Tình trạng thiếu nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam là vô cùng nghiêm trọng. Điều dưỡng phải đối mặt với nhiều áp lực công việc, điều kiện làm việc kém và thu nhập thấp. Tuy nhiên, tại Việt Nam, khái niệm sự kiệt sức (Burnout) vẫn chưa được đề cập đến.
Trang 1Một nghiên cứu về mối quan hệ giữa Burnout và chất lượng cuộc sống
của các điều dưỡng tại bệnh viện quận Thủ Đức, 2018
Hoàng Lê Phương Anh1, Ya-Fen Lien
TÓM TẮT
Bối cảnh: Tình trạng thiếu nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam là vô cùng nghiêm trọng Điều
dưỡng phải đối mặt với nhiều áp lực công việc, điều kiện làm việc kém và thu nhập thấp Tuy nhiên, tại Việt Nam, khái niệm sự kiệt sức (Burnout) vẫn chưa được đề cập đến.
Mục tiêu: Mục đích của nghiên cứu này là để điều tra mức độ Burnout của điều dưỡng, và
khám phá những ảnh hưởng của Burnout đến chất lượng cuộc sống của họ.
Phương pháp: Nghiên cứu này là một thiết kế cắt ngang được tiến hành từ tháng 12 năm
2017 đến tháng 5 năm 2018 280 điều dưỡng của bệnh viện Thủ Đức tại Việt Nam đã được phỏng vấn với bảng câu hỏi có cấu trúc Bảng câu hỏi bao gồm “các yếu tố nhân khẩu học”,
“thang đo MBI” và “thang đo SF-36” T-test, ANOVA, tương quan Pearson và phân tích hồi quy được sử dụng để phân tích dữ liệu.
Kết quả: (1) Điều dưỡng có Burnout ở mức độ trung bình thấp, và chất lượng cuộc sống là
vừa phải (2) Có mối tương quan đáng kể giữa nhân khẩu học và Burnout, bao gồm giới tính, trình độ, khoa, ca làm việc và thâm niên làm việc tại khoa (3) Có mối quan hệ tiêu cực đáng
kể giữa Burnout và chất lượng cuộc sống (4) Trình độ và Burnout dự đoán 17,6% sự khác biệt
về chất lượng cuộc sống.
Kết luận: Có bằng chứng rõ ràng rằng Burnout ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống
của các điều dưỡng Do đó các nhà quản lý y tế cần quan tâm nhiều hơn trong việc ngăn ngừa Burnout ở điều dưỡng và nâng cao chất lượng cuộc sống của họ.
Từ khóa: Burnout, chất lượng cuộc sống, điều dưỡng
A study on the relationship between burnout and quality of life
among nurses in Thu Duc district hospital, 2018
Hoang Le Phuong Anh1, Ya-Fen Lien
SUMMARY
Background: There is a serious shortage of nursing staff in Vietnam In general, they have
been confronting numerous work pressures, poor working conditions and lower incomes However, in Vietnam the concept of "burnout" has been ignored
Objective: The purpose of this study was to investigate the levels of the burnout among nurses,
and to further explore the effects of the burnout on their quality of life.
Methods: This study is a cross-sectional design 280 nurses of Thu Duc hospital in Vietnam
were interviewed with structured questionnaires Questionnaires included “Demographic Inventory”, “MBI scale”, and “SF-36 Scale” T-test, ANOVA, Pearson’s correlation, and Regression Analysis were used to analyze data.
Results: (1) The nurses had low and middle levels of the burnout, and moderate levels of the
quality of life (2) There were significant correlations between demography and burnout,
1 Thạc sỹ Điều dưỡng, phòng Điều dưỡng, bệnh viện quận Thủ Đức
Email: phuonganh246812@gmail.com , SĐT: 0909574246
Trang 2including gender, education, department, main work shift, and years in this department (3) There is a significant negative relationship in many sub-scales of the burnout and quality of life scale (4) Education and burnout predicted 17.6% of the variance in quality of life.
Conclusion: There were clear evidences that the nurses experienced burnout and then their
quality of life was negatively affected Health care managers need to pay more attention to prevent burnout in nursing and improve the quality of their lives.
Key Words: Burnout, quality of life, nurses
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Global Health Observatory (2013), khoảng 48% các nước thành viên của WHO
có dưới 3 nhân viên điều dưỡng và nữ hộ sinh trên 1000 dân Mặc dù điều dưỡng là một nghề đòi hỏi cao trong xã hội, nó đóng vai trò trung tâm trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở tất cả các quốc gia, kể cả ở các nước phát triển hoặc đang phát triển [4] Tuy nhiên, họ đang chịu nhiều áp lực và căng thẳng trong công việc Do đó, nhiều điều dưỡng cảm thấy mệt mỏi, căng thẳng và kiệt sức vì làm việc quá sức và họ muốn rời bỏ công việc [4] Trong quá trình điều trị cho bệnh nhân, điều dưỡng là người đồng hành với bệnh nhân, chăm sóc và phục
vụ bệnh nhân Công việc của họ rất khó khăn và chịu áp lực Tuy nhiên mức lương không phù hợp với thời gian và nỗ lực mà các điều dưỡng đã bỏ ra Đây là lý do tại sao nhiều điều dưỡng
đã bỏ nghề Trong số những người bỏ việc, một số chuyển đến các bệnh viện khác, một số chuyển sang nghề khác, một số ở nhà
Thống kê Y tế Việt Nam cho thấy một bệnh viện đa khoa trung bình có khoảng 650 giường bệnh Mỗi điều dưỡng phải chăm sóc cho hơn 40 bệnh nhân mỗi ngày Để hoàn thành nhiệm vụ, điều dưỡng không chỉ đối mặt với áp lực từ bệnh nhân mà còn phải đối mặt với các vấn đề khác như mối quan hệ, môi trường làm việc và thu nhập
Tuy nhiên, tại Việt Nam, khái niệm về sự kiệt sức (Burnout) đã bị bỏ qua, không có nghiên cứu nào đề cập đến chúng Đây là một nghiên cứu thực tế nhằm cung cấp thông tin hữu ích, dự báo tình trạng Burnout của điều dưỡng tại Việt Nam
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục đích chung của nghiên cứu này nhằm mục đích điều tra mức độ Burnout và chất lượng cuộc sống của điều dưỡng Mục tiêu cụ thể bao gồm:
(1) Khám phá đặc điểm nhân khẩu học, mức độ Burnout và chất lượng cuộc sống của điều dưỡng;
(2) Kiểm tra mối quan hệ giữa đặc điểm nhân khẩu học, Burnout và chất lượng cuộc sống giữa điều dưỡng;
(3) Điều tra các yếu tố dự báo quan trọng về chất lượng cuộc sống của điều dưỡng
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Theo Freudenberger, “burnout” là thuật ngữ được sử dụng để xác định trạng thái mệt mỏi hoặc thất vọng đối với sự cống hiến cho một cách sống, hoặc mối quan hệ, hoặc cảm giác
Trang 3thất bại trong việc tạo ra phần thưởng mong đợi Các định nghĩa được ghi nhận thường xuyên nhất về Burnout xuất phát từ Maslach (1986): “Burnout là một hội chứng kiệt sức tình cảm, cá nhân hóa, giảm thành tích cá nhân; có thể xảy ra giữa các cá nhân làm công việc tiếp xúc với con người”[9]
Burnout đã được tìm thấy chỉ xảy ra trong một số nghề nghiệp chuyên ngành, trong đó những người bị kiệt sức thường là các chuyên gia thường phải tương tác trực tiếp với người nhận, chẳng hạn như bệnh nhân, sinh viên, khách hàng, người tiêu dùng hoặc tội phạm Vì vậy, theo quan điểm của các nhà nghiên cứu, Burnout giới hạn trong các nhóm nghề nghiệp hỗ trợ và hỗ trợ bao gồm chăm sóc sức khỏe, giáo dục và dịch vụ con người
Cherniss là một trong những người đầu tiên đề xuất một mô tả đơn giản về sự kiệt sức như là một quá trình: Giai đoạn đầu tiên liên quan đến sự mất cân bằng giữa các nguồn lực và nhu cầu Giai đoạn thứ hai là căng thẳng cảm xúc, mệt mỏi và kiệt sức ngay lập tức, ngắn hạn Giai đoạn thứ ba bao gồm một số thay đổi về thái độ và hành vi, chẳng hạn như xu hướng đối
xử với khách hàng một cách cơ học và gây rối, hoặc sự lo lắng của một người hoài nghi về việc đáp ứng nhu cầu của họ
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xác định chất lượng cuộc sống là nhận thức của cá nhân
về vị trí của họ trong cuộc sống trong bối cảnh của các hệ thống văn hóa và giá trị mà họ sống
và liên quan đến mục tiêu, kỳ vọng, tiêu chuẩn, mối quan tâm của họ Đó là một khái niệm rộng rãi bị ảnh hưởng một cách phức tạp bởi sức khỏe thể chất, trạng thái tâm lý, mức độ độc lập, quan hệ xã hội, niềm tin cá nhân và mối quan hệ của họ với các đặc điểm nổi bật của môi trường
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cắt ngang
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Các điều dưỡng ký hợp đồng chính thức đã tham gia vào nghiên cứu Điều dưỡng vắng mặt trong thời gian nghiên cứu (bao gồm nghỉ sau sinh, nghỉ phép sau kỳ nghỉ, nghỉ phép không lương, nghỉ ốm, đi công tác,…) đã bị loại khỏi danh sách tham gia nghiên cứu
Lấy mẫu ngẫu nhiên được phân tầng đã được sử dụng trong nghiên cứu này Cỡ mẫu
234 được sử dụng theo phương pháp của Krejcie & Morgan để đại diện cho ý kiến của 590 điều dưỡng của bệnh viện [7] Để tránh bị mất mẫu trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã thêm 20% vào tổng số mẫu Do đó, kích thước mẫu thực tế là 280
CÔNG CỤ THU THẬP SỐ LIỆU
Bảng câu hỏi cấu trúc bao gồm ba phần: các yếu tố nhân khẩu học, thang đo MBI (Maslach Burnout Inventory) và thang đo SF-36 (36-Item Short Form Survey)
XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
Dữ liệu được phân tích bằng SPSS phiên bản 22.0 T-test, ANOVA, tương quan Pearson và phân tích hồi quy được sử dụng để phân tích dữ liệu
Trang 4ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này được sự cho phép của Đại học Meiho, Đài Loan và Bệnh viện Thủ Đức để tiến hành nghiên cứu Các điều dưỡng tự nguyện đồng ý tham gia Ngoài ra, tất cả các thông tin liên quan đến người tham gia chỉ được sử dụng trong nghiên cứu này và được giữ bí mật Sau khi thu thập, các mẫu khảo sát đã được điền mã ID Vào cuối cuộc khảo sát, bảng câu hỏi đã được khảo sát và mẫu chấp thuận nghiên cứu được lưu trữ riêng để tránh tiết lộ thông tin cá nhân của người tham gia
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Đặc điểm nhân khẩu học
Đặc điểm nhân khẩu học được trình bày thông qua 13 yếu tố, 280 phản hồi hợp lệ đã được chấp nhận Các điều dưỡng tham gia nghiên cứu còn trẻ, độ tuổi từ 21-30 chiếm tỷ lệ cao nhất với 75% Nữ chiếm đa số Tỷ lệ nữ/nam là 3,06 với nữ là 75,4% và nam là 24,6% Phần lớn những người tham gia không theo tôn giáo với 163 trường hợp (58,2%) Độc thân và hôn nhân là hai nhóm có tỷ lệ gần bằng nhau và chiếm đa số Hầu hết những người tham gia không
có con, tỷ lệ này cao với 162 trường hợp (57,9%) Điều dưỡng trình độ trung cấp chiếm đa số, với 192 trường hợp (68,6%) 189 trường hợp không phải là nguồn thu nhập chính của gia đình (67,5%) Thu nhập trung bình của điều dưỡng tương đối thấp (>24-94 triệu đồng/năm), nhóm này chiếm 217 trường hợp (77,5%)
Vì nghiên cứu này sử dụng lấy mẫu phân tầng nên tỷ lệ điều dưỡng các khoa phòng đã được dự đoán trước cuộc khảo sát Phổ biến nhất là khoa Nội với 129 trường hợp (46,1%) Đa
số người tham gia là điều dưỡng viên với 91,4%, điều dưỡng trưởng 4.3% Hầu hết các điều dưỡng làm việc với ca 8 tiếng với 143 trường hợp (51,1%) Trong số các điều dưỡng được phỏng vấn, hầu hết là những người có thâm niên làm việc từ 1-3 năm (29,6%) Tương tự, thâm niên làm việc tại khoa hiện tại của các điều dưỡng, nhóm 1-3 năm cũng chiếm đa số (33,6%)
2 Burnout của điều dưỡng
Bảng 1 Mô tả Burnout của điều dưỡng (N=280)
3 Chất lượng cuộc sống của điều dưỡng
Bảng 2 Mô tả chất lượng cuộc sống của điều dưỡng (N=280)
Trang 5Đau 76.65 20.20 22.5-100
4 Mối quan hệ giữa đặc điểm nhân khẩu học và Burnout
Trình độ, nơi làm việc, ca trực chính, thâm niên trong nghề và thâm niên tại khoa hiện tại có mối quan hệ với Burnout của các điều dưỡng Các điều dưỡng có trình độ đại học có mức độ kiệt sức thấp hơn các nhóm khác (F =9.005, p <0.001) Về nơi làm việc, các điều dưỡng làm việc tại khoa Nội và phòng mổ có mức độ kiệt sức cao hơn đáng kể so với khoa ngoại trú (F =4.009, p <0.001)
Kết quả cho thấy điều dưỡng làm việc với ca 8 tiếng và điều dưỡng hành chính có điểm số Burnout cao hơn đáng kể so với điều dưỡng làm ca 24 tiếng (F =4,821, p <0.01) Thâm niên trong nghề có mối quan hệ với Burnout, nhưng kiểm định Scheffé không cho thấy
sự khác biệt cụ thể cho mỗi cặp (F =2.419, p <0.05) Nhưng đối với thâm niên tại khoa hiện tại, điều dưỡng có thâm niên từ 7-9 năm là những người có mức độ kiệt sức cao hơn nhóm từ
1 năm trở xuống (F =3.201, p <0.05) Các biến số khác sự khác biệt không đáng kể (p> 0.05)
5 Mối quan hệ giữa đặc điểm nhân khẩu học và chất lượng cuộc sống của điều dưỡng
Đối với chất lượng cuộc sống tổng thể, chúng tôi thấy rằng có một số đặc điểm cá nhân của điều dưỡng liên quan đến chất lượng cuộc sống của họ như tôn giáo, trình độ, nơi làm việc, thâm niên trong nghề điều dưỡng, thâm niên tại khoa hiện tại Sau khi kết quả cho thấy
có sự khác biệt trong mối quan hệ giữa các biến, kiểm tra Scheffé được sử dụng để xác định xem chúng có thực sự khác nhau hay không So sánh các cặp theo cặp tạo ra một ma trận, sự khác biệt đáng kể ở mức 0.05 Đối với trình độ học vấn, chất lượng cuộc sống ở điều dưỡng cao đẳng cao hơn đáng kể so với trung cấp (F =8.453, p <0.001) Kết quả cho thấy điều dưỡng làm việc tại khoa ngoại trú và khoa phòng khác có chất lượng sống cao hơn đáng kể so với các điều dưỡng phòng mổ (F =4.376, p <0.01) Đối với thâm niên trong nghề, điều dưỡng làm việc dưới 1 năm có chất lượng cuộc sống cao hơn đáng kể so với các điều dưỡng có thâm niên từ
4-9 năm (F =4.360, p <0.01) Điều này tương tự với thâm niên tại khoa hiện tại của các điều dưỡng (F =7,799, p <0.001) Các biến số khác sự khác biệt không đáng kể (p >0.05)
6 Mối quan hệ giữa Burnout và chất lượng cuộc sống của điều dưỡng
Bảng 3 Mối quan hệ giữa Burnout và chất lượng cuộc sống của điều dưỡng
Burnout
Sự kiệt sức Cá nhân
hóa
Giảm thành tích cá nhân
Burnou t
-Vai trò hạn chế do sức khỏe thể chất -0.405** -0.243** -0.121*
-0.260**
Vai trò hạn chế do các vấn đề về
cảm xúc
-0.259**
Trang 6-0.267**
-0.217**
-0.346**
* p<0.05, ** p<0.01, *** p<0.001
7 Các yếu tố dự báo quan trọng về chất lượng cuộc sống của điều dưỡng
Bảng 4 Phân tích hồi quy tuyến tính về chất lượng cuộc sống giữa các điều dưỡng (N
= 280)
R 2
Adjusted
R 2
t
*p<0.05,**p<0.01, ***p<0.001
BÀN LUẬN
Đa số các điều dưỡng tham gia nghiên cứu còn trẻ và nữ chiếm đa số Điều này là khá
dễ hiểu vì nhiều nghiên cứu cũng cho thấy rằng phụ nữ thống trị nghề này [8] Kết quả về tôn giáo trong nghiên cứu này phù hợp với đặc điểm văn hóa và tôn giáo ở Việt Nam Tôn giáo ở Việt Nam khá đa dạng và tự do tín ngưỡng Do các điều dưỡng trẻ nên tỷ lệ độc thân cao nhất
và hầu hết các đối tượng không có con là hợp lý Về trình độ giáo dục, điều dưỡng trình độ trung cấp chiếm đa số, kết quả này tương tự như các nghiên cứu khác trong nước Hầu hết những người tham gia không phải là nguồn thu nhập chính của gia đình Theo Bộ luật Lao động ở Việt Nam, độ tuổi lao động là từ 15 tuổi trở lên Tuy nhiên, đối với những ngành nghề đặc biệt như ngành y tế, 20 là độ tuổi tối thiểu để bắt đầu công việc Vì vậy, tuổi của điều dưỡng trong nghiên cứu này là quá trẻ nên hầu hết trong số họ không phải là nguồn thu nhập chính của gia đình Ngoài ra, điều dưỡng là một nghề với đa số phụ nữ Việt Nam là một quốc gia chịu ảnh hưởng của Nho giáo Ý tưởng này áp đặt cả nam và nữ ở các vị trí đối lập, trong
đó nam giới được ưu tiên và được coi là "người mạnh", có tư cách và quyền lực trong gia đình
Do đó, nam giới được giao trách nhiệm quan trọng như kiếm tiền và đưa ra quyết định Vì vậy, kết quả này phù hợp với tình hình thực tế của xã hội Việt Nam So sánh kết quả của nghiên cứu này và các nghiên cứu khác trên thế giới, tôi thấy rằng các điều dưỡng ở Việt Nam
có thu nhập thấp hơn nhiều so với nhiều nước khác (>24-94 triệu đồng/năm), ví dụ như Mỹ (67 930 đô la Mỹ, tương đương 1,5 tỷ đồng/năm), Úc (41.461 AUD, tương đương 709 triệu đồng/năm), Hàn Quốc (37.164.940 KRW, tương đương 793 triệu đồng/năm), Lebanon (1.036.000 LBP, tương đương 188 triệu đồng/năm), Thái Lan (609,535 THB, tương đương
435 triệu đồng/năm)
Trang 7Với điểm số Burnout dao động từ 0 (Không bao giờ) đến 6 (Hàng ngày), Burnout giữa các điều dưỡng ở mức trung bình thấp, ngay cả đối với các yếu tố nội tại (Kiệt sức cảm xúc,
Cá nhân hóa và Hoàn thành Cá nhân) Những kết quả này thấp hơn hầu hết các nghiên cứu khác trên thế giới Theo một nghiên cứu của Aytekin (2013), tác giả cho thấy rằng Burnout của các điều dưỡng là vừa phải về tình trạng kiệt sức cảm xúc và sự hoàn thành cá nhân [1] Kapucu và các cộng sự phát hiện ra rằng các điều dưỡng khoa lọc máu có điểm số cao về tình trạng kiệt sức về cảm xúc [6] Hầu như tất cả các tờ báo ở Việt Nam đều đề cập đến việc thiếu nguồn nhân lực trong chuyên môn điều dưỡng Tại bệnh viện được khảo sát cũng có một tình huống tương tự Các điều dưỡng thường than rằng họ đã kiệt sức và căng thẳng trong công việc của họ Tuy nhiên, kết quả trong nghiên cứu này cho thấy mức độ kiệt sức thấp hơn so với dự kiến Mặt khác, chúng ta cũng cần phải xem xét rằng liệu có tồn tại điều dưỡng có kinh nghiệm kiệt sức cao, không thích nghi, không đáp ứng với sự căng thẳng của công việc và họ
đã rời bỏ công việc của họ
Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng hầu hết các điều dưỡng đều có chất lượng sống trung bình Kết quả này là tích cực và tương đối đồng đều giữa các vùng Tương tự, các nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng chất lượng cuộc sống của điều dưỡng là vừa phải [3] Ngược lại, một số nghiên cứu cho thấy chất lượng cuộc sống của các điều dưỡng là kém Như đã đề cập, chất lượng cuộc sống là nhận thức của cá nhân về vị trí của họ trong cuộc sống trong bối cảnh văn hóa và hệ thống giá trị mà họ sống và liên quan đến mục tiêu, kỳ vọng, tiêu chuẩn, mối quan tâm của họ [2] Do đó, rất dễ hiểu tại sao chất lượng cuộc sống của các điều dưỡng lại khác nhau trong nhiều nghiên cứu trên thế giới Mỗi người có những cảm xúc khác nhau về chất lượng cuộc sống Điều này phụ thuộc vào bối cảnh xã hội, tác động từ môi trường xung quanh và nhận thức của từng cá nhân
Giới tính, trình độ, nơi làm việc, ca làm việc, thâm niên tại khoa làm việc hiện tại là các đặc điểm nhân khẩu học được dự đoán Burnout Tôn giáo, trình độ, nơi làm việc, thâm niên trong nghề và thâm niên tại khoa làm việc hiện tại là các đặc điểm nhân khẩu học dự đoán chất lượng cuộc sống giữa các điều dưỡng Có mối quan hệ tiêu cực đáng kể giữa Burnout và chất lượng cuộc sống của các điều dưỡng Kết quả này tương tự như nhiều nghiên cứu trên thế giới Theo Aytekin và các cộng sự, khi mức độ Burnout tăng lên thì chất lượng cuộc sống của điều dưỡng giảm [1] Joo và Kim cũng phát hiện ra Burnout và chất lượng cuộc sống tương quan nghịch (-0,15) [5] Burnout đã được chứng minh bởi nhiều nghiên cứu có tác động tiêu cực đến sức khỏe con người Vì vậy, những phát hiện của nghiên cứu này phù hợp với phần lớn các nghiên cứu về Burnout Trình độ và Burnout dự đoán 17,6% sự khác biệt về chất lượng cuộc sống
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Có thể nói đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên về Burnout và chất lượng cuộc sống của điều dưỡng Việt Nam Nghiên cứu nhấn mạnh mức độ Burnout và báo cáo chất lượng cuộc sống giữa các điều dưỡng Đồng thời, nghiên cứu đã phát hiện ra những ảnh hưởng của Burnout đến chất lượng cuộc sống Do đó, các nhà quản lý y tế cần quan tâm và giải quyết
Trang 8những vấn đề này bởi vì tác động của Burnout là hậu quả không chỉ đối với điều dưỡng mà còn cho hệ thống chăm sóc sức khỏe, cụ thể là bệnh nhân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Aytekin A., Yilmaz F., & Kuguoglu S (2013) Burnout levels in neonatal intensive care
nurses and its effects on their quality of life Australian Journal of Advanced Nursing, The,
31(2), 39
2 Bozorghi N H A., Nikbakhsh R., & Tojari F (2014) The relationship between quality
of life and burnout on athletes Age, 24(32), 119.
3 Dehghan Nayeri N., Salehi T., & Ali Asadi Noghabi A (2011) Quality of work life and
productivity among Iranian nurses Contemporary nurse, 39(1), 106-118.
4 Fradelos E., Mpelegrinos S., Mparo C., Vassilopoulou C., Argyrou P., Tsironi M., et
al (2014) Burnout syndrome impacts on quality of life in nursing professionals: The
contribution of perceived social support Progress in Health Sciences, 4(1), 102.
5 Joo K B., & Kim K B (2008) A study of care burden, burnout, and quality of life among
family caregivers for the elderly Korean Journal of Women Health Nursing, 14(4),
278-289
6 Kapucu S S., Akkuş Y., Akdemir N., & Karacan Y (2009) The burnout and exhaustion
levels of nurses working in haemodialysis units Journal of renal care, 35(3), 134-140.
7 Krejcie R V., & Morgan D W (1970) Determining sample size for research activities.
Educational and psychological measurement, 30(3), 607-610
8 Lahana E., Papadopoulou K., Roumeliotou O., Tsounis A., Sarafis P., & Niakas D.
(2017) Burnout among nurses working in social welfare centers for the disabled BMC
nursing, 16(1), 15
9. Maslach C., Jackson S E., Leiter M P., Schaufeli W B., & Schwab R L (1986).
Maslach burnout inventory (Vol 21): Consulting Psychologists Press Palo Alto, CA.