1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Skkn phương pháp dạy viết văn biểu cảm về sự vật cho đối tượng học sinh trung bình yếu lớp 7

36 214 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 225 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu: -Đưa ra phương pháp dạy cách viết văn biểu cảm về sự vât cho đối tượnghọc sinh trung bình, yếu ở lớp 7 một cách cụ thể, tỉ mỉ trong từng khâu, từngbước trong quá trì

Trang 1

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ.

1.Lí do chọn đề tài nghiên cứu:

Mục tiêu chung của giáo dục phổ thông là: Giáo dục con người Việt Namphát triển toàn diện, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lựccủa công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc…Nằmtrong mục tiêu chung đó, môn Ngữ văn trong trường phổ thông có một vị tríquan trọng, góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn, có ý thức

tự tu dưỡng, biết yêu thương quý trọng gia đình, bạn bè; biết hướng tới nhữngtình cảm cao đẹp như lòng nhân ái tinh thần tôn trọng lẽ phải, lòng căm ghét cáixấu cái ác Rèn luyện để tự lập, có tư duy sáng tạo bước đầu có năng lực cảmthụ các giá trị chân- thiện- mĩ trong nghệ thuật trước hết là trong văn học, cónăng lực thực hành và năng lực sử dụng Tiếng Việt như một thứ công cụ giaotiếp và tư duy phục vụ cho học tập ở trường và phục vụ cho đời sống trong giađình và ngoài xã hội

Do nhu cầu phát triển mới của xã hội, môn Ngữ văn không còn bị “nép vế”

so với các môn tự nhiên như những năm trước Nó có một vị trí xứng đáng hơn,được phụ huynh và học sinh quan tâm hơn Vì thế mà chất lượng của môn Ngữvăn trong các kì thi tốt nghiệp, thi vào các trường Đại học, Cao đẳng, Trung họcchuyên nghiệp được nâng cao, khong còn xuất hiện những bài văn “ngây ngô”hay những bài làm dài bốn mặt giấy mà thí sinh chỉ chép lại đề bài rồi nộp nhưnhững năm về trước nữa

Hơn nữa, chủ trương của Bộ giáo dục là : Đổi mới kiểm tra, đánh giá chấtlượng học tập ở tất cả các bộ môn theo hướng phát triển năng lực và phẩm chấtcủa người học Đề thi đánh giá học sinh ở bốn mức độ : nhận biết, thông hiểu,vận dụng và vận dụng cao Riêng môn Ngữ văn thì thi theo hình thức tự luận.Nghĩa là khả năng viết, khả năng thực hành sử dụng tiếng Việt phải được sửdụng triệt để ở mức độ cao nhất Do vậy, việc dạy cách viết văn cho học sinhngay từ các lớp dưới là điều vô cùng cần thiết Bởi phân môn Tập làm văn vừa

là nơi học sinh thể hiện kết qủa học tập của hai phân môn: văn học và tiếng Việtvừa là nơi để học sinh thực hành kĩ năng nói và viết tiếng Việt theo những yêucầu gắn các em với môi trường xã hội Nó còn là chìa khóa giúp các em mởcánh cửa tương lai, giúp các em tiến xa hơn, làm chủ tương lai của mình Nóitóm lại, đổi mới phương pháp dạy cách viết văn là một điều vô cùng cần thiết,phải làm ngay

Là người giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn, tôi rất băn khoăn vềviệc học tập của các em Làm thế nào để nâng cao chất lượng bộ môn, nâng cao

Trang 2

khả năng viết văn của học sinh, nhất là khả năng viết văn của đối tượng học sinhtrung bình- yếu là cả một vấn đề đặt ra với cả người học và người dạy Trò phảihứng thú, say mê viết văn mà không sợ khó, không lệ thuộc quá nhiều vào bàivăn mẫu Thầy phải phát huy được tính tích cực, say mê học tập ở trò, đem đếnniềm vui, sự tự tin cho các em nhất là đối tượng học sinh trung bình- yếu Đó làđiều mà tôi luôn luôn trăn trở.

Vì thế, tôi đã dành nhiều thời gian suy nghĩ và thể nghiệm phương pháp dạycách viết văn nhiều năm và thực hiện đổi mới phương pháp dạy cách viết văncho đối tượng học sinh trung bình- yếu, góp phần nâng cao chất lượng của mônhọc

2 Mục đích nghiên cứu:

-Đưa ra phương pháp dạy cách viết văn biểu cảm về sự vât cho đối tượnghọc sinh trung bình, yếu ở lớp 7 một cách cụ thể, tỉ mỉ trong từng khâu, từngbước trong quá trình việc tạo lập văn bản nhằm nâng cao hiệu quả viết văn biểucảm.Tổ chức các giờ thực hành viết văn biểu cảm đơn giản, hiệu quả, nhẹnhàng, tạo hứng thú cho học sinh mà ở đó giáo viên chỉ là người gợi mở dẫn dắt,học sinh là chủ thể của hoạt động

3 Nội dung nghiên cứu:

Nội dung đề tài đề cập đến: Các bước làm một bài văn biểu cảm; cách tìm ý;cách phát triển ý; cách viết đoạn;cách diễn đạt; cách chuyển ý, chuyển đoạn;cách;cách đưa yếu tố miêu tả, tự sự vào bài văn biểu cảm Bên cạnh đó là các ví

dụ minh họa làm rõ nội dung đề tài qua các bài làm cụ thể của học sinh và thầy

cô trong quá trình giảng dạy

4.Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu:

-Phương pháp dạy cách viết văn biểu cảm cho đối tượng học sinh trungbình, yếu ở lớp 7

-Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 7 trường THCS

5 Thành phần tham gia nghiên cứu:

-Đề tài xây dựng trong phạm vi chương trình Ngữ văn lớp 7 ở THCS của tôi,năm học 2015-2016

6 Phương pháp nghiên cứu:

Đối với đề tài này tôi sử dụng phương pháp sau:

Trang 3

-Phương pháp nghiên cứu lý luận: tìm hiểu những thông tin lý luận về thểloại văn biểu cảm trên các phương tiện: sách báo, sách giáo khoa, sách thamkhảo, mạng internet.

-Phương pháp điều tra: Trò chuyện với học sinh để hiểu được nhữngvướng mắc, trăn trở của học sinh trong quá trình viết văn biểu cảm từ đó có biệnpháp tháo gỡ

-Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Trao đổi với đồng nghiệp nhữngkinh nghiệm trong dạy cách viết văn biểu cảm để nâng cao trình độ chuyên môn

-Phương pháp thử nghiệm: Áp dụng các phương pháp đã nghiên cứu vàoviệc dạy cách viết văn biểu cảm cho học sinh trung bình, yếu lớp 7-TrườngTHCS Năm học 2015-2016

7 Kế hoạch nghiên cứu:

Học kì I Nghiên cứu, thử nghiệm Rút ra nhưng kinh

Để đạt được điều này, cần phải đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổchức dạy học đối với phân môn tập làm văn- Một phân môn mà từ trước đến nay

cả người dạy và người học đều thấy khô và khó

Dạy học nhằm phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh đòi hỏi phải tổchức hoạt động học tích cực, tự lực và sáng tạo cho học sinh, phải gắn liền vớithực tiễn Dạy viết văn biểu cảm cho học sinh trung bình –yếu giáo viên cần sửdụng phương pháp phù hợp, sử dụng tối đa thời gian cho học sinh thực hành, các

Trang 4

tiết luyện tâp, thời gian học bồi dưỡng, các tiết tự chọn để các em vận dụng kiếnthức đã học vào bài làm một cách hiệu quả.

Học sinh cần được coi là trung tâm của các hoạt động, phát huy tính tíchcực, chủ động, sáng tạo góp phần rèn luyện năng lực, phẩm chất cho người họctheo chủ trương của Bộ giáo dục đã đề ra Đổi mới phương pháp dạy cách viếtvăn biểu cảm cho đối tượng học sinh trung bình- yếu là việc làm vô cùng cầnthiêt để tạo hiệu quả cho môn học

2.Cơ sở thực tiễn.

Đáp ứng yêu cầu của mục tiêu giáo dục mới, đòi hỏi người giáo viên phảisuy nghĩ: Làm thế nào để nâng cao chất lượng môn học, khả năng viết văn chohọc sinh Để hoàn thành nhiệm vụ này người giáo không chỉ có kiến thức vữngvàng về thể loại Tập làm văn mình đang dạy mà cần phải tìm tòi, sáng tạo ranhững phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh để các em có thể tiếpthu một cách tốt nhất Từ đó mới khơi dậy khả năng, niềm say mê học tập ở họcsinh

Nhiều người quan niệm rằng: viết văn hay là do năng khiếu Tôi khôngphủ nhận điều này Nhưng không phải ai sinh ra cũng có năng khiếu trời cho ấy.Bởi, dạy tập làm văn trong trường phổ thông phần lớn là đối tượng học sinhtrung bình khá, trung bình, yếu Vậy làm thế nào để việc viết văn trở nên dễdàng Không còn là mối lo ngại ở các em Tôi thiết nghĩ, dạy viết văn cũnggiống như dạy toán, nó cũng có những « công thức « chung, có khuôn mẫuchung cho các dạng đề tập làm văn Nhất là với đối tượng học sinh trung bình –yếu, trong quá trình dạy ta nên đưa ra một công thức chung Để từ công thức đóhọc sinh nhìn vào mà áp dụng, thì việc viết văn sẽ trở nên dễ dàng hơn

Trong những năm gần đây chất lượng môn Ngữ văn trong các kì thi tốtnghiệp, Đại học, Cao đẳng….đã được cải thiện nhiều nhưng chưa cao Điều đólàm cho chúng ta không khỏi băn khoăn và càng thấy sự cấp bách của việc thayđổi phương pháp dạy học

Tình trạng trên do nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân cơ bản là dạyviết văn(Tập làm văn) là phân môn khô và khó, các chỉ dẫn về phương phápchưa nhiều, kiến thức trong sách giáo khoa còn ở dạng hàn lâm, chung chungkhó hiểu, giáo viên chưa đi sâu, tìm tòi, sáng tạo để tìm ra một phương pháp phùhợp nhất cho các đối tượng học sinh Những chỉ dẫn trong SGK chỉ phù hợp vớiđối tượng học sinh khá trở lên còn với đối tượng học sinh trung bình- yếu thìcòn hàn lâm, khó hiểu nên các em rất sợ viết, ngại viết Chỉ viết những bài viết

Trang 5

bắt buộc trong chương trình vì thế mà khả năng làm bài tự luận học sinh khôngđược rèn luyện nhiều.

Đổi mới phương pháp dạy cách viết văn cho học sinh trung bình- yếu làđiều vô cùng quan trọng và cấp thiết để đáp ứng mục tiêu giáo dục trong thời đạimới, phù hợp với định hướng chung của Bộ giáo dục trong kì thi trung học phổthông quốc gia về môn Ngữ văn : Thi theo hình thức tự luận Viết được văn, làmđược văn- Là chìa khóa mở cánh cửa tương lai Làm cho các em thấy được niềmsung sướng, niềm hạnh phúc, sự tự tin khi tự mình viết được một bài văn màtrước đây các em rất sợ viết Chỉ khi nào viết văn trở thành nhu cầu : muốn học,muốn viết thì khi đó chất lượng môn học mới được đảm bảo

Để kiểm tra khả năng viết văn của các em tôi đã cho các em làm bài kiểm travào đầu năm học Kết quả thu được như sau :

3 Các biện pháp, cải tiến.

Biện pháp 1: Hướng dẫn cách tìm ý, lập dàn ý cho bài văn.

a Tìm ý:

Bài văn của một học sinh giỏi phải đảm bảo hai yêu cầu cơ bản:”Có ý và cóchất văn” (Văn- Bồi dưỡng học sinh năng khiếu của tác giả Nguyễn ĐăngMạnh- Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội) Điều đó khẳng định tầm quantrọng của hệ thống ý trong một bài văn Với học sinh trung bình- yếu việc cóchất văn trong bài thật khó nhưng nhất thiết phải có ý thì người đọc mới hiểungười viết muốn nói gì, truyền tải thông điệp gì Cũng như bất kì bài văn nàotrong bài văn biểu cảm, việc tìm ý rất quan trọng, nó giúp các em xác định đượcnhững nội dung chính, ý chính được triển khai trong phần thân bài Nó còn giúplàm rõ các đặc điểm trạng thái của tình cảm được thể hiện đầy đủ hơn, sâu sắchơn Tìm ý góp phần tạo ra tính liên kết, tính mạch lạc trong văn bản vì đề bài lànội dung chính còn các ý tìm được là nội dung được trẻ nhỏ ra từ nội dung chínhnên làm và thực hiện bước tìm ý bản chất của nó đã làm cho bài văn mạch lạc về

ý nghĩa, liên kết về nội dung

Trang 6

Có nhiều cách tìm ý khác nhau Tùy theo từng đề bài cụ thể hoặc đối tượngbiểu cảm mà ta áp dụng cách tìm ý cho phù hợp Ngoài bốn cách tìm ý trongsách giáo khoa, tôi mạnh dạn đưa ra một số cách tìm ý sau:

*Tìm ý dựa vào đặc điểm của đề bài:

Có hai dạng: Đề mang tính chất cụ thể hóa đối tượng biểu cảm và đề mang nộidung chung Cách tìm ý này áp dụng cho các đề mang tính chất cụ thể Khi gặpdạng đề này chỉ cần dựa vào đặc điểm của đối tượng biểu cảm đưa ra trong đềbài mà tìm ý

Ví dụ1: Cho đề bài :Cảm xúc của em về bốn mùa của đất nước

Đề này chỉ ra bốn ý rất rõ ràng:

+ Tình cảm của em với mùa xuân

+ Tình cảm của em với mùa hạ

+ Tình cảm của em với mùa thu

+ Tình cảm của em với mùa đông

Ví dụ 2: Cho đề bài: Vui buồn tuổi thơ

Ta dễ dàng tìm được hai ý sau:

+ Niềm vui tuổi thơ

+ Nỗi buồn tuổi thơ

*Tìm ý dựa vào thời gian:

Cách tìm ý này áp dụng cho các đề bài có tính chất chung, chỉ nêu rađối

tượng biểu cảm chứ không nêu ra các khía cạnh cụ thể như ở trên Đặc biệt làloại đề bài biểu cảm về cây cối, phong cảnh thiên nhiên, ta tìm ý bằng cách đặtcây cối hoặc phong cảnh thiên nhiên đó vào các mùa trong năm vì mỗi mùaxuân, hạ, thu, đông những đối tượng trên có vẻ đẹp riêng, đặc trưng riêng các

em sẽ dễ dàng thể hiện cảm xúc của mình

Ví dụ: Đề bài: Cảm nghĩ về cây phượng

Đặt cây phượng vào thời gian bốn mùa ta tìm được các ý sau:

+ Cảm xúc của em về cây phượng trong mùa xuân

+ Cảm xúc của em về cây phượng trong mùa hè

+ Cảm xúc của em về cây phượng trong mùa thu

+ Cảm xúc của em về cây phượng trong mùa đông

Một số đối tượng biểu cảm khác ta có thể áp dụng cách tìm ý theo thờigian một ngày : Sáng, trưa, chiếu, tối Tương ứng với mỗi thời gian đó làmột ý

*Tìm ý dựa vào đặc điểm của đối tượng biểu cảm.

Trang 7

Cách tìm ý này áp dụng cho đề bài mà đối tượng biểu cảm là con ngườihoặc con vật Gặp dạng đề này ta tìm ý bằng cách chỉ ra các đặc điểm của đốitượng biểu cảm: Đặc điểm về ngoại hình, đặc điểm về tính cách, đặc điểm vềhoạt động (việc làm) Mỗi đặc điểm ấy là một ý và mỗi ý đó triển khai thànhmột đoạn văn.

Ví dụ: Cho đề bài: Cảm nghĩ của em về mẹ

Dựa vào các đặc điểm trên ta tìm được các ý cho phần thân bài như sau:

+ Cảm xúc của em về ngoại hình của mẹ

bố cục bài viết không rõ ràng, không khoa học, thiếu ý, tình cảm không đầy đủ,không sâu sắc

Muốn lập được dàn bài một bài văn học sinh cần dựa vào hai cơ sở:

+ Bố cục của bài văn biểu cảm.

Trang 8

-Ý nghĩa của đối tượng biểu cảm trong cuộc sống của con người Khi học sinh biết cách tìm ý và thuộc lòng bố cục chung bài văn biểu cảm,tôi đưa về dạng “mô hình” dàn bài cho các dạng đề văn biểu cảm như sau:

-Dạng bài biểu cảm về cây cối, phong cảnh thiên nhiên:

Mô hình:

Mở bài:

- Giới thiệu chung về loài cây (Phong cảnh thiên nhiên)

- Lí do em yêu thích loài cây ấy

Thân bài:

- Cảm xúc của em về loài cây ấy trong mùa xuân

- Cảm xúc của em về loài cây ấy trong mùa hè

- Cảm xúc của em về loài cây ấy trong mùa thu

- Cảm xúc của em về loài cây ấy trong mùa đông

Kết bài:

- Khẳng định lại tình cảm của em về loài cây ấy

- Ý nghĩa của loài cây ấy trong cuộc sống của con người

-Dạng bài biểu cảm về con người hoặc con vật:

Mô hình :

Mở bài:

-Giới thiệu chung về người thân( con vật)

- Lí do em yêu thích người thân (con vật)

Trang 9

Thân bài:

- Cảm xúc của em về ngoại hình của người thân ( con vật)

- Cảm xúc của em về tính nết của người thân( con vật)

- Cảm xúc của em về việc làm(hoạt động) của người thân( con vật)

Kết bài:

- Khẳng định lại tình cảm của em về loài cây ấy

- Ý nghĩa của loài cây ấy trong cuộc sống của con người

Nhớ được mô hình ấy thì việc lập dàn bài sẽ trở nên dễ dàng với học sinh nhất là đối tượng học sinh trung bình, yếu

Biện pháp 2: Hướng đẫn cách viết phần mở bài.

Mở bài có một vai trò và tầm quan trọng khá đặc biệt Vị trí của nó bao giờ cũng nằm ở đầu bài Do vậy một mở bài hấp dẫn sẽ tạo hứng thú cho người đọc, tạo âm hưởng chung cho toàn bài Độ dài của phần mở bài phải cân xứng với thân bài và kết bài cần viết ngắn gọn, khéo léo có sự thu hút không nên dài dòng, vòng vo không ăn khớp với phần sau hoặc mãi không vào được đề

Có hai cách mở bài: Trực tiếp và gián tiếp

Mở bài trực tiếp:

Là cách mở bài giới thiệu thẳng với người đọc cảm nghĩ về đối tượng biểu cảm Nội dung phần mở bài cân đảm bảo ba yếu tố: Nêu cảm nghĩ về sự vật + Thời gian + Địa điểm Ta sẽ có mô hình sau:

Mô hình mở bài trực tiếp:

Nêu cảm nghĩ về sự vật, con người………Ở đâu…………Lúc nào………

Chú ý:

-Ở đâu: Ở vườn nhà em, ở công viên, ở đầu làng, ở giữa sân trường em… -Lúc nào: Đã lâu lắm rồi, đã hơn mười năm, đã mấy chục năm, vào dịp phát động tết trồng cây……

Với ba số 1,2, 3 học sinh có thể tự viết 6 kiểu mở bài trực tiếp: 123- 132-231- 213- 321- 312

Trang 10

Mở bài gián tiếp:

Là cách mở bài không đi thẳng vào vấn đề mà gợi mở vào đề bằng cách đưa ra : Một câu thơ, một câu nói, một âm thanh, một lời đối thoại… sau đó mới dẫn dắt vào đề Cách này làm cho mở bài hay hơn hấp dẫn và gây hứng thú cho người đọc Nhưng cần chú ý không nên dài dòng, lan man

Ta có mô hình sau :

Mô hình mở bài gián tiếp :

1 Gợi mở vào đề : Bằng cách đưa ra một câu thơ( một câu hát, câu ca dao, tục ngữ), một câu nói, một âm thanh, một lời đối thoại…

2 Nêu cảm nghĩ về sự vật, con người :

Cảm xúc về sự vật, con người +Ở đâu …+Lúc nào…

Khi viết mở bài gián tiếp thì phần giới thiệu chỉ cần thông tin số 1, còn thông tin số 2 và 3 có hay không cũng được Chú ý cách dẫn dắt để

Trang 11

kết nối giữa phần gợi mở với phần giới thiệu cảm xúc chung và đối tượngbiểu cảm.

Ví dụ 1 : Đề bài : Cảm nghĩ về mẹ

Mở bài bằng một câu thơ( Câu hát) :

Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào, tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào, lời mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào……Mỗi khi giai điệu ngọt ngào, êm ái của bài hát Lòng mẹ vang lên trong lòng em lại trào dâng một tình yêu thương mẹ của em Một người mẹ mà em vô cùng yêu thương và kính trọng

Mở bài bằng một âm thanh :

Cút…kít….cút ….kít….Âm thanh quen thuộc của chiếc xe đạp vang lên

ngoài cổng Em trai em cười tít mắt, chạy ra ngay mở cửa Một bóng hình gần gũi hiện ra Đó chính là mẹ em, người mẹ mà em vô cùng yêu thương và kính trọng

Mở bài bằng một câu nói :

Nam ơi ! Dậy thôi con, ôn lại bài rồi ăn sáng còn đi học chứ!

Đó là câu nói quen thuộc, ngập tràn tình yêu thương mà ngày nào tôi cũng được nghe vào mỗi buổi sáng Không ai khác đó chính là người mẹ kính yêu củatôi đấy

Mở bài bằng một lời đối thoại:

-Ai là người quan trọng nhất với cậu?

- Đó là người luôn bên cạnh yêu thương chăm sóc mình cả những lúc mạnh khỏe và những lúc ốm đau Một người bạn mà cả đời này mình không bao giờ quên được

- Mình biết rồi, đó là mẹ cậu phải không?

-Ừ, đó chính là mẹ của mình, người mà mình luôn yêu thương và kính trọng nhất

Biện pháp 3: Hướng dẫn viết phần thân bài.

Phần thân bài là phần trọng tâm có nhiệm vụ triển khai, phát triển ý chính đã được ghi trong dàn bài đã lập Đề bài là chủ đề lớn, mỗi ý là một chủ đề nhỏ, vì

Trang 12

thế mỗi ý sẽ triển khai thành một đoạn văn Do vậy khi viết bài yêu cầu học sinhbám sát vào từng ý trong dàn bài đã lập ở trên.

Giáo viên cần hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ từng khâu, từng công đoạn trong

quy trình viết một đoạn văn Đây là điều kiện tốt nhất để học sinh trung bình- yếu có thể tự mình viết được một đoạn văn mà không cần sử dụng văn mẫu Hướng dẫn học sinh trung bình- yếu viết các đoạn văn trong phần thân bài tôi chú trọng và các bước sau:

+ Hướng dẫn viết câu chủ đề của đoạn

+ Hướng dẫn tìm “Chất liệu” đề viết đoạn

+ Hướng dẫn cách thể hiện cảm xúc, tình cảm

+ Hướng dẫn cách diễn đạt các “chất liệu” thành lời văn

+ Hướng dẫn cách liên kết các đoạn văn, các ý trong đoạn văn

*Hướng dẫn viết câu chủ đề:

Câu chủ đề là câu mang nội dung chính của cả đoạn văn Nó bao hàm nội dung của các câu khác trong đoạn Việc xác định chủ đề cho đoạn văn không khó vì đã có mô hình, căn cứ vào đó có thể nhận ra ngay chủ đề của đoạn văn mình đang viết là gì.Hướng đẫn học sinh viết câu chủ đề cho đoạn văn biểu cảm tôi có mô hình sau:

Mô hìnhcâu chủ đề trong đoạn văn biểu cảm:

Từ ngữ gọi tên cảm xúc + Đối tượng biểu cảm và thời gian nó xuất hiện.

(Đối tượng biểu cảm và đặc điểm của đối tượng)Lưu ý: Có từ ngữ gọi tên những cảm xúc giúp hs phân biệt với văn miêu tả

Ví dụ1:

Trang 13

Viết câu chủ đề cho đoạn văn: Cảm xúc của em về cây phượng trong mùa xuân thì câu chủ đề phải có hai yếu tố: Cảm xúc + Cây phượng trong mùa xuân.

-Thật thích thú biết bao / khi ngắm nhìn cây phượng trong mùa xuân

Cảm xúc / đối tượng bc trong thời gian nó xuất hiện

Thật thích thú biết bao=> là phần thể hiện cảm xúc, đây là điểm khác biệt giữa văn biểu cảm với văn miêu tả

Ví dụ 2:

Viết câu chủ đề cho đoạn văn: Cảm xúc của em về ngoại hình của mẹ Ta có thể viết các câu chủ đề như sau:

-Em không bao giờ quên được hình ảnh người mẹ yêu quý của em

-Hình ảnh của mẹ không bao giờ phai mờ (luôn in đậm) trong trái tim em

*Hướng dẫn tìm “Chất liệu” để viết đoạn:

Tôi đặc biệt quan tâm đến công việc này.Trước đây tôi đã áp dụng các bước làm bài như trong chương trình SGK để dạy cách viết văn nhưng hiệu quả không cao, chỉ có kết quả ở các em học sinh khá trở lên Còn đối tượng học sinh trung bình-yếu hầu như không có kết quả Trao đổi, trò chuyện với các em hầu hết đều có câu trả lời giống nhau: Em đã học thuộc lòng 4 bước làm văn, đã tìm

ý, lập dàn bài nhưng đến bước viết bài em vẫn không biết được, không biết viết cái gì Tôi tiếp tục đi sâu tìm hiểu, đặt mình vào vị trí của các em Nghĩa là tôi cũng làm văn, cũng viết những bài văn mà mình hướng dẫn các em viết Cuối cùng , tôi nhận thấy đề các em viết văn biểu cảm một cách đơn giản nhất, dễ

nhất là : Phải tìm “Chất liệu” để viết các đoạn văn

Như đã nói ở trên, nếu dàn bài là bộ khung xương thì “Chất liệu” chính là phần da thịt để làm lên một cơ thể sống- một bài văn hoàn chỉnh “ Văn chương

là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng” (Ý nghĩa văn chương, tác giả Hoài Thanh- Ngữ văn 7 tập 1) tác giả Hoài Thanh muốn nói với chúng ta rằng: văn chương có công dụng phản ánh sự sống, mỗi một tác phẩm là một hình ảnh cuộc sống được thu nhỏ Vậy thì, một bài văn nói chung, bài văn biểu cảm nói riêng của học sinh cũng không thể viết cái gì xa rời cuộc sống được Do vậy, tôi đưa ra cách tìm “chất liệu” như sau:

Trang 14

Quan sát rồi liệt kê tất cả các đặc điểm đặc trưng nhất, nổi bật nhất của đối tượng biểu cảm trong thực tế cuộc sống, các hoạt động của con người

và bản thân liên quan đến đối tượng biểu cảm phù hợp với chủ đề của đoạn văn.

Ví dụ:

Khi viết đoạn văn: Cảm xúc của em về mùa thu trong đề bài Cảm nghĩ của

em về bốn mùa của đất nước Tôi cho cả lớp tìm chất liệu bằng cách liệt kê những đặc điểm đặc trưng nhất, nổi bật nhất của mùa thu và những hoạt động của con người liên quan đến mùa thu:

+ trời trong xanh, mát mẻ

+ Gió heo may

+ Đồng lúa chín vàng

+ Lá vàng rụng nhiều

+ Tết trung thu

+ Ngày hội khai trường

Rồi trình bày những cảm xúc của mình về chất liệu nào mà mình ấn tượng, mình yêu thích nhất

Ví dụ 2: Khi viết đoạn văn: Cảm xúc của em về cây phượng trong mùa hè,

ta liệt kê những đặc điểm đặc trưng nhất, nổi bật nhất của cây phượng trong mùa

hè và những hoạt động của con người liên quan đến cây phượng trong mùa hè:

+ Lá phượng xanh thẫm, xòe tán xum xuê

+ Chim chóc kéo đến

+ Tiếng ve kêu râm ran

+ Nụ hoa tròn, xanh biếc

+ Hoa phượng nở đỏ chói:( Màu sắc, hương thơm)

+ Trò chơi chọi gà, ép bướm

+ Hoa phượng nở là lúc mùa thi đến với những lo toan

+ Phượng nở là lúc học sinh được nghỉ hè, xa trường, xa thầy cô, xa bạn bè

Trang 15

Ví dụ 3: Viết đoạn văn: Cảm xúc của em về việc làm của mẹ, ta kể ra các hoạt động của mẹ trong cuộc sống hàng ngày:

+ Việc nhà (nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa…)+ Việc học của em

+ Việc đồng áng

+ Việc nấu ăn

+ Việc trồng rau

+ Việc chăn nuôi

+ Việc ở cơ quan

Các chất liệu tìm được cần phải sắp xếp theo trình tự hợp lí: Trình tự không gian, thời gian, tâm lí, chính phụ

(Bài làm minh họa ở phần sau)

*Hướng dẫn cách thể hiện cảm xúc, tình cảm :

Với học sinh khá giỏi, không cần dùng những từ ngữ gọi tên những tình cảm, cảm xúc mà người đọc vẫn cảm nhận được cảm xúc dạt dào qua các từ ngữ, hình ảnh Nhưng với học sinh trung bình- yếu, nếu không hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ các em không phân biệt được văn miêu tả với văn biểu cảm Nhiều em khẳng định: em thấy văn biểu cảm với văn miêu tả giống nhau cô ạ Do vậy, để giúp các em biết được cách viết văn biểu cảm khác với văn miêu tả thì giáo viên phải hướng dẫn cụ thể, chỉ ra được điểm khác biệt Cách hướng dẫn cụ thể là:

Phải dùng nhiều từ ngữ biểu cảm, câu cảm thán gọi tên những cảm xúc trong lòng mình Ví dụ:

- Từ ngữ biểu cảm: Yêu nhất…, thương lắm…, nhớ nhất…, thích nhất…, thú vị lắm…, tôi yêu nhất là…, thương làm sao… , đẹp nhất là , ngon quá…

- Câu cảm thán: Chao ôi…,Đẹp quá…,Xem kìa…,mới đẹp làm

sao…,Quên sao được…,Tuyệt làm sao…,Em không thể nào quên….,Em còn nhớ mãi…

(Bài làm minh họa ở phần sau)

*Hướng dẫn cách diễn đạt từng “Chất liệu” thành lời văn :

Với mỗi một chất liệu, khi diễn đạt thành câu văn tôi yêu cầu học sinh thực hiện theo mô hình sau:

Trang 16

Chú ý: Yếu tố tự sự, miêu tả chỉ là phương tiện để gửi gắm tình cảm

Nhằm mục đích làm rõ cảm xúc vì sao mình thích, vì sao mình yêu, vì sao mình thấy đẹp

Biện pháp 4: Hướng dẫn viết phần kết bài.

Kết bài là phần cuối cùng Vị trí của nó bao giờ cũng nằm ở phần cuối bài văn, để lại dư âm, gợi suy nghĩ cho người đọc Độ dài phải cân xứng với mở bài

và kết bài, không nên viết dài dòng không ăn khớp với các phần trên

Có hai kiểu kết bài:Kết bài đóng ý và kết bài mở rộng Hướng dẫn học sinh viết kết bài tôi đưa về dạng mô hình như sau:

-Kết bài đóng ý: Là phần cuối cùng trong bài văn kết thúc ý chính của cả

bài( còn được gọi là kết bài không mở rộng)

Mô hình kết bài đóng ý:

Trang 17

Nêu suy nghĩ: hiểu… (1)

Nêu tình cảm, cảm xúc: yêu , ghét ,tự hào…(2)

Nêu hành động: Cố gắng học tập…,noi gương…(3)

*Lưu ý: Với ba số 1, 2, 3 học sinh có thể viết 6 kiểu kết bài

đóng ý: 123, 132, 231, 213, 312, 321 như ở phần mở bài.

Ví dụ: Đề bài: Cảm nghĩ về cô giáo em

Kết bài:

- Nêu suy nghĩ: hiểu tấm lòng của cô giáo (1)

- Nêu tình cảm: yêu quý cô giáo (2)

cố gắng học thật giỏi để không phụ lòng mong mỏi của cô

-Kết bài mở rộng: Là phần cuối cùng trong bài văn vừa kết thúc ý chính của cả

bài vừa mở ra một hướng mới gợi suy nghĩ cho người đọc Hướng dẫn học sinh viết kết bài mở rộng tôi cũng đưa về dạng mô hình như sau:

Mô hình kết bài mở rộng:

a, - Nêu suy nghĩ: hiểu… (1)

- Nêu tình cảm, cảm xúc: yêu , ghét ,tự hào…(2)

- Nêu hành động: Cố gắng học tập…,noi gương…(3)

( Có thể dùng một hoặc cả ba yếu tố trên)

b, Mở rộng: Nêu một câu hỏi, đưa ra một câu văn….

Ví dụ: Ví dụ: Đề bài: Cảm nghĩ về cô giáo em

Kết bài:

a - Nêu suy nghĩ: hiểu tấm lòng của cô giáo (1)

Trang 18

- Nêu tình cảm: yêu quý cô giáo (2)

- Nêu hành động: cố gắng học tập (3)

b- Mở rộng: Nêu ra câu hỏi

- Mỗi khi nhớ về cô, em càng hiểu thêm tấm lòng nhân hậu, tận tụy của mộtngười mẹ hiền thứ hai trong đời em Càng hiểu cô bao nhiêu em càng yêu quý

cô bấy nhiêu và tự hứa sẽ cố gắng học tập thật giỏi để không phụ lòng mong mỏicủa cô Không biết có bao nhiêu người học trò cảm nhận được điều này như em,nếu không cô sẽ rất buồn long và truyền thống tốt đẹp Tôn sư trọng đạo của dântộc Việt Nam ta sẽ ra sao?

- Mở rộng đưa ra một câu văn: Mỗi khi nhớ về cô, em càng hiểu thêm tấm lòng

nhân hậu, tận tụy của một người mẹ hiền thứ hai trong đời em Càng hiểu cô baonhiêu em càng yêu quý cô bấy nhiêu em tự hứa sẽ cố gắng học tập thật giỏi đểkhông phụ lòng mong mỏi của cô và sẽ yêu quý kính trọng thầy cô nhiều hơn.Đúng như câu ca dao xưa đã dạy:

“ Muốn sang thì bắc cầu kiềuMuốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”

Biện pháp 5: Hướng dẫn cách liên kết các đoạn văn, các ý trong đoạn văn.

Liên kết là một trong những tính chất quan trọng nhất của văn bản Nótạo nên mối liên hệ chặt chẽ giữa các câu trong đoạn văn, giữa các đoạn trongvăn bản Mối quan hệ này được thể hiện ở cả hai mặt: nội dung và hình thức

1 Liên kết về nội dung:

Thể hiện ở liên kết về chủ đề và liên kết logic, tức là các ý được sắp xếptheo một trình tự hợp lí, cùng hướng tới một chủ đề, một đề tài nhất định Điềunày được thể hiện rất rõ khi ta thực hiện thao tác tìm ý và lập dàn bài Vì đề bài

là nội dung chính( chủ đề, đề tài) còn các ý tìm được là nội dung được trẻ nhỏ ra

từ nội dung chính nên làm và thực hiện bước tìm ý bản chất của nó đã làm chobài văn mạch lạc về ý nghĩa, liên kết về nội dung

2 Liên kết về hình thức:

Liên kết về hình thức chính là việc sử sử dụng các phương tiện liên kếtcủa ngôn ngữ để nối các câu, các đoạn, làm cho chúng gắn bó chặt chẽ vớinhau nhằm biểu hiện nội dung của văn bản

*Hướng dẫn liên kết các đoạn văn trong một bài văn:

Ngày đăng: 03/03/2021, 10:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w