra ngoại ứng tiêu cực và làmhn, nhưng không nhất thiết phải loại bỏ ngoại ứng tiêu cực đó, bởi lẽ sản xuất
Trang 35là tất yếu của quá trình phát triển Vấn đề đặt ra ở đây là ngoại ứng đến mức nào thì xã hội có thể chấp nhận được
* Ngoại ứng tối ưu
Để xem xét ngoại ứng tối ưu, ta đi xem xét mối quan hệ giữ mức sản xuất
Q (Q có thể coi là sản lượng của hoạt động sản xuất) và lợi nhuận biên cá nhân của hoạt động sản xuất bằng đồ thị sau:
Trên đồ thị, đường MNPB biểu thị lợi nhuận ròng, biên, cá nhân, tức là lợi nhuận thu được khi sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm Nó được xác định bằng hiệu số giữa doanh thu biên (MR) và chi phí biên (MC) cá nhân
Trong mô hình thị trường cạnh tranh, doanh thu tăng thêm do cung ứng thêm một đơn vị sản phẩm đúng bằng giá bán đơn vị sản phẩm đó và do vậy
Hình 1.2 Xác định mức sản lượng tối ưu
MNPB
Sản lượng Q Mức ô nhiễm
Trang 36MNPB = P - MC Đường MNPB có dạng dốc xuống từ trái qua phải biểu thị lợi nhuận ròng, biên, cá nhân giảm dần khi sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm Đường MNPB
có thể được xác lập như sau:
Đường MEC biểu thị chi phí ngoại ứng cận biên (chi phí bên ngoài) Khi mức sản xuất Q tăng lên, chi phí này tăng lên theo tỷ lệ thuận, đường MEC dốc lên từ trái qua phải
Trang 37Các cá nhân trong thị trường sẽ hoạt động vì mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận
và sản xuất tại mức sản lượng Qp Tại mức sản lượng này MNPB = 0, các cá nhân thoả mãn điều kiện để đạt lợi nhuận tối đa, tức MC = P (trong trị trường cạnh tranh hoàn hảo) Và tổng lợi nhuận (Π) là phần diện tích được giới hạn bởi trục tung, trục hoành và đường MNPB, diện tích OAQP có thể được xác định bằng công thức:
Nhưng khi các cá nhân thu được phần lợi nhuận tối đa này thì đồng thời đã
áp đặt một tổng chi phí bên ngoài rất lớn, bằng diện tích hình OBQP
Mục tiêu của xã hội là tối đa hoá hiệu số giữa tổng tổng lợi nhuận từ hoạt động sản xuất chi phí bên ngoài (TEC), hay tối đa hoá lợi ích ròng của xã hội (NSB) Đối với ngoại ứng tiêu cực, tổng lợi ích xã hội (TSB) bằng tổng doanh thu (TR) Nhưng tổng chi phí xã hội không đơn thuần là chi phí cá nhân cho hoạt động sản xuất (TC) mà còn bao gồm các chi phí bên ngoài (chi phí ngoại ứng) do hoạt động sản xuất đó gây ra (TEC), hay nói cách khác, chi phí của hoạt động sản xuất bao gồm cả chi phí bên trong và chi phí bên ngoài
TSC = TC + TEC Như vậy lợi ích ròng của xã hội bằng hiệu số giữa tổng lợi ích xã hội và tổng chi phí xã hội
NSB = TSB - TSC NSB = TSB - (TC + TEC) NSB = TR - (TC + TEC) (vì TSB = TR) NSB = TR - TC - TEC
QP QP QP
QP
TC TR dQ MC P
=
0 0
) (
Trang 38NSB = Π - TEC NSB → max dNSB/dQ = 0 dNSB/dQ = dTR/dQ - dTC/dQ - dTEC/dQ = 0 tức là MR - MC- MEC = 0 hay MR = MC + MEC
P = MC + MEC (CTHH) (1.1)
Mặt khác, P - MC = MEC MNPB = MEC (1.2)
Trong đó: P là giá cả đơn vị sản phẩm (trong thị trường cạnh tranh hoàn
hảo, giá cả không thay đổi khi sản lượng thay đổi)
MC: chi phí cận biên của cá nhân, là chi phí tăng thêm khi sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm
MR: doanh thu biên, là doanh thu tăng thêm khi bán thêm một đơn vị sản phẩm
MSC: là chi phí biên của xã hội khi hoạt động gây ra ngoại ứng
Từ (1.1) và (1.2) ta có một số nhận xét sau:
1, Giá cả sản phẩm phải được lượng hoá không đơn thuần chỉ bao gồm
những chi phí bên trong, hay chi phí tạo ra sản phẩm mà phải bao gồm cả những chi phí bên ngoài do hoạt động sản xuất ấy gây ra, tức phải nội hoá các chi phí ngoại ứng vào chi phí sản xuất trong quá trình định giá, để giá cả sản phẩm phản ánh đúng chi phí xã hội của quá trình sản xuất
2, Mức sản xuất tối ưu của xã hội (thoả mãn NSB max) được xác định tại
Q* (trên đồ thị), tại giao điểm của đường MNPB và đường MEC, hay MNPBQ* = MECQ* Tại Q*, lợi ích xã hội đạt được là lớn nhất, bằng diện tích hình OAE trên đồ thị Và ngoại ứng tại mức sản lượng này gọi là ngoại ứng tối ưu hay mức
ô nhiễm tối ưu Với mọi mức sản lượng lớn hơn hay nhỏ hơn Q* đều là không
Trang 39hiệu quả và gây ra tổn thất phúc lợi xã hội Xã hội luôn phải chấp nhận một mức
ô nhiễm bằng mức ô nhiễm tối ưu để hài hoà giữa mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường
3, Rõ ràng đối với ngoại ứng tiêu cực, các cá nhân luôn có xu hướng sản xuất ở mức sản lượng lớn hơn mức sản lượng tối ưu của xã hội, làm xuất hiện ngoại ứng và gây ra ô nhiễm môi trường Xã hội muốn tối đa hoá lợi ích phải sử dụng các biện pháp buộc các cá nhân phải cắt giảm sản lượng xuống đến mức sản lượng tối ưu của xã hội Bằng cách nào đó, các cá nhân phải nội hoá toàn bộ chi phí bên ngoài và mục tiêu lợi nhuận là động cơ cuối cùng khiến họ thay đổi hành vi
Nói tóm lại, xã hội mong muốn và bằng biện pháp điều chỉnh mức sản lượng được sản xuất tại Q*, đồng thời tạo ra ô nhiễm tối ưu tại W*
1.3.2 Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế
* Nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền" (nguyên tắc PPP)
Công cụ chính của cơ chế giá cả thị trường là báo hiệu cho những người tiêu thụ về chi phí của việc sản xuất một sản phẩm và báo hiệu cho những người sản xuất về sự đánh giá tương ứng của người tiêu thụ
Bên cạnh việc sử dụng phương pháp điều tiết trực tiếp "chỉ huy và kiểm soát" (phương pháp sử dụng các công cụ pháp lý, phương pháp CAC: Command anh Control), để quản lý môi trường có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường cần
sử dụng phương pháp khuyến khích kinh tế dựa vào thị trường
Các nhà kinh tế lập luận rằng, phương pháp dựa vào thị trường là có hiệu quả hơn phương pháp Chỉ huy và Kiểm soát với hai lý do cơ bản:
1, Phương pháp Chỉ huy và Kiểm soát đòi hỏi người điều tiết thu thập những thông tin mà người gây ô nhiễm đã có
Trang 402, Những người gây ô nhiễm thay đổi cách ứng xử tương ứng với phương tiện mà họ sẽ dùng để chống ô nhiễm Nói cách khác, Chi phí kiểm soát của họ khác nhau Đặc điểm chủ yếu của phương pháp CAC là kiểm soát không tập trung ở những nơi mà người ta thấy chi phí chống ô nhiễm là rẻ nhất
Tuy nhiên các hệ thống kiểm soát ô nhiễm hiện nay đang hoạt động tại các nước công nghiệp hoá đã bị thống trị bởi cách kiểm soát trực tiếp bằng luật lệ
Sử dụng các công cụ kinh tế giúp người gây ô nhiễm lựa chọn cách làm thế nào để điều chỉnh cho phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng môi trường Những người gây ô nhiễm với chi phí chống ô nhiễm cao sẽ lựa chọn cách trả lệ phí Những người gây ô nhiễm với chi phí chống ô nhiễm thấp sẽ thích sử dụng thiết
bị chống ô nhiễm
Nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền" được tổ chức Hợp tác kinh tế
và phát triển (OECD) soạn thảo và chấp nhận năm 1972 xuất phát từ thực trạng ô nhiễm nghiêm trọng và ngày càng gia tăng ở các nền kinh tế công nghiệp
Nguyên lý căn bản của nguyên tắc này là: giá cả một hàng hoá hay dịch vụ phải phản ánh đầy đủ chi phí để sản xuất ra nó, bao gồm chi phí của tất cả các tài nguyên được sử dụng Tình trạng thiếu giá cả đúng mức cho tài nguyên môi
trường, và đặc tính ai cũng được sử dụng đối với nhiều tài nguyên môi trường có nghĩa rằng đang có một nguy cơ nghiêm trọng về việc khai thác quá mức và tất
sẽ dẫn đến việc huỷ hoại hoàn toàn nguồn tài nguyên đó
Trên quy mô quốc tế, nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền" đã trở
thành một nguyên tắc của việc không trợ cấp cho những người gây ô nhiễm Sự trợ cấp tài chính đối với một khu vực ô nhiễm chỉ có thể thực hiện trong một thời gian cố định với một chương trình được hoạch định rõ ràng và phải tránh sự biến dạng trong mậu dịch quốc tế