Phân tích chính sách bảo trợ xã hội và đề xuất một số giải pháp thực hiện chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 2020 Phân tích chính sách bảo trợ xã hội và đề xuất một số giải pháp thực hiện chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 2020 luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, nội dung luận văn là kết quả của sự tìm tòi, nghiên cứu, sưu tầm
từ nhiều nguồn tài liệu và liên hệ với thực tiễn Các số liệu trong luận văn là trung
thực không sao chép từ bất cứ luận văn hoặc đề tài nghiên cứu nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những nội dung đã trình bày
Tác giả
NGUYỄN THẾ NHÂM
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Viện đào tạo Sau đại học, Khoa Kinh tế
và quản lý – Trường Đại học Bách Khoa Hà nội;
Đặc biệt xin trân trọng cảm ơn thầy giáo TS Phạm Cảnh Huy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện luận văn này;
Xin trân trọn cảm ơn các thầy, cô giáo trường Đại học Bách Khoa Hà nội đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong quá trình học tập;
Xin cảm ơn các lãnh đạo, các sở, phòng ban chuyên môn của tỉnh Quảng Ninh đã cung cấp những thông tin hữu ích và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài; Xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã chia sẻ, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như quá trình hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, tháng 9 năm 2012
Tác giả
NGUYỄN THẾ NHÂM
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI 9
1.1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ BẢO TRỢ XÃ HỘI 9
1.1.1 Khái niệm bảo trợ xã hội 9
1.1.2 Vai trò, ý nghĩa bảo trợ xã hội 15
1.2 NỘI DUNG BẢO TRỢ XÃ HỘI VÀ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG 18
1.2.1 Sự cần thiết của bảo trợ xã hội 18
1.2.2 Căn cứ xây dựng chính sách bảo trợ xã hội 22
1.2.3 Yếu tố tác động và nguồn lực thực hiện bảo trợ xã hội 25
1.2.3.1 Yếu tố tác động tới bảo trợ xã hội 25
1.2.3.2 Nguồn lực thực hiện bảo trợ xã hội 26
1.3 CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI 27
1.3.1 Chính sách bảo trợ xã hội ở Việt Nam 27
1.3.1.1 Khái niệm 27
1.3.1.2 Yêu cầu của chính sách bảo trợ xã hội 27
1.3.1.3 Phương thức thực hiện chính sách bảo trợ xã hội 28
1.3.1.4 Nội dung chính sách bảo trợ xã hội 28
1.3.2 Chính sách Bảo trợ xã hội ở Quảng Ninh 39
Chương 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI TẠI TỈNH QUẢNG NINH 42
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA QUẢNG NINH 42
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 42
2.1.2 Điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội 43
2.1.2.1 Điều kiện về kinh tế 43
2.1.2.2 Văn hoá - xã hội 47
Trang 42.1.3 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, chính trị, kinh tế - xã hội đến công tác
bảo trợ xã hội của tỉnh Quảng Ninh 48
2.2 HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI Ở QUẢNG NINH 50
2.2.1 Nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 50
2.2.1.1 Các Chỉ thị, Nghị quyết, Chương trình, Kế hoạch của tỉnh 50
2.2.1.2 Các chính sách 53
2.2.2 Nhóm đối tượng người già 57
2.2.2.1 Chỉ thị, Chương trình, Kế hoạch của tỉnh 58
2.2.2.2 Chính sách, chế độ thực hiện 58
2.2.3 Nhóm người khuyết tật 59
2.2.3.1 Chủ trương, kế hoạch của tỉnh 59
2.2.3.2 Chính sách cụ thể 60
2.3 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI TẠI QUẢNG NINH 62
2.3.1 Thực trạng đối tượng bảo trợ xã hội ở Quảng Ninh 62
2.3.2 Thực trạng thực thi chính sách 66
2.3.2.1 Các cơ quan quản lý nhà nước 66
2.3.2.2 Các tổ chức chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp 74
2.3.2.3 Các tổ chức phi chính phủ, xã hội tự nguyện 77
2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG 78
2.4.1 Những kết quả đạt được 78
2.4.2 Những hạn chế chủ yếu của công tác bảo trợ xã hội tại Quảng Ninh 79
2.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 81
2.4.3.1 Nhóm nguyên nhân từ chủ thể thực thi chính sách 81
2.4.3.2 Nhóm nguyên nhân từ bản thân chính sách 82
Chương 3: GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2010-2020 84
3.1 ĐỊNH HƯỚNG CHỦ YẾU THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI Ở QUẢNG NINH ĐẾN NĂM 2020 84 3.1.1 Các chính sách đảm bảo an sinh xã hội nói chung và lĩnh vực bảo trợ xã hội nói riêng phải phù hợp, tương xứng với phát triển kinh tế xã hội của tỉnh 84
Trang 53.1.2 Tạo điều kiện tốt nhất về vật chất, tinh thần cho các đối tượng yếu thế
được tự tin, hoà nhập cộng đồng 86
3.1.3 Đẩy mạnh xã hội hoá công tác bảo trợ xã hội 87
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP 88
3.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách 88
3.2.1.1 Xây dựng mục tiêu phát triển xã hội trong đó có công tác bảo trợ xã hội tương xứng với mục tiêu phát triển kinh tế của tỉnh 88
3.2.1.2 Xây dựng và hoàn thiện chiến lược an sinh xã hội, trong đó có bảo trợ xã hội ở Quảng Ninh đến 2020 89
3.2.1.3 Cụ thể hóa các chế độ chính sách sách chung của Nhà nước đồng thời ban hành các cơ chế chính sách của tỉnh 89
3.2.2 Nhóm giải pháp thực thi chính sách 91
3.2.2.1 Hoàn thiện bộ máy tổ chức 91
3.2.2.2 Phát triển hệ thống các cơ sở bảo trợ xã hội 92
3.2.2.3 Nâng cao năng lực quản lý của Nhà nước 93
3.2.3 Nhóm giải pháp với đối tượng thụ hưởng 95
3.2.4 Điều kiện để thực thi các giải pháp 96
3.3 KIẾN NGHỊ 97
3.3.1 Kiến nghị với cơ quan Trung ương 97
3.3.2 Kiến nghị với địa phương 100
KẾT LUẬN 103 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
Bảo trợ xã hội BTXH Hoàn cảnh đặc biệt HCĐB
Trợ cấp xã hội TCXH Hoàn cảnh khó khăn HCKK Hội đồng chính phủ HĐCP
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu kinh tế của Quảng Ninh giai đoạn 2005-2009 44
Bảng 2.2: Tổng hợp nhóm đối tượng yếu thế từ năm 2005-2009 62
Bảng 2.3: Trẻ có hoàn cảnh đặc biệt theo nguyên nhân năm 2005-2009 63
Bảng 2.4: Người tàn tật tỉnh Quảng Ninh 2005-2009 64
Bảng 2.5: Đối tượng được cứu trợ đột xuất theo nguyên nhân 2005-2009 65
Bảng 2.6: Đối tượng bảo trợ xã hội thuộc diện hưởng trợ cấp thường xuyên năm 2005-2009 68
Bảng 2.7: Đối tượng được hưởng trợ cấp thường xuyên năm 2005-2009 69
Bảng 2.8: Kinh phí thực hiện trợ cấp thường xuyên theo địa phương năm 2005-2009 70
Bảng 2.9: Tổng hợp kinh phí vận động ủng hộ thực hiện bảo trợ xã hội năm 2005-2009 76
Bảng 2.10: Nguyên vọng của cá nhân và gia đình các đối tượng yếu thế 80
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Mô hình bảo trợ xã hội 23
Hình 2.1: Cơ cấu GDP theo khu vực kinh tế tỉnh Quảng Ninh 46
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong cuộc sống, các cá nhân, gia đình và nhiều khi cả cộng đồng không may gặp phải những rủi ro do thiên tai hay những biến động do đời sống kinh tế, xã hội gây ra hoặc những lý do bất khả kháng khác mà bản thân họ cũng như những người thân của họ không thể tự khắc phục được; cũng có một số người bị thiệt thòi, yếu thế bởi nhiều lý do khác nhau như người già cô đơn không nơi nương tựa, trẻ
mồ côi, người tàn tật, trẻ bị nhiễm HIV/ASD Những đối tượng này cần sự trợ giúp của Nhà nước, của xã hội, cộng đồng để vượt qua những khó khăn trong cuộc sống,
có điều kiện để tồn tại và có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng Do con người là động lực của sự phát triển xã hội, là mục tiêu của việc xây dựng xã hội vì vậy trên thế giới nói chung và mỗi quốc gia nói riêng đều có các chính sách với nhiều biện pháp khác nhau nhằm che chở, bảo vệ các thành viên yếu thế trong xã hội của mình, các công cụ bảo vệ đấy chính là các chính sách bảo trợ xã hội
Bảo trợ xã hội là một hoạt động mang tính chất từ thiện, tương thân tương ái, giúp đỡ nhau của con người, đó là các hình thức, biện pháp giúp đỡ của nhà nước, xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bị bất hạnh, rủi ro không đủ khả năng để tự lo cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình Vì vậy công tác bảo trợ xã hội luôn là một vấn đề được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm
Trong quá trình chuyển đổi kết cấu nền kinh tế, các đối tượng thuộc nhóm trợ giúp xã hội (bảo trợ xã hội) tồn tại một cách tất yếu và đòi hỏi có sự quan tâm của nhà nước và toàn xã hội, cộng đồng không chỉ ở các nước Đông Nam á mà còn
là nhu cầu của hầu hết các nước đang phát triển Tuy vậy, do hạn chế về khả năng kinh tế nên các nước có nền kinh tế chuyển đổi thì trong thời kỳ đầu thường quan tâm đến các chương trình phát triển kinh tế gắn với việc giải quyết việc làm để mọi người có thể kiếm được thu nhập từ việc làm mà ít quan tâm đến nhóm đối tượng yếu thế như người tàn tật, người không còn khả năng lao động, không có nguồn thu
Trang 9nhập và không nơi nương tựa làm cho họ đã khó khăn càng khó khăn hơn trong việc tồn tại và hòa nhập cộng đồng
Trong những năm qua đi cùng với quá trình đổi mới đất nước, xây dựng kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa… chúng ta đã thu được những thành quả lớn về kinh tế, văn hoá, xã hội Tuy nhiên, nước ta là nước nghèo, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, thiên tai (bão lụt, hạn hán…) thường xuyên xảy ra gây thiệt hại không nhỏ về người và tài sản, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân dân và điều kiện phát triển kinh tế-văn hoá-xã hội Mặt trái của kinh tế thị trường: phân hoá giàu nghèo, chạy theo lối sống thực dụng suy giảm đạo đức, lối sống, thất nghiệp… đang là những nguyên nhân làm tăng đối tượng xã hội: Người già cô đơn, người lang thang, người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, tệ nạn xã hội… Đây là nhóm đối tượng cần có sự hỗ trợ về vật chất và tinh thần của Nhà nước và xã hội
Là nước có bề dầy hàng ngàn năm lịch sử với truyền thống tương thân tương
ái “lá lành đùm lá rách” giúp đỡ lẫn nhau chính vì vậy, để phát huy truyền thống quý báu đó đồng thời nhằm mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội tiến tới công bằng xã hội, trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm nhiều hơn tới công tác bảo trợ xã hội nhằm đảm bảo ổn định đời sống của các đối tượng dễ bị tổn thương Chính vì vậy có thể thấy Bảo trợ xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, nó có ý nghĩa kinh tế, chính trị
xã hội và nhân văn sâu sắc, đồng thời là nền tảng thực hiện mục tiêu công bằng xã hội Nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về chính sách bảo trợ xã hội (pháp lệnh, nghị định, quyết định, thông tư và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến công tác bảo trợ xã hội), các chính sách theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn nhằm điều chỉnh mở rộng đối tượng cứu trợ xã hội đột xuất, thường xuyên và hỗ trợ về giáo dục, y tế…đối với nhóm người yếu thế
Quảng Ninh là tỉnh miền núi ven biển phía Đông Bắc với 4 thành phố, 1 thị
xã và 9 huyện, có điều kiện tự nhiên, khí hậu thuận lợi với nhiều di tích lịch sử, văn hoá, có nguồn tài nguyên phong phú đa dạng về đất, nước, khoáng sản với cơ sở
hạ tầng đang đựơc đầu tư ngày càng hiện đại Đặc biệt Quảng Ninh có đường biên
Trang 10giới dài hàng trăm kilomet giáp nước Trung Quốc, có cảng biển nước sâu, là nơi có trữ lượng than đá khổng lồ lớn nhất cả nước, với di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long đã hai lần được UNESCO công nhận về giá trị thẩm mỹ và địa chất, địa mạo vì vậy Quảng Ninh trở thành một địa bàn động lực, trọng điểm, một đầu tàu, một trong những cửa ngõ giao thông quan trọng của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đối với khu vực và quốc tế
Với những ưu thế như trên đã tạo đà thúc đẩy kinh tế tỉnh Quảng Ninh phát triển nhanh trong thời gian dài, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP, tính theo giá so sách) trung bình các năm đạt 10%-12%; cơ cấu kinh tế tỉnh Quảng Ninh chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ đồng thời thu hút lực lượng lao động, khách du lịch, tư thương, doanh nghiệp lớn trong nước và quốc tế đến với Quảng Ninh Bên cạnh mặt tích cực tạo nên sự phát triển kinh tế, xã hội cho Quảng Ninh, đem lại chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn cho người dân góp phần kéo dài tuổi thọ con người thì cũng đem lại không ít những hệ luỵ như phân hoá giàu nghèo ngày càng sâu sắc, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, các tệ nạn xã hội tăng nhanh làm cho đối tượng yếu thế trên địa bàn tỉnh cũng tăng theo đặc biệt đối tượng trẻ em bị nhiễm HIV, trẻ bị bỏ rơi không nơi nương tựa, người già cô đơn, các đối tượng mắc các tệ nạn xã hội
Chính vì vậy trong công tác bảo trợ xã hội, Quảng Ninh không chỉ là đối tượng điều chỉnh của những chính sách chung của Đảng và Nhà nước mà còn là chủ thể thực hiện các chính sách, quy định riêng có của tỉnh Quảng Ninh cũng đã ban hành những chính sách, quy định riêng nhằm mục tiêu quan tâm, chăm lo và tạo điều kiện tối đa nhất có thể cho các đối tượng đảm bảo phù hợp với tình hình kinh
tế, chính trị xã hội đặc thù của địa phương như quy định mức trợ cấp xã hội thường xuyên, chế độ cứu trợ xã hội Tuy nhiên do mục tiêu phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường nhiều khi cuốn theo sự phát triển kinh tế bằng mọi giá nên việc thực hiện công tác bảo trợ xã hội, thực thi các chính sách bảo trợ xã hội của trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vẫn còn có những hạn chế, có nơi, có lúc những đối tượng yếu thế trên địa bàn tỉnh vẫn chưa được quan tâm chăm sóc một cách đúng mức, chưa tạo điều
Trang 11kiện để họ có thể tự tin vươn lên và hoà nhập cộng đồng
Để công tác bảo trợ xã hội của tỉnh tiếp tục đi vào cuộc sống một cách thiết thực, thực sự trở thành công cụ hữu ích nhằm giúp đỡ, bù đắp những thiệt thòi đối với các đối tượng “yếu thế” góp phần đảm bảo an sinh xã hội, tiến tới sự công bằng
về mọi mặt trong đời sống xã hội của tỉnh, Quảng Ninh còn rất nhiều việc phải làm,
cả ngắn hạn và dài hạn Với ý nghĩa như vậy, tác giả lựa chọn "Phân tích chính sách bảo trợ xã hội và đề xuất mọt số giải pháp thực hiện chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011- 2020" làm luận văn thạc sỹ
khoa học, chuyên ngành Quản trị kinh doanh
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Bảo trợ xã hội là một biện pháp cơ bản tác động đến các đối tượng yếu thế trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu an sinh xã hội Chính vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu, bài viết viết về An sinh xã hội trong đó có đề cập đến công tác bảo trợ xã ở góc độ lý luận, chính sách, thực tiễn cũng có những công trình, bài viết viết riêng về bảo trợ xã hội nhưng ở các góc độ, khía cạnh khác nhau Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến như:
- Lê Bạch Dương, Đặng Nguyên Anh, Khuất Thu Hồng, Lê Hoài Trung,
Bach, Robert Leroy (2005), Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam,
Nxb Thế Giới Hà Nội, 2005 Cuốn sách trình bày kết quả khảo sát các nhu cầu và những vấn đề có liên quan của ba nhóm xã hội thiệt thòi ở Việt Nam đó là các hộ gia đình nghèo ở nông thôn, lao động di cư từ nông thôn ra thành thị và những người khuyết tật kể cả người có HIV/AIDS như: Vấn đề nghèo đói ở nông thôn và nhu cầu bảo trợ xã hội của các hộ nông dân nghèo, nhu cầu bảo trợ xã hội của lao động di cư từ nông thôn ra thành thị; những vấn đề mà người khuyết tật, người có HIV/AISD đang phải đối mặt từ đó định hướng bảo trợ xã hội cho các nhóm thiệt thòi và dễ bị tổn thương ở Việt Nam
- Nguyễn Thị Kim Phụng, Giáo trình “Luật an sinh xã hội”, Nxb Tư pháp,
Hà Nội (2005) Cuốn sách viết về hệ thống các chính sách an sinh xã hội bao gồm các nội dung như: lý luận chung về pháp luật an sinh xã hội, quan hệ pháp luật an
Trang 12sinh xã hội và pháp luật về an sinh xã hội trong đó có pháp luật về bảo trợ xã hội
- Cục bảo trợ xã hội, Bộ Lao động Thương binh và xã hội, Hệ thống các văn bản pháp luật về Bảo trợ xã hội, Nxb lao động xã hội, 2000: Cuốn sách hệ thống
hóa các chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành (năm 2000) về Bảo trợ xã hội tại Việt Nam
- Phạm Văn Sáng, Ngô Quang Minh, Bùi Văn Huyền, Nguyễn Anh Dũng, Lý thuyết và mô hình An sinh xã hội (Phân tích thực tiễn ở Đồng Nai), Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội-2009 Cuốn sách trình bày những bất cập, xu hướng vận động và kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và phát triển hệ thống an sinh xã hội đồng thời phân tích an sinh xã hội nhìn từ đối tượng thụ hưởng và những trụ cột chính trong
an sinh xã hội thực tiễn ở tỉnh Đồng Nai
- Phạm Văn Bích (chủ nhiệm đề tài) Tổng quan một số tài liệu về an sinh xã hội, Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2005) Công trình đi vào nghiên cứu, hệ
thống một cách tổng quan các tài liệu về an sinh xã hội trong đó có Bảo trợ xã hội (cứu trợ xã hội)
- Mai Ngọc Cường (chủ nhiệm đề tài) Cơ sở khoa học của việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006-2015, Đề
tài cấp nhà nước, Chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước, Bộ Khoa học và công nghệ, 2009 Công trình nghiên cứu làm rõ những vấn đề cơ bản về An sinh xã hội và hệ thống chính sách ASXH trong nền kinh tế thị trường; Đánh giá thực trạng của hệ thống ASXH và việc thực hiện chính sách ASXH ; Phân tích xu hướng đổi mới hệ thống ASXH, hệ thống chính sách ASXH; Đề xuất các giải pháp xây dựng
hệ thống tổng thể quốc gia về ASXH ở Việt Nam giai đoạn 2006-2015
- Đặng Cảnh Khanh (1994) Vấn đề cứu trợ xã hội trong chính sách bảo đảm xã hội ở Việt Nam, đề tài cấp Bộ, Hà Nội Công trình nghiên cứu công tác cứu trợ xã hội trong hệ thống chính sách đảm bảo xã hội ở Việt nam nói chung
- Nguyễn Tiệp (2002), Các giải pháp nhằm thực hiện xã hội hoá công tác cứu trợ xã hội, đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội Công trình nghiên cứu thực trạng về xã
hội hóa công tác cứu trợ xã hội từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện xã hội
Trang 13hóa công tác cứu trợ xã hội
- Viện Khoa học lao động và các vấn đề xã hội thuộc Bộ Lao động Thương
binh và Xã hội (1990), Luận cứ khoa học cho việc đổi mới và hoàn thiện các chính sách bảo đảm xã hội trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần định hướng XHCN ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội Công trình nghiên cứu
các cơ sở có tính khoa học đòi hỏi phải đổi mới và hoàn thiện các chính sách đảm bảo xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng XHCN ở nước ta
- Phạm Trọng Nghĩa: Định hướng hoàn thiện khung pháp luật an sinh xã hội ở
Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005
- Nguyễn Đình Liêu (2002), Trợ cấp xã hội trong hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam”, Tạp chí kinh tế - luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, số 1/2002 Bài viết nêu vai trò
của trợ cấp xã hội trong hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam
- Lê Thị Hoài Thu (2004), Thực trạng pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam,
Tạp chí Bảo hiểm xã hội số 6/2004 Bài viết đề cập đến hệ thống pháp luật an sinh
xã hội ở Việt Nam từ năm 1945 đến 2004 từ đó đưa ra một số ý kiến để hoàn thiện
hệ thống pháp luật an sinh xã hội ở nước ta trong đó có pháp luật về bảo trợ xã hội
Có thể thấy các nghiên cứu trên đã đưa ra được một cách nhìn tổng quát về
an sinh xã hội với các mô hình, chính sách trên thế giới và Việt Nam, các giải pháp hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội trong đó chính sách về Bảo trợ xã hội (tại mỗi thời điểm phù hợp với nghiên cứu) song chưa có nghiên cứu, bài viết nào đi sâu vào hệ thống chính sách bảo trợ xã hội của Việt Nam nói chung và của tỉnh Quảng Ninh nói riêng, đặc biệt chưa có nghiên cứu nào đề cập đến thực trạng về bảo trợ xã hội tại tỉnh Quảng Ninh đến năm 20010, để từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp để thực thi chính sách bảo trợ xã hội một cách hiệu quả
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích:
Trên cơ sở hệ thống hóa các chính sách bảo trợ xã hội của Việt Nam nói chung và của tỉnh Quảng Ninh nói riêng, qua đánh giá thực trạng chính sách bảo
Trang 14trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, luận văn đề xuất phương hướng và hệ thống giải pháp nhằm đảm bảo tốt hơn cho các đối tượng cần được bảo trợ xã hội trên địa bàn
- Đề xuất phương hướng và hệ thống giải pháp phù hợp cho việc thực hiện tốt hơn công tác bảo trợ xã hội tại Quảng Ninh giai đoạn 2011-2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định bao gồm: Hệ thống chính sách về bảo trợ xã hội của Nhà nước áp dụng tại Quảng Ninh; Các quy định của chính quyền địa phương; các biện pháp thực thi của các chủ thể có liên quan
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu được xác định trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh với giới hạn thời gian từ 2005-2010
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu
- Phương pháp cụ thể: Để đạt mục tiêu đề ra, đề tài sử dụng các phương pháp
nghiên cứu như: hệ thống, phân tích, so sánh, tổng hợp, mô hình hoá, lấy ý kiến chuyên gia , trong đó chú trọng hai phương pháp sau:
+ Phương pháp thống kê: để thống kê thực trạng các nhóm đối tượng yếu thế, thống kê các nguồn lực thực hiện chính sách bảo trợ xã hội
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân chia đối tượng nghiên cứu
Trang 15thành từng bộ phận, lĩnh vực để có thể nhìn thấy một cách rõ ràng hơn, chi tiết hơn
về thực trạng chính sách bảo trợ xã hội từ đó khái quát, tổng hợp những mặt được, chưa được của chính sách bảo trợ xã hội
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp cụ thể khác nhằm thực hiện mục tiêu đề ra
6 Đóng góp khoa học của luận văn
- Hệ thống hóa các chính sách, quy định liên quan đến bảo trợ xã hội ở Trung ương và Quảng Ninh
- Chỉ rõ những tồn tại và nguyên nhân của công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn
- Đề xuất được những giải pháp cơ bản nhằm thực hiện tốt công tác bảo trợ
xã hội ở Quảng Ninh giai đoạn 2011-2020; Kiến nghị với Trung ương về những nội dung cụ thể của chính sách bảo trợ xã hội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương 10 tiết
Chương 1: Những vấn đề chung về Bảo trợ xã hội
Chương 2: Thực trạng xây dựng và thực thi chính sách bảo trợ xã hội tại tỉnh
Quảng Ninh
Chương 3: Giải pháp thực hiện chính sách Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh
giai đoạn 2011-2020
Trang 16Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI 1.1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ BẢO TRỢ XÃ HỘI
1.1.1 Khái niệm bảo trợ xã hội
- Khái niệm
Con người vừa là động lực của sự phát triển xã hội, vừa là mục tiêu của việc xây dựng xã hội Trong Tuyên ngôn về nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10.12.1948 đã khẳng định: “Tất cả mọi người, với tư cách là thành viên xã hội có quyền hưởng bảo đảm xã hội Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn
các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho sự tự do phát triển con người”[2]
Song con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải có điều kiện bảo đảm những nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở v.v Để thoả mãn nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động làm ra những sản phẩm cần thiết và khi xã hội càng phát triển, của cải xã hội ngày càng nhiều thì mức độ thoả mãn nhu cầu của con người ngày càng tăng, nghĩa là việc thoả mãn nhu cầu cho cuộc sống phụ thuộc vào khả năng lao động của con người Tuy nhiên trong cuộc sống, các cá nhân, gia đình và nhiều khi cả cộng đồng có thể gặp phải những rủi ro do thiên tai hay những biến động trong đời sống kinh tế, xã hội gây ra như bão lụt, bệnh tật, chiến tranh có người bị giảm hoặc mất khả năng lao động như già yếu, bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động cũng có người sinh ra đã gặp hoàn cảnh đặc biệt (khuyết tật, mồ côi, mắc bệnh hiểm nghèo ) mà bản thân họ không thể hoặc không có khả năng lao động để tạo của cải đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của bản thân Bởi vậy, từ xa xưa, cá nhân mỗi người và mỗi gia đình đều tìm những biện pháp đề phòng cần thiết để tự bảo vệ mình trước các rủi ro thông qua các hoạt động tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng trên cơ sở những quan hệ tình cảm, trách nhiệm, bổn phận con người và những quan niệm đạo đức trong xã hội Nhưng ở khía cạnh nào đó, những quan hệ này không chắc chắn, song cho đến nay nó vẫn được duy trì như những nét đẹp truyền thống của mỗi gia đình, cộng đồng, bất cứ sự ảnh hưởng của đời sống hiện đại, có thể nhận được sự hỗ trợ nhưng hầu như không
Trang 17chịu sự điều chỉnh của nhà nước Khi quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nông thôn đã làm thay đổi cơ cấu xã hội, phát triển kinh tế thị trường trong giai đoạn đầu thường tập trung vào phát triển kinh tế vì vậy đã xuất hiện các loại rủi ro mới như tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, mất việc làm, phá sản do đầu tư, thiên tai và nhân tai ngày càng khắc nghiệt; nhiều đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn không được quan tâm, giúp đỡ đúng mức…do đó cơ chế hỗ trợ, trợ giúp
có tính truyền thống đã không đủ để giúp cho các cá nhân khắc phục hậu quả rủi ro trong xã hội hiện đại
Từ thực tế đó, ngày nay bên cạnh những hình thức tương thân tương ái, trợ giúp truyền thống, để đảm bảo quyền của con người thì xã hội cần một cơ chế an toàn hơn, chuyên nghiệp hơn đó là sự quản lý và chia sẻ rủi ro có bảo đảm chắc chắn từ phía Nhà nước, mang tính xã hội và thực hiện trong cả cộng đồng để tất cả các thành viên đều được bảo vệ và những rủi ro của họ (nếu có) được chia sẻ trong phạm vi rộng rãi, giúp người gặp rủi ro, có hoàn cảnh đặc biệt vượt qua khó khăn để tái hòa nhập cộng đồng, đấy là bảo trợ xã hội
Do sự khác nhau về truyền thống, văn hóa, các thể chế chính trị, cơ cấu tổ chức, cách tiếp cận khác nhau mà có nhiều định nghĩa khác nhau về Bảo trợ xã hội Bảo trợ xã hội là một thuật ngữ đã được các sách báo, tạp chí bàn đến song vẫn chưa được ghi nhận chính thức trong hệ thống các văn bản pháp luật của Việt Nam Bảo trợ xã hội có thể được hiểu theo nghĩa rộng đó là sự bảo đảm thực hiện các quyền của con người được sống trong hòa bình, tự do làm ăn, sinh sống, được học tập, có việc làm nhà ở, được đảm bảo thu nhập để thỏa mãn nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già , cũng có thể được hiểu là sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện sống thiết yếu khác cho người lao động và gia đình họ khi
bị giảm hoặc mất thu nhập do giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ mồ côi, người tàn tật, người nghèo, người bị thiên tại địch họa
Theo nghĩa hẹp: Có quan điểm cho rằng bảo trợ xã hội (cứu trợ xã hội) là thuật ngữ được kết hợp từ thuật ngữ “trợ giúp xã hội” và "cứu tế xã hội" trong đó "cứu tế xã
Trang 18hội" là sự giúp đỡ mang tính chất tức thì, cấp thiết bằng tiền hoặc hiện vật để giúp đỡ cho những thành viên trong xã hội không thể tự lo liệu cuộc sống do gặp rủi ro, bất hạnh thoát khỏi cảnh hiểm nghèo, có thể dẫn đến cái chết; còn trợ giúp xã hội là hoạt động chủ yếu của trợ cấp xã hội, nó vừa mang tính chất “cấp cứu” tức thời vừa mang tính chất tương trợ lâu dài bằng tiền, điều kiện sinh hoạt để cho thành viên trong xã hội gặp hoàn cảnh khó khăn bất hạnh, rủi ro có thể phát huy nội lực hoà nhập vào cộng đồng và xã hội
Có quan điểm cho rằng, bảo trợ xã hội (cứu trợ xã hội) là hoạt động mang tính chất từ thiện của nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp cho các đối tượng bị rủi ro, bất hạnh vì những lý do khác nhau không thể tự bảo đảm cuộc sống giúp họ hoà nhập vào cộng đồng Với quan điểm này, Bảo trợ xã hội là khái niệm dùng để chỉ mọi hình thức và biện pháp giúp đỡ của nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bị bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình
Theo Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) thì Bảo trợ xã hội là sự cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua các cơ chế nhà nước hoặc tập thể nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp ILO nhấn mạnh khía cạnh bảo hiểm và mở rộng tạo việc làm cho những đối tượng ở khu vực kinh tế không chính thức
Theo Cơ quan Quốc tế Phát triển (ODI) thì BTXH đề cập những hành động công ích nhằm giảm thiểu tính dễ bị tổn thương, nguy cơ gây sốc và sự bần cùng hóa, là những điều không thể chấp nhận được về mặt xã hội Với quan điểm này, bảo trợ xã hội được hướng đến những người nghèo nhất, dễ bị tổn thương nhất hoặc khó khăn nhất, đấy là những người thuộc tầng lớp có hoàn cảnh không ai mong muốn trong xã hội
Theo từ điển bách khoa Việt Nam thì Bảo trợ xã hội (trợ giúp xã hội) là sự giúp đỡ bằng tiền mặt hoặc hiện vật, có tính cấp thiết, "cấp cứu" ở mức độ cần thiết cho những người bị lâm vào cảnh bần cùng không có khả năng tự lo liệu cuộc sống
Trang 19thường ngày của bản thân và gia đình", " là sự giúp thêm bằng tiền mặt hoặc điều kiện và phương tiện sinh sống thích hợp để đối tượng được giúp đỡ và có thể phát huy khả năng, tự lo liệu cuộc sống của mình và gia đình, sớm hòa nhập cộng đồng Giới hạn nghiên cứu của Luận văn tiếp cận BTXH ở góc độ hẹp, đó là sự đảm bảo và giúp đỡ của Nhà nước, sự hỗ trợ của nhân dân và cộng đồng quốc tế về thu nhập và các điều kiện sinh sống bằng các hình thức và biện pháp khác nhau đối với tượng bị lâm vào cảnh rủi ro, bất hạnh, yếu thế hoặc hẫng hụt trong cuộc sống khi
họ không đủ khả năng tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình
Có thể nói khái quát lại, BTXH là sự giúp đỡ dưới các hình thức khác nhau của
nhà nước và cộng đồng cho các thành viên yếu thế trong xã hội (bị rủi ro, bất hạnh, khó khăn… không đủ khả năng tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình), giúp họ bảo đảm và ổn định cuộc sống, hoà nhập vào cộng đồng
- Đối tượng
Đối tượng bảo trợ xã hội là mọi thành viên trong xã hội khi có các sự cố xảy
ra do nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau làm họ không đủ khả năng hoặc không tự lo được cuộc sống của bản thân và gia đình Tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế và quy định của mỗi nước mà đối tượng bảo trợ xã hội được mở rộng đến đâu Với những nước phát triển, vấn đề xã hội thường được quan tâm nhiều hơn thì đối tượng thuộc diện bảo trợ xã hội mở rộng, ngược lại những nước kém phát triển thường tập trung vào phát triển kinh tế còn vấn đề xã hội ít được quan tâm hơn thì đối tượng thuộc diện bảo trợ xã hội thu hẹp song có thể nói đối tượng bảo trợ xã hội là những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, yếu thế trong xã hội như trẻ mồ côi, người già không nơi nương tựa, người tàt tật, người tâm thần những người gặp hoàn cảnh khó khăn do hậu quả của thiên tại hoặc nguyên nhân bất khả kháng khác Có 02 nhóm đối tượng yếu thế chủ yếu sau:
Nhóm đối tượng truyền thống như:
- Người cao tuổi nghèo đói, người tàn tật, trẻ mồ côi, góa phụ;
- Nạn nhân chiến tranh, cựu chiến binh, lính xuất ngũ và người vô gia cư;
- Người nghèo, không được giáo dục, không có tài sản, khủng hoảng về kinh tế;
Trang 20- Người dân thuộc tầng lớp thấp;
- Phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình;
- Người nghèo ở nông thôn;
- Người tâm thần;
- Những hộ gia đình bố mẹ độc thân
Nhóm đối tượng yếu thế mới xuất hiện như:
- Người di cư trong nước hoặc quốc tế;
- Người tị nạn trong nước và quốc tế;
- Người lao động nghèo do chuyển đổi kinh tế;
- Thất nghiệp;
- Dân tộc thiểu số;
- Người nghiện, nhiễm HIV/AIDS;
- Trẻ lang thang đường phố, trẻ bị lạm dụng tình dục, sức lao động ;
Luận văn nghiên cứu bảo trợ xã hội đối với 5 nhóm đối tượng chính sau:
(1) Trẻ có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm "trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma tuý; trẻ em vi phạm pháp luật" [26, tr.10]
Trẻ em hôm nay sẽ là chủ nhân tương lai của đất nước vì vậy đầu tư cho trẻ em chính là đầu tư cho phát triển đất nước Đối với những trẻ không may rơi vào hoàn cảnh khó khăn như mồ côi cha, mẹ, tàn tật, bị xâm hại, nghiện ma túy hoặc phải lang thang kiếm sống càng cần sự quan tâm đặc biệt của gia đình, cộng động, Nhà nước và xã hội để bù đắp những thiệt thòi và tạo cho trẻ có được cơ hội phát triển bình thường về thể chất, trí tuệ, nhân cách, để trở thành những công dân có ích, có
cơ hội đóng góp sức mình vào công cuộc phát triển đất nước Đấy chính là lòng nhân ái, tính nhân văn, là truyền thống quý báu của dân tộc ta đồng thời là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta trong quá trình phát triển đất nước, góp phần ổn định và an toàn xã hội Để trợ giúp cho nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt
Trang 21một cách hiệu quả thì cần xem xét, căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của từng đối tượng
để có hình thức giúp đỡ thích hợp, đảm bảo sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của trẻ, tạo điều kiện tốt nhất có thể để trẻ hòa nhập cộng đồng
(2) Người cao tuổi chỉ gồm người già cô đơn không nơi nương tựa, không có nguồn thu nhập (từ đủ 60 tuổi trở lên theo Luật người cao tuổi) và người có tuổi thọ cao từ 80 tuổi trở lên Đây đang là vấn đề xã hội đang được nhiều quốc gia đặc biệt quan tâm nhất là trước xu thế già hóa dân số hiện nay Người cao tuổi cần được quan tâm chăm sóc đặc biệt, đó là vấn đề đạo lý, nhân văn, nhất là đối với Việt Nam, một đất nước vốn có truyền thống tôn trọng người già
(3) Người khuyết tật "là những người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn" [28, tr.1]
Người khuyết tật có khả năng và có nguyện vọng trở thành người có ích cho
xã hội Đặc biệt trong giai đoạn phát triển hiện nay, người khuyết tật có xu hướng tăng lên với nhiều lý do khác nhau như tai nạn lao động, thiên tai để người khuyết tật không trở thành gánh nặng cho xã hội cần tạo dựng một xã hội hòa nhập hơn cùng cơ hội việc làm cho người khuyết tật thông qua các chính sách cải thiện điều kiện tiếp cận giáo dục cơ sở, đào tạo nghề liên quan đến nhu cầu thị trường lao động
và việc làm phù hợp với kỹ năng, nguyện vọng và khả năng của người khuyết tật, đồng thời có những thay đổi cần thiết phù hợp cho người khuyết tật Đồng thời xóa
bỏ rào cản khác đối với người khuyết tật như tạo tiếp cận với môi trường vật thể, cung cấp thông tin dưới nhiều hình thức khác nhau, đấu tranh và loại bỏ những thái
độ định kiến sai lệch về người khuyết tật
(4) Người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc hộ gia đình nghèo Đại dịch HIV/AIDS không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến kinh tế- xã hội mà còn hủy hoạt cả thế hệ con người trong đó có thế hệ tương lai đó là trẻ em Vì vậy trên thế giới, các quốc gia đều chung tay chống đại dịch HIV/AIDS nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của đại dịch đến sự ổn định và phát triển, đồng thời có các giải pháp, cơ chế chính sách giúp người nhiễm HIV/AIDS được khám, điều trị, chăm
Trang 22sóc sức khỏe, xóa bỏ mặc cảm, hòa nhập cộng đồng, nhất là được có cơ hội làm việc tự lo cho bản thân và gia đình, hành động có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.
(5) Nhóm những người, hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc những lý do bất khả kháng khác gây ra Trước thực tế về nạn ô nhiễm môi trường, khí quyển cùng với sự phá vỡ cân bằng sinh thái của con người trên toàn thế giới làm cho các thảm hoạ về thiên tai ngày càng nhiều và khốc liệt như núi lửa, động đất, bão, lũ gây tổn thất lớn về kinh tế, xã hội Một số lượng không nhỏ gia đình,
cá nhân đã lâm vào hoàn cảnh khốn cùng như: mất người thân, thương tích, mất tài sản có khi đến độ cùng cực không thể tự cứu sống được bản thân và gia đình đòi hỏi xã hội phải ra tay cứu giúp, khắc phục hậu quả để ổn định đời sống, phát triển
1.1.2 Vai trò, ý nghĩa bảo trợ xã hội
* Vai trò bảo trợ xã hội
- Bảo trợ xã hội có vai trò như tấm lưới đảm vệ cho các đối tượng “yếu thế” trong xã hội được chăm sóc, bảo vệ khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt; tạo cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện cần thiết để khắc phục những
“rủi ro xã hội”, có cơ hội để phát triển, có cơ hội hoà nhập vào cộng đồng Bảo trợ
xã hội với các chức năng của mình, kích thích tính tích cực xã hội trong mỗi con người, hướng tới những chuẩn mực của chân thiện mỹ nhằm hướng tới những điều cao đẹp trong cuộc sống, hoà đồng mọi người không phân biệt chính kiến, tôn giáo, dân tộc, giới tính vào một xã hội nhân ái, công bằng, và an toàn cho mọi thành viên
- Bảo trợ xã hội thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tương thân tương ái giữa những con người trong xã hội; đây là một trong những nhân tố để ổn định và phát triển xã hội đồng thời nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người giúp cho xã hội phát triển lành mạnh
- Bảo trợ xã hội dựa trên nguyên tắc san sẻ trách nhiệm và thực hiện công bằng xã hội, được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương thức và biện pháp khác nhau Trên bình diện xã hội, bảo trợ xã hội là một công cụ để cải thiện các điều kiện
Trang 23sống của các tầng lớp dân cư đặc biệt là những người nghèo khó, những nhóm dân
cư yếu thế trong xã hội
Dưới giác độ kinh tế, bảo trợ xã hội là công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng Nếu xây dựng được hệ thống bảo trợ xã hội tốt thì sẽ giải quyết tốt các vấn đề xã hội Đây là nền tảng để xây dựng một xã hội bác ái, công bằng, vì bảo trợ xã hội không chỉ giải quyết các vấn đề xã hội mà nó còn góp phần thiết yếu trong việc phát triển xã hội, thể hiện sự chuyển giao xã hội làm cho
xã hội tốt đẹp hơn, văn minh hơn Bởi vậy, trong xã hội hiện đại, bảo trợ xã hội ngày càng được củng cố và hoàn thiện để trở thành một hệ thống thiết yếu trong bộ máy Nhà nước Nó có chức năng tổng hợp và tập trung các nguồn lực vào việc phát triển xã hội, đem lại hạnh phúc cho nhân dân
- Bảo trợ xã hội còn đóng vai trò tích cực đối với sự ổn định tình hình chính trị của đất nước Điều này cũng dễ nhận ra bởi vì tình hình kinh tế xã hội của đất nước
có ổn định, có vững mạnh thì tình hình chính trị mới ổn định và vững mạnh Mặt khác khi cuộc sống của người lao động thường xuyên bị đe doạ bởi những thiếu thốn do ốm đau, bệnh tật, do thất nghiệp, do già yếu thì cũng ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình chính trị Trên thế giới thường xảy ra những cuộc biểu tình, gây xáo động về nội các của một số chính phủ bởi không đáp ứng về trợ cấp cho công nhân khi ốm đau, khi thất nghiệp, hưu trí
- Bảo trợ xã hội góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội Xét cho cùng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia đều có chung một mục đích cuối cùng là đảm bảo
và có những cải thiện nhất định cho hạnh phúc của mỗi người và đem lại lợi ích cho mọi người Trong sự phát triển đó bảo trợ xã hội có những đóng góp quan trọng Bằng những biện pháp của mình, bảo trợ xã hội tạo ra “lưới chắn” an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp nhằm bảo vệ cho mọi thành viên trong cộng đồng khi bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất do nhiều nguyên nhân khác nhau
- gọi là những “rủi ro xã hội”
* Ý nghĩa bảo trợ xã hội
Bảo trợ xã hội được coi là lưới đỡ cuối cùng trong hệ thống mạng lưới an sinh
Trang 24xã hội với hai chức năng cơ bản đó là cứu trợ và trợ giúp phát triển Đó là một biện pháp của chính sách xã hội và là một trong những chỉ báo quan trọng về định hướng
xã hội chủ nghĩa của nước ta trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường Bảo trợ xã hội vừa mang ý nghĩa về kinh tế, xã hội, đặc biệt còn thể hiện giá trị đạo đức cao đẹp và tinh thần nhân đạo sâu sắc của dân tộc Việt Nam
Chính sách bảo trợ xã hội được thực hiện đúng, kịp thời sẽ mang lại những ảnh hưởng tích cực đáng kể về mặt xã hội Một mặt bảo trợ xã hội đảm bảo cho các đối tượng yếu thế, có hoàn cảnh khó khăn được chăm sóc, bảo vệ, tạo cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện cần thiết để khắc phục những “rủi ro xã hội”, có cơ hội để phát triển, có cơ hội hoà nhập vào cộng đồng, một mặt kích thích tính tích cực xã hội trong mỗi con người, hướng tới những điều cao đẹp trong cuộc sống như mở rộng lòng nhân ái, hoà đồng mọi người không phân biệt chính kiến, tôn giáo, dân tộc, giới tính tiến tới xã hội công bằng
Bảo trợ xã hội thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tương thân tương ái giữa những con người trong xã hội, đấy là một trong những nhân tố để ổn định và phát triển xã hội đồng thời nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người giúp cho xã hội phát triển lành mạnh
Bảo trợ xã hội dựa trên nguyên tắc san sẻ trách nhiệm và thực hiện công bằng
xã hội dưới nhiều hình thức, phương thức và biện pháp khác nhau Dưới giác độ kinh tế, bảo trợ xã hội là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội, nó góp phần tích cực cho sự ổn định xã hội, phát triển kinh tế, chính trị của đất nước
Thực hiện công tác bảo trợ xã hội nhằm đảm bảo an sinh xã hội tiến tới công bằng xã hội đồng thời góp phần phát triển nhanh, bền vững kinh tế Đấy không chỉ
là mục tiêu mà còn là tiền đề để phát triển bền vững, giúp xây dựng xây dựng xã hội tiến bộ, văn minh
Bảo trợ xã hội không chỉ có ý nghĩa với quốc gia mà còn có ý nghĩa quốc tế Ngoài việc thuộc phạm trù quyền con người, là biểu hiện trình độ văn minh tiến bộ của mỗi quốc gia, ngày nay trong xã hội hiện đại mỗi nước đều nhận thức được rằng
Trang 25bảo trợ xã hội là vấn đề được toàn nhân loại quan tâm Việc thực hiện bảo trợ xã hội không bị giới hạn bởi bất kỳ rào cản chính trị hay địa lý nào, thể hiện rõ nhất đó là các hoạt động cứu trợ xã hội độ xuất, các hiệp định hợp tác về quyền con người giữa các quốc gia vì một thế giới hoà bình ổn định và phát triển
1.2 NỘI DUNG BẢO TRỢ XÃ HỘI VÀ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG
1.2.1 Sự cần thiết của bảo trợ xã hội
Có nhiều lý do cho thấy sự cần thiết phải thực hiện bảo trợ xã hội song có thể gộp trong3lý do chính sau:
Thứ nhất xuất phát từ nhu cầu tự nhiên của con người và thực trạng nhóm những người yếu thế ở Việt Nam Con người khi sinh ra muốn tồn tại và phát triển
thì trước hết phải đảm bảo điều kiện tối thiểu về ăn, mặc, ở Để thỏa mãn được nhu cầu này thì con người phải lao động để tạo ra những sản phẩm cần thiết đó Tuy nhiên trong suốt cuộc đời từ khi sinh ra đến khi mất đi không phải ai, lúc nào cũng lao động để tạo ra sản phẩm, thu nhập, có nhiều nguyên nhân rình rập khiến con người mất khả năng lao động như bệnh tật, ốm đau, tai nạn, già yếu, điều kiện tự nhiên mà nhiều khi không thể tránh khỏi; cũng có nhiều người từ khi sinh ra đã chịu thiệt thòi do khuyết tật hoặc rơi vào hoàn cảnh đặc biệt như mồ côi, nhiễm căn bệnh hiểm nghèo
Thực trạng đối tượng yếu thế ở Việt Nam rất đa dạng, có xu hướng ngày càng tăng với nhiều nguyên nhân khác nhau như do thiên tai địch họa, do mặt trái của nền kinh tế thị trường đem lại, do hệ quả tất yếu của kinh tế phát triển khiến nhóm người yếu thế có xu hướng ngày càng tăng và họ không thể tự đảm bảo được cuộc sống của mình, đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách cơ chế bảo trợ để họ vượt qua những khó khăn, tồn tại, phát triển và hòa nhập cộng đồng
- Trẻ có hoàn cảnh đặc biệt Những năm qua, cùng với việc ban hành nhiều chính sách và chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp về phòng ngừa và bảo vệ trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt nên số trẻ có hoàn cảnh đặc biệt đã giảm từ 1,7 triệu em xuống còn 1,4 triệu em trong giai đoạn 2005-2008 và có xu hướng ổn định, không tăng đến năm 2009 [14]
Trang 26Về tổng thế nhóm đối tượng này có xu hướng ổn định song sự biến động số lượng trẻ có hoàn cảnh khó khăn ở mỗi nhóm trẻ rất khác nhau: Trẻ khuyết tật, tàn tật, trẻ lang thang, trẻ phải lao động trong điều kiện nặng nhọc, độc hại có xu hướng giảm song trẻ bị nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ bị bỏ rơi và trẻ nghiện ma túy có xu hướng tăng
Phần lớn trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tập trung ở các vùng điều kiện kinh tế còn khó khăn, thiên tai bão lũ hay xảy ra và tỷ lệ hộ nghèo cao: Trung du vùng núi phía Bắc 21,95%, Bắc Trung bộ 20,59%, Đồng bằng sông Cửu Long 20,74%, vùng Đông Nam Bộ chiếm tỷ trọng thấp 5,9% [14] Điều kiện sống của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có rất nhiều khó khăn, hầu hết các em sống trong gia đình nghèo nhất của xã hội, phải bỏ học sớm để lao động kiếm sống và trình độ học vấn rất thấp, việc chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh không được thường xuyên, kịp thời
Vấn đề về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là vấn đề xã hội luôn bức xúc của nhiều nước trên thế giới Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hoàn cảnh đặc biệt của trẻ như: có những nguyên nhân nội tại của sự vận động và phát triển của kinh tế thị trường, có những nguyên nhân thuộc về người lớn, gia đình hoặc chính bản thân trẻ
em, có nguyên nhân thuộc về nhận thức và cũng có những nguyên nhân thuộc về cơ chế, chính sách Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt rất cần sự quan tâm giúp đỡ của Nhà nước, của toàn xã hội để các em có thể tồn tại, phát triển và hòa nhập cộng đồng
- Người cao tuổi (NCT): Theo quy định hiện hành ở nước ta thì NCT là người từ 60 tuổi trở lên Xu hướng trên thế giới và ở nước ta đang diễn ra quá trình già hoá dân số Theo điều tra dân số năm 1989, cả nước có 7,15% dân số là người cao tuổi, năm 1999 là 8,12% và đến năm 2005 tỷ lệ này là 8,82%; dự báo đến năm
2020 sẽ có khoảng 10,5 triệu đến 11 triệu người cao tuổi chiếm 10% dân số cả nước [41] Trong số người cao tuổi, một số lượng không nhỏ người cao tuổi không có thu nhập, không có khả năng lao động phải sống dựa vào con, cháu, người thân trong đó
có gần 130 ngàn người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa và trên 950 ngàn người cao tuổi (80 tuổi trở lên) không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội [14] Từ thực trạng NCT và NCT có hoàn cảnh đặc biệt như trên đòi hỏi nhà nước phải có những
Trang 27chính sách thích hợp để trợ giúp người cao tuổi, xã hội phải chung tay giúp người cao tuổi không có thu nhập, cô đơn
- Người khuyết tật: Hiện nay ước tính cả nước có khoảng 5,1 triệu người khuyết tật, chiếm khoảng 6% dân số (trong đó có 1,1 triệu khuyết tật nặng, chiếm 21,5% tổng số người khuyết tật); bao gồm 29% khuyết tật vận động, 17% tâm thần, 14% tật thị giác, 9% tật thính giác, 7% tật ngôn ngữ, 7% trí tuệ và 17% các dạng khuyết tật khác Nguyên nhân gây nên khuyết tật có tới 36% bẩm sinh, 32% do bệnh tật, 26% do hậu quả chiến tranh và 6% do tai nạn lao động [14] Dự báo trong nhiều năm tới số lượng người khuyết tật ở Việt Nam chưa giảm do tác động của ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng của chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, tai nạn giao thông và tai nạn lao động, hậu quả thiên tai…
Đời sống vật chất, tinh thần của người khuyết tật còn nhiều khó khăn Có tới 80% người khuyết tật ở thành thị và 70% người khuyết tật ở nông thôn sống dựa vào gia đình, người thân và trợ cấp xã hội; 32,5% thuộc diện nghèo; 24% ở nhà tạm; 37% người khuyết tật trưởng thành mù chữ [14] Thực tế này cản trở người khuyết tật tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, học nghề, tìm kiếm việc làm, tham gia giao thông, dẫn đến khó khăn trong cuộc sống và hoà nhập với cộng đồng Việc làm bền vững và hiệu quả giúp người khuyết tật nhận ra nguyện vọng của họ, cải thiện điều kiện sống của mình
và tham gia tích cực hơn nữa vào xã hội, tuy nhiên trong môi trường công việc rất ít người khuyết tật có công việc ổn định và thu nhập thường xuyên Rất nhiều người khuyết tật không có công việc ở khối việc làm chính thức, tỷ lệ người khuyết tật thất nghiệp cao (khoảng 30%) Từ thực trạng đó đòi hỏi Nhà nước cần phải đứng ra, có các
cơ chế, chính sách lồng ghép nội dung người khuyết tật vào mọi lĩnh vực của chính sách và pháp luật về lao động, xúc tiến thực thi hiệu quả các chính sách hiện hành liên quan đến người khuyết tật, đồng thời mang lại cơ hội đào tạo, việc làm bình đẳng cho người khuyết tật là yếu tố góp phần giảm nghèo, đóng góp cho sự hòa nhập kinh tế-
xã hội của người khuyết tật Việt Nam
- Người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc hộ gia đình nghèo Đến năm 2008, cả nước đã phát hiện 179.735 người nhiễm HIV ở 93% số
Trang 28xã, phường thuộc 97,52% số quận, huyện, thị xã thành phố trên 63 tỉnh thành trong
đó số phát hiện mới mỗi năm không giảm mà nguyên nhân chủ yếu là lây nhiễm qua tiêm chích (các tỉnh phía bắc) dùng chung kim tiêm và lây qua đường tình dục (các tỉnh phía nam) và lây từ mẹ sang con [52]
Công tác phòng, chống HIV/AIDS là nhiệm vụ quan trọng và hết sức cần thiết ở mỗi quốc gia trên thế giới để tăng cường hiệu quả công tác đấu tranh kiềm chế, đẩy lùi HIV/AIDS góp phần ổn định, trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm phát triển kinh tế xã hội của đất nước Để làm được điều đó thì nhà nước phải có chính sách bảo trợ có tác động tích cực đến cuộc sống của những người bị nhiễm hoặc có nguy
cơ nhiễm HIV/AIDS nói chung, người nhiễm HIV không còn khả năng lao động, thuộc hộ gia đình nghèo như bảo vệ quyền được tiếp cận các dịch vụ điều trị, quyền không bị phân biệt đối xử do vấn đề HIV/AIDS, quyền được bảo vệ bản thân tạo
cơ hội để họ có việc làm, phù hợp với điều kiện bản thân, giúp họ có được cuộc sống
Thứ hai do yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường đặc biệt là khi hội nhập quốc tế tác động đến các đối tượng yếu thế đòi hỏi nhà nước phải can thiệp, trợ giúp
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử: kinh tế tăng trưởng với nhịp độ cao và tương đối ổn định, GDP bình quân đầu người đạt 640 USD vào năm 2005 đến năm 2009 đạt trên
1000 USD/người/năm[2] Đời sống của đại đa số nhân dân được cải thiện và không ngừng nâng cao, trong đó có cả nhóm người nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội Tuy vậy, thu nhập và mức sống của nhóm đối tượng bảo trợ xã hội vẫn có nguy cơ tụt hậu so với các nhóm dân cư khác
Với sự phát triển ngày càng sâu sắc của kinh tế thị trường thì hệ quả tất yếu xẩy ra đó là khoảng cách về thu nhập, về mức sống ngày càng có sự phân hoá lớn Mặt khác, do mặt trái của nền kinh tế thị trường như phân hóa giàu nghèo, chú trọng phát triển kinh tế, chạy theo lối sống thực dụng, suy thoái đạo đức phá vỡ quan hệ gia đình truyền thống làm cho nhiều người cao tuổi không được quan tâm chăm sóc,
Trang 29nhiều tệ nạn xã hội xuất hiện làm gia tăng số lượng đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt, nhiều tai nạn thương tích trong lao động, đời sống khiến nhiều người tàn tật tất cả
đã làm gia tăng số người có nhu cầu trợ giúp xã hội mà sự trợ giúp theo truyền thống tương thân tương ái không đủ lực vì vậy đòi hỏi Nhà nước muốn ổn định và phát triển phải đứng ra đầu tư cho “tấm lưới” trợ giúp xã hội
Thứ ba Việt Nam là nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, thường xuyên xẩy ra thiên tai bão, lũ lụt, hạn hán, đặc biệt sự biến đổi khí hậu toàn cầu khiến nước ta liên tục phải đối đầu với những thảm họa của thiên tai
Năm 2009, nước ta chịu ảnh hưởng của 11 cơn bão và nhiều đợt lũ lụt lớn làm 481 người chết, mất tích và 1305 người bị thương; làm trên 1 nghìn km đường giao thông cơ giới bị phá hủy; gần 100 km đê, kè bị sạt lở; hơn 25 nghìn ngôi nhà bị sập, cuốn trôi; gần 800 nghìn ngôi nhà bị sạt lở, tốc mái, ngập nước; 41,8 nghìn ha lúa và hoa màu bị mất trắng với tổng giá trị thiệt hại ước tính gần 23,2 nghìn tỷ đồng [15]
Với tần suất liên tục và thiệt hai năng nề hàng năm do thiên tại gây ra như vậy đòi hỏi Nhà nước phải đứng ra cứu trợ kịp thời để khắc phục rủi ro, giảm bớt hậu quả, ổn định đời sống kinh tế của người dân bằng các chính sách bảo trợ, trợ giúp cụ thể
1.2.2 Căn cứ xây dựng chính sách bảo trợ xã hội
Nhà nước với vai trò chủ đạo cùng với các nguồn lực khác thực hiện bảo trợ cho đối tượng yếu thế tồn tại, ổn định và có cơ hội phát triển, hòa nhập cộng đồng thông qua bảo trợ các lĩnh vực thiết yếu của đời sống đó là: đời sống, y tế, giáo dục, dạy nghề, việc làm và các dịch vụ công cộng khác chính sách của Bảo trợ xã hội có thể tóm tắt ở mô hình 1.1:
Trang 30Hình 1.1: Mô hình bảo trợ xã hội
Thứ nhất: Chăm sóc đời sống vật chất (Trợ cấp xã hội)
Bao gồm trợ cấp thường xuyên và trợ cấp đột xuất từ nhiều nguồn lực khác nhau như nguồn ngân sách nhà nước và nguồn huy động của cộng đồng, xã hội
+ Trợ cấp xã hội thường xuyên là hình thức trợ cấp đối với những đối tượng
bảo trợ xã hội trong một thời gian dài (một hoặc nhiều năm) hoặc trong suốt cả cuộc đời của đối tượng Đối tượng của trợ cấp thường xuyên là trẻ mồ côi, người già không nơi nương tựa, người tâm thần mãn tính họ không thể tự lo được cuộc sống của chính bản thân và cũng không có người thân nuôi dưỡng
Trợ cấp xã hội (TCXH) thường xuyên là loại trợ giúp bằng tiền, hiện vật mà nhà nước định ra để trợ cấp cho các đối tượng thuộc diện trợ cấp xã hội thường xuyên Trợ cấp xã hội thường xuyên không ổn định mà biến động theo thời gian, không gian Tùy vào điều kiện phát triển kinh tế của mỗi nước, sự khó khăn thiệt thòi của từng nhóm đối tượng mà mức trợ cấp cho các đối tượng qua từng thời kỳ là khác nhau, song có thể nói trợ giúp thường xuyên là khoản trợ cấp giúp cho những đối tượng hưởng trợ cấp thường xuyên có thể tồn tại và đảm bảo cuộc sống của mình ở mức tối thiểu
+ Trợ cấp xã hội đột xuất là sự hỗ trợ, giúp đỡ về vật chất, tinh thần cho
những người gặp rủi ro do thiên tai và những lý do bất khả kháng khác nhằm giúp
Đối tượng yếu thế (tiếp cận, thụ hưởng )
Sức khỏe (y tế)
Giáo dục (văn hóa)
Dạy nghề, việc làm
Dịch vụ công
Đời sống
(trợ cấp)
Nhà nước, tổ chức, cộng đồng (Thông qua chính sách, nguồn
lực tài chính )
Trang 31họ vượt qua hoàn cảnh hiểm nghèo, khắc phục hậu quả rủi ro để ổn định, hòa nhập cuộc sống
Thứ hai: Hỗ trợ chăm sóc sức khỏe thông qua chính sách bảo hiểm y tế,
khám chữa bệnh, phục hồi chức năng để huy động sự đóng góp của cộng đồng, chia sẻ nguy cơ bệnh tật và giảm bớt gánh nặng tài chính, qua đó đối tượng bảo trợ
xã hội được tiếp cận với dịch vụ y tế, được miễn một phần hoặc toàn bộ chi phí khám chữa bệnh, được điều trị phục hồi chức năng từ đó đã góp phần tích cực vào việc chăm sóc, nâng cao sức khỏe cho đối tượng bảo trợ đồng thời thực hiện mục tiêu nhân đạo trong lĩnh vực y tế và công bằng xã hội
Thứ ba: Hỗ trợ giáo dục, học văn hóa Nhà nước bằng chính sách, biện pháp
của mình hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội được tiếp cận với giáo dục, được đến trường, học văn hóa Với chính sách hỗ trợ về giáo dục giúp cho đối tượng bảo trợ xã hội được nâng cao nhận thức, giảm thiểu những khó khăn, hội nhập và phát triển từ đó tăng cường sự đóng góp cho xã hội, cộng đồng
Thứ tư: Hỗ trợ về dạy nghề, việc làm để tạo điều kiện cho những người yếu
thế nâng cao năng lực bản thân, nhanh chóng tìm được việc làm để có thu nhập ổn định đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình Nhà nước đóng vai trò chủ đạo thông qua các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề (dạy nghề, miễn giảm học phí, vay vốn ) tạo việc làm (tìm và hỗ trợ tìm việc làm, hỗ trợ vốn sản xuất ) giúp cho đối tượng được bảo trợ xã hội có được trình độ học vấn cao hơn, tự tin hơn để bước vào đời, tiếp cận được với thị trường lao động và có được cơ hội việc làm tốt nhất
Thứ năm: Hỗ trợ tiếp cận văn hóa, thể thao, các hoạt động xã hội, hòa nhập
cộng đồng Tiếp cận các công trình công cộng, tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, họat động xã hội là nhu cầu thiết yếu của con người nói chung và của nhóm những người yếu thế nói riêng Để giúp cho những người yếu thế có điều kiện phát huy tiềm năng, có cơ hội tiếp cận, tham gia với các hoạt động xã hội thì nhà nước phải có các chính sách trợ giúp nhất định đồng thời khơi dậy sự giúp đỡ của cộng đồng đối với nhu cầu hòa nhập của đối tượng yếu thế
Trang 321.2.3 Yếu tố tác động và nguồn lực thực hiện bảo trợ xã hội
1.2.3.1 Yếu tố tác động tới bảo trợ xã hội
- Nhóm nhân tố kinh tế bao gồm các yếu tố như tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân, chính sách thuế
Quy luật chung của kinh tế thị trường đó là kinh tế tăng trưởng nhanh, song kéo theo đó là sự phân hóa giàu nghèo có xu hướng tăng nhanh thể hiện thu nhập, quyền sở hữu tài sản, bất động sản, tiền vốn giữa các nhóm dân cư Mặt khác với quy luật phát triển không đồng đều, trong xã hội luôn tồn tại bộ phận nghèo tương đối trong đó có đối tượng bảo trợ xã hội vì họ là đối tượng yếu thế, chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội, bên cạnh đó cũng có bộ phận dân cư khác do có điều kiện, cơ hội thuận lợi phát triển sẽ giàu lên nhanh chóng làm cho sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc
Mặt khác kinh tế tăng trưởng, thu nhập của người dân nâng lên tức là mức sống của đại đa số nhân dân được cải thiện, tăng cao do đó mức sống tối thiểu của người dân cũng phải từng bước được nâng lên; do vậy chính bảo trợ xã hội cũng phải từng bước cải thiện cho phù hợp theo hướng:
Thứ nhất, mở rộng diện đối tượng hưởng, nâng dần mức trợ cấp xã hội, bảo
đảm mức sống tối thiểu ngày càng nâng cao cho các đối tượng bảo trợ xã hội, phù hợp với quá trình phát triển kinh tế và mức sống trung bình của cộng đồng dân cư Tuy nhiên việc xác định chế độ trợ cấp xã hội, trợ giúp khác phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của các đối tượng BTXH, song phải tính đến khả năng chi trả của ngân sách nhà nước, theo mức độ tăng trưởng của nền kinh tế Tuy vậy, phải hạn chế đến mức thấp nhất việc tăng đột biến các khoản chi tiêu cho bảo đảm xã hội nói chung và chính sách bảo trợ xã hội nói riêng
Thứ hai, bản thân việc thực hiện tốt chính sách BTXH cũng góp phần giữ vững
ổn định xã hội tạo cơ hội cho phát triển kinh tế, duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế Kinh tế muốn phát triển và tăng trưởng phải dựa trên một xã hội ổn định và an toàn
Sự ổn định, an toàn xã hội cho phép các nhà đầu tư yên tâm đầu tư mở rộng sản xuất góp phần tăng trưởng kinh tế, từ đó có nguồn lực để thực hiện bảo trợ xã hội
Trang 33Tăng trưởng kinh tế tạo nguồn lực để Nhà nước thực hiện việc từng bước mở rộng đối tượng bảo trợ xã hội, mở rộng chính sách trợ cấp xã hội, các chính sách bảo trợ hướng tới tạo cơ hội và năng lực cho đối tượng BTXH tự vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập cộng đồng Khi đối tượng bảo trợ xã hội hòa nhập cuộc sống cộng đồng, bản thân đối tượng cũng tạo ra được thu nhập, đóng góp một phần vào sự tăng trưởng kinh tế, và quan trọng hơn là nó giảm chi ngân sách nhà nước cho các đối tượng bảo trợ xã hội khi họ đã tự lực được trong cuộc sống, và lúc này họ không còn là đối tượng bảo trợ xã hội nữa
Thu nhập của người dân tăng cao, bằng chính sách thuế phù hợp, Nhà nước đóng vai trò người điều phối thực hiện phân phối lại thu nhập từ người giàu sang người nghèo và người yếu thế góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội
- Nhóm nhân tố phi kinh tế bao gồm nhận thức của xã hội, người dân, yếu tố
về văn hóa
Những nơi nhận thức của người dân cho rằng nhóm người yếu thế là gánh nặng của xã hội, có cái nhìn kỳ thị, phân biệt đối với nhóm người yếu thế thì ở đó công tác bảo trợ xã hội hạn chế, đối tượng yếu thế sẽ càng chịu nhiều thiệt thòi và không đủ tự tin để hòa nhập cộng đồng Ngược lại những nơi có truyền thống tương thân tương ái,
có trách nhiệm với xã hội cộng đồng thì đối tượng bảo trợ xã hội được quan tâm tạo điều kiện thuận lợi hòa nhập cộng đồng
1.2.3.2 Nguồn lực thực hiện bảo trợ xã hội
Mỗi xã hội đều có những nhóm người yếu thế, người bị thiệt thòi khác nhau
và những nhóm người này cũng có những thiệt thòi khác nhau vì vậy mỗi loại đối tượng có hình thức bảo trợ khác nhau cho phù hợp Những hình thức bảo trợ gồm các chương trình được thiết kế để trợ giúp cho những người yếu thế có được mức sống tối thiểu cần thiết và cải thiện cuộc sống của họ Những chương trình đó gồm
có nhiều đối tượng tham gia như Nhà nước, cộng đồng, tổ chức phi chính phủ nhằm mục tiêu chuyển các nguồn lực tới những nhóm người yếu thế Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định " Các chính sách xã hội được tiến hành theo tinh thần xã hội hóa, đề cao trách nhiệm của chính quyền các cấp,
Trang 34huy động các nguồn lực trong nhân dân tham gia và sự tham gia của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội" [12,tr4] Nguồn lực thực hiện bảo trợ xã hội thường bao gồm:
- Nguồn lực từ nhà nước: Đây là nguồn lực chính trong công tác bảo trợ xã hội Nhà nước với vai trò chủ đạo bảo trợ cho đối tượng yếu thế thông qua các cơ sở của nhà nước ở Trung ương, địa phương và được cân đối trong ngân sách nhà nước phân cấp cho các đơn vị, ngành, địa phương theo quy định của Luật ngân sách
- Nguồn lực từ các tổ chức, đoàn thể, cá nhân Những năm gần đây nguồn lực này
đã đóng góp phần không nhỏ trong việc trợ giúp cho những đối tượng yếu thế đặc biệt
là trợ giúp đột xuất cho các đối tượng gặp thiên tai, dịch bệnh Nguồn lực này nhiều khi không chịu sự chi phối, điều chỉnh của Nhà nước
- Nguồn lực từ các tổ chức phi chính phủ, nguồn lực từ quốc tế: Khi kinh tế thế giới phát triển, nhiều tổ chức quốc tế của Liên hợp quốc và tổ chức Phi chính phủ ra đời thì nguồn lực của các tổ chức này đóng góp cho hoạt động bảo trợ xã hội với nhóm đối tượng yếu thế cũng được quan tâm Ngoài việc thực hiện cho công tác cứu trợ đột xuất do thiên tai, dịch bệnh thì nguồn lực này tập trung vào các chương trình, dự án nhằm nghiên cứu chính sách hỗ trợ và đối tượng bảo trợ xã hội một cách hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam và thông lệ quốc tế
1.3.1.2 Yêu cầu của chính sách bảo trợ xã hội
- Đảm bảo tính toàn diện, bền vững, phù hợp với định hướng phát triển kinh
Trang 35tế - xã hội nhằm thực hiện công bằng xã hội và phát triển con người Với yêu cầu này về lâu dài phải gắn trách nhiệm và hưởng lợi, đóng góp và hưởng thụ, khuyến khích mọi người dân tham gia đồng thời tăng cường trách nhiệm của các chủ thể, thúc đẩy sự nỗ lực của bản thân, gia đình của đối tượng yếu thế, giảm thiểu sự lệ thuộc vào nhà nước theo hướng nhà nước chỉ cung cấp những hỗ trợ bổ sung và không thay thế nỗ lực của cá nhân
- Các chính sách hướng đến bao phủ toàn dân theo các cấp độ khác nhau, lấy các giá trị con người và quyền cơ bản của con người làm cơ sở Mọi người dân đều
có quyền được bảo trợ và tiếp cận các dịch vụ bảo trợ xã hội Đây là yêu cầu cơ bản hướng đến tiến bộ xã hội và công bằng trong phân phối và hưởng thụ các thành quả phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội theo hướng phân bổ ngày càng bình đẳng hơn,
ít loại trừ
- Đảm bảo nguyên tắc đoàn kết, tương trợ, liên kết, chia sẻ, bù đắp giữa các
cá nhân, các nhóm trong xã hội và nhà nước, thực hiện công bằng Yêu cầu này nhấn mạnh vai trò của sự tương trợ trong nội bộ và giữa các nhóm xã hội, theo đó, bảo trợ xã hội hướng đến đảm bảo nhu cầu tối thiểu thông qua việc tổng hợp và tái phân phối nguồn lực
1.3.1.3 Phương thức thực hiện chính sách bảo trợ xã hội
Có nhiều phương thức để thực hiện chính sách bảo trợ xã hội Thông thường gồm:
- Nhà nước thực hiện thông qua các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức
xã hội Hiện tại đây là phương thức chủ yếu ở nước ta
- Thông qua xã hội hóa để huy động nguồn lực cộng đồng
- Thông qua các tổ chức quốc tế
1.3.1.4 Nội dung chính sách bảo trợ xã hội
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội; song song với tăng trưởng kinh tế phải tập trung cho giảm nghèo, trợ giúp các đối tượng yếu thế Các chính sách phải tạo môi trường pháp lý- hành chính và chuẩn mực đạo đức
Trang 36xã hội phù hợp để mọi gia đình, cộng đồng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục đối tượng yếu thế, đồng thời tạo cơ hội cho các đối tượng phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, nhân cách, phát huy được kiến thức trở thành người có ích cho xã hội Tại nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đưa ra định hướng chung về chính sách phát triển
hệ thống bảo trợ xã hội:
Từng bước xây dựng chính sách bảo trợ xã hội chủ nghĩa đối với toàn dân theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, mở rộng và phát triển các công trình sự nghiệp bảo trợ xã hội, tạo lập nhiều hệ thống và hình thức bảo trợ xã hội cho những người có công với cách mạng và những người gặp khó khăn Nghiên cứu
bổ sung chính sách, chế độ bảo trợ xã hội phù hợp với quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội [9, tr.94]
Đến đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, năm 1996, đảng ta đã nhấn mạnh quan điểm tăng trưởng phát triển kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, vấn đề phân phối:
Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn khâu phân phối kết quả sản xuất, ở tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình [11, tr 113]
Đẩy mạnh các hoạt động nhân đạo từ thiện Thực hiện các chính sách bảo trợ trẻ em mồ côi, lang thang cơ nhỡ, người già neo đơn, nạn nhân chiến tranh, người tàn tật; xây dựng quỹ tình thương trích từ ngấn ách một phần và động viên toàn xã hội tham gia đóng góp; tiến tới xây dựng luật về bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi" [11, tr.116]
Sự quan tâm, định hướng của Đảng, Nhà nước đã thể hiện thông qua việc ban hành hàng loạt các văn bản tạo hành lang pháp lý để thực hiện trên thực tế, góp phần đảm bảo an sinh xã hội trong những năm qua
Năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã phá kho thóc bị Nhật chiếm đóng chia cho mọi người góp phần ngăn chặn nạn đói Sau khi thành lập
Trang 37Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chủ Tịch đã xác định rõ phải chống 3 loại giặc, trong đó có giặc đói, phát động nhường cơm sẻ áo, lập “hũ gạo tiết kiệm” trợ giúp những người nghèo khó Trong cải cách ruộng đất, người nghèo, tàn tật, neo đơn được chia ruộng, giảm tô Tháng 11/1954, Hội đồng chính phủ (HĐCP) lập Ban Cứu tế xã hội ở Trung ương và địa phương Tháng 8/1965, HĐCP ban hành Thông tư 157/CP về cứu trợ đột xuất; tháng 11/1966 ban hành Thông tư 202/CP về chính sách đối với người già không nơi nương tựa, trẻ mồ côi, người tàn tật Tháng 9/1985, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 236/HĐBT qui định lại chế độ cứu trợ thường xuyên và chế độ nuôi dưỡng các đối tượng cứu trợ xã hội ở các cơ sở tập trung
Từ khi thực hiện đổi mới kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước ta càng quan tâm thực hiện các chính sách cứu trợ, bảo trợ xã hội đối với những người có hoàn cảnh khó khăn Đặc biệt là từ năm 1995 đến nay nhiều văn bản pháp luật về bảo trợ xã hội (trợ giúp xã hội), trong đó một số văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao như: Bộ luật lao động, Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật số 64/2006/QH11 của Quốc hội về phòng, chống nhiễm vi rút gây
ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người(HIV/AIDS), Pháp lệnh người tàn tật số 06/1998/PL - UBTVQH ngày 30/7/1998, Pháp lệnh người cao tuổi của Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 28/4/2000, Nghị định 05/CP ngày 26 tháng
1 năm 1994 của Chính phủ quy định chế độ trợ cấp đối với các đối tượng chính sách
xã hội, Nghị định 55/1999/NĐ - CP ngày 10/7/1999 hướng dẫn và quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh người tàn tật, Quyết định số 301/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hành động quốc gia về Người cao tuổi giai đoạn 2005-2010, Quyết định số 65/2005/QĐ-TTg ngày 25/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án "Chăm sóc trẻ mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị
bỏ rơi, trẻ em tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học và trẻ em nhiễm HIV/AIDS dựa vào cộng đồng giai đoạn 2005-2010, Quyết định số 70/1998/QĐ-TTg ngày 31/3/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc thu và sử dụng học phí ở các
sơ sở giáo dục và đào tạo công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, Nghị định số
Trang 3867/2007/NĐ - CP của Chính phủ về chính sách chế độ trợ giúp xã hội, Nghị định số 13/2010/NĐ-CP của Chính phủ về bổ sung, sửa đổi một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, Quyết định số 31/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 Các văn bản pháp luật đã quy định rõ phạm vi hưởng, đối tượng, chế độ, nguồn tài chính thực hiện bảo trợ xã hội cho các nhóm đối tượng yếu thế, làm cơ sở cho việc triển khai thực hiện bảo trợ xã hội ở nước ta
* Đối tượng bảo trợ xã hội ở Việt Nam
Cùng với sự phát triển của đất nước thì đối tượng bảo trợ xã hội ở nước ta cũng được quan tâm và ngày càng mở rộng
Nghị định số 236/HĐBT ngày 18/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng về bổ sung, sửa đổi một số chế độ, chính sách về thương binh xã hội thì đối tượng được trợ cấp xã hội mới chỉ bao gồm: trẻ mồ côi, trẻ suy dinh dưỡng, trẻ bị bại liệt, người già yếu, người tàn tật không nơi nương tựa nếu ở tập trung tại các cơ sở bảo trợ xã hội được cấp sinh hoạt phí bằng 110 đồng, nếu ở cộng đồng thì được xét cứu tế một lần hoặc thường kỳ đảm bảo cho mỗi người hàng tháng thấp nhất cũng có được một khẩu phần lương thực đủ sống
Đến năm 2000 đối tượng bảo trợ quy định tại Nghị định 07/2000/NĐ -CP ngày 09/3/2000 của Chính phủ quy định về Chính sách cứu trợ xã hội cũng đã mở rộng cho 04 nhóm đối tượng hưởng trợ cấp thường xuyên là: (1) Trẻ em mồ côi là trẻ em dưới 16 tuổi, mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi, bị mất nguồn nuôi dưỡng
và không còn người thân thích để nương tựa; Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ, nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại Điều 78 của Bộ Luật Dân
sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; (2) Người già cô đơn không nơi nương tựa là người từ đủ 60 tuổi trở lên sống độc thân Người già còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa, không có nguồn thu nhập Trường hợp là phụ nữ
cô đơn không nơi nương tựa, không có nguồn thu nhập, từ đủ 55 tuổi trở lên,
Trang 39hiện đang được hưởng trợ cấp cứu trợ xã hội vẫn tiếp tục được hưởng; (3) Người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập và không có nơi nương tựa; người tàn tật nặng tuy có người thân thích nhưng họ già yếu hoặc gia đình nghèo không đủ khả năng kinh tế để chăm sóc;(4) Người tâm thần mãn tính là người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y
tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm và có kết luận bệnh mãn tính, sống độc thân không nơi nương tựa hoặc gia đình thuộc diện đói nghèo với mức hỗ trợ từ 45.000đ/đối tượng/tháng đến 150.000đ/đối tượng/tháng rồi nâng mức lên từ 65.000đ/đối tượng/tháng đến 180.000đ/đối tượng/ tháng theo Nghị định số 168/2004/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung nghị định 07/2000/NĐ-CP)và 7 loại đối tượng được cứu trợ đột xuất (một lần)
Hiện tại, theo quy định tại Luất người cao tuổi số 39/2009/QH12 Luật người khuyết tật số 51/QH12, nghị định 67/2007/NĐ-CP và Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/2/2010 của Chính phủ về bổ sung, sửa đổi một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về Chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội tại điều 4 (Nghị định 67/2007/N Đ-CP), điều 1 (Nghị định 13/2010/N Đ-CP) quy định đối tượng bảo trợ xã hội gồm 9 nhóm hưởng trợ cấp thường xuyên hàng tháng và 8 nhóm đối tượng gặp hoàn cảnh khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc những lý do bất khả kháng được hưởng trợ cấp đột xuất (một lần):
a/ Đối tượng trợ cấp thường xuyên
(1) Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại Điều 78 của Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; trẻ em có cha và mẹ, hoặc cha hoặc
mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng; trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ gia đình nghèo
Người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nhưng đang đi học văn hóa, học nghề, có hoàn cảnh như trẻ em nêu trên
(2) Người cao tuổi cô đơn, thuộc hộ gia đình nghèo; người cao tuổi còn vợ
Trang 40hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo (theo chuẩn nghèo được Chính phủ quy định cho từng thời kỳ) gọi là người già cô đơn không nơi nương tựa
(3) Người từ đủ 80 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội
(4) Người tàn tật nặng không có khả năng lao động hoặc không có khả năng
tự phục vụ
(5) Người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm
(6) Người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc hộ gia đình nghèo
(7) Gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi
(8) Hộ gia đình có từ 02 người trở lên tàn tật nặng không có khả năng lao động không có khả năng tự phục vụ, người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm
(9) Người đơn thân thuộc diện hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi; trường hợp con đang đi học văn hoá, học nghề được áp dụng đến dưới 18 tuổi
b/ Đối tượng gặp HCKK do hậu quả thiên tai hoặc những lý do bất khả kháng được hưởng trợ cấp đột xuất (một lần):
- Hộ gia đình có người chết, mất tích;
- Hộ gia đình có người bị thương nặng;
- Hộ gia đình có nhà bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng;
- Hộ gia đình bị mất phương tiện sản xuất, lâm vào cảnh thiếu đói;
- Hộ gia đình phải di dời khẩn cấp do nguy cơ sạt lở đất, lũ quét;
- Người bị đói do thiếu lương thực;
- Người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú dẫn đến bị thương nặng, gia đình không biết để chăm sóc;