1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề xuất định hướng quy hoạch không gian mở đô thị khu vực quận Hà Đông thành phố Hà Nội

86 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đề xuất định hướng quy hoạch không gian mở đô thị khu vực quận Hà Đông thành phố Hà Nội Nghiên cứu đề xuất định hướng quy hoạch không gian mở đô thị khu vực quận Hà Đông thành phố Hà Nội Nghiên cứu đề xuất định hướng quy hoạch không gian mở đô thị khu vực quận Hà Đông thành phố Hà Nội luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

- -

VŨ KHẮC HÙNG

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH KHÔNG GIAN MỞ ĐÔ THỊ KHU VỰC QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Hà Nội – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

- -

VŨ KHẮC HÙNG

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH KHÔNG GIAN MỞ ĐÔ THỊ KHU VỰC QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Mã số: 8850103.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Tuấn

XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG

Giáo viên hướng dẫn Chủ tịch hội đồng chấm luận văn

thạc sĩ khoa học

PGS.TS Trần Văn Tuấn PGS.TS Phạm Quang Tuấn

Hà Nội – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài “Nghiên cứu đề xuất định hướng quy hoạch không gian mở đô thị

khu vực quận Hà Đông, thành phố Hà Nội” là công trình do chính tác giả tìm

hiểu, nghiên cứu và thực hiện

Những nội dung, ý tưởng của các tác giả khác trong các tài liệu tham khảo đều được trích dẫn đầy đủ theo đúng quy định

Tác giả chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính trung thực của Luận văn

Hà Nội, ngày 13 tháng 01 năm 2020

Tác giả

Vũ Khắc Hùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Quý Thầy, cô Khoa Địa Lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu, giúp tôi tiếp cận tư duy khoa học, phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và cuộc sống

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất tới giảng viên hướng dẫn là PGS.TS Trần Văn Tuấn đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành tốt nghiên cứu của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể Cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai, Phòng Quản lý đô thị quận Hà Đông

đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Vũ Khắc Hùng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Tổng quan tài liệu trong và ngoài nước về vấn đề nghiên cứu 5

1.1.1 Trên thế giới 5

1.1.2 Tại Việt Nam 13

1.2 Cơ sở lý luận quy hoạch không gian mở đô thị 18

1.2.1 Khái niệm không gian mở đô thị 18

1.2.2 Phân loại không gian mở đô thị 21

1.2.3 Quy định thiết kế các đối tượng không gian mở đô thị 30

1.2.4 Ý nghĩa của các đối tượng KGM đô thị 32

1.3 Các quan điểm nghiên cứu 37

1.3.1 Quan điểm hệ thống 37

1.3.2 Quan điểm tổng hợp 37

1.3.3 Quan điểm lịch sử 37

1.3.4 Quan điểm phát triển bền vững 38

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHÔNG GIAN MỞ ĐÔ THỊ 40

TẠI QUẬN HÀ ĐÔNG 40

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của quận Hà Đông, thành phố Hà Nội 40

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 40

2.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội, môi trường 44

2.2 Tình hình sử dụng đất và quy hoạch đô thị tại quận Hà Đông 48

2.2.1 Tình hình sử dụng đất và biến động đất đai quận Hà Đông giai đoạn 2014-2018 48

Trang 6

2.2.2 Quy hoạch đô thị quận Hà Đông 51

2.3 Thực trạng không gian mở đô thị tại quận Hà Đông 52

2.3.1 Cây xanh đô thị 52

2.3.2 Công trình thể dục thể thao 53

2.3.3 Giáo dục 56

2.3.4 Một số đối tượng KGM khác 58

2.4 Dự báo nhu cầu sử dụng đất KGM đô thị tại quận Hà Đông 59

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUY HOẠCH KHÔNG GIAN MỞ ĐÔ THỊ TẠI QUẬN HÀ ĐÔNG 61

3.1 Đánh giá hiệu quả xã hội của các công trình không gian mở tại quận Hà Đông 61

3.1.1 Phân nhóm đối tượng sử dụng các đối tượng KGM khác nhau 61

3.1.2 Đánh giá số lượng và chất lượng KGM tại quận Hà Đông 63

3.1.3 Đánh giá mức độ hài lòng và kiến nghị của người dân về hệ thống quy hoạch KGM tại quận Hà Đông 64

3.2 Một số định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng quy hoạch KGM đô thị Hà Đông 65

3.2.1 Về chính sách pháp luật 65

3.2.2 Gia tăng vốn đầu tư, nguồn lực tài chính 67

3.2.3 Phân vùng định hướng quy hoạch KGM đô thị tại quận Hà Đông 68

KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

PHỤ LỤC 77

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 1 Phân loại không gian mở theo các đối tượng cụ thể 22

Bảng 1 2 Phân loại Công viên và Không gian mở, Quản lý tài trợ Bộ Tài nguyên thiên nhiên Michigan, 2009 24

Bảng 1 3 Phân loại không gian mở theo các nhóm chức năng Singapore 26

Bảng 1 4 Phân loại không gian mở ở Luân Đôn 27

Bảng 1 5 Đề xuất hệ thống phân loại KGM đô thị tại Việt Nam 29

Bảng 1 6 Diện tích đất cây xanh sử dụng công cộng ngoài đơn vị ở trong các đô thị 30

Bảng 1 7 Diện tích tối thiểu sử dụng trồng cây xanh trong các công trình 31

Bảng 1 8 Chỉ tiêu sử dụng đất cho các công trình thể dục thể thao đô thị 31

Bảng 2 1 Tổng giá trị gia tăng và cơ cấu kinh tế quận Hà Đông giai đoạn 2014 – 2018 44

Bảng 2 2 Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng bình quân các lĩnh vực kinh tế quận Hà Đông năm 2014 – 2018 47

Bảng 2 3 Biến động sử dụng đất quận Hà Đông giai đoạn 2014 – 2018 49

Bảng 2 4 Thống kê diện tích cây xanh đô thị trên địa bàn quận Hà Đông 53

Bảng 2 5 Thống kê các công trình TDTT cấp đô thị trên địa bàn quận Hà Đông 54

Bảng 2 6 Thống kê diện tích các nhóm công trình giáo dục 56

Bảng 2 7 Quy định chỉ tiêu quy hoạch không gian mở trường học 57

Bảng 2 8 Thống kê một số đối tượng KGM đô thị khác 58

Bảng 3 1 Phân nhóm đối tượng sử dụng theo nhóm tuổi 62

Bảng 3 2 Tổng hợp kết quả điều tra người dân về đánh giá số lượng, chất lượng KGM quận Hà Đông 63

Bảng 3 3 Định hướng và giải pháp quy hoạch các vùng không gian mở 70

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 1 Thành phố vườn của Ebenezer Howard [2] 7

Hình 1 2 Sơ đồ thành phố Letch worth 8

Hình 1 3 Sơ đồ quy hoạch thành phố vườn Welwuyn 8

Hình 1 4 Khu đô thị vườn Chemin-Vert nhìn từ trên cao [24] 9

Hình 1 5 Công viên Trung tâm, New York 36

Hình 1 6 Mô hình phát triển 38

Hình 2 1 Bản đồ hành chính quận Hà Đông, thành phố Hà Nội 41

Hình 2 2 Một số hình ảnh sai phạm sử dụng đất tại khu vực công viên cây xanh quận Hà Đông 55

Hình 3 1 Kết quả đánh giá mức độ hài lòng của người dân về hệ thống KGM tại quận Hà Đông 65

Hình 3 2 Bản đồ phân vùng quy hoạch Không gian mở cho quận Hà Đông, thành phố Hà Nội 69

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

KGCC Không gian công cộng

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Không gian mở đô thị hay không gian công cộng là khu vực thuộc sở hữu cộng đồng hoặc do cộng đồng sử dụng, tất cả mọi người đều có thể tiếp cận, thụ hưởng [5] Đó là nơi con người tham gia các hoạt động văn hóa, giải trí, mua sắm, rèn luyện sức khỏe…Tại bất cứ đô thị nào trên thế giới, nếu quy hoạch phần diện tích không gian mở thiếu hoặc không đầy đủ, thiết kế không tốt hoặc bị tư nhân hóa, thành phố sẽ rơi vào tình trạng bị chia cắt, xung đột xã hội gia tăng, cơ hội kinh tế

bị cản trở

Hiện nay tại một số quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam, có một sự mất cân đối nghiêm trọng trong việc phát triển KGM, công viên mới được xây dựng, hàng trăm ngàn héc ta mặt nước sông hồ, diện tích bán ngập bị san lấp, thu hẹp và ô nhiễm, hàng vạn cây xanh bị chặt bỏ tùy tiện

Hà Nội là một trong 2 thành phố ở Việt Nam có tốc độ đô thị hóa cao nhất cả nước Trong 20 năm qua, mỗi năm Hà Nội có thêm hàng triệu mét vuông sàn đã được xây dựng mới trong hàng ngàn dự án đầu tư xây dựng mới, hàng trăm km đường giao thông mới mở, hàng chục cây cầu mới bắc (chỉ tính riêng năm 2017 Hà Nội có thêm 11 triệu m2 nhà ở, cao hơn 100 lần kỷ lục xây dựng 0,11 triệu m2 nhà

ở Hà Nội năm 1978) [8] Hàng vạn khu sinh hoạt công cộng trong các khu dân cư

đã bị lấn chiếm làm nơi kinh doanh, bãi đỗ xe, xây nhà ở Nạn lấn chiếm vỉa hè, lòng đường tràn lan và chưa có giải pháp quản lý hữu hiệu Những KGCC hiếm hoi còn lại không được bảo dưỡng duy tu vận hành tốt, kém hấp dẫn do thiết kế, bố trí thiết bị chất lượng kém Hoạt động của nhiều nhà văn hóa, sân chơi ở các khu dân

cư khá nghèo nàn, đơn điệu, lãng phí

Trong số các quận của thủ đô Hà Nội, Hà Đông được coi là một trong số các quận có tốc độ xây dựng, phát triển đô thị lớn nhất trong những năm gần đây Đây được coi là điểm thu hút hấp dẫn đối với quá trình di cư của người dân từ các tỉnh khác nhau về làm việc và sinh sống tại thủ đô Với nhu cầu phát triển về dân số rất lớn, Quận Hà Đông đang gặp nhiều áp lực trong việc giải quyết các vấn đề về quy hoạch đô thị, vừa phải đáp ứng nơi sinh sống cho người dân, song song đó phải thiết

Trang 10

kế các khu vực KGM hợp lý, giải quyết các nhu cầu văn hóa, giải trí của người dân

Từ thực tế này, việc làm rõ thực trạng KGM, nghiên cứu tính toán nhu cầu của cư dân sinh sống tại Hà Đông về KGM trong tương lai và định hướng nâng cao chất lượng KGM, quy hoạch các KGM phù hợp với Quy hoạch tổng thể Hà Nội đến năm

2030 tầm nhìn năm 2050 là nhu cầu cấp thiết

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu làm rõ thực trạng KGM quận Hà Đông thông qua đánh giá hiện trạng và biến động sử dụng đất, quy hoạch đô thị khu vực quận Hà Đông Từ đó đề xuất một số định hướng và giải pháp quy hoạch nhằm nâng cao chất lượng KGM tại khu vực nghiên cứu

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan cơ sở lý luận về quy hoạch không gian mở đô thị phục vụ phát triển đô thị

- Phân tích thực trạng không gian mở đô thị và sử dụng đất các không gian

mở khu vực quận Hà Đông; quy hoạch không gian mở khu vực nghiên cứu trong quy hoạch chung thành phố Hà Nội đến 2030, tầm nhìn đến 2050

- Khảo sát ý kiến người dân trong việc quy hoạch các đối tượng KGM tại quận Hà Đông

- Xác định nhu cầu sử dụng đất không gian mở của quận Hà Đông đến năm

2030

- Phân vùng các vùng không gian mở tại Quận Hà Đông

- Đề xuất định hướng quy hoạch không gian mở và các giải pháp nâng cao chất lượng không gian mở quận Hà Đông

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp điều tra, thu thập, tổng hợp tài liệu, số liệu

Thu thập các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường, các số liệu thống kê hiện trạng sử dụng đất, quy hoạch, bản đồ hiện trạng sử dụng đất quận

Hà Đông

Các số liệu được thu thập chủ yếu tại phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Quản lý đô thị quận Hà Đông

Trang 11

4.2 Phương pháp thống kê, so sánh

Trên cơ sở các số liệu, tài liệu thu thập được, tiến hành thống kê, so sánh tài liệu về KGM ở các nước trên thế giới và các quy định liên quan đến các đối tượng KGM ở Việt Nam nhằm đưa ra khái niệm và hệ thống phân loại một cách đầy đủ cho hệ thống đô thị Việt Nam

4.3 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa

- Tìm hiểu các vấn đề về thực trạng sử dụng đất và quy hoạch quận Hà Đông

- Khảo sát thực trạng các không gian mở: khảo sát các kiểu không gian xanh, mặt nước, đánh giá trực quan môi trường tại các không gian mở

4.4 Phương pháp điều tra xã hội học

Tham khảo ý kiến của người dân về các đối tượng KGM trong quận Hà Đông thông qua việc phát phiếu khảo sát trực tiếp tại các khu vực KGM Người dân

sẽ đưa ra đánh giá khách quan về chất lượng, mức độ hài lòng, đề xuất giúp hoàn thiện việc quy hoạch KGM tại quận

Nghiên cứu tiến hành khảo sát 60 người dân đang tham gia vào các hoạt động tại các khu vực không gian mở vườn hoa và công viên tại quận Hà Đông Qua

đó, người dân đánh giá khách quan về các đối tượng không gian mở tại quận

4.5 Phương pháp phân tích, đánh giá

Dựa trên những số liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập được, thông qua quá trình tổng hợp, nghiên cứu tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng nhằm thể hiện một cách rõ nhất hệ thống KGM tại quận Hà Đông, những mặt tích cực và hạn chế Qua

đó, làm cơ sở cho việc đưa ra những giải pháp phù hợp với quy hoạch đô thị tại thủ

đô và nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội – môi trường

5 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Quận Hà Đông

- Phạm vi nội dung khoa học: Đề tài luận văn tập trung làm rõ thực trạng KGM tại quận Hà Đông và đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quy hoạch KGM trên địa bàn nghiên cứu

Trang 12

- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng KGM khu vực quận Hà Đông giai đoạn bắt đầu từ 2010 đến 2018

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn có cấu trúc gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng không gian mở đô thị tại quận Hà Đông

Chương 3: Đề xuất định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng quy hoạch không gian mở đô thị tại quận Hà Đông

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tài liệu trong và ngoài nước về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Trên thế giới

Các nghiên cứu về không gian mở đô thị xuất hiện khá sớm, chủ yếu là các nghiên cứu nước ngoài Không gian mở là một thuật ngữ được sử dụng bởi các nhà quy hoạch cảnh quan và kiến trúc sư cảnh quan cho khu vực đất được cố tình để lại chưa xây dựng như các khu đất trống và các khu rừng trong khi đất xung quanh chúng được phát triển vào các tòa nhà và công trình xây dựng Không gian mở công cộng, như công viên, không gian xanh, khu thể thao, khu bảo tồn và khu di sản, quảng trường, không gian lưu thông…từ lâu đã được coi là nơi tập trung thỏa mãn

về mặt tinh thần của những hoạt động khác nhau và thúc đẩy những hoạt động xã hội, ràng buộc xã hội, tạo ra không gian cộng đồng và địa điểm kết nối trong đô thị

Cuộc các mạng công nghiệp xuất phát từ nước Anh sau đó lan tỏa ra toàn thế giới Cuộc các mạng công nghiệp xuất phát từ nước Anh sau đó lan tỏa ra toàn thế giới vào giai đoạn cuối thế kỉ 18 đến nửa đầu thế kỉ 19 đã khiến quá trình đô thị hóa diễn

ra mạnh mẽ tại các nước Châu Âu đã khiến quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ tại các nước Châu Âu Với sự bùng nổ của sản xuất hàng hóa dựa trên máy móc công nghiệp, các đô thị mới Châu Âu dần được hình thành, thay đổi và được coi như những đô thị công nghiệp với các chức năng chính là nơi trao đổi và sản xuất hàng hóa Đến cuối thế kỉ XIX, tốc độ đô thị hoá nhanh chóng và sức ép từ tăng trưởng nóng đem lại diện mạo mất kiểm soát về không gian tại các thành phố ở châu Âu [23] Trước bối cảnh đó, các nhà quản lý và nghiên cứu đô thị đề xuất sử dụng công

cụ quy hoạch và thiết kế đô thị tích hợp với những thành tựu công nghệ tích luỹ được từ ngành xây dựng, môi trường, và kinh tế học nhằm hệ thống hoá không gian công cộng trong thành phố Lấy mỹ học đô thị làm trọng tâm, các nhà quản lý và học thuật hy vọng giải quyết sự lộn xộn của không gian gây ra bởi quá trình đô thị hoá, nâng cao hình ảnh thành phố, cải thiện hệ thống giao thông, cung cấp không gian xanh, dịch vụ giải trí, thúc đẩy thương mại nội đô phát triển, đồng thời cải thiện chất lượng sống tại những khu đô thị cũ dành cho công nhân

Bắt đầu từ giai đoạn này, các nghiên cứu về hệ thống không gian mở trong

Trang 14

các đô thị được hình thành với mục đích đáp ứng nhu cầu của chính quyền và người dân về tái tạo cảnh quan đô thị sau thời cách mạng công nghiệp Thuật ngữ không gian mở được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1833, bởi Ủy ban chọn lọc đường công cộng ở Luân Đôn (Maruani and Amit-Cohen, 2007) Cho đến những năm 1920, chủ nghĩa hiện đại chiếm vị thế chủ đạo trong lĩnh vực kiến trúc và thiết

kế đô thị, đề cao nguyên tắc phân khu công năng trong không gian thành phố Hiến chương Athens đề ra bốn công năng cơ bản của thành phố, bao gồm: cư ngụ, nơi làm việc, giao thông và nghỉ dưỡng Trong đó, không gian công cộng – vốn là nơi sinh hoạt và giao lưu cộng đồng chỉ được coi là một công năng phụ trợ Sau Thế chiến thứ nhất, cùng với quá trình tái đô thị hoá (re-urbanisation) và phát triển ồ ạt của phương tiện cơ giới, đô thị trở nên hỗn loạn, cơ sở hạ tầng quá tải, lý thuyết phân vùng công năng ngặt nghèo của chủ nghĩa hiện đại đã đem lại những mặt tiêu cực trong phát triển đô thị Song song với quá trình suy thoái tại khu trung tâm của những thành phố lớn, xu hướng chuyển dịch ra ngoại ô sinh sống của tầng lớp trung lưu thúc đẩy quá trình ngoại ô hoá, khoét sâu tình trạng suy thoái ở khu vực nội đô Trước bối cảnh đó, các nhà quy hoạch và thiết kế đô thị tại châu Âu đã có những điều chỉnh về nhận thức và lý luận, phản đối việc phân vùng công năng khô cứng của chủ nghĩa hiện đại Từ năm 1975, phong trào bảo tồn đô thị phát triển, thu hút

sự tham gia của hầu hết các thành phố lớn tại châu Âu với khẩu hiệu “Phát triển tương lai vì quá khứ” (A Future for Our Past) Trên nền tảng đó, mọi tầng lớp trong

xã hội đều đạt được nhận thức chung, cho rằng không gian đô thị cần được tái phát triển nhằm phục vụ nhu cầu lợi ích của con người Các nhà quản lý bắt đầu tái thiết khu vực nội đô, cải thiện không gian công cộng, nâng cấp hệ thống giao thông bộ hành, bảo tồn, phục chế di tích lịch sử, xây dựng những khu thương mại kết hợp văn hoá giải trí quần chúng [23]

Một trong những lý luận kinh điển trong quy hoạch đô thị tại các nước Châu

Âu bấy giờ và cũng là một cống hiến lớn cho lí luận quy hoạch đô thị hiện đại chính

là lí luận thành phố vườn – thành phố vệ tinh của Ebenezer Howard, một kiến trúc

sư nổi tiếng người Anh [2] Kiến trúc sư đã phê phán những hiện tượng xã hội, văn hóa, kinh tế của các thành phố công nghiệp ở Anh và rút ra kết luận rằng nguyên

Trang 15

nhân cơ bản của các hiện tượng xấu là do tập trung quá cao dân cư vào các đô thị

mà lại thiếu đi những khu vực công cộng, nơi con người kết nối thông qua các hoạt động văn hóa, thể thao…Thành phố vườn của Ebenezer Howard được đề xướng năm 1986 Trong số các giải pháp được đề xuất nhằm đề xuất giải quyết các vấn đề

về không gian thành phố, tác giả đã đề cập đến việc xây dựng các khu vực cây xanh và đất đai sản xuất nông nghiệp bao quanh các khu ở, tạo không gian xanh nhiều hơn trong thành phố

Ngoài ra, thành phố được phân bố lại, các thành phố vệ tinh tập hợp xung quanh thành phố trung tâm hay gọi là thành phố mẹ, quy mô lớn nhất là 58.000 người Qua đó, thành phố vườn là những đơn vị thành phố vệ tinh, có quy mô dân

số khoảng 32.000 người, quy mô đất đai khoảng 400ha với nhà ở gia đình thấp tầng

và có vườn Kết quả lí luận đã góp phần quan trọng trong việc việc xây dựng các thành phố vườn tại London [2] Năm 1940, theo Ebenezer Howard, R Unwin và Parker thiết kế xây dựng thành phố vườn đầu tiên cách London 50km Năm 1920, Louis de Soissions thiết kế xây dựng thành phố vườn thứ hai cách London 25km

Hình 1 1 Thành phố vườn của Ebenezer Howard [2]

a Chi tiết một số bộ phận của Thành phố vườn

b Sơ đồ cơ cấu quy hoạch thành phố vệ tinh

Trang 16

Hình 1 2 Sơ đồ thành phố Letch worth

a Sơ đồ thành phố Letch worth – Thành phố vườn đầu tiên xây dựng năm 1902 cách London 55km

b Chi tiết nhóm nhà ở

Hình 1 3 Sơ đồ quy hoạch thành phố vườn Welwuyn

a Sơ đồ quy hoạch thành phố vườn Welwuyn 1920 cách London 25km

b Chi tiết nhóm nhà ở

Được kiến trúc sư Jean-Marcel Auburtin thiết kế trong giai đoạn từ năm

1912 đến năm 1919, sau đó được xây dựng trong giai đoạn từ năm 1921 đến năm

1933, khu đô thị Chemin-Vert gồm có 617 căn hộ có diện tích từ 60 đến 100 m2

Trang 17

dưới dạng nhà liền kề được bố trí thành từng cụm từ 2 đến 10 căn hộ và tất cả cùng chung một khu vườn riêng [24] Sự đa dạng về chủng loại và tầm vóc của cây xanh,

vị trí của các khối nhà, những điểm khác biệt của các đầu hồi nhà và các khung mái

gỗ đã góp phần xoá đi sự lặp lại nhàm chán, đó là chưa kể đến trí tưởng tượng phong phú của chủ nhân mỗi ngôi nhà

Hình 1 4 Khu đô thị vườn Chemin-Vert nhìn từ trên cao [24]

Hơn nữa, do được xây dựng trên một địa thế hình elíp và theo phong cách của các khu đô thị vườn kiểu Anh, toàn bộ khu đô thị này được cấu trúc để đảm bảo mỗi ngôi nhà có được khoảng lưu không tối thiểu 25 mét, điều đó đảm bảo cho 4.000 cư dân sinh sống tại đây (số liệu của giai đoạn 1935-1940, hiện nay con số này thấp hơn nhiều do phần lớn các căn hộ chỉ có trung bình từ 2 đến 3 nhân khẩu)

có đủ ánh nắng, tạo cảm giác ấm cúng và luôn tràn đầy ánh sáng

Xuất phát từ nhu cầu phát triển bền vững, thiết kế đô thị đương đại cần kết hợp yếu tố kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường cùng tạo dựng không gian thành phố và vùng đô thị trong xã hội hậu công nghiệp Năm 1994, Hiến chương Aalborg (Đan Mạch) được các nước châu Âu cùng thông qua Những năm 1987 và 1992, lần lượt Báo cáo Brundtland, “Tuyên bố về môi trường sống và phát triển” và “Chương trình nghị sự cho thế kỷ 21” được thông qua tại hội nghị của Liên hiệp quốc họp tại Rio de Janeiro Năm 2003, Hội quy hoạch Liên minh châu Âu ban hành “Tân hiến chương Athens”, đề xuất phương hướng thiết kế đô thị chủ nghĩa hiện đại theo xu thế phát triển bền vững Năm 2007, nước Đức trong lần chủ trì phiên họp của Liên

Trang 18

minh châu Âu đề xuất chính thức đưa ý tưởng phát triển bền vững tại các thành phố châu Âu vào Hiến chương Leipzig [23]

Trong những năm gần đây, các nước phát triển (như tại châu Âu, Mĩ hay Úc) thường có mức độ đô thị hóa cao (trên 80%) hơn nhiều so với các nước đang phát triển (như Việt Nam) (khoảng ~35%) [29] Đô thị các nước phát triển phần lớn đã ổn định nên tốc độ đô thị hóa thấp hơn nhiều so với trường hợp các nước đang phát triển Đô thị hóa diễn ra ở mức cao tại các nước phát triển kết hợp với nền tảng kiến trúc hạ tầng đô thị cải tiến qua nhiều năm đã tạo nên các đô thị hiện đại, cân bằng giữa các khu ở, sản xuất, kinh doanh với các khu vực công cộng, giải trí

Cho đến giai đoạn hiện nay, các nghiên cứu về không gian mở nói chung tại các nước có hạ tầng đô thị phát triển hầu hết hướng tới đáp ứng nhu cầu sức khỏe, giải trí tối đa cho người dân và định hướng quy hoạch đô thị thông minh (smart city) Việc bùng nổ của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đã thúc đẩy quá trình xây dựng đô thị theo hướng thông minh và bền vững, hạ tầng đô thị được cải thiện Hàng loạt máy móc và công nghệ mới ra đời phục vụ cho các ngành xây dựng và kiến trúc đô thị

Tuy nhiên, bên cạnh mục đích đưa đô thị phát triển bền vững về mặt hạ tầng kiến trúc, kinh tế, đảm bảo môi trường, yếu tố xã hội cũng được cho là xu hướng nghiên cứu mới trong những năm gần đây tại hầu hết các quốc gia, điển hình là các nước có đô thị phát triển Nhiệm vụ không thể thiếu trong phát triển đô thị đó là sự gắn kết con người, không gian công cộng là một thành tố không thể tách rời trong phát triển đô thị, là điểm kết nối cộng đồng, thúc đẩy gắn kết cuộc sống của các tầng lớp nhân dân đô thị, góp phần hình thành, phát triển giá trị văn hóa, xã hội, tạo dựng bản sắc riêng cho từng đô thị Rất nhiều nghiên cứu trong thời gian gần đây xoay quanh vấn đề thay đổi mối quan hệ giữa con người trong một xã hội thông qua các khu vực không gian công cộng

Nghiên cứu của Jingwen Cao và Jian Kanga tại Anh đã chỉ ra mối quan hệ xã hội trong mô hình sử dụng không gian công cộng đô thị tại hai quốc gia Trung Quốc

và vương quốc Anh Nghiên cứu này cung cấp một sự hiểu biết mới về các mô hình

sử dụng trong các không gian công cộng dựa trên các loại mối quan hệ, góp phần

Trang 19

vào khả năng của các nhà quy hoạch thành phố để thiết kế xã hội vào không gian công cộng Ba loại mối quan hệ (thân mật, cá nhân và xã hội) dựa trên lý thuyết dựa trên lý thuyết khoảng cách của Hall (1992), sau đó liên quan đến hoạt động của người dùng Vì vậy, các nhà quy hoạch nên thiết kế các không gian công cộng với những khác biệt trong sự nhận thức và cảm nhận của người dân [14]

Một nghiên cứu khác của Dasimah Binti Omar và cộng sự về tương tác của con người trong không gian mở được đăng tại Procedia - Social and Behavioral Sciences [19] Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng không gian mở rất quan trọng đối với

sự bền vững của thành phố Tương tác của con người rất quan trọng trong mối quan

hệ với các không gian mở vì cả hai yếu tố đáp ứng tốt với nhau Các tương tác không chỉ mang lại lợi ích cho con người mà đồng thời tác động tích cực đến hệ sinh thái tự nhiên khi cả hai yếu tố tương quan với nhau Ngoài ra, nghiên cứu này

đã chỉ ra rằng các tương tác tự nhiên và con người cần các yếu tố của không gian

mở như không gian xanh, yếu tố nước, thuộc tính vật lý để tăng cường sự tương tác giữa con người và con người-thiên nhiên Do đó, các khuyến nghị trong nghiên cứu này được khuyến nghị để đảm bảo tính bền vững của đô thị, đặc biệt là về mặt tương tác giữa con người và con người Đối với các tương tác giữa con người và thiên nhiên, trong số các khía cạnh như đa dạng sinh thái và sinh học nên được xem xét vì rừng đã mất bản sắc do sự phát triển của các thành phố mới Đối với sự tương tác giữa người với người, rất nhiều khía cạnh để khuyến nghị thêm về nghiên cứu

có thể được tăng cường về mặt lợi ích tâm lý và sức khỏe của con người

Đối với hầu hết đô thị tại các quốc gia đang phát triển, hướng nghiên cứu về không gian công cộng được tập trung xoay quanh việc giải quyết các vấn đề của quá trình đô thị hóa như ô nhiễm môi trường, tìm kiếm không gian, mâu thuẫn xã hội trong quá trình phát triển đô thị và các giải pháp giúp đô thị phát triển bền vững Sự

mở rộng chóng mặt khu vực đô thị ở các nước đang phát triển có đặc điểm khác với

sự bùng nổ ở các nước công nghiệp Mặc dù tất cả đều phải đối mặt với các vấn đề môi trường nhưng những thành phố ở các nước phát triển đứng trước hàng loạt rủi

ro đặc biệt Ô nhiễm, thiếu nhà ở, vệ sinh kém và thiếu cung cấp nước sạch là những vấn đề thường xuyên xảy ra ở các thành phố này

Trang 20

Nhà ở là một trong các vấn đề được quan tâm nhất ở nhiều đô thị Ở những thành phố như Calcutta (Ấn Độ) và Sao Paulo (Brazil) là một trở ngại lớn; tỷ lệ những người nhập cư thì luôn quá cao so với việc cung cấp nhà ở cố định Đám đông nhập cư ùa vào chiếm đất ở những khu vực nhất định, mọc lên như nấm ở khu vực ven đô Ở các đô thị phương Tây, người nhập cư thường thích ở gần các khu vực trung tâm thành phố, trong khi tình hình lại diễn ra ngược lại ở các nước đang phát triển, nơi đám đông nhập cư còn được gọi là “bể phốt ngoài rìa” (septic fringe)

đô thị [12] Chỗ ở là cái chòi dựng bằng bìa các tông cướp giựt được, bao bọc xung quanh rìa đô thị, nơi còn quá ít không gian chỗ trống

Bởi vậy, nhu cầu cao nhất của người dân tại các thành phố đang phát triển là nhà ở Tuy nhiên, trong tương lai khi mà các đô thị trở nên phát triển, ổn định, giải quyết được các vấn đề về xã hội và môi trường, con người sẽ hướng tới các khu vực công cộng nhiều hơn, và khi đó, nếu không có sự kiểm soát quy hoạch xây dựng một cách hợp lý, các khu vực ở sẽ trở nên thiếu thốn và chật chội bởi các tòa nhà, khu vực ở

Nghiên cứu gần đây của Riham Nady Faragallah đã chỉ ra rằng có sự phát triển nhanh chóng của thị trấn và thành phố dẫn đến sự xuống cấp rõ ràng trong không gian đô thị (Riham Nady Faragallah, 2018) Về vấn đề này, không gian mở

đô thị ở Ai Cập nói chung và ở Alexandria đặc biệt suy giảm nhanh chóng Do đó, nhu cầu cấp thiết cho sự phát triển và tạo ra các không gian mở đô thị mới có năng suất cao Thành phố Tây Ban Nha phải đối mặt với nhiều vấn đề như sự gia tăng dân số đô thị nhanh chóng dẫn đến việc mở rộng đô thị nhanh chóng của thành phố Ngoài ra, thiên nhiên đã bị thui chột và các mối quan hệ của con người đã bị hủy hoại Sự phá hủy này đã làm giảm số lượng và chất lượng không gian bên ngoài và dẫn đến mất cơ hội tiếp xúc với thiên nhiên và môi trường xung quanh

Nhìn chung, quy hoạch không gian công cộng trên thế giới được chia thành hai nhóm, các quốc gia có đô thị phát triển và các quốc gia có đô thị đang hoặc kém phát triển Đối với những đô thị khác nhau, hướng nghiên cứu về không gian công cộng cũng khác nhau Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của không gian công cộng tới chất lượng cuộc sống, cảnh quan đô thị, nhu cầu giải trí, văn hóa, xã hội và thậm chí

Trang 21

kinh tế, chính trị là rất lớn Việc quy hoạch đô thị đồng bộ, có kiểm soát và cân bằng các đơn vị ở, kinh doanh với các khu vực mở là bài học lớn đối với các đô thị đang phát triển như tại Việt Nam hiện nay

1.1.2 Tại Việt Nam

Không gian mở xuất hiện từ thời đại phong kiến nước ta dưới hình thái các sân chơi, bến nước, cây đa đầu làng, sân đình, cổng làng, chợ làng, đường làng, các đình đền đài, hội quán, nhà thờ tổ… Qua nhiều giai đoạn khác nhau, các khu vực không gian mở chịu ảnh hưởng bởi nhiều tư tưởng quy hoạch đã tạo nên những nét đặc sắc riêng cho đô thị Việt Nam

Vào thời kỳ phong kiến, chính quyền phong kiến quyết định các vấn đề chung và có không gian quyền lực của nó Cộng đồng như làng xã, phường hội, dòng tộc lại quyết định về những việc nội bộ của một nhóm người nên họ cũng có những không gian có chức năng hỗ trợ thể chế cộng đồng tương ứng Làng là một mô hình quần cư truyền thống vô cùng đặc sắc của Việt Nam Làng có thiết chế riêng, có hiệu lực mạnh mẽ vì nó đảm bảo tồn tại và vững mạnh của cả cộng đồng làng; vì vậy, dân ta có câu “phép vua thua lệ làng” Trong làng, trong phường hội, họ được quan tâm, giúp đỡ, bảo vệ và có trách nhiệm đối với người khác Vì thế nhu cầu tỏ ra mình là người cùng hội cùng thuyền, có quan tâm, đóng góp cho cộng đồng là cấp thiết Vì vậy, những không gian cộng đồng truyền thống như bến nước, cây đa đầu làng, sân đình, cổng làng, chợ làng, đường làng, các đình đền đài, hội quán, nhà thờ tổ…đều được sử dụng rất hiệu quả và thường xuyên Trong không gian cộng đồng này, mỗi cá thể xuất hiện ít khi dưới danh nghĩa cá nhân, mà dưới danh nghĩa là một

bộ phận trong một cỗ máy chung Họ lấy việc chứng tỏ phục tùng luật lệ chung làm

lý do để xuất hiện trong không gian này Những người ngoài có thể được chấp nhận vào các lễ hội, sự kiện cộng đồng, nhưng họ rõ ràng là khách và phải chấp nhận mọi luật lệ do chủ nhà đề ra Tiêu chí của những không gian này không phải là việc phát huy tối đa sự tự do thoải mái của từng cá nhân, mà là làm rõ cấu trúc của cái chúng

ta, để mọi người phải theo đó mà làm Bên cạnh đó, cung đình cũng là một phần đặc sắc của không gian cộng đồng trong thời kỳ phong kiến Việt Nam Đây là khu vực được coi là nơi vua chúa và những người xung quanh họ như các quan, người hầu, cung

Trang 22

tần,…sử dụng Các triều đại lịch sử Việt Nam từ thời kỳ Quốc hiệu Văn Lang cho đến thời kỳ Nhà Nguyễn (1802 – 1945) luôn có những khu vực được thiết kế riêng nhằm thỏa mãn các nhu cầu vui chơi, giải trí và thư giãn của những người trong cung đình

Vì vậy, trong thời kỳ phong kiến Việt Nam, không gian công cộng tồn tại dưới hình thái không gian cộng đồng, các khu vực đó đều phục vụ nhu cầu của một nhóm đối tượng như cùng đình, làng, thôn… và được giới hạn sử dụng bởi chính nhóm đối tượng

đó Những người khác muốn tham gia và sử dụng đều phải yêu cầu có sự chấp thuận của cộng đồng sử dụng các không gian đó

Đến thời Pháp thuộc (1984 – 1945), người Pháp lần đầu tiên đã đưa vào Việt Nam nhưng nguyên lý quy hoạch đô thị phương Tây với mạng lưới đường ô cờ vuông vắn, các trục không gian hoành tráng, những quảng trường trước các công trình lớn như phủ toàn quyền, ngân hàng, nhà hát nhằm phô trương quyền lực và sức mạnh vật chất – văn hóa của mình Ngoài ra, một số công viên, vườn hoa được xây dựng, nhằm biểu dương cuộc sống vương giả của khu phố Pháp hơn là những không gian công cộng thực sự Cho nên những KGCC này chính là những “cơ sở hạ tầng” phục

vụ người Pháp và chính quyền thuộc địa của Pháp Thời kỳ này, người Pháp đã tạo

ra các khu vực KGCC đúng nghĩa Công trình nổi bật như Cầu Long Biên, Nhà thờ lớn Hà Nội, công viên Bách Thảo,…là một trong những di sản kiến trúc Pháp thuộc mang lại cho đô thị Việt Nam Người dân được miễn phí hoàn toàn khi sử dụng, tham gia các công trình KGCC kể trên và hơn nữa, những công trình đó trở thành trung tâm văn hóa, nghỉ ngơi, thư giãn của người dân toàn thành phố

Thời kỳ xây dựng nhà nước XHCN hiện nay (từ năm 1945 đến nay), bên cạnh những KGCC do người Pháp xây dựng, loại hình KGCC phổ biến nhất ở nước ta thời kỳ này là các quảng trường chính trị ở tất cả các thành phố, thường bố trí trước mặt tòa nhà UBND – HĐND, xung quanh là các công trình phục bộ máy hành chính địa phương như trụ sở các sở, ban, ngành, tòa án, bưu điện, ngân hàng công Ở Hà Nội, có thể nói Quảng trường Ba Đình là KGCC biểu tượng quyền lực của Nhà nước XHCN với sự hiện diện của Lăng Hồ Chủ tịch, Tòa nhà Quốc hội, và các tòa công thự khác Ở đây Bác Hồ đã đọc bản tuyên ngôn độc lập, và cũng là nơi chỉ dành cho các sự kiện trọng đại, mitting, diễu hành tầm cỡ quốc gia Trước đây người

Trang 23

dân không được phép đi lại vui chơi tự do ở Quảng trường Ba Đình và nó đúng nghĩa

là một KGCC của chính quyền Tuy nhiên gần đây và buổi tối người dân đã được phép dạo chơi thư giãn ở đây, mặc dù vẫn chịu sử quản lý theo dõi sát sao của lực lượng canh gác lăng

Những quảng trường chính trị ở các thành phố khác cũng tương tự, thường được tạo ra phục vụ các sự kiện đại lễ chính thống do chính quyền địa phương tổ chức chứ không phát huy như các không gian phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí tự do của người dân, nên nhìn chung các không gian này thường vắng lặng khô cứng và thiếu sức sống xã hội Nhiều nơi việc tiếp cận không gian uy nghiêm này bị hạn chế bằng hàng rào ngăn cách

Thời kỳ này một số các khu dân cư mới đã được quy hoạch và xây dựng theo

mô hình “tiểu khu” học từ Liên Xô (là mô hình có sự vi chỉnh từ mô hình “đơn vị ở” gốc của Clarence Perry thế kỷ IX) Ở Hà Nội điển hình loại này có các khu Trung

Tự, Kim Liên, Giảng Võ, Thanh Xuân Với nguyên lý quy hoạch khá rõ rệt, các KGCC, các công trình công cộng như trường học, nhà trẻ, sân chơi, vườn hoa thường được bố trí ở trung tâm khu dân cư hoặc tâm của các nhóm nhà Mặc dù chất lượng các không gian này còn nhiều điều đáng bàn, nhưng về lượng và sự phân

bố thì các sân chơi, vườn hoa này được quy hoạch khá hợp lý và vẫn phát huy cho đến tận bây giờ Ngoài ra khoảng trống giữa các tòa nhà cũng đã phát huy thành những KGCC đa năng và rất quý đối với đời sống cộng đồng người dân [23]

Tuy nhiên, ngoài những khu dân cư được quy hoạch này ra thì ở tất cả các khu vực khác, KGCC như một loại cơ sở hạ tầng cũng đã bị bỏ qua; sự thiếu thốn các KGCC này cũng tương tự như sự thiếu thốn các cơ sở hạ tầng khác, như cấp thoát nước, chiếu sáng, thu gom rác thải, rất phổ biến ở các đô thị Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Sau đổi mới nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng XHCN, các thế lực thị trường đã xuất hiện và tham gia sâu rộng vào sự phát triển kinh tế – đô thị nói chung và sự nhào nặn nên các KGCC mới nói riêng Những khu đô thị mới được đầu tư bởi khu vực

tư nhân cung ứng nhà ở thương mại ra thị trường đã xuất hiện và phát triển mạnh mẽ

từ cuối những năm 1990 cho tới tận bây giờ Những khu đô thị mới điển hình như

Trang 24

Định Công, Linh Đàm, Trung Hòa – Nhân chính, Làng quốc tế Thăng Long Đặc điểm chung với những khu ĐTM này là nó đã được quy hoạch và kiến thiết một cách có bài bản và đồng bộ hơn các tiểu khu thuộc giai đoạn trước và hơn các khu dân cư tự hình thành khác trong thành phố, vì vậy ở đây các KGCC cũng đã được

bố trí và đầu tư ở một mức độ nhất định và trở thành một phần trong chiến lược thu hút thị trường của các bất động sản này Với các mô hình mới hơn nữa như Royal City, Times City, khi chức năng ở và chức năng thương mại dịch vụ vui chơi giải trí của toàn thành phố được tích hợp trong những “tiểu thành phố” mang thương hiệu của các tập đoàn thì KGCC ở những nơi này trở thành một dạng không gian bán công (quasi- public space) được quản lý bởi khu vực tư nhân, trực tiếp và gián tiếp phục vụ mục tiêu kinh doanh của tập đoàn

Nhìn chung, kể từ khi nước ta chính thức chuyển sang giai đoạn XHCN và đổi tên thành Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào năm 1976, có thể chia các giai đoạn phát triển của hệ thống không gian mở đô thị tại nước ta gắn với hai thời kỳ xã hội đặc trưng là thời kỳ bao cấp (1976 – 1985) và thời kỳ đổi mới (1985 – nay)

Trong giai đoạn xã hội bao cấp, kinh tế tư nhân dần bị xóa bỏ, nhường chỗ cho kinh tế do nhà nước chỉ huy Do vậy, các công trình phục vụ xã hội như không gian mở được quyết định hoàn toàn bởi nhà nước Khi đó, người dân có rất ít quyền dân chủ thể hiện qua các công trình xây dựng Tuy nhiên, người dân được sử dụng

và tiếp cận các đối tượng đó một cách miễn phí như các con đường, công viên,…

Nhận thấy những bất cập trong việc duy trì nền kinh tế bao cấp, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã đề ra phương hướng thay đổi nhằm giúp nước ta thay đổi bộ mặt kinh tế và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Qua đó, cụm từ bao cấp được xóa bỏ trong nền kinh tế Việt Nam và thay vào đó, có sự tham gia của các doanh nghiệp, người dân trong việc phát triển kinh tế chung Kể từ đây, các công trình KGM mới thực sự mang lại lợi ích và phục vụ nhu cầu của con người một cách tốt nhất Các doanh nghiệp sẵn sàng tham gia vào xây dựng các công trình phúc lợi xã hội như công viên, BOT, bệnh viện, trường học,… nhằm phục vụ nhu cầu của người dân và đổi

Trang 25

lại, họ sẽ thu lại lợi ích trong tương lai Các công trình mang hướng thị trường như trên góp phần làm tăng chất lượng hệ thống KGM ở các đô thị và giải quyết tốt hơn nhu cầu xã hội trong thời kỳ đổi mới

Các nghiên cứu tại Việt Nam trong nhiều năm gần đây thường hướng tới các đối tượng KGM cụ thể trong quy hoạch đô thị mà chưa có những nghiên cứu tổng thể về hệ thống KGM trong một đô thị tại Việt Nam Điều này một phần được xác định bởi quy định thiết kế các đối tượng KGM chưa đầy đủ và đồng bộ Chẳng hạn, quy chuẩn xây dựng Việt Nam có đưa ra cây xanh là một đối tượng thuộc KGM, được quy định cụ thể trong các trường hợp trong hoặc ngoài đơn vị ở, hoặc trong các đối tượng KGM khác như công viên, hồ nước [3] Tuy nhiên, các đối tượng như công viên, hồ nước chưa có những quy định về chỉ tiêu quy hoạch, dẫn đến sự thiếu đồng bộ Ngoài ra, các nghiên cứu về không gian mở đô thị thường hướng về các tiêu chí kiến trúc, cụm từ “không gian mở đô thị” thường được nhắc đến để chỉ các không gian cảnh quan đẹp trong khu ở, hướng đến giá trị thẩm mĩ, giá trị thư giãn, tiện nghi cho con người Nổi bật là đề tài nghiên cứu không gian mở đô thị phục vụ quản lý bền vững cảnh quan thành phố Hà Nội của Nguyễn An Thịnh, nghiên cứu

đã phân tích hiện trạng, biến động trong các không gian mở đô thị thành phố Hà Nội, từ đó đưa ra đề xuất nhằm quản lý bề vững cảnh quan đô thị và bảo tồn không gian mở trong quá trình đô thị hóa và định hướng phát triển bền vững cho đến năm 2020 (Nguyễn Cao Huần và Nguyễn An Thịnh, 2008)

Nghiên cứu của Đàm Thị Vân An và Vũ Kim Chi đã đưa đề xuất bộ chỉ số phục vụ quy hoạch không gian mở tại thành phố Hà Tĩnh dựa theo việc nghiên cứu tiêu chuẩn của thành phố NewYork và các thành phố khác trên thế giới (Đàm Thị Vân An, 2018) Ngoài ra, thông qua kết quả các phân tích, đo lường và điều tra xã hội học, nghiên cứu có được bộ chỉ số cụ thể cho các đối tượng KGM tại Hà Tĩnh Đây là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công trong thiết kế các khu vực không gian mở trong điều kiện những quy định hiện Việt Nam còn thiếu và không đồng bộ

Không gian công cộng, khả năng sống và cách tiếp cận của con người là ba cụm từ thông dụng trong nghiên cứu KGM đô thị và nó có tác động tương hỗ lẫn

Trang 26

nhau Đây là kết quả của đề tài nghiên cứu “không gian công cộng trong thành phố đáng sống và nhân văn” của Tô Kiên, Đại học công nghệ và thiết kế Singapore [4] Hơn nữa, kết quả cũng đưa ra gợi ý thiết kế một số loại không gian công cộng quan trọng như đường chính, đường đi dạo, quận, trung tâm giao thông, chợ trung tâm, công viên trung tâm và tháp mốc Các đối tượng KGM đều cần thiết kế hướng tới tính nhân văn và biến đô thị thành nơi đáng sống trong tương lai

1.2 Cơ sở lý luận quy hoạch không gian mở đô thị

1.2.1 Khái niệm không gian mở đô thị

Bản thân KGM là một khái niệm phức tạp, đa chiều và không có một định nghĩa chung, phổ quát toàn cầu về nó Không gian mở được tạo ra, sử dụng, gán nghĩa, quản lý và được tái sinh do các nhu cầu chính trị – kinh tế – xã hội của các thể chế xã hội khác nhau, ở các không gian và tại thời gian khác nhau, bị chi phối bởi các hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội khác nhau

Trong lĩnh vực quy hoạch đô thị, khái niệm không gian mở đô thị (Open space) dùng để chỉ khu vực dành cho công viên, không gian xanh, mặt nước và các khu vực công cộng khác [20] Cảnh quan của không gian mở đô thị có thể bao gồm

từ sân chơi đến môi trường được duy trì cao đến cảnh quan tương đối tự nhiên Thường được mở cửa cho mọi người, không gian mở đô thị đôi khi thuộc sở hữu tư nhân, chẳng hạn như cơ sở giáo dục đại học, khu phố, công viên cộng đồng và cơ sở hoặc tổ chức

Về mặt kiến trúc học, khái niệm không gian mở là một thuật ngữ rộng có thể được sử dụng để mô tả tất cả các vùng đất không chứa các tòa nhà và công trình xây dựng, có thể bao gồm đất công cộng và tư nhân [18] Các đối tượng không gian mở

đô thị phải được thiết kế đảm bảo phục vụ và hướng tới quá trình sử dụng của người dân, cộng đồng, tất cả mọi người đều có thể tiếp cận, thụ hưởng mà không cần trả phí Các khu vực bên ngoài ranh giới thành phố, như công viên hay không gian mở ở nông thôn, không được coi là không gian mở đô thị

Định nghĩa về không gian mở cũng được sử dụng trong nhiều nghiên cứu khác như của Ủy ban quy hoạch vùng Miami Valley Regional Planning Commission năm 1993 Định nghĩa về không gian mở trong nghiên này cứu rất rộng

Trang 27

và trải rộng từ các khu vực hoạt động trong tự nhiên, như công viên và sân bóng, đến các khu vực thụ động trong tự nhiên như bảo tồn đất ngập nước và kiểm soát lũ lụt… hay nói cách khác, đây là những nơi được xây dựng và kiến tạo nhằm phục vụ cộng đồng [17] Tuy nhiên, trong định nghĩa này không đưa ra cụ thể về khả năng tiếp cận của người dân Bởi vậy, những đối tượng được xây dựng phục vụ người dân, mà họ phải trả phí như khu y tế, trường học,…vẫn được xếp vào nhóm các đối tượng KGM đô thị

Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam, xem xét trên góc độ quản lý nhà nước, KGM chưa được chính thức định nghĩa, đề cập hay quy định cụ thể trong hiến pháp, pháp luật nói chung và các quy chuẩn quy phạm kỹ thuật về quy hoạch kiến trúc nói riêng Các bộ luật chính liên quan đến xây dựng và sử dụng đất đai cũng chưa đưa ra những khái niệm cụ thể cho các đối tượng không gian mở

Quy chuẩn Quy hoạch xây dựng Việt Nam 01: 2008/BXD do Bộ Xây dựng ban hành đã đề cấp đến nhiều đối tượng được coi là không gian công cộng trong đô thị [3] Cụ thể:

- Các khu chức năng KGM không được nhắc đến trực tiếp trong quy chuẩn, nhưng có đề cập đến “Các khu vực xây dựng các khu cây xanh công viên, vườn hoa

đô thị” là một trong các loại ‘khu chức năng’ trong đô thị Điều này ám chỉ các đối tượng KGM, nhưng thể hiện là các KGM có tính chất thiên nhiên (cây xanh vườn hoa) hơn là các KGM mang tính chất xã hội

- Trong phần quy hoạch các đơn vị ở, yêu cầu đối với quy hoạch các đơn vị ở được quy định: “Quy hoạch các đơn vị ở phải đảm bảo cung cấp nhà ở và các dịch

vụ thiết yếu hàng ngày (giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông cơ sở, văn hoá thông tin, chợ, dịch vụ thương mại, thể dục thể thao, không gian dạo chơi, thư giãn…) của người dân trong bán kính đi bộ không lớn hơn 500m nhằm khuyến khích sử dụng giao thông công cộng và đi bộ” Ở đây, KGM không được nhắc đến trực tiếp mà được nhắc đến gián tiếp bằng cụm từ “không gian dạo chơi, thư giãn”

- Trong các nhóm nhà ở phải bố trí vườn hoa, sân chơi với bán kính phục vụ (tính theo đường tiếp cận thực tế gần nhất) không lớn hơn 300m” và “Đất cây xanh

sử dụng công cộng trong đơn vị ở tối thiểu phải đạt 2m2/người trong đó đất cây

Trang 28

xanh nhóm nhà phải đạt tối thiểu 1m2/người”

- Quy hoạch hệ thống các công trình dịch vụ đô thị, KGM không có trong danh mục các công trình dịch vụ công cộng (gồm các loại chính là giáo dục, y tế, thể dục thể thao, văn hóa và thương mại) Bởi vậy, cũng không có quy định về định mức diện tích cho KGM ở các cấp độ

- Về quy hoạch cây xanh đô thị, quy chuẩn gộp các chức năng quảng trường, công viên, vườn hoa, vườn dạo … vào nhóm “Cây xanh sử dụng công cộng” và sau

đó được quy định chỉ tiêu diện tích đầu người cho từng loại đô thị, chẳng hạn đô thị đặc biệt trên 7m2/người, đô thị loại V trên 4m2/người

Cụm từ “Không gian mở” được sử dụng tại một số văn bản như Quy hoạch xây dựng Việt Nam 01:2008/BXD do Bộ xây dựng ban hành, Quyết định 1495/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội, Nghị định 05/VBHN-BXD do Bộ xây dựng ban hành Điểm chung của việc xuất hiện cụm từ KGM trong các văn bản này là đều hướng tới góc độ tiếp cận của con người trong đô thị Xét trên góc độ quy định

cụ thể về KGM thì chưa có văn bản nào đề cập đến

Như vậy, trong hệ thống quy hoạch chính thống của Việt Nam chưa có khái niệm KGM; đặc biệt không có sự khẳng định và trình bày rõ rệt về nguyên lý quy hoạch cho loại KGM chính thống với tư cách là một hạ tầng chính trị, mặc dù trên thực tế các quảng trường chính trị vẫn được quy hoạch và tạo dựng khá hoành tráng

Do chưa có một định nghĩa cụ thể và xuyên suốt trong quá trình thiết kế đô thị của các nước về KGM, trong đó có Việt Nam, cho nên có nhiều quan điểm khác nhau dẫn đến các khái niệm và hệ thống phân loại khác nhau Tuy nhiên, điểm chung giữa các khái niệm đều hướng tới sự tiếp cận của người dân phục vụ các nhu cầu về giải trí, văn hóa và xã hội Sự khác biệt giữa các khái niệm, quan điểm nằm ở không gian nghiên cứu Một số khái niệm cho rằng, KGM bao gồm cả những đối tượng văn hóa, xã hội, y tế,… người dân có thể tiếp cận miễn phí hoặc phải chịu phí (như các dịch vụ y tế, thể dục thể thao, các nhà hát,…) Một số khác thì cho rằng, KGM là những khu vực mà con người có thể tham gia các hoạt động văn hóa, giải trí, rèn luyện sức khỏe mà không bị chịu phí hoặc đơn giản KGM là những khu vực trống giữa các tòa nhà và các công trình xây dựng đô thị

Trang 29

Sau quá trình nghiên cứu tài liệu, đề tài đề xuất một định nghĩa cụ thể cho

các đối tượng KGM tại Việt Nam hiện nay: KGM tại Việt Nam được hiểu là những khu vực khoảng trống đô thị, nằm xen kẽ giữa các tòa nhà, công trình xây dựng dành cho mục đích ở và làm việc,…nơi tất cả người dân đều có quyền tiếp cận và

sử dụng, có thể miễn phí hoặc chịu phí tùy theo đối tượng khác nhau, nhằm tham gia các hoạt động giải trí, xã hội, văn hóa, rèn luyện sức khỏe

1.2.2 Phân loại không gian mở đô thị

1.2.2.1 Phân loại ở Mỹ

a Miami, tiểu bang Florida

Phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu, KGM đô thị được phân chia theo nhiều cách khác nhau Theo các đối tượng cụ thể, ủy ban quy hoạch vùng Miami Valley, Mỹ

đã đưa ra bảng phân loại các đối tượng không gian mở, được thể hiện ở bảng 1.1 [17]

Dựa theo cách phân loại này, không gian mở gồm 11 nhóm đối tượng khác nhau:

- Khu vực giải trí ngoài trời chung (sân vận động, sân golf, bể bơi, khu dã ngoại,…)

- Tiện ích (Cánh đồng tốt, nhà máy xử lý nước thải)

- Bãi chôn lấp, khu vực khai thác khoáng sản

- Tiện ích khu vực nổi bật (Danh lam thắng cảnh , thác nước)

- Khu bảo vệ môi trường tự nhiên (Bảo tồn động vật hoang dã, khu vực tự nhiên, bảo tồn công viên, bảo tồn đất ngập nước, lưu vực bão, khu vực săn bắn)

- Liên kết không gian mở (đường xe đạp, khu phố đi bộ)

- Khu giải trí môi trường tự nhiên

- Trường học (công cộng, tư nhân, đại học)

- Nghĩa trang

- Di tích lịch sử, bảo tàng

- Sân bay

Trang 30

Bảng 1 1 Phân loại không gian mở theo các đối tượng cụ thể

Khu vui chơi giải trí ngoài

trời nói chung Tiện ích

Chiết xuất chôn lấp / khoáng sản

Bể bơi Khu dã

ngoại

Khu cấp nước (giếng) Nhà máy rác

Bãi chôn lấp Mỏ đá Hoạt động giải

trí

Sân vận động Liên kết không gian mở Khu khai thác cát và sỏi

Quảng trường Khu đua

ngựa

Đường đi bộ đường dài Tổ chức lớn Nghĩa trang

Hội chợ Khu đua

xe

Đường xe đạp

Đê phòng chống lũ Nghĩa trang Sân bóng Sân golf Phố đi bộ Di tích lịch sử / Bảo tàng

Tiện nghi nổi bật Khu vui chơi giải trí môi

trường tự nhiên

Di tích lịch sử Bảo tàng Danh lam

thắng cảnh

Thác nước

Khu cắm trại

Trại trinh sát Sân bay

Trường công Cao đẳng

Bể trũng Khu vực

săn bắn Trường tư Đại học

Nguồn: MVRPC 2005 Open Space Database[17]

Đây được coi là hệ thống phân loại chi tiết nhất về các đối tượng KGM (bao gồm cho cả khu vực đô thị và nông thôn) Tuy nhiên, một số đối tượng KGM theo cách phân loại này đòi hỏi chi phí khi người dân tham gia như sân vận động, trường học, sân golf,… Hơn nữa, một số đối tượng như nhà máy xử lý nước thải, bãi chôn

Trang 31

lấp, khai thác khoáng sản… không phù hợp với quan điểm nghiên cứu của nhiều tác giả khác, người dân không thể tiếp cận trực tiếp và phục vụ các nhu cầu giải trí, văn hóa, xã hội, rèn luyện sức khỏe của họ

hạ tầng đô thị như đê phòng chống lũ, khu cấp nước, bãi chôn lấp [17]…

Trang 32

Bảng 1 2 Phân loại Công viên và Không gian mở, Quản lý tài trợ Bộ Tài

nguyên thiên nhiên Michigan, 2009

Công viên nhỏ Được sử dụng để giải quyết các nhu cầu

giải trí hạn chế

Khoảng cách ít hơn ¼ dặm trong môi trường dân cư

Giữa 2500 dặm vuông và một mẫu Anh

Công viên khu

Công viên trường

học

Tùy thuộc vào hoàn cảnh, việc kết hợp các công viên với các địa điểm trường học có thể đáp ứng các yêu cầu về không gian cho các lớp công viên khác, chẳng hạn như khu phố, cộng đồng, khu liên hợp thể thao và sử dụng đặc biệt

Xác định theo vị trí của trường học Biến đổi phụ thuộc vào chức

có hình dạng và không gian mở

Thường phục vụ hai hoặc nhiều khu phố và khoảng cách ½ đến 3 dặm

Khi cần thiết để phù hợp với việc

sử dụng mong muốn Thường từ

30 đến 50 mẫu

Khu đô thị lớn

Các công viên đô thị lớn phục vụ mục đích rộng lớn hơn các công viên cộng đồng và được sử dụng khi các công viên cộng đồng và khu vực lân cận không đủ để phục vụ nhu cầu của cộng đồng Trọng tâm là đáp ứng nhu cầu giải trí dựa trên cộng đồng, cũng như bảo tồn cảnh quan độc đáo và không gian mở

Thường phục vụ toàn bộ cộng đồng

Thông thường tối thiểu là 50 mẫu Anh, với 75 mẫu trở lên là tối ưu

Nguồn lực sẵn có và cơ hội

Không cố định

Đường xanh

Liên kết hiệu quả các thành phần hệ thống công viên với nhau để tạo thành một môi trường công viên liên tục

Nguồn lực sẵn có và cơ hội

biệt

Bao gồm một loạt các công viên và các

cơ sở giải trí hướng đến sử dụng một mục đích

Biến phụ thuộc vào việc sử dụng cụ thể Không cố định

Công viên tư

nhân / Cơ sở giải

trí

Công viên và các cơ sở giải trí thuộc sở hữu tư nhân nhưng đóng góp cho công viên công cộng và hệ thống giải trí

Biến phụ thuộc vào việc sử dụng cụ thể Không cố định

Trang 33

1.2.2.2 Phân loại của Singapore

Singapore là một đảo quốc nhỏ, đông dân, nơi có 100% dân số ở đô thị Nhưng đây cũng là thành phố xanh nhất ở Châu Á, theo chỉ số Thành phố Xanh (Green City Index), và có rất ít thành phố khác trên thế giới có thể so sánh về mức

độ che phủ cây xanh

Bằng cách áp dụng một loạt các chiến lược “vườn trong phố”, “vườn tường”,

“vườn mái”, “vườn ở bất cứ đâu”… Singapore hiện đang được che phủ mật độ cây xanh thuộc hạng cao nhất thế giới

Các không gian công cộng được kết hợp hiệu quả giữa các hoạt động thương mại và giải trí cho người dân Ngay từ khi triển khai thực hiện quy hoạch chung phát triển Singapore (1960 - 1970), Nhà nước đã có hàng loạt chương trình tuyên truyền cho người dân thực hiện nếp sống văn minh tại các khu công cộng, chung cư cao tầng, từ đó tạo dần thói quen cho người dân sống trong chung cư cao tầng cho tới ngày nay

Dưới đây thể hiện bảng phân loại theo các khu vực và đối tượng cụ thể, được chính quyền Singapore đưa ra vào năm 2014 [22]

Các đối tượng trên được chia theo 4 nhóm đối tượng: Không gian mở, công viên, Khu bãi biển và Thể thao, giải trí Hệ thống phân loại này khác biệt so với các

hệ thống phân loại khác, khi mà hệ thống công viên, thể thao và giải trí tách riêng khỏi khu vực không gian mở Các đối tượng không gian mở ven biển chưa được đề cập tại bảng phân loại này, trong thực tế có nhiều tuyến đường giải trí lớn ven biển Nối bật là tuyến đường trên do Chính phủ Singapore định hướng xây dựng từ năm

2008 và triển khai vào năm 2012 [26]

Trang 34

Bảng 1 3 Phân loại không gian mở theo các nhóm chức năng Singapore

Khu vực Đối tượng thực tế

Không gian

mở

1 Khu rừng

2 Khu vực đầm lầy

3 Không gian mở tự nhiên

4 Lối đi dạo công cộng

5 Trung tâm đi bộ ngoài trời

6 Quảng trường, sân vườn

Công viên

1 Vườn quốc gia

2 Công viên khu vực

3 Công viên cộng đồng / khu phố

4 Kết nối công viên

5 Vườn bách thú, Vườn bách thảo

Khu bãi biển Không

Thể thao và giải trí

1 Khu liên hợp thể thao / Sân vận động trong nhà

2 Khu phức hợp bơi lội

10 Trường học bên ngoài

11 Công viên giải trí

Nguồn: Quy hoạch tổng thể, Tái phát triển đô thị, Chính quyền Singapore, 2014 1.2.2.3 Phân loại ở Luân Đôn, Vương Quốc Anh

Luân Đôn là thành phố lớn nhất ở Anh và châu Âu Đây là một trong những điểm đến du lịch lý tưởng của khách du lịch khi đến châu Âu Việc thiết kế các khu vực KGM hấp dẫn bên cạnh các biểu tượng của nước Anh như Tháp đồng hồ Big-ben, Cầu tháp London, Tháp London,… đã tạo nên nét đặc sắc cho thành phố

Trang 35

London nói riêng và quy hoạch đô thị tại Vương quốc Anh nói chung

Việc phân loại KGM ở Luân Đôn được chính quyền Vương quốc Anh đưa ra

vào năm 2011, thể hiện ở bảng dưới [15]

Bảng 1 4 Phân loại không gian mở ở Luân Đôn Phân loại không gian

Khoảng cách từ nhà đến khu vực KGM

Quận / Công viên chính 20-60 ha 1.2

Công viên địa phương nhỏ 0.4-2 ha 400

Không gian mở tuyến tính* Không cố định Không cố định

Nguồn: Chính quyền Vương quốc Anh, 2011

Các đối tượng KGM được phân loại theo các cấp độ không gian bao gồm Vùng, thủ

đô, quận, địa phương và các khu vực KGM tuyến tính (có thể thay đổi) Qua đó, việc quy hoạch và quản lý các đối tượng này được phân bổ cho từng đơn vị hành chính khác nhau [15]

1.2.2.4 Phân loại theo chức năng

Nếu phân loại các KGM dựa theo tính chất và chức năng của không gian, dưới góc độ người sử dụng, KGM có thể chia thành bốn loại chính:

- KGM là nơi tụ họp: Các quảng trường, phố đi bộ Đây là không gian nơi

con người gặp gỡ và giao tiếp, chính vì vậy cần được thiết kế phù hợp với tỉ lệ con người, tiện nghi, có các khu vực ăn uống, tiện ích trong khoảng cách gần, và không

bị ảnh hưởng bởi các phương tiện giao thông Quảng trường và không gian đường phố là bộ phận quan trọng của KGCC Đó là không gian ngoài trời dạng mở hoặc được bao quanh bởi các tòa nhà Khác với không gian đường phố với chức năng giao thông đã hiển thị, chức năng của quảng trường khó có thể nhận diện khi nó chỉ

là không gian trống

- KGM là nơi nghỉ ngơi, thư giãn: Các công viên, danh lam thắng cảnh, hồ

Trang 36

nước, sân chơi Đây được coi là nơi giải thoát khỏi các vấn đề căng thẳng do cuộc sống đô thị mang lại, nơi con người có thể tận hưởng những thú vui thoát khỏi cuộc sống đô thị hàng ngày như chạy nhảy, chơi đùa, đi dạo hoặc đơn giản chỉ là ngồi thư giãn, ngắm cảnh KGCC thuộc loại này cần có những đường đi dạo, đường đi xe đạp, trồng nhiều cây xanh và ít các dịch vụ tiện ích

- Không gian giải trí, thể thao cung cấp một không gian để người dân tham

gia và hoạt động thể chất, thư giãn, tương tác xã hội Nó có thể được tham gia bởi tất cả mọi người để chơi, giao lưu, tập thể dục, ăn mừng hoặc tham gia vào các hoạt động khác mang lại sự hài lòng cá nhân hoặc một nhóm đối tượng, cộng đồng KGCC thuộc nhóm này thường bao gồm các sân chơi trong các khu đô thị, khu tập thể, dân cư,…

- Không gian cây xanh sinh thái và vùng sản xuất nông nghiệp tập trung

là những khu vực cây xanh, bao gồm cây xanh sử dụng công cộng, cây xanh đường

phố và cây xanh dân dụng Ngoài ra, các khu vực còn phần diện tích đất nông nghiệp hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung Ngoài việc tạo mỹ quan, phủ xanh đô thị, cây xanh còn là thành phần rất quan trọng trong việc giữ gìn không khí đô thị tránh ô nhiễm bởi các tác nhân công nghiệp

Trên đây là một số cách phân loại KGM Do chưa có sự thống nhất trong các quy định pháp luật nên KGM được phân chia theo nhiều cách khác nhau Điển hình như trong nghiên cứu của Ashkan Nochian và cộng sự tại Đại học Putra, Malaysia

đã tổng hợp nhiều cách phân loại khác nhau ở các khu vực, quốc gia khác nhau trên thế giới như Singapore, Vương quốc Anh, Australia,…[18] Sự khác nhau giữa các cách phân loại đến từ quan điểm nghiên cứu về KGM và lịch sử nghiên cứu, phát triển đô thị tại các quốc gia trên thế giới

1.2.3 Đề xuất hệ thống phân loại Không gian mở đô thị tại Việt Nam

Do chưa được chính thức định nghĩa tại các văn bản pháp luật hiện nay tại Việt Nam, dẫn đến hệ thống phân loại cũng chưa được xây dựng Hiện nay, Quy chuẩn xây dựng Việt Nam cùng các văn bản hướng dẫn của Bộ xây dựng đã đề cập nhiều tới các đối tượng được hiểu là KGM, trong đó bao gồm các đối tượng KGM dịch vụ công cộng, Hệ thống cây xanh đô thị, Hệ thống giao thông đô thị, công viên, vườn hoa đô thị, hồ, quảng trường Qua quá trình nghiên cứu hệ thống KGM

Trang 37

các quốc gia trên thế giới, kết hợp với việc tổng hợp các văn bản quy định về các đối tượng KGM trong đô thị, nghiên cứu đề xuất hệ thống phân loại chi tiết theo

cấp bậc, đối tượng và chức năng Chi tiết được thể hiện tại bảng 1.5

Bảng 1 5 Đề xuất hệ thống phân loại KGM đô thị tại Việt Nam

• Giáo dục

- Trường mẫu giáo

- Trường tiểu học

- Trường trung học cơ sở

- Trường phổ thông trung học, dạy nghề

• Bệnh viện

- Trạm y tế

- Phòng khám đa khoa

- Bệnh viên đa khoa

2 Hệ thống cây xanh đô thị

• Cây xanh công cộng

• Cây xanh đường phố

• Cây xanh chuyên dụng

3 Hệ thống giao thông đô thị

• Không gian giải trí, thể thao

• Không gian cây xanh sinh thái và vùng sản xuất nông nghiệp tập trung

• Trưng bày

• Di sản lịch sử / văn hóa

• Cảnh quan đô thị

• Vườn cây cảnh, thực vật, vườn bách thú

Trang 38

1.2.3 Quy định thiết kế các đối tượng không gian mở đô thị

Quy chuẩn xây dựng Việt Nam 01: 2008/BXD do Bộ Xây dựng ban hành có

đề cấp đến quy chuẩn xây dựng đối với các đối tượng không gian mở trong đô thị

Một số đối tượng được xác định là không gian xanh gồm hệ thống cây xanh, công viên, vườn hoa và hồ nước được thành phố Hà Nội lập quy hoạch đến năm

2030 và tầm nhìn năm 2050 Qua đó, quy hoạch hệ thống cây xanh, công viên, vườn hoa và hồ nước được UBND thành phố Hà Nội phê duyệt tại Quyết định số 1495/QĐ-UBND ngày 18/3/2014 góp phần xây dựng, phát triển Thủ đô xanh sạch, đẹp, hiện đại tiêu biểu cho cả nước, có hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị đồng

bộ, hiện đại, môi trường bền vững

1.2.3.1 Cây xanh đô thị sử dụng công cộng

a Ngoài đơn vị ở trong các đô thị

Bảng 1 6 Diện tích đất cây xanh sử dụng công cộng ngoài đơn vị ở trong các

Nguồn: Quy chuẩn xây dựng Việt Nam 01:2008/BXD

Đất cây xanh sử dụng công cộng cấp ngoài đơn vị ở trong các đô thị bao gồm: công viên, vườn hoa phục vụ một hay nhiều đơn vị ở, toàn đô thị hoặc cấp vùng (bao gồm cả các công viên chuyên đề); diện tích mặt nước nằm trong khuôn viên các công viên, vườn hoa, trong đó chỉ tiêu mặt nước khi quy đổi ra chỉ tiêu đất cây xanh/người không chiếm quá 50% so với tổng chỉ tiêu diện tích đất cây xanh sử dụng công cộng ngoài đơn vị ở; không bao gồm các loại cây xanh chuyên dụng

Đối với đô thị miền núi, hải đảo chỉ tiêu diện tích đất cây xanh công cộng có thể thấp hơn nhưng không được thấp hơn 70% mức quy định trong bảng 1.2

Trang 39

tỷ lệ đất tối thiểu trồng cây xanh, thể hiện ở bảng dưới

Bảng 1 7 Diện tích tối thiểu sử dụng trồng cây xanh trong các công trình

Bảng 1 8 Chỉ tiêu sử dụng đất cho các công trình thể dục thể thao đô thị

Loại công trình Cấp

quản lý

Chỉ tiêu sử dụng công trình tối thiểu

Chỉ tiêu sử dụng đất đai tối thiểu Cấp quản lý

Đơn vị tính Chỉ

tiêu Đơn vị tính Chỉ

tiêu Thể dục thể thao

a Sân luyện tập Đơn vị ở m2/người

ha/công trình

0,5 0,3

b Sân thể thao cơ

bản

ha/công trình

0,6 1,0

ha/công trình

0,8 2,5

d Trung tâm TDTT Đô thị m2/người

ha/công trình

0,8 3,0

Nguồn: Quy chuẩn xây dựng Việt Nam 01:2008/BXD

Trang 40

1.2.3.3 Quảng trường đô thị

Quy mô quảng trường chưa có chỉ tiêu cụ thể, các chỉ tiêu quy hoạch dựa trên hình thức tổ chức hoạt động, tính chất sử dụng và quy mô dân số tại khu vực nghiên cứu

Quảng trường trung tâm thường có quy mô từ 1,5 đến 2,5ha cho toàn thành phố lớn và 0,5 đến 1,5 ha cho thành phố vừa và nhỏ Các thành phố Thủ đô do yêu cầu tập trung số lượng người đông trong các dịp sinh hoạt chính trị, văn hóa nên quy mô thường lớn hơn nhiều (quảng trường Ba Đình có quy mô 3ha, dự kiến mở rộng đến 6ha) (Nguyễn Thế Bá, 2004) Diện tích quảng trường không nên quá lớn gây mất tỉ lệ

1.2.4 Ý nghĩa của các đối tượng KGM đô thị

Trong khung cảnh của thời đại công nghệ và cuộc Cách mạng 4.0, con người cần phải sử dụng thời gian rảnh của mình bằng cách tham gia hoạt động ngoài trời

Sự giao lưu văn hóa xã hội chống lại giao lưu ảo, cũng như sự tiếp xúc với thiên nhiên sẽ chống lại sự giam cầm cảm xúc trong không gian của bốn bức tường Để đáp ứng được các nhu cầu xã hội đó, không gian mở đô thị đóng vai trò cực kì quan trọng, là điều kiện cần thiết để các hoạt động đó được diễn ra

1.2.4.1 Phục vụ nhu cầu văn hóa, xã hội và phát triển kinh tế

Không gian công cộng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển xã hội của người dân ở nhiều cấp độ khác nhau, từ công viên khu phố nhỏ đến quảng trường trung tâm thành phố lớn Chúng là những nơi có giá trị lớn, nơi những người

có nguồn gốc khác nhau tụ họp lại và kết nối với nhau trực tiếp, thay vì sử dụng công nghệ

Không gian công cộng là không gian cho phép văn hóa phát triển mạnh Nó

có thể được coi là một cửa ngõ để phát triển văn hóa trong một xã hội Nó tạo cơ hội cho những người thuộc các nền văn hóa, nguồn gốc và chủng tộc khác nhau đến với nhau và giới thiệu văn hóa của họ, đồng thời trải nghiệm những nền văn hóa mới

xa lạ Đó là một nơi có thể phát triển văn hóa và xã hội Những người đến từ các nền văn hóa khác nhau có cách ăn mặc khác nhau, ngôn ngữ, phong tục, tín ngưỡng, ý thức và hành vi khác nhau Những hình thái văn hóa này có thể được chia sẻ và trải

Ngày đăng: 03/03/2021, 14:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Kim Chi Đàm Thị Vân An (2018), Nghiên cứu đề xuất định hướng quy hoạch không gian mở đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu tại thành phố Hà Tĩnh, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất định hướng quy hoạch không gian mở đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu tại thành phố Hà Tĩnh
Tác giả: Vũ Kim Chi Đàm Thị Vân An
Năm: 2018
2. Nguyễn Thế Bá (2004), Quy hoạch Xây dựng phát triển đô thị, Đại học Kiến Trúc Hà Nội, NXB Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch Xây dựng phát triển đô thị
Tác giả: Nguyễn Thế Bá
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2004
4. Kien To (2018), "Không gian công cộng trong thành phố đáng sống và nhân văn (English translation: Public Space in Livable and Humane City)", 30+31, 76-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian công cộng trong thành phố đáng sống và nhân văn (English translation: Public Space in Livable and Humane City)
Tác giả: Kien To
Năm: 2018
5. Phạm Thúy Loan (2016), "Không gian công cộng trong đô thị", Tạp chí Kiến trúc Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian công cộng trong đô thị
Tác giả: Phạm Thúy Loan
Năm: 2016
7. Phòng Quản lý đô thị quận Hà Đông (2019), Thống kê đất đai, hạ tầng đô thị quận Hà Đông,Hà Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê đất đai, hạ tầng đô thị quận Hà Đông
Tác giả: Phòng Quản lý đô thị quận Hà Đông
Năm: 2019
8. Nguyễn Quang (2018), "Không gian công cộng trong quy hoạch cảnh quan và phát triển bền vững", Tạp chí Kiến trúc Việt Nam, 05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian công cộng trong quy hoạch cảnh quan và phát triển bền vững
Tác giả: Nguyễn Quang
Năm: 2018
10. Thủ tướng chính phủ (2010), Quy hoạch chung thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050,Bộ Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch chung thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050
Tác giả: Thủ tướng chính phủ
Năm: 2010
11. Hồng Vân (2017), Không gian đô thị xanh – nhìn từ các nước,Báo Hà Nội Mới 12. Anthony Giddens (2009), Sociology Polity Press.TÀI LIỆU TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian đô thị xanh – nhìn từ các nước,"Báo Hà Nội Mới 12. Anthony Giddens (2009)," Sociology
Tác giả: Hồng Vân (2017), Không gian đô thị xanh – nhìn từ các nước,Báo Hà Nội Mới 12. Anthony Giddens
Năm: 2009
13. Arnab Jana Divya Subramanian (2018), "Assessing urban recreational open spaces for the elderly: A case of three Indian cities", Urban Forestry & Urban Greening, Volume 35, 15-128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessing urban recreational open spaces for the elderly: A case of three Indian cities
Tác giả: Arnab Jana Divya Subramanian
Năm: 2018
14. Jingwen Cao, Jian Kang (2019), "Social relationships and patterns of use in urban public spaces in China and the United Kingdom", Cities, 93, 188-196 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social relationships and patterns of use in urban public spaces in China and the United Kingdom
Tác giả: Jingwen Cao, Jian Kang
Năm: 2019
16. Tseira Maruani, Irit Amit-Cohen (2007), "Open space planning models: A review of approaches and methods", Landscape and Urban Planning, 81 (1), 1-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Open space planning models: A review of approaches and methods
Tác giả: Tseira Maruani, Irit Amit-Cohen
Năm: 2007
18. Ashkan Nochian, Osman Mohd tahir, Suhardi Maulan, Mehdi Rakhshandehroo (2015), "A COMPREHENSIVE PUBLIC OPEN SPACE CATEGORIZATION USING CLASSIFICATION SYSTEM FOR SUSTAINABLE DEVELOPMENT OF PUBLIC OPEN SPACES", Alam Cipta (International Journal on Sustainable Tropical Design Research and Practice), 8, 29-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A COMPREHENSIVE PUBLIC OPEN SPACE CATEGORIZATION USING CLASSIFICATION SYSTEM FOR SUSTAINABLE DEVELOPMENT OF PUBLIC OPEN SPACES
Tác giả: Ashkan Nochian, Osman Mohd tahir, Suhardi Maulan, Mehdi Rakhshandehroo
Năm: 2015
19. Dasimah binti Omar, Filzani Illia binti Ibrahim, Nik Hanita binti Nik Mohamad (2015), "Human Interaction in Open Spaces", Procedia - Social and Behavioral Sciences, 201, 352-359 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human Interaction in Open Spaces
Tác giả: Dasimah binti Omar, Filzani Illia binti Ibrahim, Nik Hanita binti Nik Mohamad
Năm: 2015
20. G.P.T.S. Hemakumara W.C. Ranasinghe (2018), "Spatial modelling of the householders' perception and assessment of the potentiality to improve the urban green coverage in residential areas: A case study from Issadeen Town Matara, Sri Lanka", RUHUNA JOURNAL OF SCIENCE Vol 9, 44-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Spatial modelling of the householders' perception and assessment of the potentiality to improve the urban green coverage in residential areas: A case study from Issadeen Town Matara, Sri Lanka
Tác giả: G.P.T.S. Hemakumara W.C. Ranasinghe
Năm: 2018
21. Riham Nady Faragallah (2018), "The impact of productive open spaces on urban sustainability: The case of El Mansheya Square – Alexandria", Alexandria Engineering Journal, 57, 3969–3976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The impact of productive open spaces on urban sustainability: The case of El Mansheya Square – Alexandria
Tác giả: Riham Nady Faragallah
Năm: 2018
22. Singapore Government (2014), The planning act master plan written statement 23. Harald Bodenschatz Yi Xin, Dieter Frick, Aljoscha Hofmann, (2016), Urban development management: Past, present and future,TRANG WEB THAM KHẢO Sách, tạp chí
Tiêu đề: The planning act master plan written statement "23. Harald Bodenschatz Yi Xin, Dieter Frick, Aljoscha Hofmann, (2016), "Urban development management: Past, present and future
Tác giả: Singapore Government (2014), The planning act master plan written statement 23. Harald Bodenschatz Yi Xin, Dieter Frick, Aljoscha Hofmann
Năm: 2016
3. Bộ Xây dựng (2008), "QCXDVN 01: 2008/BXD Quy chuẩn xây dựng việt nam quy hoạch xây dựng&#34 Khác
6. Phòng Tài nguen & Môi trường quận Hà Đông (2019), Báo cáo kết quả phát triển KT–XH của UBND quận Hà Đông, 2014 – 2018 Khác
9. Nguyễn Cao Huần và Nguyễn An Thịnh (2008), "Nghiên cứu đánh giá không gian mở phục vụ quản lý bền vững cảnh quan đô thị thành phố Hà Nội&#34 Khác
15. London Borough of Tower Hamlets (2011), "An Open Spaces Strategy for the London Borough of Tower Hamlets&#34 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w