Giáo trình Vi sinh ký sinh - Nghề: Dược (Trình độ: Trung cấp nghề/Cao đẳng nghề) gồm có 5 chương với những nội dung chính sau: Đại cương vi sinh vật học, vi khuẩn, một số vi sinh vật gây bệnh thường gặp, đại cương virus, đại cương về ký sinh trùng, giun ký sinh (nemathelminths), sán ký sinh, đơn bào, ký sinh trùng sốt rét, tiết túc y học. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
(Ban hành theo quyết định số /2012/QĐ-TCĐNKTCNHCM, ngày tháng năm
2013 của Hiệu trưởng Trường Cao Đẳng Kỹ Nghệ TP HCM)
Trang 2Chương I: VI SINH VẬT HỌC
BÀI 1
ĐẠI CƯƠNG VI SINH VẬT HỌC
I MỤC TIÊU HỌC TẬP
1 Nắm rõ tác dụng của vi sinh vật đối với sự sống và con người
2 Nắm được sơ lược lịch sử phát triển của vi sinh vật học
II.Nội dung
1.Đối tượng nghiên cứu và phân môn của vi sinh vật học
Ngoài thế giới động, thực vật mà loài người đã biết từ lâu, còn có những vi sinh vật nhỏ bé, chỉ có thể quan sát bằng kính hiển vi, đó là những vi sinh vật đơn bào (protist) Bao gồm: vi khuẩn, động vật nguyên sinh và nấm (bacteria, protozoa, fungi) Trước đây, vi si sinh vật đã được định nghĩa là những sinh vật bé nhỏ chỉ có thể quan sát bằng kính hiển vi và theo định nghĩa này thì các đơn bào đều thuộc về
vi sinh vật nhưng động vật nguyên sinh và nấm là những tế bào có màng nhân (cucaryote) Động vật nguyên sinh thuộc về giới động vật, còn nấm thuộc về giới nấm (Fungi)
Vi khuẩn và một số tảo lam là những đơn bào không có màng nhân, chúng thuộc vào giới Procaryote ( tương đương với giới động, thực vật)
Môn học nghiên cứu về vi sinh vật và vai trò của chúng với sự sống gọi là Vi
sinh vật học (Microbiology)
Vi sinh vật bao gồm nhiều phân môn như: vi sinh vật thổ nhưỡng, vi sinh vật thú y, vi sinh vật thực vật, vi sinh vật công nghiệp và vi sinh vật y học
Vi sinh vật y học (Medical microbiology) là môn học chuyên nghiên cứu về các
vi sinh vật gây ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, về cả mặt có lợi và có hại cho sức khoẻ Vi sinh vật y học lại bao gồm các tiểu phân môn, như vi khuẩn học
(bacteriology), virus học (virology), miễn dịch chống nhiễm trùng, di chuyển vi sinh vật, vi sinh vật và môi trường, kháng sinh và hoá trị liệu, huyết thanh học (serology)…
2.Tác dụng của vi sinh vật
2.1 Tác dụng có lợi
Khi nói đến vi khuẩn và virus thì nhiều người dễ nghĩ ngay đây là những mầm bệnh nguy hiểm, nhưng thực sự điểu này chỉ đúng một phần Vì vi sinh vật nói chung là rất cần thiết cho sự sống Chúng ta hãy điểm qua một số tác dụng tích cực của vi sinh vật:
- Hai chu trình carbon và nitơ có ý nghĩa quyết định cho sự sống của sinh vật trên trái đất Cả hai chu trình này vi sinh vật đóng vai trò trong mắt xích là làm thối rửa các động, thực vật – “hoàn vũ động, thực vật” Và nhờ vậy, các chất hữu cơ của vi
Trang 3sinh vật được trả lại cho đất, cung cấp dinh dưỡng cho thực vật và tiếp đó là động vật, để sự sống tiếp diễn không ngừng
- Trong đất còn có một số vi sinh vật có khả năng cố định đạm vô cơ thành đạm hữu cơ và một số vi sinh vật có khả năng quang hợp Tất cả khả năng này đều làm giàu dinh dưỡng cho đất
- Trên da và trong các khoang của cơ thể có khá nhiều loại vi sinh vật ký sinh, có tác dụng chống lại các vi sinh vật gây bệnh Trong số vi sinh vật ký sinh cũng có một số vi sinh vật gây bệnh cơ hội Ví dụ E.coli sống rất nhiều ở đại tràng còn có tác dụng phân giải thức ăn và sản sinh ra một số vitamin cho cơ thể
- Các vi khuẩn đều sinh ra các chất có tác dụng kháng khuẩn để làm vũ khí đấu tranh sinh tồn Một số những chất này đã được dùng làm thuốc kháng sinh điều trị chống nhiễm khuẩn
- Các vi sinh vật được dùng làm nguyên liệu để sản xuất thành vaccin và huyết thanh miễn dịch là những sản phẩm sinh học rất quan trọng được dùng trong phòng
và điều trị các bệnh nhiễm vi sinh vật
- Từ cổ xưa, khi con người chưa biết về vi sinh vật, nhưng họ đã biết muối cà, tương, mắm, dưa, rượu, bia, men bánh mì, nem chua… Gần như tất cả các quá trình này đều cần có quá trình lên men của vi sinh vật
- Công nghệ sinh học đã và sẽ đưa lại cho con người nhiều lợi ích và là một cuộc cách mạng khoa học kỹ t huật rất lớn được thế giới đặt ra cho thế kỷ XXI Vi sinh vật là một công cụ được sử dụng rất nhiều trong công nghệ sinh học
- Vi sinh vật cũng là mô hình để nghiên cứu về di truyền phân tử, về hoá sinh
học… Vì vi sinh vật có số lượng gien ít, phát triển nhanh và kích thước rất nhỏ bé, nên dễ dàng cho sự nghiên cứu và thực nghiệm
2.2 Tác hại của vi sinh vật
Tuy sinh vật nói chung có rất nhiều tác dụng có lợi, nhưng vi sinh vật y học thì mặt được quan tâm nhiều nhất lại là tác dụng có hại Vi sinh vật là căn nguyên của các bệnh nhiễm trùng, gây ô nhiễm môi trường ( đất, nước, không khí,…) và phân giả các thức ăn, các sản phẩm sinh học cần bảo quản Các nội dung nghiên cứu khác của vi sinh vật y học cũng nhằm mục đích cuối cùng là chống lại các vi sinh vật gây bệnh, nhằm giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết do chúng gây ra
Lợi dụng khả nằng gây bệnh của vi sinh vật một số nước đã nghiên cứu thậm chí
sử dụng chiến tranh vi sinh vật, nhiều báo chí đã đăng tải những thông tin về vấn
đề này Nhưng nhiều tổ chức quốc tế và nhiều nước đã đề nghị nghiêm cấm nghiên cứu và sử dụng chiến tranh sinh học
3 Lược sử nghiên cứu một số vi sinh vật y học
- 1590 – 1608: Zacharias Janssen lần đầu tiên lắp ghép kính hiển vi nhưng chưa
quan sát được vi khuẩn
Trang 4- Năm 1676: Antony van Leeuwenhoek (1632 – 1723) hoàn thiện kính hiển vi
một tròng và khám phá ra thế giới vi sinh vật (mà ông gọi là anmalcules)
- Năm 1798: Edward Jenner nghĩ ra phương pháp chủng mủ đậu bò để phòng
ngừa bệnh đậu mùa
- Năm 1857: Louis Pasteur (1822 – 1895) chứng minh quá trình lên men lactic là
gây nên bởi vi sinh vật
- Năm 1861: Louis Pasteur chứng minh vi sinh vật không tự phát sinh như theo
thuyết tự sinh
- 1876 – 1877: Robert Kock (1843 – 1910) chứng minh bệnh than do vi khuẩn
Bacillus anthracis gây nên
- Năm 1880: Alphonse Laveran phát hiện ký sinh trùng Plasmodium gây ra bệnh
sốt rét
- Năm 1881: Louis Pasteur tìm ra vaccin chống bệnh than
- Năm 1882: Robert Kock phát hiện ra vi khuẩn lao – Mycobacterium
tuberculosis
- Năm 1885: Pasteur tìm ra vaccin chống bệnh dại Escherich tìm ra vi khuẩn
Escherichia coli gây ra bệnh tiêu chảy
- Năm 1886: Fraenkel phát hiện thấy Streptococcus pneumoniae gây ra bệnh viêm
- Năm 1909: Ricketts chứng minh bệnh sốt ban núi đá lan truyền qua ve là do
mầm bệnh vi khuẩn – Rickettsia rickettsi
- Năm 1929: Fleming phát hiện ra penicillin
- 1983- 1984: Gollo và Montaginier phân lập và định loại virus gây suy giảm
miễn dịch ở người (HIV)
Hình ảnh một số nhà khoa học nghiên cứu về vi sinh vật Hình ảnh kính hiển vi của Antony van Leeuwenhoek
Trang 5Bài 2
VI KHUẨN
I MỤC TIÊU HỌC TẬP
1 Trình bày được hình dạng, kích thước một số loại vi khuẩn đã học
2 Trình bày được cấu tạo, chức năng của vi khuẩn
3 Trình bày được cơ chế sinh lý của vi khuẩn: dinh dưỡng, hô hấp, chuyển hoá, sinh sản
II NỘI DUNG
1 Kích thước của vi khuẩn
Vi khuẩn có kích thước rất nhỏ bé nên phải dùng kính hiển vi phóng đại lên hàng trăm, hàng ngàn lần mới có thể quan sát được Đơn vị thường dùng để đo kích thước vi khuẩn là micromet Phần lớn vi khuẩn có kích thước từ 1-3 micromet Cũng có kích thước lớn hơn như trực khuẩn than (6 micromet) và có loại kích thước rất nhỏ như vi khuẩn dịch hạch (0,5 micromet) Kích thước của vi khuẩn có thể thay đổi theo tuổi và môi trường dinh dưỡng
2.Hình thể
Mỗi vi khuẩn có hình thể nhất định nhờ vào cấu trúc thành tế bào của chúng Dựa vào hình thể người ta chia vi khuẩn thành 3 loại: cầu khuẩn, trực khuẩn và xoắn khuẩn
Trực khuẩn là những vi khuẩn hình que, dài ngắn, to nhỏ khác nhau tuỳ từng loại
vi khuẩn, kích thước trung bình 1-10 micromet Có thể phân biệt trực khuẩn thành các dạng như sau:
+ Trực khuẩn hai đầu tròng: Trực khuẩn lỵ, trực khuẩn mủ xanh
+ Trực khuẩn hai đầu vuông: Trực khuẩn than
+ Trực khuẩn hai đầu nhỏ: trực khuẩn ho gà
+ Trực khuẩn hai đầu to: trực khuẩn bạch hầu
Các giống trực khuẩn cũng có những cách sắp xếp khác nhau:
+ Xếp thành dây dài: trực khuẩn than
Trang 63 Cấu tạo tế bào vi khuẩn
Vi khuẩn có cấu trúc tế bào hoàn chỉnh, bao gồm: nhân, bào tương, màng bào tương và thành tế bào
3.2 Bào tương (chất nguyên sinh)
Bào tương của tế bào vi khuẩn chứa nước, các chất hoà tan (protid, glucid, lipid, muốn khoáng, một số nguyên tố hiếm, ARN thông tin, ARN vận chuyển, một số enzym, sắc tố), ribosom, plasmid và nhiều loại hạt vùi (không bào chứa lipid,
glycogen và một số không bào chứa các chất có đặt tính đặc trưng cao với một số
vi khuẩn
Mỗi vi khuẩn có chứa khoảng 15000 hạt ribosom, kích thước từ 17-21 nanomet Ribosom chiếm tới 40% trọng lượng khô của tế bào vi khuẩn và chiếm tới 90% tổng số ARN Về thành phần hoá học, ribosom chứa 60% ARN và 40% là protein Trong bào tương, ribosom xếp thành đám gọi là polyribosom Các ribosom tham gia vào quá trình tổng hợp protein của vi khuẩn và là đích tác động của một số loại thuốc kháng sinh
Bào tương vi khuẩn được bao bọc phía ngoài bởi màng bào tương
3.3 Màng bào tương
Dày khoảng 10-20 nanomet, có những chỗ lõm vào như những nếp gấp gọi là mesosom (mạc thể) Vi khuẩn Gram dương có nhiều mososom hơn vi khuẩn Gram
âm
Màng bào tương có chức năng quan trọng:
+ Là một màng thẩm thấu chọn lọc và vận chuyển các chất hoà tan
+ Là nơi tập trung các enzym chuyển hoá và hô hấp của vi khuẩn, có chức năng như ti lạp thể ở tế bào sinh vật bậc cao
+ Là nơi tổng hợp các enzym ngoại bào và các thành phần của thành tế bào vi khuẩn
+ Tham gia vào quá trình phân bào nhờ mạc thể
Trang 73.4 Thành tế bào (vách tế bào)
Bên ngoài màng bào tương là thành tế bào vi khuẩn Thành tế bào dày khoảng
15-30 ở vi khuẩn Gram dương và 8-12 nanomet ở tế bào Gram âm Bộ khung của thành là peptidoglycan (còn gọi là glycopeptide) được tạo nên từ chuỗi
polysaccharide nối nhau qua cầu nối peptide
Thành tế bào Gram âm và Gram dương khác nhau về độ dày và thành phần hoá học, nên dẫn đến sự khác nhau về tính chất bắt màu khi nhuộm theo phương pháp Gram
Chức năng của thành tế bào:
+ Duy trì hình dạng và bảo vệ tế bào vi khuẩn
+ Tham gia vào sự phân chia của tế bào vi khuẩn
+ Chức nội độc tố, quyết định độc lực và khả năng gây bệnh của các vi khuẩn gây bệnh bằng nội độc tố
+ Mang các kháng nguyên quan trọng của vi khuẩn
+ Mang các vị trí tiếp nhận cho Phage
* Ngoài các bộ phận cơ bản kể trên, ở một số giống vi khuẩn còn có thêm các cấu trúc phụ như vỏ, lông ,pili, nha bào
3.5 Vỏ của vi khuẩn (capsule)
- Vỏ của vi khuẩn là một lớp nhầy lỏng lẻo, sền sệt, không rõ rệt, bao quanh vi khuẩn (polusaccharid hoặc polypeptid)
- Vỏ vi khuẩn đóng vai trò bảo vệ chống bị thực bào bởi cơ chế bảo vệ của cơ thể
- Vỏ vi khuẩn liên cầu để bám vào răng gây sâu răng
Trang 8Một số vi khuẩn trong điều kiện bất lợi cho sự sống, có khả năng sinh nha bào, một trạng thái tồn tại đặc biệt của một số giống vi khuẩn (bacillus, Clostridium), có khả năng đề kháng cao với các nhân tố ngoại cảnh
Sự hình thành nha bào là một quá trình phức tạp, bao gồm quá trình mất nước của bào tương, sự hình thành vách vỏ không thấm nước Thời gian hình thành nha bào khoảng 18-20 giờ Nha bào không sinh sản và gần như không có chuyển hoá Khi gặp điều kiện thuật lợi, nha bào trở lại trạng thái bình thường (tế bào vi khuẩn hoạt động) Thời gian chuyển từ nha bào sang vi khuẩn hoạt động khoảng 4-5 giờ
4 Sinh lý của vi khuẩn
4.1.1 Nhu cầu dinh dưỡng
Vi khuẩn sinh sản và phát triển rất nhanh, chúng cần những thức ăn để tạo ra năng lượng và nguyên liệu để tổng hợp Những thức ăn này bao gồm các nitơ hoá hợp (acid amin hoặc muốn amoni), carbon hoá hợp thường là các –ose, nước và muối khoáng ở dạng như : HPO-, Cl-, So-, K+, Ca++, Na+ và một số ion kim loại hiếm
ở nồng độ thấp : Mn++, Fe++, Co++,…
Rất nhiều vi khuẩn phân lập trong tự nhiên có thể tổng hợp được moij enzym từ những hợp chất carbon để hình thành những chất chuyển hoá trung gian cần thiết tham gia quá trình chuyển hoá
4.1.2 Cơ chế dinh dưỡng
Vi khuẩn là những đơn bào, không có bộ máy tiêu hoá, vi khuẩn dinh dưỡng được
là nhờ tính thẩm thấy của màng nguyên sinh chất Tính thẩm thấy này có liên quan tới những yếu tố sau:
- Chủng loại vi khuẩn: mỗi loại vi khuẩn có tính thẩm thấu khác nhau
-Tuổi của vi khuẩn: vi khuẩn non có tính thẩm thấu mạnh hơn vi khuẩn già
- Nồng độ thức ăn: nồng độ thức ăn ở môi trường càng cao nồng độ thức ăn trong
tế bào vi khuẩn thì tính thẩm thấu càng mạnh
- Độ hoà tan của thức ăn: thức ăn không hoà tan thì không thẩm thấu được, vi khuẩn phải dung enzyme của mình để làm tan thức ăn rồi mới hấp thu theo cơ chế thẩm thấu được
4.2 Hô hấp của vi khuẩn
Hô hấp là quá trình trao đổi chất, tạo ra năng lượng cần thiết để tổng hợp nên các chất mới của tế bào
Mỗi loại vi sinh vật có nhu cầu năng lượng riêng, vi sinh vật lấy năng lượng từ ose), hay từ chất chuyển hoá đơn giản như acid amin hoặc acid carbonic…
(-Các vi khuẩn gây bệnh lấy năng lượng từ cơ chất carbon (AH) bằng cách oxy hoá, tuỳ loại vi khuẩn mà trình độ oxy hoá cơ chất cũng khác nhau Năng lượng trong quá trình oxy hoá không được sử dụng tất cả mà chỉ sử dụng một phần cho sự phát triển tế bào
Trang 9(AH) -> oxy hoá nhờ coenzyme NAD ( nicotinamid – adenine – dinucleotid) -> tạo thành NADH (1)
4.2.1 Hô hấp hiếu khí
Nhiều loại vi khuẩn dùng oxy của khí trời để oxy hoá coenzyme thành dạng khử Các phản ứng kết hợp với phosphoryl oxy hoá ATP của các chuỗi cytocrom và của cytocrom oxydase làm nhiệm vụ trung gian, chuyển phân tử oxy thành ion O-, ion này là chất nhận điện tử cuối cùng Những vi khuẩn sử dụng được oxy tự do của khí trời gọi là vi khuẩn hiếu khí
4.2.2 Lên men hô hấp kỵ khí
Một số vi khuẩn không thể sử dụng oxy tự do làm chất nhận điện tử cuối cùng Chúng không thể phát triển được hoặc phát triển rất kém khi môi trường có oxy tự
do vì oxy độc đối với chúng
Những vi khuẩn này gọi là vi khuẩn kỵ khí tuyệt đối, chúng không có cytocrom oxydase và không có toàn bộ hay một phần của chuỗi cytocrom Các vi khuẩn này oxy hoá NADH như trong các phản ứng nghịch đảo của phản ứng (1) Những phản ứng oxy khử này không cần phân tử oxy gọi là phản ứng lên men Sự hình thành ATP trong quá trình lên men luôn ít hơn trong quá trình oxy hoá
Một số vi khuẩn hiếu khí có thể phát triển được ở trong điều kiện không có không khí, do chúng sử dụng năng lượng của sự lên men Đó là những vi khuẩn hiếu – kỵ khí tuỳ ngộ
4.2.3 Hô hấp hiếu – kỵ khí tuỳ ngộ
Một số vi khuẩn hiếu khí có thể sử dụng một chất điện tử cuối cùng không phải là
vi khuẩn này phát triển được Ta nói rằng vi khuẩn này có thể hô hấp kỵ khí và trong trường hợp sử dụng ion nitrat được gọi là “hô hấp nitrat” Trực khuẩn mủ xanh có khả năng này
4.3 Chuyển hoá của vi khuẩn
Vi khuẩn rất nhỏ bé nhưng sinh sản và phát triển rất nhanh, do chúng có hệ thống enzyme phức tạp Mỗi loại vi khuẩn có hệ thống enzyme riêng nhờ nó nó mà vi khuẩn có thể dinh dưỡng, hô hấp và chuyển hoá để sinh sản và phát triển
4.3.1 Enzym của vi khuẩn
Enzym của vi khuẩn giúp cho vi khuẩn có thể tổng hợp, đồng hoá hay phân giải các chất dinh dưỡng Tất cả các enzyme đều là protein, khối lượng phân tử lớn, dễ
bị phá huỷ bởi nhiệt độ
Tuỳ theo tác dụng của phản ứng hoặc vật bị tác dụng mà chia enzyme thành nhiều loại
Tuyệt đại đa số các enzyme đều là enzym nội bào, các enzyme này tham gia trong các quá trình chuyển hoá trong cơ thể của vi khuẩn Chỉ có một số ít có enzyme
Trang 10ngoại bào, enzyme này phân giải những chất có khối lượng phân tử lớn thành
những chất có khối lượng phân tử nhỏ dễ hấp thu
4.3.2 Chuyển hoá đường
Đường là một chất vừa cung cấp năng lượng vừa cung cấp nguyên liệu để tổng hợp Chuyển hoá đường tuân theo một quá trình phức tạp, từ polyozid đến ozid qua glucose rồi đến pyruvat: lactose glucose esteglucose-6-phosphoric
pyruvat Pyruvat đóng vai trò trung tâm trong quá trình chuyển hoá các chất đường
Ngoài những sản phẩm chuyển hoá trong quá trình đồng hoá trên và ngoài các chất
là thành phần của bản thân vi khuẩn, còn có một số chất được hình thành
*Độc tố: phần lớn các vi khuẩn gây bệnh trong quá trình sinh sản và phát triển đã
tổng hợp nên độc tố, có 2 loại độc tố:
+ Ngoại độc tố: là chất độc được vi khuẩn tiết ra khi vi khuẩn còn sống, độc tố này
có tác dụng độc rất cao, như độc tố bạch cầu chỉ 0,02 mg, độc tố uốn ván chỉ cần 0,00006 mg đã gây chết người
+ Nội độc tố: là chất độc của vách tế bào vi khuẩn, độc lực của nó không mạnh
bằng ngoại độc tố, như nội độc tố của thương hàn cần tới 400 mg mới gây chết người Nội độc tố nằm trong vách của vi khuẩn, chỉ khi vi khuẩn bị phá vỡ mới được giải phóng
*Chất kháng sinh: một số vi khuẩn tổng hợp được chất kháng sinh, chất này có
tác dụng ức chế hoặc tiêu diệt các vi khuẩn khác loại
*Chất gây sốt: một số vi khuẩn có khả năng sinh ra một số chất tan vào nước khi
tiêm cho người hay súc vật gây nên phản ứng sốt Chất này được gọi là chất gây sốt, nó không bị nhiệt độ phá huỷ (kể cả khi sấy, hấp), để loại trừ nó phải lọc qua màng amiăng Nước cất dùng để pha chế thuốc tiêm, nhất là tiêm tĩnh mạch không được phép có chất này
*Sắc tố: một số vi khuẩn có khả năng sinh ra các sắc tố như màu vàng hay trắng
của tụ cầu, màu xanh của trực khuẩn mủ xanh…
*Vitamin: một số vi khuẩn đặc biệt (E.coli) của người và súc vật có khả năng tổng
hợp được vitamin (C,K,…)
4.4 Sự sinh sản và phát triển của vi khuẩn
Vi khuẩn sinh sản bằng cách phân chia trực phân ( nhân đôi) Nhiễm sắc thể được nhân lên và được sao chép theo kiểu bán bảo tồn, sau đó màng sinh chất lấn sâu
Trang 11vào chất nguyên sinh nhờ mạc thể và phân chia tế bào thành 2 phần, kéo theo vách
tế bào cũng được hình thành, để tạo thành 2 tế bào mới
4.4.1 Biến dị kiểu hình (Fenotyp)
Trong quần thể mới, có sự thay đổi bề ngoài để thích nghi với môi trường mới Nhưng nhiễm sắc thể không thay đổi, biến dị kiểu hình không bền và không di truyền
4.4.2 Đột biến – Biến dị kiểu gen (Genotyp)
Trong quá trình phát triển của vi khuẩn AND có sự thay đổi, dẫn đến hình thành những đặc tính mới Sự thay đổi theo 3 cách:
*Sự biến nạp:
Vi khuẩn cho bị phá vỡ ( ly giải), nhiễm sắc thể được giải phóng và cắt thành từng đoạn AND nhỏ - được vi khuẩn nhận thu nạp và tích hợp vào NST Của nó và tái
tổ hợp (khi cơ thể ở trạng thái sinh lý đặc biệt)
Được áp dụng trong công nghệ sinh họ để sản xuất Insulin: biến nạp Gen tổng hợp Insulin vào tế bào E.coli hay nấm men để sản xuất Insulin
*Sự tiếp hợp:
Là sự vận chuyển chất liệu di truyền từ vi khuẩn đực sang vi khuẩn cái Một đoạn AND hoặc Plasmid (là AND tự do nằm ngoài NST) được chuyển tới Pili giới tính đực, tích hợp vào nhiễm sắc thể cái và tái tổ hợp
Như khi sử dụng kháng sinh không đủ liều, một số vi khuẩn còn sống sót xuất hiện đột biến kích thích tạo ra biến chủng mới mẫn cảm với loại thuốc kháng sinh đó
5 Phân loại vi khuẩn
5.1.1 Phân loại theo số lượng các tính chất sinh học (phenotyp)
Đây là phương pháp dựa trên các đặc điểm sinh học: là xác định được hệ số tương đồng Nếu tỉ lệ tương đồng này trên 90% giữa 2 chủng vi khuẩn thì chúng cùng chung 1 loài
5.1.2 Phân loại theo phương pháp phân tử (genotyp)
Phương pháp này dựa trên sự so sánh các thông tin di truyền chứa đựng trong các AND của các nhóm VSV
5.1.3 Đơn vị phân loại
Đơn vị phân loại vi khuẩn nằm trong hệ thống phân loại của sinh vật:
Trang 12Giới (kingdom) => Ngành (division) => Lớp (class) => Bộ (order –ales) => Họ (family –aceae) => Tộc (tribe –eae) => Giống (genus –genera) => Loài (species)
=> Thứ (variety –var) => Dạng (typ –forma) => Chủng (strain) – ký hiệu số
Ví dụ: Staphylococcus aureus ATCC 1289
\ giống -/ \-loài -/ \- chủng -/
Trang 13BÀI 3
MỘT SỐ VI SINH VẬT GÂY BỆNH THƯỜNG GẶP
I MỤC TIÊU HỌC TẬP
1 Mô tả được đặc điểm sinh học của vi khuẩn
2 Trình bày được khả năng gây bệnh của vi khuẩn
II NỘI DUNG
1.TỤ CẦU KHUẨN
Tụ cầu được R.Kock mô tả từ năm 1878 Sau đó Pasteur (1880) và Osgton (1881) gọi vi khuẩn này là tụ cầu và xếp vào loại Staphilococcus Đến năm 1884
Rosenbach nghiên cứu chi t iết về khả năng gây bệnh và xếp loại là tụ cầu
Trong tự nhiên tụ cầu có mặt ở khắp nơi: không khí, đất, nước Là vi khuẩn hội sinh gặp thường xuyên ở trên da và trong các hốc tự nhiên của người và động vật (nhiều nhất là ở hốc mũi, quanh hậu môn, cơ quan sinh dục…)
1.1.Đặc điểm sinh vật học
1.1.1 Hình thể, tính chất bắt màu
Tụ cầu có hình cầu, đường kính 0,8 – 1micromet, đứng tụ thành từng đám như chùm nho, có thể đứng riêng lẻ, thành từng đôi hoặc thành từng chuỗi bắt màu Gram dương
Tụ cầu không có vỏ, không sinh nha bào, không có long
1.1.2 Tính chất nuôi cấy
Tụ cầu là vi khuẩn hiếu, kỵ khí tuỳ tiện, mọc dễ dàng trên các môi trường nuôi cấy
môi trường, có thể có lắng cặn và có váng
S: tròn, lồi, bong, có bờ rõ Sau 24-36h xuất hiện sắc tố:
+ Sắc tố vàng: S.aureus
+ Sắc tố trắng: S.albus
+Sắc tố vàng chanh: S.ctreus
xung quanh có vòng tan huyết
1.2 Khả năng gây bệnh cho người
Tụ cầu gây bệnh cho người chủ yếu các bệnh cấp tính
+ Các bệnh nhiễm trùng có mủ: nhọt, áp xe, viêm da, đinh râu, viêm phổi, màng phổi, viêm sinh dục – tiết niệu, viêm tuỷ xuươn…
+ Nhiễm trùng huyết do tụ cầu: thường xảy ra trên cơ địa có sức đề kháng yếu (người già, trẻ em) Thường xảy ra khi sau khi mắc các nhiễm trùng cục bộ (mụn nhọt, áp xe, nhiễm trùng các cơ quan…)
Trang 14+ Nhiễm trùng, nhiễm độc thức ăn,: bệnh sảy ra nhanh, thời gian ủ bệnh thường từ 6-8h với các triệu trứng nôn mửa, đau bụng, ỉa chảy Nếu điều trị kịp thời bệnh thường khỏi nhanh
2 LIÊN CẦU KHUẨN
không làm đục môi trường; thường kết lại thành hạt lắng xuống đáy môi trường, môi trường phía trên thường tạo nên trong
dạng S: nhỏ, trong lồi bóng, bờ đều, trong suốt như giọt sương
khẩu lạc nhỏ xung quanh có vòng tan máu,
2.2 Khả năng gây bệnh
Trong số các loại có khả năng gây bệnh, quan trọng nhất là Str.pyogenestype A: + Gây nhiễm khuẩn ngoài da: mụn nhọt, chốc lở, viêm mủ vết thương…
+ Viêm họng, viêm Amydal, viêm tai
+ Viêm đường tiết niệu, sinh dục
+ Thấp khớp, thấp tim, viêm màng trong tim bán cấp, nhiễm khuẩn huyết
3 SONG CẦU KHUẨN (Diploccocus)
Là những vi khuẩn hình cầu chúng đứng với nhau thành từng đôi một: như phế cầu, lậu cầu
3.1 Phế cầu (Steptococcus pneumonia)
3.1.1 Đặc điểm sinh vật học
*Hình t hể và tính chất bắt màu
Phế cầu là vi khuẩn hình ngọn nến, thường đứng thành từng đôi, hai đầu tròn quay vào nhau, ít khi đứng riêng lẻ Trong môi trường nuôi cấy có thể đứng thành từng chuỗi ngắn (dễ nhầm với liên cầu) Bắt màu Gram dương
Phế cầu không di động, không sinh nha bào, có vỏ khí ở trong cơ thể người
*Tính chất nuôi cấy
Trang 15+ Phế cầu khó nuôi trong môi trường nuôi cấy thông thường, mọc tốt trên môi
+ Trong môi trường lỏng, phế cầu phát triển chậm, nếu nuôi cấy trong môi trường lỏng có mật bò sau 48h phế cầu bị tan rã
khuẩn phát triển tạo thành khuẩn lạc dạng S: nhỏ trong, bóng, bờ tròn đều như hạt sương, ở giữa có đỉnh nhọn, xung quanh có vòng tan máu a hoặc β
3.1.2 Khả năng gây bệnh cho người
Phế cầu khuẩn gây bệnh bằng nội độc tố, ngoài ra còn một số yếu tố khác (tan máu, diệt bạch cầu, lan tràn)
Phế cầu khuẩn là vi khuẩn thường trú ở trên cơ thể người, vùng tỵ hầu ( 40-70%),
là nguyên nhân thứ 2 sau Hemophilus influenzae gây nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
ở trẻ dưới 5 tuổi
Một số bệnh do phế cầu gây nên:
+ Gây nhiễm khuẩn đường hô hấp: viêm họng, viêm Amidal, viêm phổi, viêm phế quản, áp xe phổi,…
+ Nhiễm khuẩn các màng: màng phổi, màng não, màng trong tim…
+ Nhiễm khuẩn huyết
4 Trực khuẩn
Là những vi khuẩn hình que, đầu tròn hay vuông, có 3 loại:
- Bacteria: Là những trực khuẩn không sinh nha bào Phần lớn là trực khuẩn đường ruột
- Bacilli: Là những trực khuẩn hiếu khí sinh nha bào trực khuẩn than (Bacillus anthracis)
- Clostridia: Là những trực khuẩn kỵ khí sinh nha bào như trực khuẩn uốn ván
+ Trực khuẩn là vi khuẩn hiếu kỵ khí tuỳ tiện Phát triển dễ dàng trên các môi
+ Trên môi trường lỏng như canh thang, pepton, vi khuẩn mọc sớm và làm đục đều môi trường
+ Trên môi trường đặc vi khuẩn phát triển thành khuẩn lạc dạng S: tròn, bờ đều hơi lồi, trong, nhỏ hơn khuẩn lạc của Salmonella
4.1.2 Khả năng gây bệnh cho người
Trang 16+ Shigella gây bệnh lỵ trực khuẩn và viêm ruột ỉa chảy Vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể bằng đường tiêu hoá đến cư trú và sinh sản rất nhanh ở niêm mạc đại tràng Tại đây vi khuẩn gây bệnh bằng cơ chế xâm nhập và nội độc tố, ngoại độc tố
+ Vi khuẩn bám và xâm nhập sâu vào niêm mạc đại trực tràng, chúng nhân lên nhanh chóng trong lớp niêm mạc Vi khuẩn chết giải phóng nội độc tố gây phù nề, xung huyết tạo thành ổ loét và mảng hoại tử Nội độc tố còn tác động lên thần kinh giao cảm gây co thắt và tằng nhu động ruột
+ Trên lâm sang bệnh nhân có triệu chứng: đau quặn bụng, đi ngoài nhiều lần, phân thường có nhày máu
+ Ngoại độc tố của Shigella có độc tính với thần kinh trung ương, có thể gây viêm màng não và hôn mê
E.coli là vi khuẩn hiếu kỵ khí tuỳ tiện, phát triển tốt trên môi trường nuôi cấy
Trong môi trường lỏng, sau 4-5h, vi khuẩn đã làm đục nhẹ môi trường, để càng lâu càng đục nhiều và sau vài ngày có thể có váng mỏng trên bề mặt môi trường, để lâu vi khuẩn lắng xuống đáy ống
Trên môi trường đặc, sau 18-24h vi khuẩn phát triển thành khuẩn lạc tròn bờ đều, bóng, không màu hay xám nhẹ
4.2.2 Khả năng gây bệnh cho người
E.coli là vi khuẩn chiếm nhiều nhất trong số các loại vi khuẩn hiếu khí sống ở đường tiêu hoá Vi khuẩn này sống cộng sinh với cơ thể, góp phần tiêu hoá thức
ăn, sản xuất một số loại vitamin và giữ thăng bằng hệ vi sinh vật trong đường tiêu hoá
Tuy là vi khuẩn cộng sinh với người nhưng E.coli có thể gây bệnh cơ hội: Viêm đường tiêu hoá, viêm tiết niệu, sinh dục, đường mật, đường hô hấp và nhiễm khuẩn huyết Nhưng quan trọng nhất là viêm dạc dày, ruột ở trẻ em
5 Xoắn khuẩn Helicobacter pylori (H.P)
Xoắn khuẩn Helicobacter pylori (H.P) là tác nhân chính gây viêm loét dạ dày, tá tràng
5.1 Hình thái
H.pylori là vi khuẩn hình xoắn, hơi cong, Gram âm, đường kính từ 0,3 – 1
micromet, dài 1,5 – 5 micromet H.pylori di động nhờ lông ở hai đầu
Trang 175.2 Nuôi cấy
H.pylori là vi khuẩn khó nuôi cấy Khi nuôi cấy cần môi trường giàu chất dinh dưỡng và một số yếu tố đặc biệt Một môi trường lý tưởng là thạch máu ( ph 6,8 – 8,0) có thêm các vitamin và một số kháng sinh để ức chế sự phát triển – 72h
5.3 Khả năng gây bệnh
Nhiều công trình nghiên cứu khoa học và những thực nghiệm lâm sàng để chứng minh về vai trò của H.pylori đối với bệnh viêm loét dạ dày, tá tràng; đặc biệt, trong thể viêm teo, một thể rất dễ dẫn đến ung thư dạ dày mà lại thấy luôn luôn có mặt vi khuẩn này
6 Phẩ khuẩn tả (Vibro cholera)
6.1 Đặc điểm sinh học
V.cholerae là vi khuẩn hình que hơi cong, kích thước trung bình 2 – 4 x 0,3 – 0,6 micromet Vì có hình dấu phẩy nên thường gọi là phẩy khuẩn tả V.cholerae bắt màu Gram âm, không có vỏ, không sinh nha bào, có một lông ở đầu và có khả năng di động rất mạnh
6.2 Nuôi cấy
trên các môi trường kiềm ( pH 8,5 – 9,5), có nồng độ NaCl cao (3%) Trên các môi trường pepton kiềm mọc nhanh và tạo váng Trên môi trường đặc tạo khuẩn lạc hình tròn, lồi nhẵn và trong suốt
6.3 Khả năng gây bệnh
Vi khuẩn xâm nhập và đường ăn uống, để xuống ruột vi khuẩn phải vượt qua dạ dày xuống ruột non Xuống đến ruột non vi khuẩn tả bấm vào niêm mạc nhưng không xâm nhập sâu và mô ruột Tại ruột non, vi khuẩn phát triển nhanh và tiết ra
không được điều trị bệnh nhân sẽ chết vì mất nước và điện giải
Trang 181 Những đặc điểm sinh học quan trọng
1.1 Virus: là một đơn vị sinh học nhỏ bé (kích thước từ 20 – 300nm) vẫn có khả
năng biểu hiện những tính chất cơ bản của sự sống:
- Gây nhiễm cho tế bào
- Duy trì được nòi giống qua các thế hệ mà vẫn giữ tính ổn định về mọi đặc điểm
sinh học của virus trong tế bào cảm thụ thích hợp
1.2 Đặc điểm cơ bản nhất để phân biệt virus với vi khuẩn:
- Virus chỉ chứa một trong hai loại acid nucleic ( AND hoặc ARN)
- Virus sinh sản nhờ vào bộ máy nội bào của tế bào cảm thụ còn vi khuẩn sinh sản
theo kiểu phân đôi
2 Những đặc điểm cấu trúc cơ bản
Virus có cấu trúc rất đơn giản, không có enzyme hô hấp và enzyme chuyển hoá, vì vậy virus bắt buộc phải ký sinh trong tế bào cảm thụ
2.1 Cấu trúc cơ bản
Cấu trúc cơ bản còn được gọi là cấu trúc chung của virus, cấu trúc cơ bản bao gồm
2 thành phần chính mà mỗi virus đều phải có
2.1.1 Acid nucleic (AN)
Mỗi loại virus đều phải có 1 trong 2 acid nucleic: hoặc AND hoặc ARN, những virus có trúc AND phần lớn đều mang AND sợi kép, ngược lại virus mang ARN thì chủ yếu ở dạng sợi đơn
Các AN của virus chỉ chiếm từ 1 – 2% trọng lượng của hạt virus, nhưng có chức năng đặc biệt quan trọng:
-Các AN mang mọi mật mã di truyền đặc trưng cho từng virus
- AN quyết định khả năng gây nhiễm trùng của virus trong tế bào cảm thụ
- AN quyết định chu kỳ nhân lên của virus trong tế bào cảm thụ
- AN mang tính bán kháng nguyên đặc hiệu của virus
2.1.2 Thành phần capsid
Capsid là cấu trúc bao quanh acid nucleic, bản chất hoá học của capsid là protein Capsid được tạo bởi nhiều đơn vị capsid bao gồm các phân tử protein có sắp xếp đặc trưng cho từng virus Các đơn vị capsid đó được gọi là các capsomer Cùng với
Trang 19phần “lõi” AN của virus, phần “vỏ” capsid của virus có thể sắp xếp đối xứng xoắn, đối xứng khối, hoặc đối xứng phức hợp
2.2 Cấu trúc riêng
Cấu trúc riêng còn gọi là cấu trúc đặc biệt chỉ có ở một số loài virus nhất định để thực hiện những chức năng đặc trưng cho virus đó
2.2.1 Cấu trúc bao ngoài (envelop)
- Một số virus bên ngoài lớp capsid còn bao phủ một lớp vỏ bao được gọi là
transcriptase)… Mỗi enzyme cấu trúc có những chức năng riêng trong chu kỳ nhân lên của virus trong tế bào cảm thụ và chúng cũng mang tính kháng nguyên riêng, đặc hiệu ở mỗi virus
3 Đặc điểm hình thể của virus
Virus có nhiều hình thể khác nhau : hình cầu, hình khối, hình sợi, hình que, hình truỳ, hình khối phức tạp… Hình thể mỗi loại virus rất khác nhau nhưng luôn ổn định đối với mỗi loại virus
Tuỳ theo cách sắp xếp của acid nucleic và capsid mà virus được chia làm 2 loại đối xứng:
- Đối xứng hình xoáy trôn ốc: acid nucleic của virus và các capsomer được sắp xếp dọc theo hình lò xo đều hay không đều
- Đối xứng hình khối khi các capsomer của virus được sắp xếp thành các hình khối cầu đa diện
4 Phân loại virus
Có nhiều cách đẻ phân loại: Theo hình thể, theo tầm quan trọng hoặc triệu chứng lâm sàng… Hiện nay có 2 cách phân loại hay được sử dụng:
4.1 Phân loại theo khả năng gây bệnh
Cách phân loại cổ điển theo khả năng gây bệnh của virus, nó thuận lợi cho lâm sàng nhưng thường không chính xác, bởi vì một virus có thể gây ra nhiều bệnh cảnh lâm sàng, ngược lại một bệnh cảnh lâm sàng cũng có thể do nhiều loại virus gây nên
4.1.1 Virus gây bệnh phổ biến: virus đi qua đường máu gây phát ban ngoài da, bệnh đậu mùa, đậu bò, bệnh sởi, rubella, sốt vàng, sốt xuất huyết, bệnh do virus đường ruột…
Trang 204.1.2 Bệnh hệ thống thần kinh: Bệnh bại liệt, bệnh do Coxsackie, ECHO, dại, viêm não, Herpes, simplex, sởi, đậu, nhiễm trùng chậm
4.1.3 Bệnh ở đường hô hấp: Cúm, á cúm, virus hợp bào, adenovirus
4.1.4 Virus gây bệnh khu trú ở da, cơ, niêm mạc: Herpes simplex typ 1 gây bệnh quanh niêm mạc miệng, typ 2 gây bệnh ở niêm mạc đường sinh dục, Herpangina, zona…
4.1.5 Virus gây bệnh ở mắt: Adnovirus, Newcastle virus, Herpes virus, đau mắt đỏ thành dịch do Enterovirus typ 70…
4.1.6 Virus gây bệnh ở gan: Virus viêm gan A, B, C, D, E; Herpes virus, Rubella virus…
4.1.7 Virus gây viêm dạ dày, ruột: Rotavirus, Norwalkvirus…
4.1.8 Virus lây lan qua đường tình dục: HIV, Cytomegalovirus, Papillinoma virus, Herpes virus, HBV…
4.2 Phân loại theo cấu trúc và các đặc điểm sinh học
Cách phân loại này rất chính xác thường được áp dụng, những đặc điểm cấu trúc được dựa vào để phân loại là:
- Acid nucleic: AND hay ARN
- Cấu trúc capsid
- Bao ngoài: có hay không có
- Số lượng capsomer
5 Sự nhân lên của virus trong tế bào cảm thụ
Virus chỉ có thể nhân lên trong tế bào cảm thụ, nhờ hoạt động của tế bào mà virus tổng hợp được các thành phần cấu trúc và tạo ra các hạt virus mới Quá trình nhân lên của virus trong tế bào có thể chia thành 5 giai đoạn:
5.1 Sự hấp phụ của virus trên bề mặt của tế bào
Sự hấp phụ được thực hiện nhờ sự vận chuyển của virus trong dịch gian bào và giúp nó tìm tới tế bào cảm thụ Các thụ thể (recepto) đặc hiệu trên bề mặt tế bào cảm thụ sẽ cho các vị trí cấu trúc đặc hiệu trên bề mặt hại virus gắn vào thụ thể
5.2 Sự xâm nhập của virus vào trong tế bào
Sự xâm nhập thành phần quan trọng nhất là acid nucleic theo các cơ chế sau:
- Nhờ enzyme cởi vỏ của tế bào (enzyme decapsidase), giúp các acid nucleic thoát khỏi vỏ
- Virus qua màng tế bào theo cơ chế ẩm bào hoặc nhờ vỏ capcid co bóp, bơm acid nucleic qua vách tế bào, xâm nhập vào trong tế bào cảm thụ
Trang 215.3 Sự tổng hợp các thành phần cấu trúc của virus
Đây là giai đoạn phức tạp nhất của quá trình nhân lên của virus, nó phụ thuộc vào loại AN của virus Nhưng kết quả cuối cùng là để tổng hợp được AN và các thành phần cấu trúc khác của virus
5.4 Sự lắp ráp
Nhờ enzym cấu trúc của virus hoặc enzyme của tế bào cảm thụ giúp cho các thành phần cấu trúc của virus được lắp ráp theo khuôn mẫu của virus gây bệnh, tạo thành những virus mới
5.5 Sự giải phóng các hạt virus ra khỏi tế bào
Virus có thể phá vỡ vách tế bào sau vài giờ tới vài ngày tuỳ chu kỳ nhân lên của từng virus để giải phóng hang loạt virus ra khỏi tế bào và tiếp tục một chu kỳ nhân lên mới trong tế bào cảm thụ Virus cũng có thể được giải phóng theo cách nẩy chồi từ hạt virus ra khỏi tế bào sau chu kỳ nhân lên
6 Hậu quả của sự tương tác virus và tế bào
6.1 Huỷ hoại tế bào chủ
Sau khi virus xâm nhập và nhân lên trong tế bào thì hầu hết các tế bào bị phá huỷ Người ta có thể đánh giá sự phá huỷ tế bào bằng hiệu qủa gây bệnh cho tế bào, hoặc các ổ tế bào hoại tử Mỗi ổ tế bào hoại tử đó được gọi là một đơn vị Plaque (PFU) Có những tế bào bị nhiễm virus chưa đến mức bị chết, nhưng chức năng của tế bào này đã bị thay đổi
Biểu hiện của sự nhiễm virus thành các bệnh nhiễm trùng cấp hoặc mạn tính là do
sự huỷ hoại tế bào của virus
6.2 Sự sai lạc nhiễm sắc thể của tế bào
Sau khi virus nhân lên bên trong tế bào, nhiễm sắc thể của tế bào có thể bị gẫy, bị phân mảnh hoặc có sự sắp xếp lại và gây ra hậu quả như: dị tật bẩm sinh, thai chết lưu
Sự sai lạc nhiễm sắc thể thường gây tai biến đặc biệt ở phụ nữ có thai trong những tháng đầu
Ngoài ra sự sai lạc này còn có thể sinh khối u ở cơ thể, do virus làm thay đổi kháng nguyên bề mặt của tế bào, làm mất khả năng ức chế tiếp xúc khi tế bào sinh sản
Trang 226.3 Tạo hạt virus không hoàn chỉnh (DIP)
Đó là những hạt virus không có hoặc không hoàn chỉnh acid nucleic Do vậy các hạt DIP, không có khả năng gây nhiễm trùng cho tế bào Những hạt DIP có thể giao thoa, chiếm AN của virus tương ứng để trở nên gây bệnh
6.4 Tạo ra tiểu thể
Các tế bào nhiễm virus có thể xuất hiện các hạt nhỏ trong nhân hoặc trong bào tương của tế bào Bản chất các tiểu thể có thể do các hạt virus không giải phóng khỏi tế bào, có thể do các thành phần cấu trúc của virus chưa được lắp ráp thành hạt virus mới, cũng có thể là các hạt phản ứng của tế bào khi chưa nhiễm virus Các tiểu thể này nhuộm soi thấy dưới kính hiển vi quang học và dựa vào đó có thể chẩn đoán gián tiếp sự nhiễm virus trong tế bào
6.5 Các hậu quả của sự tích hợp genom virus vào AND tế bào chủ
AND của virus hoặc AND trung gian virus tích hợp vào AND tế bào có thể dẫn tới các hậu quả khác nhau:
- Chuyển hoá tế bào và gây nên các khối u hoặc ung thư là do sự tích hợp genom của chúng vào AND tế bào, gây ra sự sinh sản thái quá của tế bào Các loại virus này mang theo gen ung thư hoặc kích hoạt gen ung thư của tế bào hoạt động
- Làm thay đổi kháng nguyên bề mặt của tế bào Trên bề mặt của tế bào bị ung thư
do virus cũng có hiện tượng này
- Làm thay đổi một số tính chất nào đấy của tế bào Do genom của virus tích hợp vào genom của tế bào, làm tế bào thể hiện tính trạng mới
6.6 Sản xuất Interferon
Interferon bản chất là protein do tế bào sản xuất ra khi cảm thụ với virus
Interferon bằng mọi con đường có thể ức chế hoạt động của mARN Vì vậy nó được sử dụng như một chất điều trị không đặc hiệu cho mọi nhiễm trùng virus
7 Virus và bệnh học
Virus có khả năng gây bệnh cho người, động vật và cả vi khuẩn Hiện nay tìm thấy trên 500 loại virus có khả năng gây bệnh cho người Ngày càng nhiều virus mới được phát hiện, gây các vụ dịch đáng lo ngại Các bệnh nhiễm trùng do virus có thể là cấp tính, mãn tính, tiềm tàng hoặc nhiễm trùng chậm và có thể gây ung thư
Trang 23Các hậu quả của sự tương tác virus tế bào đã được trình bày ở trên, trong đó bệnh nhiễm virus cấp hay mạn tính là hậu quả thường gặp nhất
Để chuẩn đoán được bệnh do virus gây ra, ngoài triệu chứng lâm sàng thì việc chẩn đoán trong phòng thí nghiệm có giá trị chắc chắn
8 Phòng bệnh
- Phòng bệnh không đặc hiệu: các biện pháp cách ly bệnh nhân, khử trùng, tiệt trùng dụng cụ và môi trường, diệt con đường gây bệnh… Được áp dụng thích hợp trong từng bệnh, từng vụ dịch
- Phòng bệnh đặc hiệu: Mỗi lứa tuổi, nghề nghiệp khác nhau có thể sử dụng các loại vaccine thích hợp các vaccin hiện đang được dùng:
+ Vaccin sống giảm độc (vaccine phòng bại liệt, sởi, dại, đậu mùa…)
+ Vaccin tái tổ hợp (vaccine viêm gan…)
+ Vaccin chết (vaccine dại, viêm não…)
Trang 24CHƯƠNG II: KÝ SINH TRÙNG
2 Nắm được các đặc điểm về hình thể, cấu tạo, sinh sản và sinh tồn của KST
3 Nêu được đặc điểm chính của bệnh KST
1.1 Các định nghĩa cơ bản
Ký sinh trùng (KST) là những sinh vật sống nhờ hay sống bám vào các sinh vật khác đang sống một cách tạm thời hay vĩnh viễn, chiếm các chất của sinh vật đó để tồn tại và phát triển
Như vật thì KST bao gồm tất cả các loại vi khuẩn, rickettsia, nấm và virus ký sinh Nhưng do sự phát triển của khoa học, các loại vi sinh vật đã được tách riêng ra thành Ngành vi sinh học
Ký sinh trùng học là môn khoa học chuyên nghiên cứu các loại KST của người và các sinh vật bị ký sinh khác Vì đối tượng rộng như vậy nên ký sinh trùng y học chỉ tập trung nghiên cứu các KST ở người, tìm hiểu các đặc điểm sinh học và mối quan hệ tương tác giữa chúng và người, đề ra được các biện pháp phòng chống có hiệu quả KST y học có mối liên hệ mật thiết với nhiều bộ môn khoa học khác, như sinh học, sinh lý học, vi sinh vật học, bệnh học truyền nhiễm và dược lý học
KST có thể là động vật (giun, sán,…) hoặc thực vật (nấm…) nên còn có thể gọi là
ký sinh vật, nhưng do thói quen vẫn thường gọi là KST
Hiện tượng sinh vật sống bám hưởng lợi và sinh vật bị sống bám thiệt hại ( vật chủ
- hay ký chủ ) gọi là hiện tượng ký sinh Những sinh vật đang sống nhờ trên xác động, thực vật đã chết thì không gọi là KST và vật chủ, gọi là hiện tượng hoại sinh
1.2 Vật chủ là những sinh vật bị ký sinh vật sống nhờ
Vật chủ được phân ra nhiều loại:
- Vật chủ chính: là những sinh vật mang KST ở thể trưởng thành hoặc ở giai đoạn
có sinh sản hữu tính
- Vật chủ phụ: là những sih vật chỉ mang KST ở thể non ( ấu trùng), không có khả năng sinh sản hữu tính
- Vật chủ trung gian: là vật chủ chính hoặc phụ làm trung gian truyền bệnh từ
người này sang người khác Ví dụ muỗi là trung gian truyền bệnh sốt rét
- Môi giới truyền bệnh là những sinh vật có thể là vật chủ hoặc không Ví dụ muỗi vừa là vật chủ trung gian, vừa là môi giới truyền bệnh sốt rét Nhưng ruồi chỉ là
Trang 25môi giới truyền bệnh lỵ Amip, vì ruồi vận chuyển kén Amip làm lây lan bệnh chứ không phải là vật chủ của KST Amip
1.3 Chu kỳ KST: Cũng như bất cứ loài sinh vật nào, KST cũng phải có những
giai đoạn phát triển khác nhau, kể từ khi chỉ là mầm sinh vật đầu tiên cho đến khi phát triển, trưởng thành, có khả năng tái tạo lại các thế hệ tiếp theo đó là vòng đời, hay chu kỳ của KST Chu kỳ được diễn ra ở trên vật chủ hoặc ở môi trường tự nhiên (còn gọi là ngoại cảnh) hoặc ở cả hai:
- Loại chu kỳ chỉ hoàn toàn thực hiện ở vật chủ như: KST sốt rét, giun chỉ
- Loại chu kỳ chỉ thực hiện ở ngoại cảnh không qua vật chủ đó là chu kỳ của các loại côn trùng, tiết túc: ruồi, muỗi,…
- Loại KST có chu kỳ thực hiện lúc ở ngoại cảnh lúc ở trên cơ thể vật chủ: giun, sán
Tuỳ theo từng loại KST khác nhau mà chu kỳ của chúng khác nhau, có chu kỳ rất đơn giản có chu kỳ khá phức tạp Chu kỳ đơn giản là chu kỳ không cần tới vật chủ, không cần tới ngoại cảnh hoặc chỉ cần một vật chủ (đơn ký sinh) Chu kỳ phức tạp
là chu kỳ cần thực hiện qua 2 hay nhiều vật chủ (đa ký sinh), có khi xen kẽ với ngoại cảnh
Tính đơn giản hay phức tạp của chu kỳ có ảnh hưởng nhiều tới tốc độ phát triển và phổ biến của bệnh KST Nếu chu kỳ có nhiều khâu nhiều chặng (mắt xích), chỉ cần một “mắt xích” bị phá vỡ là chu kỳ không thể thực hiện được Việc nắm vững chu
kỳ của từng loại KST giúp cho người thầy thuốc có định hướng đúng trong công tác điều trị và phòng chống các bệnh KST
2 Đặc điểm của ký sinh trung
Ngoài những đặc điểm chung của thế giới sinh vật, KST cũng có những nét riêng
về hình thể, cấu tạo các cơ quan, nhất là các cơ quan chịu trách nhiệm sinh tồn và sinh sản
2.1 Đặc điểm về hình thể
Tuỳ từng loại KST mà chúng có những đặc điểm về hình thể và kích thước khác nhau Các ký sinh trùng thuộc loại một tế bào (đơn bào) thì có những nét đặc trưng chung của tế bào, nhưng không thuần nhất Có loại hình thể tương đối tròn như Amip, có loại hình thoi, hình thìa như trùng roi Bản than một loài KST trong quá trình sống, hình thể có thể thay đổi tuỳ theo từng giai đoạn khác nhau của chu kỳ
Ví dụ như KST sốt rét khi ở trong hồng cầu có hình nhẫn, thể phân liệt có hình hoa thị nhiều cánh, còn các thể giao bào có hình quả chuối, lưỡi liềm…
Về kích thước, KST có kích thước to nhỏ rất khác nhau, KST sốt rét có kích thước nhỏ nhất (từ 3 – 4 μm), sán lá có chiều dài vài cm, giun đũa dài hang chục cm, sán dây có thể dài tới 7 – 8m Hơn nữa ngay trong một loại KST có độ giao động về kích thước cũng có thể rất lớn tuỳ thuộc vào từng giai đoạn của chu kỳ Điển hình
Trang 26như ở sán dây: ấu trùng chỉ có kích thước như một hạt gạo nhưng trưởng thành lại rất dài
2.2 Đặc điểm về cấu tạo cơ quan
Do đặc điểm phong cách sống ăn bám, các cơ quan cấu tạo của KST rất phù hợp với đời sống ký sinh Trải qua nhiều thế hệ, nhờ vào những thay đổi về di truyền và biến dị, các cơ quan của KST đã tiếp thu được nhiều đặc điểm thích nghi với hoàn cảnh sống ký sinh:
- Một số bộ phận không cần thiết đã thoái hoá hoặc mất đi hoàn toàn Như sán lá sống trong một số bộ phận cơ thể người đã có sẵn nguồn thức ăn chọn lọc, nên không cần bộ máy tiêu hoá hoàn chỉnh mà chỉ là những ống đơn giản, không có hậu môn Sán dây thì bộ máy tiêu hoá chuyên biệt không còn, thay vào đó là
phương thức thẩm thấu thức ăn qua màng cơ thể Giun sán nói chung không có cơ quan vận động đặc biệt, không có các giác quan hoàn chỉnh
- Cũng do cách sống ký sinh, KST cần thiết phải dần hoàn thiện những cơ quan đặc biệt, đảm bảo cho cuộc sống ăn bám thuận lợi tối đa, đó cũng là các cơ quan thực hiện các chức năng tìm kiếm vật chủ, bám vào vật chủ, chiếm thức ăn ở vật chủ hoặc giúp cho sinh sản dễ dàng trên vật chủ hoặc ở ngoại cảnh VÍ dụ như muỗi nhờ khả năng phân tích đặc biệt của giác quan, muỗi dễ dàng tìm được vật chủ
2.3 Đặc điểm về sinh sản
KST có nhiều hình thức sinh sản để phát triển nòi giống Những đặc điểm sinh sản rất phong phú đảm bảo không những về việc duy trì nòi giống mà còn làm tăng nhanh mật đổ của KST trong tự nhiện:
- Sinh sản vô tính: là hình thức sinh sản đơn giản nhất, không có sự kết hợp giữa giao tử đực và giao từ cái Chẳng hạn như KST sốt rét hoặc Amip từ một tế bào có thể phân chia thành 2 hoặc nhiều KST mới
- Sinh sản hữu tính: là hình thức sinh sản có sự kết hợp giữa giao tử đực và giao tử cái, sinh sản hữu tính có thể đẻ ra trứng như giun đũa, có thể ra ấu trùng như giun chỉ
- Sinh sản lưỡng tính: chúng có thể giao phối chéo giữa 2 bộ phận trên cùng cơ thể, như con sán
- Sinh sản đa phôi: từ một trứng có thể sinh thành nhiều ấu trùng, như sán lá
Do hình thức sinh sản phong phú nên KST sinh sản rất nhanh, nhiều và dễ dàng Giun đũa một ngày có thể đẻ tới 200.000 trứng, ruồi và muỗi mỗi lứa có thể sinh ra hàng trăm trứng Điều kiện môi trường nóng ẩm như nước ta là một điều kiện thuận lợi cho KST sinh sản và phát triển nhanh chóng, ảnh hưởng rất lớn, khó khăn rất nhiều trong công tác hạn chế, loại trừ và thanh toán các mầm bệnh do KST
3 Ảnh hưởng qua lại giữa KST và vật chủ
Trang 27Do cách sống kí sinh, KST có quan hệ mật thiết với vật chủ Ngược lại vật chủ cũng phải có những ảnh hưởng tới KST Ta cần phải xét mối quan hệ này theo mối tương tác biện chứng
3.1 Ảnh hưởng của KST đối với vật chủ
Một số ít KST không gây ảnh hưởng gì đặc biệt đối với vật chủ Thí dụ Amip loại Entamoeba coli ký sinh ở ruột người không gây ra bệnh lý gì đặc biệt có thể gọi là những KST thuộc loại “chung sống hoà bình” Nhưng hầu hết KST đều gây tác hại tới vật chủ, những ảnh hưởng có hại này có thể được phân ra làm các thể dưới đây:
- Chiếm thức ăn: muôn sống và phát triển, KST phải nhờ vào vật chủ để lấy thức
ăn Tuỳ thuộc vào loại KST, số lượng và khả năng phục hồi của cơ thể mà lượng thức ăn bị tiêu hao có khác nhau
- Gây độc hại cho cơ thể: trong thời gian ký sinh trên cơ thể vật chủ, KST có thể tiết ra một số chất có độc tính đối với cơ thể, như giun đũa tiết ra chất Ascaron có thể làm cho cơ thể bị nhiễm độc
- Gây tắc cơ học: KST có thể gây tắc tại nơi ký sinh hoặc di chuyển đến nơi khác
để gây tắc nghẽn dẫn đến những tai biến nguy hiểm như giun đũa sống ở ruột non
có thể gây tắc ruột, hoặc di chuyển lên gan gây tắc ống mật chủ hoặc các ống dẫn mật trong gan Giun chỉ gây tắc các mạch bạch huyết
- Gây chấn thương: sống trong cơ thể vật chủ, KST phải bám chắc vào một số vị trí
và bộ phận của cơ thể và gây chấn thương các bộ phận đó Chẳng hạn như giun tóc dùng đầu nhỏ như sợi tóc cắm sâu vào các nếp niêm mạc ruột, giun móc cũng dùng móc để ngoạm vào hành tá tràng KST ghẻ đào thành hầm rãnh trong da
- Gây kích thích: do chấn thương, do chất độc và những cơ chế khác đi kèm, KST
có thể gây ra cho vật chủ nhiều kích thích khác nhau, như giun kim khi di chuyển
ra vùng rìa hậu môn đẻ chứng, gây ngứa ngáy hậu môn KST có thể kích thích gây
dị ứng toàn thân
- Tác hại do vận chuyển mầm bệnh: trong quá trình xâm nhập vào vật chủ, KST có thể mang trên thân chúng một số mầm bệnh khác, như ấu trùng giun có thể mang theo vi trùng than, vi khuẩn lao để gây bệnh cho vật chủ
3.2 Phản ứng của cơ thể đối với KSTS
Bị KST xâm nhập và gây tác hại, cơ thể vật chủ cũng có những phản ứng chống trả
ở mức độ khác nhau Ngay tại chỗ ký sinh có thể xảy ra các phản ứng như viêm, tăng sản tế bào tạo thành các kén hoặc thậm chí loạn sản tế bào Phản ứng toàn thân được biểu hiện bằng sốt, thay đổi phản xạ và chức năng của một số bộ phận Kết quả của mối tương tác giữa KST và vật chủ có thể dẫn tới những hậu quả sau:
- KST bị chết
- KST không hoạt động và không gây bệnh
- Tuỳ theo mức tác hại gây ra do KST mà có những biểu hiện bệnh lý khác nhau gọi là những bệnh KST
Trang 284 Bệnh KST
Bệnh KST là do KST tác động vào cơ thể vật chủ gây ra Ngoài những nét thuộc phạm trù chung của bệnh học, bệnh KST còn có những biểu hiện đặc thù về tính chất và diễn biến, chẩn đoán và điều trị cũng như đặc điểm dịch tễ học và các biện pháp phòng chống
- Diễn biến lâu dài: khác với các bệnh nhiễm trùng cấp tính như sởi, thuỷ đậu… bệnh KST thường có diễn biến lâu dài nhiều tháng, nhiều năm
- Tiệm tiến và thầm lặng: quá trình KST sống bám vào cơ thể vật chủ là một quá trình gây ra những tác hại dần dần, không bột phát và cấp tính như các bệnh nhiễm khuẩn Diễn biến của bệnh KST là âm thầm, lặng lẽ nhưng vẫn luôn gây ra những tác hại ngấm ngầm
+ Nếu điều trị tốt bệnh sẽ diễn biến nhanh và mất đi sớm
+ Để lại di chứng: sau khi khỏi, bệnh vẫn có thể để lại những di chứng, chẳng hạn như phù chân voi sau khi đã mắc bệnh giun chỉ
4.3 Dịch tễ học bệnh KST
Về mặt dịch tễ học, bệnh KST có chung các đặc điểm của những bệnh nhiễm
trùng Do có lây lan nên bệnh KST cũng có thể phát thành dịch, tuy nhiên dịch bệnh do KST gây ra ít có cường độ lớn vì sự lây lan thường không nhanh
4.4 Phòng bệnh KST
Việc phòng và chống bệnh KST được dựa trên cơ sở của việc phá vỡ chu kỳ của KST ở khâu vật chủ hoặc ở khâu môi trường Cắt đứt những mắt xích quan trọng nhất nối các giai đoạn của chu kỳ với nhau
Trang 29Việc phòng và chống bệnh KST muốn có kết quả cần được tiến hành trên một qui
mô rộng lớn, có kế hoạch, có trọng tâm trọng điểm Cần phải tiến hành một cách kiên trì, dựa vào cộng dồng và được lồng ghép trong mọi chương trình hoạt động y
tế khác, chẳng hạn như các chương trình vệ sinh phòng bệnh, bảo vệ môi sinh
Trang 30BÀI 6
GIUN KÝ SINH
(Nemathelminths)
I MỤC TIÊU HỌC TẬP
1 Nêu cấu tạo, dịch tễ bệnh học của giun
2 Mô tả hình thể và chu kỳ của giun đũa, giun tóc, giun móc, giun kim, giun chỉ
3 Trình bày bệnh học và cách phòng bệnh của giun đũa, giun tóc, giun móc, giun
mỏ, giun kim, giun chỉ
II NỘI DUNG
1 Đại cương về giun
Giun ký sinh có thân hình ống được xếp vào lớp Nematoda, rất phong phú về
giống và loài, đa số đơn tính, có ống tiêu hoá đầy đủ Kích thước của giun rất dao động (từ dưới 1mm đến lớn hơn 1m) Giun hình ống có liên quan nhiều đến các ngành như y tế, nông nghiệp
1.1 Cấu tạo
Nếu cắt ngang thân giun từ ngoài vào trong sẽ có lớp vỏ, dưới lớp vỏ, lớp cơ và các phủ tạng bên trong
- Vỏ: lớp vỏ ngoài bao bọc thân giun có thành phần hoá học là protein cứng
(scleroprotein), có nhóm chức tương tự như keratin Vỏ của thân giun không hoàn toàn nhẵn nhụi mà có những khía ngang, đôi khi có cả khía dọc
- Lớp dưới vỏ: còn gọi là lớp hạ bì gồm có một tế bào hạt tạo thành những đường dọc tạo ra những ụ lồi về cả 4 phía
Lớp cơ: Nằm dưới hạ bì là lớp cơ, có hình dạng và cách bố trí khác nhau tuỳ theo từng loại giun bao gồm cả cơ chính và cơ sợi, cơ bó và cơ vòng Bên trong là
xoang của giun chứa các cơ quan nội tạng
- Cơ quan tiêu hoá: Thường là một ống dài có gấp khúc hay chạy thẳng theo chiều dọc của giun Cơ quan tiêu hoá của giun gồm: mồm, xoang miệng, thực quản, ruột, trực tràng và hậu môn
- Cơ quan bài tiết gồm có 2 ống chạy dọc theo chiều dài thân giun, ở 2 bên mép thân có 2 hạch bài tiết rối đổ ra ngoài bằng lỗ bài tiết ở gần thực quản
- Cở quan sinh dục: vì đa số giun là đơn giới hay đơn tính nên các cơ quan sinh dục đực và cái phân biệt rõ ở những có thể khác nhau
- Cơ quan thần kinh: bao gồm những vòng thần kinh bao quanh thực quản, từ đó có
6 sợi đi ra phía trước, một số sợi đi ra phía sau, trong đó có 2 sợi thần kinh lớn đi học theo lưng
1.2 Dịch tễ học bệnh giun
Các bệnh do giun gây ra là các loại giun ký sinh đường ruột, rất phổ biến ở nước
ta Theo thông báo của tổ chức y tế thế giới (WHO, 1987) thì có tới ¼ dân số trên
Trang 31thế giới bị nhiễm g iun nhưng phân bố có khác nhay tuỳ theo từng vùng, từng khu vực Tỷ lệ nhiễm bình quân dao động trong khoảng 25 – 95% Tính theo châu lục thì châu Á được coi là có tỷ lệ nhiễm giun cao nhất thế giới, tại các nước như Ấn
Độ, Bangladesh, Trung Quốc, Indonesia, Mianma có nhiều vùng thống kê kịch tễ học giun đũa lên tới 50% dân số bị mắc Ở châu Phi là 32,3% ; châu Mỹ là 8% Các nước trong khu vực Đông Nam Á cũng có tỷ lệ nhiễm giun khác nhau: Thái Lan là 40,56%, Campuchia trong năm 1980 tỷ lệ nhiễm giun móc là 35 – 56% còn
ở Lào thì tỷ lệ này dao động từ 2-31%
Việt Nam là một nước đang phát triển và có hội tụ đủ các yếu tố kể trên nên cũng
có tỷ lệ nhiễm giun thuộc loại cao nhất thế giới Ví dụ về tỉ lệ chung cho cả nước bị nhiễm giun đũa khoảng 80%
Bệnh giun nói riêng và bệnh KST nói chung mang tính chat xã hội, rất cần được quan tâm để khắc phục trong những thập kỉ tới của ngành Y tế nước ta
2 Giun đũa (Ascaris lumbricoides)
Giun đũa là loại giun ký sinh đứng hàng dầu về mức độ phổ biến cũng như về tác hại ở Việt Nam Nó có chu kỳ phát triển trứng ở ngoại cảnh rồi mới xâm nhập vào người
2.1 Hình thể
- Giun trưởng thành có màu trắng hồng, thân hình ống có một lớp vỏ dày bao phủ Miệng có 3 môi bao quanh và tiếp theo đó là ống tiêu hoá Con cái dài 20-30cm, đuôi thẳng Con đực dài 20-25cm, đuôi cong, có 2 gai giao cấu
- Trứng giun đũa có hình bầu dục vỏ dày Ngoài vỏ là một lớp albumin trong suốt
sù sì
2.2 Chu kỳ
Giun đũa trưởng thành sống ký sinh trong phần đầu và phần giữa của ruột non Tại ruột non chúng ăn các chất chứa trong đó Giun đực và giun cái trưởng thành giao phối với nhau, con cái đẻ trứng, mỗi con có thể đẻ tới 200000 trứng một ngày Trứng theo phân ra ngoài và có khả năng chịu đừng khá tốt với các điều kiện môi trường bên ngoài như nóng, lạnh Gặp các điều kiện thuật lợi (nhiệt độ, độ ẩm, oxy) trứng sẽ phát triển thành ấu trùng và có khả năng lây nhiễm cho người nếu ăn phải chúng
Người ăn phải trứng giun đũa qua thức ăn vào bộ máy tiêu hoá nhờ dịch vị của dạ dày và sự co bóp mà vỏ trứng bị tiêu biến, giải phóng ra ấu trùng, ấu trùng rất nhỏ,
có khả năng xuyên qua thành ruột non để vào mạch máu của màng ruột Sau đó qua tính mạch gánh (hay tĩnh mạch cửa) để vào gan Từ gan ấu trùng sẽ theo hệ thống tĩnh mạch để đổ vào tim phải Tim co bóp máu lên phổi theo hệ thống động mạch phổi, ấu trùng theo dòng máu đến các vi mạch của phế nang, ở đây chúng lột xác 2 lần rồi xuyên qua thành mạch để rơi vào trong long phế nang Sau đó ấu trùng chuyển qua giai đoạn từ hệ tuần hoàn sang bộ máy hô hấp Nó tiếp tục quá
Trang 32trình chu du của mình, đi ngược lên qua các tiểu phế quản, phế quản và khí quản đến tới ngã 3 hầu – họng – thực quản và rơi vào bộ máy tiêu hoá Đến ruột non ấu trùng lại lột xác lần nữa và phát triển thành con giun đũa trưởng thành
Hai tháng sau, con cái đã có khả năng đẻ trứng Tuổi thọ trung bình của giun đũa dao động từ 13 – 15 tháng
2.3 Bệnh giun đũa
Giun trưởng thành ký sinh ở ruột non có thể gây ra bệnh lý từ nhẹ đến nặng:
- Rối loạn tiêu hoá: đau bụng, ăn không ngon, buồn nôn và nôn, thỉnh thoảng bị tiêu chảy nhẹ
- Biến chứng tại ruột: tắc ruột do giun cuộn lại với nhau thành từng búi, xoắn ruột, lòng ruột, hoặc gây thoát vị bẹn
- Biến chứng ngoài ruột: giun đũa có thể chui lên ống mật, gây tắc mật, viêm túi mật, vàng da do ứ mật Nó có thể gây nghẽn các ống dẫn của tuỵ làm cho tuỵ bị viêm cấp hoặc bán cấp
2.5 Phòng bệnh
Có nhiều biện pháp phối hợp với nhau để phòng bệnh giun đũa:
- Điều trị hệ thống cho người bị nhiễm
- Quản lý và xử lý phân hợp vệ sinh để tránh phát tán trứng giun ra ngoại cảnh
- Diệt ruồi, gián là những côn trùng trung gian lan truyền mầm bệnh
- Sử dụng các nguồn nước sạch, giáo dục vệ sinh cá nhân trong ăn uống
3 Giun tóc (Truchuris trichiura)
3.1 Hình thể
Giun trưởng thành có hình thể rất đặc biệt, phần đầu thon nhỏ như một sợi tóc và phần đuôi phình lớn hơn có chứa cơ quan tiêu hoá và sinh dục Con đực dài 3 – 4,5cm, đuôi cuộn lại, có gai giao cấu Tỷ lệ phần đầu so với phần đuôi là 3/1 Con cái đuôi thẳng và tròng, dài 3 – 5 cm
Trứng giun tóc hình bầy dục rất đối xứng trông giống như quả cau, có 2 nút nhầy ở
2 đầu trong suốt Vỏ trứng dày và thường có màu vàng của sắc tố mật
3.2 Chu kì
Giun tóc có chu kỳ gần giống giun đũa Trứng giun tóc sau khi được bài xuất khỏi
cơ thể và phát triển ở ngoại cảnh sẽ hình thành ấu trùng có khả năng gây nhiễm Tuỳ theo điều kiện nhiệt độ, trứng sẽ có thời gian phát triển khác nhau, nhưng
trùng bên trong trứng đạt gần 90% Do có vỏ dày trứng giun tóc có khả năng đề kháng rất cao đối với các yếu tố bất lợi của ngoại cảnh và có thể tồn tại được vài 3 năm trong đất
Trứng có ấu trùng xâm nhập vào cơ thể qua đường thức ăn, nước uống, ấu trùng sẽ thoát khỏi vỏ ở ruột, không có thời kỳ chu du như ấu trùng giun đũa mà di chuyển xuống ruột già để ký sinh cố định ở đấy Chỉ một tháng sau khi bị nhiễm là giun