Tiếng Việt còn là phương tiện giáo dục và là nơi nuôidưỡng tâm hồn các em trở thành những con người có đầy đủ những phẩm chất chân-thiện -mĩ, giáo dục các em biết yêu thiên nhiên, hòa nh
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
DẠY HỌC BÀI: “NHÂN HÓA” (SGK Ngữ Văn 6, tập 2,NXB giáo dục)
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
Lĩnh Vực /Môn: Ngữ văn Cấp học :Trung học cơ sở
NĂM HỌC 2018 – 2019
MÃ SKKN:
Trang 2SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CHƯƠNG MỸ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
DẠY HỌC BÀI: “NHÂN HÓA” (SGK Ngữ Văn 6, tập 2, NXB giáo dục)
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
Lĩnh Vực /Môn: Ngữ văn Cấp học : Trung học cơ sở Tên tác giả : Nguyễn Thị Thủy Đơn vị công tác :Trường THCS Lương Mỹ Chức vụ : Giáo viên - tổ khoa học Xã hội
NĂM HỌC 2018 – 2019
Trang 3
II.Giải quyết vấn đềNhững biện pháp đổi mới hoặc cải tiến
5
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Trong môn Ngữ văn, phân môn Tiếng Việt là chìa khóa để học tốt bộ môn ngữ văn, là công cụ để học tốt các môn học khác Bởi vậy, chúng ta cũng cần đặc biệt quan tâmđến phân môn Tiếng việt, thông qua phân môn này cung cấp cho học sinh công cụ để có
Trang 4Việt, trân trọng bản sắc dân tộc Tiếng Việt còn là phương tiện giáo dục và là nơi nuôidưỡng tâm hồn các em trở thành những con người có đầy đủ những phẩm chất chân-thiện -mĩ, giáo dục các em biết yêu thiên nhiên, hòa nhập với thiên nhiên từ đó bồi dưỡnglòng vị tha, lòng nhân ái và tình yêu quê hương đất nước nhất là qua các biện pháp tutừ.Trong đó, Nhân hoá là biện pháp tu từ rất quan trọng trong việc hình thành nhân cáchcho học sinh, khiến học sinh gần gũi, yêu thích thế giới xung quanh: Bởi nhờ nhân hoá,các con vật, đồ vật, trở nên sống động, có hồn, có tính cách như con người, trở thànhngười bạn thân thiết của các em Nhân hoá được sử dụng rất nhiều trong văn thơ viết chothiếu nhi Nhân hoá góp phần nâng cánh ước mơ, phát triển năng lực cảm thụ và khảnăng tư duy cho các em.
Trong chương trình ngữ văn 6, Bài học “ Nhân hóa” (SGK Ngữ Văn 6, tập 2, NXBgiáo dục) sẽ giúp học sinh bắt đầu hiểu được mối liên quan giữa các biện pháp tu từ vàgiao tiếp khi nói và viết, Đối với học sinh Trung học cơ sở hiện nay, khả năng ngôn ngữkhi giao tiếp còn hạn chế, bài học “Nhân hóa” ngoài việc giúp các em phát triển tư duycòn nâng cao năng lực cho việc viết văn của các em thêm sáng tạo, hấp dẫn , nâng caokhả năng ngôn ngữ để giao tiếp với thế giới xung quanh
Bài Tiếng Việt “Nhân hóa” trang 56, Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 6, tập 2, đề cập khá sâu về phương diện lí thuyết qua khái niệm nhân hóa và các kiểu nhân hóa
Nếu dạy theo phương pháp truyền thống thì bài học sẽ rất khô khan, học sinh không nắm bắt được nội dung chính của bài học Nhiều phương diện lí thuyết khiến học sinh khó nhớ và dễ nhầm lẫn khi thực hành vào bài tập Các em không có thói quen hệ thống lại kiến thức nên rất nhanh quên bài học, điều đó sẽ gây khó khăn cho cả giáo viên
và học sinh khi ôn tập lại kiến thức đã học
Thực tiễn đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục phổ thông đòi hỏi giáo viên phải
có sự đổi mới về phương pháp dạy học Trong đó dạy học theo định hướng phát triển năng lực sẽ nâng cao tính tích cực của học sinh trong việc tư duy bài học và làm việc
Trang 5nhóm, giảm tối đa sự thụ động của học sinh, kích thích khả năng tìm tòi kiến thức của các
em trong bài học
Từ những lí do trên, tôi chọn đề tài Dạy học bài “Nhân hóa” theo định hướng
phát triển năng lực làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Nhằm trao đổi với đồng nghiệp về việc vận dụng phương pháp định hướng phát triểnnăng lực cho học sinh dễ hiểu , dễ nhớ, thích học phân môn tiếng việt Nhằm giúp giáoviên dạy ngữ văn có thể áp dụng vào giảng dạy môn ngữ văn một cách sinh động Giúpcho học sinh hứng thú hơn với bộ môn Tiếng việt trong chương trình ngữ văn cấpTHCS
3 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu phương pháp định hướng phát triển năng lực cho học sinh khi học có
hiệu quả và nâng cao chất lượng giảng dạy môn học.
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp giảng dạy môn ngữ văn nhằm nâng cao chất lượng giáo dục củatrường tôi trong bối cảnh hiện nay
4.2 Khách thể nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu việc dạy bài “Nhân hóa” (SGK Ngữ Văn lớp 6, tập 2) Bài
“Nhân hóa” được học từ trang 56 đến trang 59 (SGK) và có thể áp dụng dạy Tiếng việtcho tất cả các khối 7,8,9 học Tiếng việt tiếp theo chuyên sâu
Trang 65.2 Giới hạn về nội dung nghiên cứu:
Đề tài này tôi chỉ đi sâu nghiên cứu về phương pháp định hướng phát triển nănglực cho học sinh khối lớp 6 khi học bài “Nhân hóa” (SGK Ngữ văn lớp 6, tập 2) tạitrường THCS Lương Mỹ, nhằm tổng kết đánh giá công tác giảng dạy bộ môn và đề
ra các biện pháp giảng dạy mới để nâng cao chất lượng giảng dạy cho các năm tiếptheo
6.Phương pháp nghiên cứu.
-Dùng phương pháp miêu tả để giới thiệu khái niệm nhân hóa và các kiểu nhân
hóa Miêu tả bài học “Nhân hóa” (SGK Ngữ Văn 6, tập 2) theo định hướng phát triểnnăng lực
-Phương pháp nghiên cứu lý luận
-Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp sưu tầm ngữ liệu
- Phương pháp phân tích,tổng hợp, khái quát, so sánh đối chiếu
- Dạy thử nghiệm trên lớp
-Trực quan, khảo sát, thực nghiệm
7 Kế hoạch nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trong 1 năm là: Năm học 2018- 2019
Thời gian Nội dung Kết quả
Học kì 1 Nghiên cứu, thử nghiệm Rút ra những kinh nghiệm
Học kì 2 Viết đề cương và hoàn thiện, áp
dụng thực tế, so sánh đối chiếu
Hoàn thành sáng kiến
PHẦN II: NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI HOẶC CẢI TIẾN
1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
Học sinh lớp 6 là lứa tuổi học sinh đang ở giai đoạn dậy thì, có sự phát triển mạnh
mẽ về tâm sinh lý, khả năng tiếp thu nhanh nhưng khả năng tập trung không cao, dễ chán nản, hiếu động Hơn nữa các em vừa bước vào một môi trường mới lạ đòi hỏi cao hơn ở
Trang 7các em khả năng tiếp nhận kiến thức.Vừa bước vào môi trường THCS, các em còn bỡ ngỡ vì vậy các em cũng sẽ lúng túng với cách giảng dạy và phương pháp truyền đạt của thầy cô trong việc học tập bộ môn Hơn nữa, kiến thức mà các em phải tiếp thu nhiều hơn, yêu cầu ở mức độ cao hơn ,mỗi môn học là một môn khoa học độc lập Vì vậy, nếu phương pháp truyền đạt của cô không đổi mới theo định hướng phát triển năng lực của học sinh thì sẽ dễ gây chán nản cho các em, các em sẽ không tiếp thu được những kiến thức cần có trong giờ học.
2 Thực trạng của vấn đề
Yêu cầu hiểu biết về môn Tiếng việt , nhu cầu cuộc sống hiện tại và tương lai đặtcho giáo viên ngữ văn một nhiệm vụ: Làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy và họcmôn Tiếng việt , kích thích sự hứng thú học cho học sinh Để hoàn thành nhiệm vụ nàyđòi hỏi giáo viên dạy Tiếng việt không chỉ có kiến thức vững vàng về bộ môn Tiếng việt
mà còn phải có những hiểu biết vững chắc về các bộ môn khác như : địa lý, sinh học,nghệ thuật, khoa học…để vận dụng vào tiết dạy Tiếng việt làm phong phú và hấp dẫnthêm bài giảng
Tuy nhiên, thực trạng của việc dạy và học Tiếng việt trong nhà trường phổ thônghiện còn những tồn tại là nội dung của nhiều bài giảng Tiếng việt còn rất khó hiểu đốivới các em học sinh mới lên từ cấp một, nên chưa tạo được sự hứng thú cho việc học đốivới học sinh Học sinh còn hiểu một cách rời rạc, máy móc về kiến thức Mặc dù có sựthay đổi nhưng hiện nay, việc dạy học môn Tiếng việt chưa hoàn thành tốt vai trò củamình vì một thực tế đáng buồn là học sinh không thích học môn Tiếng việt, nó khô cứng ,khó vận dụng vào bài tập , còn lúng túng khi sử dụng kiến thức vào các đoạn văn Các emtiếp thu kiến thức một cách hời hợt, thiếu chính xác, thiếu hệ thống Vì đa phần kiến thứcđược nhắc đi nhắc lại nên không tránh khỏi sự chủ quan Hệ thống kiến thức lan giải ởnhiều cấp nên học sinh không muốn học
Trang 8Trong những năm gần đây kết quả các kì thi đại học, cao đẳng cho thấy đa số họcsinh làm bài kết quả không được cao , điều đó làm cho chúng ta không khỏi băn khoăn vàcàng thấy sự cấp bách của việc thay đổi phương pháp dạy học.
Tình trạng trên do nhiều nguyên nhân gây nên song cơ bản không phải do bảnthân môn Tiếng việt mà do quan niệm, phương pháp dạy học chưa phù hợp, chưa đápứng được yêu cầu môn học đề ra Giáo viên dạy Tiếng việt chưa phát huy được thế mạnhcủa bộ môn, chưa chỉ ra cho các em nhận thức được đây là bộ môn khoa học, cần phải có
sự học tập, nghiên cứu nghiêm túc và sáng tạo thì mới vận dụng được tốt Giáo viên cònnặng về trình bày , giảng giải mà chưa phối kết hợp được các phương pháp học vì thế,không khí trong giờ học Tiếng việt trở nên khô khan, nặng nề, nên học sinh rơi vào tìnhtrạng thụ động, chưa phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh làm cho khôngkhí học tập mệt mỏi thiếu chất lượng
3.
Mô tả, phân tích các giải pháp hoặc cải tiến mới
Trước khi dạy, tôi tiến hành khảo sát nội dung bài học
* Khảo sát mục tiêu bài học
- Về kiến thức: Giúp học sinh nêu được khái niệm nhân hóa, chỉ ra được các kiểu nhân
hóa, hiểu được tác dụng chính của nhân hóa
-Về kĩ năng: Học sinh biết sử dụng các kiểu nhân hóa trong bài viết của mình
- Về thái độ: Học sinh nhận ra vẻ đẹp và sự giàu có của tiếng Việt và phép tu từ nhân hóa
trong tiếng Việt Từ đó, học sinh thêm yêu quý tiếng Việt
Nhận xét:
- Mục tiêu trên là phù hợp với học sinh lớp 6 Tuy nhiên, sách giáo viên soạn mục tiêu quá sơ sài và không nên dùng từ “nắm được” mà nên dùng những từ sau: nêu ra được, nhận biết được, hiểu được, ghi nhớ được
*Khảo sát hoạt động tiến trình bài học:
Hoạt động khởi động: Trong truyện “Dế Mèn phiêu lưu ký” chúng ta thấy được thế giớiloài vật cũng sinh động phong phú như thế giới của con người Để có thể xây dựng được
Trang 9một thế giới sinh động như thế, nhà văn Tô Hoài đã sử dụng phép nhân hoá Vậy nhânhóa là gì? Nhân hóa có tác dụng gì trong nghệ thuật sáng tạo văn bản?Có mấy kiểu nhânhóa? Chúng ta sẽ tìm hiểu trong bài học ngày hôm nay.
Khái niệm 3
Theo SGK Ngữ văn 6 tập 2, NXB giáo dục, “Nhân hóa là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật, bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối, sự vật, con vật khiến cho chúng trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ tình cảm của con người”
So sánh ba khái niệm trên thì cả ba khái niệm có những điểm giống và khác nhau như sau:
Giống nhau: các khái niệm đều chỉ ra được nhân hóa là một biện pháp tu từ nhằm biến
con vật, sự vật , đồ vật giống như con người
Khác nhau: Theo khái niệm của SGK dùng từ ngữ gần gũi , dễ hiểu, đơn giản, học sinh
dễ tiếp nhận hơn
b.Các kiểu nhân hóa:
Trang 10Mỗi nhân hoá khi sử dụng sẽ đạt một mục đích riêng, hiệu quả riêng và nhằm một tác dụng riêng.Nhân hoá giúp người ta thể hiện tình cảm một cách tế nhị, tinh tế.Nhân hoá làm cho thế giới xung quanh thêm sinh động, hồn nhiên Từ đó, chúng trở thành người bạn của trẻ thơ, giúp trẻ dễ nhận biết thế giới xung quanh Nhân hoá có tác dụng giáo dục rất phù hợp với tâm lí tuổi thiếu niên
Khi phân loại nhân hoá có nhiều quan điểm khác nhau : SGK cho rằng có ba kiểu nhân hóa
1 Dùng những từ vốn gọi người để gọi vật
2 Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động, tính chất của vật.
3 Trò chuyện, xưng hô với vật như đối với người.
- Tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ” GD- 1999) đã tóm gọn nhân hoá trong hai hình thức cấu tạo:
+ Dùng từ chỉ tính chất, hoạt động của con người để biểu thị tính chất, hoạt động cho đốitượng không phải là con người
+Coi đối tượng không phải là người như con người để tâm tình, trò chuyện
-Tác giả Phan Thị Thạch (Giáo trình phong cách học tiếng việt, NXB Hà Nội, 1992) cùng tác giả nghiên cứu về phương pháp khác thì xét các kiểu nhân hoá của tiếng việt phân chia thành 3 kiểu:
+Có thể dùng những từ ngữ chỉ tính chất, hoạt động của con người để gán cho đối tượngkhông phải là con người: chạy, nhảy, khóc, vui, cười,
+Có thể dùng các từ ngữ chỉ quan hệ thân thuộc của con người để gọi tên các đối tượng không phải là người: ông, bà, chú, bác,
+Coi sự vật không phải là người như con người để tâm tình, trò chuyện với chúng
-Các tác giả: Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Thị Tú, Nguyễn Thái Hoà trong cuốn “Phong cách học tiếng Việt” (NXB Hà Nội, 1982) thì lại cho rằng nhân hoá có thể tổ chức bằng hai cách:
Trang 11+Dùng các tính từ miêu tả, các động từ hành vi của người để chỉ các đối tượng không phải là người.
+Coi các đối tượng không phải là người như con người để tâm tình, trò chuyện với chúng
Giáo viên phân tích ngữ liệu ở phần 1 Cho học sinh đọc ngữ liệu của bài “Mưa” - Trần Đăng Khoa
Phần 1 Tìm phép nhân hóa trong khổ thơ sau:
Ông trờiMặc áo giáp đen
Ra trậnMuôn nghìn cây míaMúa gươm
KiếnHành quânĐầy đường
(Trần Đăng Khoa)
GV tiến hành hỏi :Các sự vật nào được nói đến trong đoạn thơ trên?
GV hỏi: Bầu trời được gọi bằng đại từ gì?
? Các hành động: ra trận, mặc áo giáp… là hành động của ai?
Trong VD được dùng để chỉ hành động của các sự vật, con vật gì?
Em hiểu thế nào là nhân hóa?
Nhân hóa: biến những sự vật vô tri vô giác thành những sự vật có hồn, mang đặc điểmtính chất của con người
Nhận xét: phần ngữ liệu trên là hay và hấp dẫn, gây thích thú cho HS lớp 6, học sinh rất
dễ nhận ra sự vật nào được nhân hóa tuy nhiên chỉ có một VD thì hơi ít
- GV đưa ra các ví dụ ở bài 2
Trang 12? Trong cách diễn đạt ở khổ thơ trên với cách diễn đạt sau, em thích cách diễn đạt nào?
Vì sao?
- Cách diễn đạt của nhà thơ Trần Đăng Khoa hấp dẫn hơn Vì bằng thủ pháp nhân hóanhà thơ đã thổi hồn vào các sự vật khiến nó trở thành một thể giới rất sinh động, có suynghĩ hành động như con người, gần gũi với con người
? Vậy phép nhân hóa có tác dụng gì?
Cho HS đọc ghi nhớ
? Lấy ví dụ: gọi 3 HS lấy VD
Nhận xét: Qua kết quả thống kê khảo sát ta thấy, phần này SGK viết chưa khoa học, theo tôi SGK nên bố trí là “2: Tác dụng của phép nhân hóa” nhưng SGK lại chỉ viết dưới dạng bài tập, gây khó hiểu cho HS khi chuẩn bị bài trước ở nhà hay tự học, và cũng chỉ có một ví dụ thì hơi ít để HS có thể nhận ra tác dụng của phép nhân hóa
theo tôi phần này SGK nên bố trí là: 1.Khái niệm 2.Tác dụng
Phần II: Các kiểu nhân hóa:
1 Ví dụ: Trong các câu dưới đây, những sự vật nào được nhân hóa?
a) Từ đó, lão Miệng, bác Tai, cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay lại thân mật sống với nhau,
mỗi người một việc không ai tị ai cả
(Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng)
b) Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù Tre xung phong vào xe tăng, đại bác Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín
(Thép mới)
c) Trâu ơi, ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng , trâu cày với ta
Trang 13a Miệng, Tai, Mắt, Chân, Tay.
b Gậy tre, chông tre ; Tre
c Trâu
2.Nhận xét :
Dựa vào các từ in đậm, cho biết mỗi sự vật trên được nhân hóa bằng cách nào?
a, -> dùng từ gọi người để gọi vật
b, nhân hóa bằng dùng các từ chỉ hành động tính chất người để chỉ tính chất của vật:+ giữ, chốnghành động
+ anh hùng tính chất
c, xưng hô trò chuyện với vật như với người
Bài tập nhanh : So với cách diễn đạt sau, cách miêu tả sự vật, hiện tượng ở khổ thơ
trên hay hơn ở chỗ nào?
- Bầu trời đầy mây đen
- Muôn nghìn cây mía ngả nghiêng, lá bay phấp phới
- Kiến bò đầy đường
GV cho HS thảo luận nhóm sau đó gọi các nhóm trình bày kết quả.Phần này hơi khó, HS qua phân tích ví dụ phải so sánh hai cách diễn đạt và chỉ ra được tác dụng của Nhân hóa.Cho HS đọc ghi nhớ SGK
Nhân hóa là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật, bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật, trở nên gần gũi với con người; biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người.
Có ba kiểu nhân hóa thường gặp là:
1 Dùng những từ vốn gọi người để gọi vật.
2 Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động, tính chất của vật.
3 Trò chuyện, xưng hô với vật như đối với người.
Trang 14Phần III Luyện tập;
SGK có 5 bài tập với 3 dạng:
Bài tập 1 - Yêu cầu học sinh chỉ ra sự việc được nhân hóa và tác dụng của phép nhân hóaBến cảng lúc nào cũng đông vui Tàu mẹ, tàu con đậu đầy mặt nước Xe anh, xe em tíu tít nhận hàng về và chở hàng ra Tất cả đều bận rộn
(Phong Thư)Bài tập này phù hợp với nhận thức của HS lớp 6, kiến thức yêu cầu ở mức độ dễ
sự việc được nhân hóa là :
- Tác dụng là: Nhờ nhân hóa nên người đọc dễ hình dung ra cảnh bến cảng nhộn nhịp và
hoạt động của bến cảng rất sinh động Miêu tả được không khí đông vui bận rộn củachính con người đang lao động ở đây
Bài tập 2 - So sánh cách diễn đạt giữa đoạn văn sử dụng phép nhân hóa và đoạn vănkhông sử dụng phép nhân hóa
Đoạn 1: Nhân hóa Đoạn 2: Không nhân hóaĐông vui Rất nhiều tàu xe
Tàu mẹ tàu con Tầu lớn,tầu bé
Xe anh, xe em Xe to, xe nhỏTíu tít nhận hàng vào ra Nhận hàng về trở hàng raBận rộn Hoạt động liên tục
Đoạn văn 2 : khô khan hơn, kém hấp dẫn, nó chỉ mang tính thông báo bình thường
Bài tập 3 : So sánh cách viết trong đoạn văn
cho HS thảo luận nhóm Cho các nhóm trình bày kết quả
GV chốt: Ở cách 1 là diễn đạt bằng văn bản biểu cảm