Giáo trình môn học Quản lý và tồn trữ thuốc giúp người học: Trình bày được các kiến thức chung về tồn trữ thuốc, các nguyên tắc quản lý trong kho Dược và nguyên tắc bảo quản tốt thuốc; trình bày được nguyên tắc và kĩ thuật bảo quản từng dạng thuốc, hoá chất và dược liệu; vận dụng được những kiến thức và kỹ năng về tồn trữ và bảo quản thuốc, dụng cụ y tế trong thực tiễn; rèn luyện tác phong thận trọng, tỉ mỉ, nghiêm túc, chính xác trong thực hành, học tập.
Trang 1BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯỜNG CĐ KỸ NGHỆ II
GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ TỒN TRỮ THUỐC
NGHỀ: DƯỢC TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP NGHỀ/CAO ĐẲNG NGHỀ
Trang 2
Lời nói đầu
Mỗi ngày làm việc, học tập, nghiên cứu tại phòng thí nghiệm chúng ta đều có
cơ hội tiếp cận những điều chưa biết, tìm tòi và khám phá chúng Mỗi thí nghiệm nắm giữ nhiều bí mật Khi tập trung và đi sâu vào vấn đề, ta có thể thấy được bản chất Khi làm việc chăm chỉ, ta có thể giải quyết những khó khăn và kiểm soát chúng Từ khoa
học (science) có nguồn gốc từ tiếng La tinh scientia nghĩa là “để biết” Mục đích của
khoa học là tri thức Các nhà khoa học bỏ cả đời để theo đuổi kiến thức
Giáo dục ngày nay cho các bạn học sinh, sinh viên có cơ hội làm những việc
mà các nhà khoa học vẫn làm Cách đặt vấn đề, tiếp cận và tìm cách giải quyết Các bạn được trao cơ hội tìm hiểu những điều bạn và nhiều người khác chưa biết Đó là điều tuyệt vời Đừng lãng phí cơ hội bằng cách lười biếng hay bất cẩn Hãy làm việc chăm chỉ Các nhà khoa học luôn có được kỹ năng quan sát và thực hành tốt, đây sẽ là những công cụ hữu ích để giải quyết các vấn đề trong khoa học và cuộc sống
Sự cần thiết của an toàn
Hóa học là ngành khoa học thực nghiệm Từ những thí nghiệm cụ thể, người ta đưa ra những giả thuyết, lý thuyết làm nền tảng cho hóa học hiện đại Thực nghiệm sẽ mang lại những kinh nghiệm trong quá trình làm việc trong phòng thí nghiệm, bạn sẽ
xử lý nhiều hóa chất, dụng cụ, thiết bị, máy móc chuyên dụng Nhiều hóa chất sẽ gây hại nếu không được làm việc đúng cách, một số thiết bị sẽ gây ra chấn thương nghiêm trọng nếu chưa được đào tạo qua cách sử dụng Mục đích của môn học nhằm giúp chúng ta thực hành thí nghiệm an toàn trong phòng thí nghiệm và trong tương lai
Trang 3CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC QUẢN LÝ TỒN TRỮ
+ Là môn học cơ sở, thuộc các môn học đào tạo nghề bắt buộc
II MỤC TIÊU MÔN HỌC:
- Trình bày được các kiến thức chung về tồn trữ thuốc, các nguyên tắc quản lý trong kho Dược và nguyên tắc bảo quản tốt thuốc;
- Trình bày được nguyên tắc và kĩ thuật bảo quản từng dạng thuốc, hoá chất và dược liệu;
- Vận dụng được những kiến thức và kỹ năng về tồn trữ và bảo quản thuốc, dụng cụ y tế trong thực tiễn;
- Rèn luyện tác phong thận trọng, tỉ mỉ, nghiêm túc, chính xác trong thực hành, học tập
Trang 4BÀI 1: CHẤT LƯỢNG THUỐC VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CHẤT LƯỢNG THUỐC 1.1 Chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi làm việc
Để có được những kinh nghiệm và kiến thức tốt nhất trong phòng thí nghiệm, nhất thiết phải chuẩn bị tốt cho mỗi thí nghiệm Điều này nghĩa là phải đọc kỹ hướng dẫn và nội quy trước khi vào phòng thí nghiệm Đầu tiên phải biết được đâu là lối ra vào, lối thoát hiểm, nơi ngắt điện, nước khi có sự cố, vị trí đặt chuông báo động, bình chữa cháy…
Hãy chắc chắn rằng bạn đã có một ý tưởng rõ ràng cho việc sắp làm Hiểu rõ từng bước và có kế hoạch làm việc cụ thể Đến phòng thí nghiệm để kiểm chứng lý thuyết, thu thập số liệu thực nghiệm, để nắm rõ hơn các thao tác Đừng đến phòng thí nghiệm với tâm lý của một học sinh đến lớp để bắt đầu học những bài học mới Nếu không chắc chắn về bất cứ phần nào hoặc tính an toàn của thí nghiệm, phải trao đổi hoặc đề nghị giúp đỡ từ giáo viên hoặc người phụ trách phòng thí nghiệm
Chuẩn bị là rất quan trọng, không chỉ để hiểu biết mà còn để an toàn cho bản thân và người xung quanh Nếu bạn chuẩn bị tốt sẽ có rất ít khả năng xảy ra tai nạn Trong phòng thí nghiệm, chúng ta có trách nhiệm giữ an toàn cho bản thân và người xung quanh Nếu tai nạn xảy ra do bạn thiếu sự chuẩn bị, nó sẽ gây ảnh hưởng đến người khác và ngược lại Đây là lí do để dành thời gian và nỗ lực chuẩn bị cho thí nghiệm
Trang 5Hãy chắc chắn các lưu ý, cảnh báo an toàn được liệt kê trong mỗi thí nghiệm Ngoài ra phải thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa chung theo nội quy
Cuối cùng, hãy nhớ lời khuyên an toàn quan trọng nhất:
“Luôn đeo kính bảo hộ trong phòng thí nghiệm hóa học”
1.2 Các mối nguy hại trong phòng thí nghiệm
Cần phải nhận thức mối nguy hiểm có thể có và nắm rõ các biện pháp phòng ngừa, xử lý thích hợp Bằng cách này có thể giảm thiểu rủi ro khi làm việc Phần an toàn này được thiết kế để chúng ta làm quen với các mối nguy hiểm có thể xảy ra và làm thế nào để tránh được chúng Ngoài ra cần cung cấp thông tin phải làm gì khi có
Đi giày kín mũi và quần dài để hạn chế tổn thương ở phần chân, không đi xăng đan hay mặc quần sooc Lưu ý: vải jean dễ bị mục khi tiếp xúc với hơi hóa chất và dung môi
Tóc dài cần cột gọn lại, nhất là khi dùng lửa trực tiếp như đèn cồn, khi uốn dẻo thủy tinh
Trang 61.4 Hoạt động
Nghiêm cấm đùa giỡn trong phòng thí nghiệm
Nghiêm cấm ăn, uống trong phòng thí nghiệm Không dùng chai nước suối, ly, tách để đựng hóa chất, không dùng các vật dụng này cho phòng thí nghiệm
Thao tác với chất độc, chất dễ bay hơi, dung môi, pha acid phải thực hiện trong
tủ hút
Cặp, túi, giỏ xách phải để ở nơi dành riêng
Không được nếm bất cứ chất gì, không ngửi trực tiếp khí hay chất có mùi
Rửa khi thật kỹ bằng xà phòng trước khi ra khỏi phòng thí nghiệm
Trang 7 Tìm ngay thiết bị ứng cứu sự cố khi bước vào phòng, bao gồm: nơi ngắt điện, nước; thiết bị chữa cháy, vòi nước rửa mắt, bồn nước, hóa chất cấp cứu…
Trang 81.5 Lưu ý khi sử dụng hóa chất
Cần tuân thủ nghiêm các quy định sử dụng hóa chất, chú ý các kí hiệu ghi trên
Các chất dễ cháy, dễ bay hơi không đặt gần ngọn lửa, không dùng ngọn lửa trần Các chất, dung môi độc khi pha chế phải tiến hành trong tủ hút và phải cẩn thận
VD: không cho nước vào acid đậm đặc, Na kim loại không để gần nước…
Trang 9Các dung môi đã sử dụng phải gom vào bình thu hồi để xử lý riêng, không được xả trực tiếp vào nguồn nước thải
Chai, lọ đựng hóa chất bắt buộc phải có ghi tên hóa chất, ngày bắt đầu sử dụng, tên người sử dụng, đặt đúng nơi quy định Người dùng phải có trách nhiệm cất giữ, bảo quản hóa chất của mình
Sau khi kết thúc quá trình làm việc, nghiên cứu hoặc thực hành, mỗi cá nhân tự thu gom, ghi tên nhãn hóa chất mình đã dùng và phân loại để xử lý
Trang 10Những sai sót trong việc không ghi tên nhãn, hoặc ghi sai sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng trong quá trình làm việc
1.6 Ký hiệu của NFPA-704
Gồm 1 hình thoi lớn được chia thành 4 hình thoi nhỏ với màu sắc khác nhau gồm đỏ, xanh dương, vàng và trắng Được đánh số từ 0 đến 4 với mức nguy hại tăng dần ( 0: không nguy hại, 4: nguy hại nhất)
Màu đỏ: chỉ khả năng bắt lửa (0: không cháy, 4: dễ bắt lửa khi để ngoài không khí)
Màu xanh: Chỉ mức độ ảnh hướng đến sức khỏe Màu vàng: Chỉ độ hoạt động như khả năng nổ, ăn mòn Màu trắng: Thông tin đặc biệt về độ nguy hại
VD: ký hiệu W: chỉ các chất phản ứng mạnh với nước như: H2SO4, Na, Ce (Xesi)
Ký hiệu OX: chỉ các chất oxy hóa mạnh như KMnO4,
Trang 11NH4NO3, H2O2
1.7 Lưu ý khi sử dụng dụng cụ thủy tinh
Khi cho ống thủy tinh qua nút cao su phải cẩn thận, rất dễ gãy
Không cho nước nóng, nước sôi vào dụng cụ thủy tinh đang lạnh
Nếu bị đứt tay do thủy tinh, cho chảy máu vài giây để chất bẩn ra hết rồi dùng cồn 900 rửa và băng lại
Dụng cụ thủy tinh vỡ cần thu gom riêng với các loại rác thải khác
Cẩn thận khi sử dụng nhiệt kế thủy ngân, nếu đã bị vỡ phải thông báo ngay cho giáo viên hoặc phụ trách phòng thí nghiệm để xử trí Thủy ngân thoát ra ngoài sẽ thăng hoa gây ảnh hưởng sức khỏe nghiêm trọng
Cách xử trí thủy ngân khi vỡ nhiệt kế: đeo bao tay, gom các giọt thủy ngân lại, dùng lưu huỳnh dạng bột (màu vàng) rắc lên giọt thủy ngân để ngăn bay hơi, sau đó chuyển hỗn hợp này vào 1 bình tối màu có chứa dung môi hữu cơ (hoặc cũng có thể dùng nước) Đậy kín và ghi nhãn có chứa thủy ngân bên trong Nếu không có lưu huỳnh, vẫn phải thực hiện bước tiếp theo là gom các giọt thủy ngân và đưa vào bình chứa có sẵn dung môi
Trang 12BÀI 2: NHÂN SỰ
I Một số sự cố xảy ra trong phòng thí nghiệm
1 Chưng cất benzene trong 1 hệ chưng cất hoàn lưu Hệ thống có sự cố, hơi benzene thoát ra ngoài, tràn đầy trong tủ hút và phát nổ có thể do tiếp xúc với nguồn tia lửa điện PTN chứa nhiều dung môi nên lan rất nhanh
Thiệt hại: 100% ptn
Trách nhiệm: đây là thí nghiệm đơn giản, được thực hiện nhiều lần
Người thực hiện do lơ là, không theo dõi trong quá trình thực hiện
PTN vi phạm nguyên tắc chứa đồng thời nhiều chất dễ cháy trong ptn
PTN không có hệ thống chữa cháy chủ động trong tủ hút
Nguyên nhân:
Hệ thống không kín
Khả năng hoàn lưu kém dẫn đến không ngưng tụ được hơi dung môi
Trang 132 Chưng cất dietyl eter trong bình cầu Hệ thống cháy nổ
Nguyên nhân: eter có chứa peroxide
Trách nhiệm: không kiểm tra hàm lượng peroxide trước khi chưng cất
Không theo dõi thí nghiệm, dẫn đến bình chưng cất gần cạn, nồng độ peroxide tăng dần gây nổ
Biện pháp phòng ngừa:
Eter mua đủ dùng, không trữ eter dài hạn
Để chỗ thoáng mát, tránh bốc hơi tạo áp suất
Kiểm tra peroxide nếu có nhiều thì loại bỏ
Không bao giờ chưng cất eter đến cạn (chừa lại 10-15%)
3 Kỹ thuật viên làm đổ dd HF 70% lên đùi, mặc dù đã rửa rất nhiều nước trước khi được đưa đi cấp cứu nhưng vẫn tử vong
Phòng ngừa:
Trang 14 HF gây bỏng rất nặng, ăn sâu vào thịt, cần phải hết sức thận trong khi thao tác với HF
Phải có quần áo bảo hộ che kín người, mặt, chân tay và cần phải có Calcium
gluconate (C12H22CaO14) để sơ cứu
Cần lưu ý với dung dịch HF loãng vì lúc đầu không thấy bỏng, nhưng dần dần
sẽ bỏng nhiều nên khi bị dính phải HF phải chữa trị ngay Ngoài ra TFA
(Trifloro acid acetic) là chất dễ bị thủy phân trong không khí ẩm sinh ra HF
Phỏng do Hydrofluoric Acid
II Xử lý các tai nạn thông thường
1 Bỏng:
Khi bị bỏng nhiệt: nếu bị bỏng nhẹ, bôi ngay dung dịch KMnO4 loãng hoặc
rượu EtOH vào chỗ bị bỏng sau đó bôi glycerine, vaselin
Khi bị bỏng do acid: rửa chỗ bỏng nhiều lần bằng nước rồi rửa bằng NaHCO3 2%, đưa đến bệnh viện hoặc trạm xá
Khi bị bỏng kiềm: rửa chỗ bỏng nhiều lần bằng nước sau đó rửa bằng acid
acetic 1% hoặc acid citric (chanh), acid boric với nồng độ tương tự
Khi bị bỏng brôm: rửa chỗ bị bỏng nhiều lần bằng rượu EtOH rồi rửa bằng
dung dịch Na2S2O3 10% sau đó bôi vaselin vào chỗ bỏng
Trang 15 Khi bị bỏng Phosphor trắng: dùng bông tẩm dung dịch CuSO4 2% để đắp lên vết thương
Khi bị bỏng do phenol: rửa chỗ bị bỏng nhiều lần bằng glycerin cho tới khi màu
da trở lại bình thường rồi rửa bằng nước, sau đó băng vết thương bằng bông tẩm glycerin
Ngộ độc do ăn phải hợp chất thủy ngân (Hg): trước hết phải làm cho nôn ra và cho uống sữa có pha lòng trắng trứng, sau đó cho uống than hoạt tính
Ngộ độc vì ăn phải phosphor (P) trắng: làm cho nạn nhân nôn ra rồi uống dung dịch CuSO4 2% Không được uống sữa, lòng trắng trứng và dầu mỡ vì các chất này hòa tan phosphor
Ngộ độc vì hợp chất của chì (Pb): cho uống Na2SO4 10% hoặc MgSO4 10% trong nước ấm vì các chất này tạo kết tủa với chì sau đó uống sữa có lòng trắng trứng và uống than hoạt tính
Ngộ độc benzene: gây nôn, làm hô hấp nhân tạo, cho uống café
3 Tai nạn khác:
Khi bị thương bởi mảnh thủy tinh: gắp hết mảnh thủy tinh ra khỏi vết thương, bôi cồn iod 3% rồi băng vết thương lại Nếu chảy máu nhiều thì cột garrot rồi đưa đi bệnh xá
Khi có đám cháy: tắt hết điện hay bếp điện trần, phủ ngọn lửa bằng cát, nếu cần thì dùng bình khí CO2
Trang 16 Nếu có người bị điện giật: lập tức tắt cầu dao, tách người bị nạn khỏi nguồn điện và làm hô hấp nhân tạo nếu bị ngất
III Các thao tác sơ cứu
Nếu ở tứ chi đè ép phía dưới vết thương (dưới đường đi của mạch máu)
Có thể dùng con chèn (bằng băng cuộn hay chai nhỏ) chận phía dưới vết
thương băng chặt lại
Đứt mao mạch và tĩnh mạch sau khi cầm máu cho nạn nhân nằm tư thế thoải mái, nâng cao vùng tổn thương (nếu được)
Nếu nạn nhân tỉnh : trấn an, cho uống nước
Chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất tùy tình trạng vết thương
Cầm máu động mạch:
Ấn một điểm trên đường đi của động mạch :
Dùng cho đứt những động mạch lớn mà chúng ta không thể băng ép lên vết thương, phương pháp này chỉ áp dụng một thờn gian ngắn, tạm thời
Ví dụ : động mạch cảnh, động mạch nách, động mạch cánh tay cẳng tay,…
Lưu ý :
o Nếu vết thương chảy máu có dị vật như mãnh gỗ, kim loại hoặc bất kỳ vật gì đâm vào mà vẫn còn cấm ở vết thương thì không được rút ra khỏi vết thương
o Trường hợp này ta đệm xung quanh dị vật bằng vải hay khăn sau đó dùng băng
ép lại rồi chuyển nạn nhân đến bệnh viện
Trang 17o Nếu băng ép áp lực trực tiếp lên vết thương mà không cầm máu được, máu chảy
ra nhiều thì phải dùng các biện pháp khác để cầm máu
2 Làm garô
Nguyên tắc làm garô:
Garô chỉ áp dụng khi đứt động mạch tứ chi
Garô phải bản rộng
Không đặt garô trực tiếp lên da nạn nhân
Vết thương nhỏ đặt garô phía trên vết thương 2cm Vết thương lớn đặt garô trên vết thương 5cm không lỏng hoặc chặt quá
Phải luôn luôn theo dõi chi đặt garô không để chi trong tình trạng thiếu máu nuôi dưỡng
Tổng số giờ đặt garô tối đa không quá 6 giờ
Tối đa không quá 1 giờ nới garô một lần, mỗi lần nới không quá 1 phút
Phải có phiếu garô ghi rõ ràng bằng màu đỏ đặt nơi dễ thấy
Vận chuyển ưu tiên số 1
Garô cao su:
Trang 18o Dụng cụ:
- 1 băng cao su to bản
Chi trên dài ít nhất 1m rộng 4cm
Chi dưới dài ít nhất 1,5m rộng 6cm
- Đặt ngón tay cái vào vòng cao su quấn tiếp vòng thứ tư
- Nâng ngón tay cái lên, nhét cuộn garô còn lại vào vị trí đó
- Xử trí vết thương: sát khuẩn xung quanh, đặt gạc, băng lại
- Viết phiếu garô đặt nơi dễ thấy
Trang 19- Khăn mùi xoa 2 – 3 chiếc, mảnh vải, băng cuộn để làm dây garô
- Một que nhỏ dài khoảng 15 – 20cm (đủa, bút chì, thước kẻ,…)
- 1 – 2 mảnh vải nhỏ
o Kỹ thuật tiến hành:
- Buột hơi lỏng trên vị trí định đặt garô
- Đặt 1 cuộn băng hoặc một vật tròn để lên đường đi của động mạch
- Một tay luồn que vào vòng dây, một tay đỡ phần dưới của chi kéo căng da
- Tay cầm que bắt đầu xoắn cho dây chặt dần
- Quan sát vết thương thấy ngừng chảy máu là được
- Dùng mảnh vải buộc que vào chi
- Đặt gạc lên vết thương rồi băng lại
- Viết phiếu garô đặt nơi dễ thấy (trên ngực)
3 Phương pháp hà hơi thổi ngạt
Đưa nạn nhân ra khỏi nơi tai nạn
Đặt nạn nhân nằm nơi thoáng khí, kê gối hay mền dưới vai để cổ ngửa ra phía sau
Làm thông đường thở:
Cho nạn nhân nằm nghiêng, dùng ngón tay quấn gạc (hoặc vải sạch) lấy hết dị vật trong miệng (nếu có: răng giả, đàm nhớt, bùn đất,…)
Nới rộng áo lót, cà vạt, thắt lưng
Dùng một nút gạc chèn giữa 2 hàm răng phía trong má để miệng nạn nhân mở
Trang 20 Dùng 2 ngón tay đặt dưới càm, đẩy cằm ra phía trước để cằm hướng lên trên Tay kia đặt lên trán nạn nhân, ngón cái và ngón trỏ bóp mũi nạn nhân khi thổi vào
CCV hít thật sâu, rồi áp miệng mình vào miệng nạn nhân thổi mạnh đồng thời mắt hướng về phía lồng ngực quan sát lồng ngực nạn nhân có phồng lên xẹp xuống theo nhịp thở không
Lúc bắt đầu thổi liên tiếp 3 – 5 lần để phổi nạn nhân có nhiềi oxy
Nếu không thấy lồng ngực hoạt động, phải kiểm tra tư thế đầu cằm có ngửa ra sau tối đa không và đường hô hấp có thông không ?
Tiếp tục thổi:
15 – 20 lần/phút cho người lớn
20 – 25 lần/phút cho trẻ em
30 – 40 lần/phút cho trẻ sơ sinh
Thổi cho đến khi nạn nhân tự thở lại được
Lấy gối dưới vai
Theo dõi nhịp thở, mạch
4 Phương pháp ép tim ngoài lồng ngực
Đặt nạn nhân nằm ngửa trên mặt phẳng cứng
CCV quỳ bên cạnh nạn nhân (ngang tim) CCV đứng nếu nạn nhân nằm trên giường
Dùng nắm đấm bàn tay đấm mạnh 1 – 2 lần vào 1/3 dưới xương ức (hơi chếch sang bên trái) với độ cao tay đấm 50cm
Đặt gót của lòng bàn tay trái lên 1/3 dưới xương ức, bàn tay phải úp lên bàn tay trái (đan các ngón với nhau) hai tay duỗi thẳng hai vai hướng thẳng vào hai tay
Dồn sức nặng của toàn thân ép xuống lồng ngực của nạn nhạn nhịp nhàng 60 –
80 lần/phút
Trang 21 Kiên trì ép cho đến khi tim đập trở lại Khi cần thiết có thể thay người khác nhưng phải đảm bảo liên tục
Trong khi cấp cứu phải theo dõi sắc mặt, mạch, đồng tử của nạn nhân Sau 60 phút tim không đập, đồng tử giãn thì thôi
Khi tim đập trở lại, ổn định cho nạn nhân nằm thoải mái, đấp ấm và theo dõi tiếp tục mạch, nhịp thở nạn nhân
IV Các biện pháp phòng ngừa
Phải tuân thủ nghiêm ngặt nội quy PTN
Hạn chế số lượng hóa chất lưu giữ trong PTN
Biết phân loại lưu trữ hóa chất
Bảo đảm an toàn hế thống điện
An toàn phòng cháy khi sử dụng khí gas
An toàn phòng cháy nổ khi sử dụng các bình khí nén
Kiểm tra hệ thống ống dẫn khí
Chất lỏng dễ bay hơi, dễ cháy: để nơi mát
Chất dễ phân hủy: tránh bụi bẩn, ẩm, ánh sáng (H2O2, Na2O2)
Cấm nghiền chất oxi hóa mạnh (KClO3, KNO3, NaNO3…)
Trang 22BÀI 3: THIẾT BỊ VỆ SINH VÀ AN TOÀN LAO ĐỘNG
Phương tiện chữa cháy thông dụng (Nguồn trích dẫn: www.pccchochiminh.com)
I Bình chữa cháy bằng CO 2
Bình khí CO2 chữa cháy có rất nhiều loại khác nhau về dung tích và hình dáng (do nhiều nước khác nhau chế tạo sản xuất nhưng đều có đặc tính cấu trúc tác dụng
Khí CO2 gồm 1 nguyên tử cabon và 2 nguyên tử oxy tạo thành gọi là oxytcacbon.CO2
là loại khí trơ không mùi, không màu, không dẫn điện nặng hơn không khí 15 lần
1 Cấu tạo bình CO2: có 3 bộ phận chính
Vỏ bình: làm bằng kim loại chịu áp lực cao 250kg/cm
Hệ thống van nạp khí xả (cấu tạo tay vặn hoặc mỏ vịt), van an toàn
Vòi loa phun: làm bằng vật liệu chịu nhiệt cách điện
2 Đặc tính kỹ thuật:
CO2 nén vào bình với áp lực tối đa 180kg/cm và hóa lỏng ở trong bình
Khi phun ra khỏi bình ở trạng thái khí ( như sương , tuyết lạnh.)
3 Tác dụng chữa cháy của CO2:
Làm giảm hàm lượng oxy tới điểm không hỗ trợ cho sự cháy
Làm loãng hỗn hợp cháy
Làm lạnh
4 Bình CO2 chữa được các đám cháy:
Chất cháy lỏng hay cháy rắn hóa lỏng được (đám cháy loại B)
Chất cháy khí ( đám cháy loại C)
Cháy thiết bị điện
Cháy chất rắn có gốc hữu cơ
( cháy trong điều kiện kín dùng CO2 chữa cháy có hiệu quả cao)
5 Bình khí CO2 không thích hợp chữa các đám cháy:
Trang 23 Hóa chất chứa nguồn cung cấp ôxy (như xenlulô, nitơrat)
Kim loại có hoạt tính hóa học và hydroxyt của chúng
Than cốc và chất nổ đen
6 Thao tác:
Khi xảy ra cháy mang bình CO2 tiếp cận đám cháy
Rút chất an toàn hoặc bỏ kẹp chì
Một tay cầm loa phun vào đám cháy cho tới khi đám cháy tắt
Khi phun đứng ở đầu chiều gió, không cầm tay vào các vị trí nối liên kết với loa phun, không phun vào nguời vì có thể gây bỏng lạnh hoặc CO2 đậm đặc quá gây ngạt
7 Bảo quản bình CO2:
Để nơi khô ráo thoáng mát dễ thấy dễ lấy
Đặt ở nơi nhiệt độ không quá 55oC
Không để nơi ẩm ướt và không được bôi dầu mỡ để bảo quản
II Bình chữa cháy bằng bột
Hiện nước ta đang sử dụng 3 loại bình bột chữa cháy của Trung Quốc: bình hệ MF, hệ MFZ và bình chữa cháy tự động ZYW
Hệ MF bên trong có bình chứa khí đẩy CO2 Riêng không có đồng hồ
Hệ MFZ khí đẩy nạp trực tiếp vào bình chứa bột có đồng hồ, khí đẩy N2
Bình chữa cháy tự động cấu tạo có móc treo, ống bao gồm đầu phun, bình hình cầu
1 Cấu tạo bình bột chữa cháy
Có nhiều kiểu dáng khác nhau nhưng đều có 3 bộ phận chính
Bình chứa bột và khí đẩy bằng kim loại chịu áp lực cao
Hệ thống van
Vòi phun và loa phun
2 Đặc tính kỹ thuật:
Trang 24 Bột chữa cháy trong bình là hỗn hợp hóa chất màu trắng, bột mịn, có ký hiệu loại nào thì chỉ định dập tắt đám cháy loại đó có hịêu quả cao ( bột ABC, BC, AB)
Trọng lượng bột tùy theo dung tích chứa của bình
Khí đẩy CO2, N2 chứa lẫn trong bình chứa bột hoặc chứa trong bình thép, nằm bên trong trong bình chứa bột
4 Các loại cháy có thể chữa bằng bình bột
Chữa các đám cháy mới phát sinh rất có hiệu quả
Chữa các đám cháy chất rắn, lỏng, khí, hóa chất, chữa cháy điện có hiệu điện thế dưới 50V
Trên bình ghi ký hiệu gì thì chữa loại cháy đó sẽ hiệu quả
5 Thao tác
Khi có cháy xách bình bột tiếp cận đám cháy
Rút chốt an tòan, dốc ngược bình lắc 1 vài lần
Một tay cầm loa phun hướng vào gốc lửa, cách gốc lửa khoảng 1,5m còn tay kia bóp mỏ vịt, bột được phun vào dập tắt đám cháy
Khi phun đứng đầu chiều gió
6 Bảo quản bình bột
Để nơi khô ráo dễ thấy, dễ lấy
Đặt ở nơi có nhiệt độ thấp hơn 55oC
Trang 25 Không để nơi ẩm ướt có nhiều dầu mỡ
III Chăn chữa cháy
Chăn dùng trong chữa cháy thường là loại làm bằng sợi cotton, dễ thấm nước,
có kích thước thông thường là 2 x 1,6m
Khi phát hiện ra cháy cần nhúng chăn vào nước để nước thấm đều lên mặt chăn rồi chụp lên đám cháy để ngăn cách đám cháy với môi trường bên ngoài (tác dụng làm ngạt), không cho ôxy của môi trường vào vùng cháy Sở dĩ phải nhúng chăn vào nước trước khi chữa cháy là để sợi bông nở ra làm tăng độ kín trên bề mặt chăn, hơn nữa khi chăn được thấm nước sẽ có tác dụng làm giảm nhiệt độ của đám cháy dẫn đến đám cháy bị dập tắt
Khi dập lửa, hai tay cầm chắc hai góc tấm chăn, giơ cao lên phía trước che mặt rồi nhanh chóng phủ kín đám cháy, đám cháy sẽ được dập tắt
IV Cát (thùng đựng cát, xẻng)
Cát có nhiệt độ nóng chảy từ 1.710oC đến 1.725oC, nhiệt độ sôi là 2.590oC nên
có khả năng thu nhiệt lớn Khi đưa cát vào đám cháy, một mặt cát hấp thụ nhiệt, làm hạ nhiệt độ của đám cháy, mặt khác cát phủ lên đám cháy tạo ra một màng ngăn cách ôxy với đám cháy làm cho lửa tắt (tác dụng làm ngạt) Cát là chất chữa cháy dễ kiếm, rẻ tiền và sử dụng chữa cháy rất đơn giản
Cát thường được dùng để chữa các đám cháy chất lỏng rất có hiệu quả Cát còn
có tác dụng bao vây, ngăn cách chất lỏng cháy không cho tràn ra xung quanh, gây cháy lan Tại các cơ sở xăng dầu, các phòng thí nghiệm, các kho hoá chất người ta thường dự trữ cát để chữa cháy
Để phục vụ cho việc chữa cháy có hiệu quả, cát thường được bố trí trong các thùng, phuy, bể hoặc chứa trong các hố sâu trên mặt đất gần đối tượng cần bảo
vệ Để dập cháy, đưa cát vào đám cháy, tại nơi chứa cát còn phải bố trí xẻng
Trang 26xúc cát hoặc xô, thùng để múc cát đưa vào đám cháy Xẻng, xô, thùng thường được sơn màu đỏ để chỉ dẫn dùng vào mục đích chữa cháy
Nguyên tắc:
Khí carbonic trong quá trình bay hơi sẽ làm lạnh vùng cháy và bao phủ vùng cháy dưới dạng tuyết khô, làm giảm nồng độ oxi của vùng cháy và làm lạnh vật cháy xuống dưới nhiệt độ bốc lửa Trong ptn hóa học, CO2 là phương tiện dập cháy tốt vì không làm hỏng máy móc, thiết bị và rất tiện lợi khi dập đám cháy nhỏ kể cả khi có điện
Những trường hợp không dùng CO 2 để chữa cháy
Không dùng dập lửa cho quần áo đang cháy trên người vì sẽ làm phỏng lạnh vùng da hở của người bị nạn
Không dùng dập lửa đối với kim loại kiềm, magie, nhiều chất lỏng cơ kim (như các dẫn xuất của nhôm alkyl) hoặc các chất cháy có khả năng tách oxi khi cháy (KNO3, KClO, KClO3, KMnO4…)
Nước: dùng dấp cháy gỗ, giấy, cao su, vải và một số chất hòa tan trong nước như aceton, các rượu bậc thấp và các acid hữu cơ
Những trường hợp không dùng nước để chữa cháy
Nếu có các chất phản ứng mạnh với nước (Na kim loại)
Các chất lỏng không tan mà có tỉ trọng nhỏ hơn nước