Giáo trình Giải phẫu sinh lý được biên soạn phù hợp nội dung chương trình đào tạo nghề kỹ thuật dược trình độ cao đẳng. Giáo trình Giải phẫu sinh lý cung cấp kiến thức cơ sở y dược tạo nền tảng cho người học tiếp thu tốt hơn và hiểu rõ hơn tác dụng của thuốc trên cơ thể người nhằm nâng cao chất lượng phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho cộng đồng. Giáo trình được chia thành 2 phần. Mời các bạn cùng tham khảo phần 1 sau đây.
Trang 1BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯỜNG CĐ KỸ NGHỆ II
GIÁO TRÌNH GIẢI PHẪU – SINH LÝ
NGHỀ: DƯỢC TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG
(Ban hành theo quyết định số / /QĐ-CĐKNII ngày tháng năm của Hiệu
trưởng Trường Cao Đẳng Kỹ Nghệ II)
(LƯU HÀNH NỘI BỘ)
Trang 2Lời nói đầu
Kỹ thuật dược là nghề mới được Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội cho phép đưa vào giảng dạy trong hệ thống trường nghề trong vài năm gần đây Nghề này có đặc thù liên quan mật thiết mã ngành Sức khoẻ, đòi hỏi người học phải có đủ kiến thức chuyên ngành Dược, một phần kiến thức ngành Y và kỹ năng sử dụng trang thiết
bị trong bào chế, bảo quản thuốc dùng cho chăm sóc sức khoẻ cộng đồng
Khoa Dược là một trong những khoa mới được thành lập trong hệ thống trường Cao đẳng Nghề Kỹ thuật Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh Trong quá trình giảng dạy nghề kỹ thuật dược theo Chương trình khung được Bộ ban hành, khoa đã chủ động biên soạn bộ giáo trình đáp ứng việc đào tạo nghề dược trình độ cao đẳng nghề, tạo nguồn cung lao động kỹ thuật ngành dược cho nhu cầu xã hội hiện nay
Giáo trình GIẢI PHẨU SINH LÝ được biên soạn phù hợp nội dung chương trình đào tạo nghề kỹ thuật dược trình độ cao đẳng Giáo trình GIẢI PHẨU SINH LÝ cung cấp kiến thức cơ sở y dược tạo nền tảng cho người học tiếp thu tốt hơn và hiểu
rõ hơn tác dụng của thuốc trên cơ thể người nhằm nâng cao chất lượng phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho cộng đồng
Giáo trình GIẢI PHẨU SINH LÝ thật sự còn nhiều khiếm khuyết, khoa Dược trên tinh thần cầu thị mong có nhiều ý kiến đóng góp của các chuyên gia, người học nhằm hoàn thiện hơn nội dung và cập nhật kiến thức chuyên ngành đáp ứng nhu cầu người học và sinh viên các chuyên ngành liên quan
Trang 3CHƯƠNG 1: ĐAI CƯƠNG GIẢI PHẨU HỌC GIỚI THIỆU MÔN GIẢI PHẪU HỌC NGƯỜI
Mục tiêu học tập:
Nêu được ý nghĩa giải phẫu học và các phương thức miêu tả giải phẫu
Trình bầy được vị trí và tầm quan trọng của môn giải phẫu học trong y học Nêu được các quy ước chung về tư thế, mặt phẳng giaỉ phẫu
Nội dung:
1 Giải phẫu học và các phân môn của giải phẫu học
Giải phẫu học người (human anatomy) là nghành khoa học nghiên cứu cấu
trúc cơ thể người Tùy thuộc vào phương tiện quan sát, giải phẫu học được chia thành
hai phân môn: giải phẫu đại thể (gross anatomy hay macroscopic anatomy) nghiên cứu các cấu trúc có thể quan sát bằng mắt thường và giải phẫu vi thể (microscopic
anatomy hayhistology) nghiên cứu các cấu trúc nhỏ chỉ có thể nhìn thấy qua kính hiển vi
2 Các phương thức mô tả giải phẫu
Tùy theo mục đích nghiên cứu, có nhiều cách mô tả khác nhau Ba cách tiếp cận chính trong nghiên cứu giải phẫu là giải phẫu hệ thống, giải phẫu vùng và giải phẫu bề mặt
Giải phẫu hệ thống (systemic anatomy) là cách mô tả mà ở đó cấu trúc của
từng hệ cơ quan (thực hiện một chức năng nào đó của cơ thể) được trình bày riêng biệt Giải phẫu hệ thống thích hợp với mục đích giúp người học hiểu được chức năng của từng hệ cơ quan Các hệ cơ quan của cơ thễ có: hệ da, hệ xương, hệ khớp, hệ cơ,
hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, hệ tiêu hóa, hệ tiết niệu, hệ sinh dục và hệ nội tiết các giác quan là một phần của hệ thần kinh
Giải phẫu vùng (regional anatomy) hay giải phẫu định khu (topographical
anatomy) là nghiên cứu và mô tả giải phẫu của tất cả các cấu trúc (thuộc các hệ cơ quan khác nhau) trong một vùng, bao gồm cả lien quan của chúng với nhau Cơ thể được chia thành những vùng lớn sau đây: ngực, bụng, đáy chậu và chậu hông, chi dưới, chi trên, lưng, đầu và cổ mỗi vùng này lại được chia thành những vùng nhỏ hơn
Giải phẫu bề mặt (surface anatomy) là mô tả hình dáng bề mặt cơ thể người
đặc biệt là những liên quan của bề mặt cơ thể với những cấu trúc sâu hơn như các xương và các cơ Mục đích chính cua giải phẫu bề mặt la giúp người học hình dung
ra những cấu trúc nằm dưới da VD: ở những người bị vết thương do dao đâm, thầy thuốc phải hình dung ra những cấu trúc bên dưới vết thương có thể bị tổn thương
3 Vị trí của môn giải phẫu trong y học:
Trong y học, giải phẫu học đóng một vai trò của một môn học cơ sở Kiến thức giải phẫu học người là kiến thức nền tảng, giúp ta hiểu được hoạt động của cơ thể người (sinh lí học) Fernel noi rằng “ giải phẫu học cần cho sinh lí học giống như mon
Trang 4địa lí cần cho môn lịch sử” Giải phẫu học cũng là nền tảng kiến thức căn bản của tất
cả các chuyên ngành lâm sàng
Trang 54 Tư thế giải phẫu
Tất cả các mô tả giải phẫu được trình bày trong mối liên quan với tư thế giải phẫu để đảm bảo rằng các mô tả đó được rõ rang và chính xác Một người ở tư thế giải phẫu và một người đứng thẳng với: đầu, mắt và các ngón chân hướng ra trước, cac’ gót chân va các ngón chân áp sát nhau, và hai tay buông thong ở hai bên với các gan bàn tay hướng ra trước
5 Các mặt phẳng giải phẫu
Những mô tả giải phẫu đươc bốn loại mặt phẳng giải phẫu cắt qua cơ thể ở tư thế giải phẫu Có nhiều mặt phẳng đứng dọc, đứng ngang và nằm ngang nhưng chỉ có một mặt phẳng đứng dọc giữa Tác dụng chính của các mặt phẳng giải phẫu là để mô
tả các mặt cắt và hình ảnh của cơ thể
Mặt phẳng đứng dọc giữa (medial sagital plane) là mặt phẳng thẳng đứng đi
dọc qua trung tâm của cơ thể, chia cơ thể thành các nửa phải và trái
Các mặt phẳng đứng dọc (sagittal planes) là những mặt phẳng thẳng đứng đi
qua cơ thể song song với mặt phẳng đứng dọc giữa
Các mặt phẳng đứng ngang (coronal/frontal planes) là những mặt phẳng thẳng
đứng đi qua cơ thể vuông góc với mặt phẳng đứng dọc giữa chia cơ thể thành các phần trước và sau
Các mặt phẳng nằm nang (horizontal planes) là các mặt phẳng đi qua cơ thể
vuông góc với các mặt phẳng đứng dọc giữa và đứng ngang Một mặt phẳng nằm ngang chia cơ thể thành các phần trên và dưới
6 Các từ chỉ mối quan hệ vị trí và so sánh
Có nhiều tính từ được sử dụng để mô tả mối liên hệ về vị trí của các phần cơ thể ở tư thế giải phẫu bằng cách so sánh vị trí tương đối của hai cấu trúc với nhau, một cấu trúc đơn lẻ với bề mặt hoặc đường giữa, hay một cấu trúc với các cực co thể Dưới đây là những từ thường được sử dụng
Trên (superior/cranial/cephalic) là nằm gần hơn về phía đầu; ví dụ nói “Tim
nằm trên cơ hoành” nghĩa là nói Tim nằm gần đầu hơn cơ hoành, nói cái gì đó đi về phía đầu tức là nói đi lên phía trên
Dưới ( inferior/caudal) là nằm gần hơn về phía bàn chân ; ví dụ nói “ Dạ dày
nằm dưới tim” nghĩa là nói dạ dày nằm gần bàn chân hơn so với tim
Trước (anterior) là ở gần mặt trước cơ thể hơn
Sau (posterior) là nằm gần mặt sau cơ thể hơn
Bên ( lateral) và giữa (medial) Bên là nằm xa mặt phẳng dọc giữa hơn, giữa thì ngược lại Gần (proximal) và xa (distal) Gần nghĩa là nằm gần thân hoặc là điểm nguyên ủy (điểm gốc) của một mạch máu, thần kinh, chi hoặc cơ quan…hơn; xa có nghĩa ngược lại Nông (superficial) là nằm gần bề mặt hơn và sâu (deep) là nằm xa bề mặt hơn
Bên trong ( internal) là ở gần hơn về phía trung tâm của một cơ quan hay khoang rỗng Bên ngoài (external) thì ngược lại
Trang 6BÀI 1: ĐẦU - MẶT - CỔ
Đầu và mặt có các cơ bám vào da và ở quanh các hốc tự nhiên Cơ được chia thành các nhóm
1 Nhóm cơ vùng đầu: Gồm các cơ rất mỏng:
- Cơ chẩm chán: hai đầu là cơ, còn giữa là cân Cơ bám vào xương chán ở trước xương chẩm ở sau, tạo thành nếp nhăn ở trán
- Hai bên thái dương có hai cơ thái dương
2 Nhóm cơ vùng mặt: Có 4 nhóm cơ quanh các hốc tự nhiên để biểu lộ tình cảm
2.1 Các cơ quanh hốc mắt:
- Cơ mày: ở trong cùng lông mày để nhíu mày
- Cơ vòng mi: vòng quanh mi mắt để nhắm mắt
2.2 Các cơ quanh mũi:
- Cơ tháp: ở phần trên sống mũi
- Cơ ngang mũi: vắt ngang mũi
- Cơ nở mũi làm cánh mũi rạng ra
- Cơ lá làm cánh mũi hẹp lại
2.3 Các cơ quanh miệng:
- Cơ vòng môi: mím môi
- Cơ mút: bú, mút, thổi lửa, thổi sáo
- Cơ nanh: thể hiện tính hung dữ
- Cơ tiếp khớp, tiếp nhỏ: thể hiện vui cười
- Cơ kéo cánh mũi và môi trên ( nông và sâu)
- Cơ cười: cười khầy, nhạo báng
- Cơ vuông cằm làm căng da vùng cằm
- Cơ thái dương: từ xương thái dương đến xương hàm dưới
- Cơ cắn: từ mỏm đến xương hàm dưới
- Cơ chân bướm trong và cơ chân bướm ngoài bám vào mặt trong và mặt ngoài chân bướm, đến bám vào xương hàm dưới
2.6 Mạch máu thần kinh:
Nuôi dưỡng vùng đầu mắt là do động mạch cảnh ngoài , thần kinh chi phối là thần kinh sọ não số VII và V
Trang 73 Cổ:
Ở phía trước và hai bên, chia làm hai khu là khu tạng ở giữa , khu cơ ở xung quanh
3.1 Khu tạng gồm:
- Thực quản ở sát phía trước cột sống, ở sau khí quản
- Khí quản ở trước thực quản
- Hai bên khí quản là thùy bên tuyến giáp trạng, bộ mạch thần kinh cổ (động mạch cảnh gốc, tĩnh mạch cảnh trong và dây thần kinh X) Ngoài ra giữa thực quản
và khí quản còn có nhánh X quặt ngược
3.2 Khu cơ ở xung quanh: chia làm hai lớp:
- Lớp cơ sâu: gồm các cơ trước cột sống ở giữa và các cơ bậc thang ở trước , giữa và sau ở hai bên là các cơ hô hấp
- Lớp cơ nông: gồm các cơ bao quanh tạng, chia làm hai khối
+ Hai bên là cơ ức đòn chũm bám vào xương chũm, là cơ tùy hành của nhóm thần kinh cổ
+ Phía trước cổ có các cơ: 2 cơ ức giáp, 2 cơ vai móng, 2 cơ ức đòn móng, 2 cơ giáp móng
Chú ý: 2 cơ ức đòn móng và 2 cơ ức giáp tạo thành hình trám khí quản là nơi
mổ vào khí quản
Ngoài các cơ này ra ở vùng trên xương móng còn có các cơ: 2 cơ hám móng và
2 cơ cằm móng ở phía trước, 2 cơ nhị thân và 2 cơ trên móng ở hai bên phía sau
1.3.1 Mạc chằng hay dây chằng:
Là nếp phúc mạc chằng có tạng đặc vào thành bụng
Trang 8Ví dụ: mạc chằng vành, mạc chằng liềm, dây chằng tử cung, dây chằng hoành
Là nếp phúc mạc nối tạng này với tạng kia Có 2 mạc nối quan trọng
- Mạc nối nhỏ: là hai là phúc mạc bọc gan đến mặt dưới gan từ hai bên chạy đến gặp nhau và dính lại, từ mặt dưới gan đến bờ cong bé dạ dày lại tách ra bọc dạ dày Mạc nối nhỏ có cuống gan và vòng mạch bờ cong nhỏ
- Mạc nối lớn: Hai lá phúc mạc sau khi bọc mặt trước và mặt sau dạ dày, đến
bờ cong lớn thì chập lại vòng xuống đến khớp mu giống bức rèm che phía trước rỗng
và hồi trang rồi lật ngược lại bám vào mặt trước khối tá tụy rồi dính vào thành bụng sau
* HẬU CUNG MẠC NỐI:
Là khoang ảo ở mặt sau dạ dày do các tạng và mạc nối tạo thành Hậu cung mạc nối gồm các mặt :
- Phía trước là dạ dày ở trên, mạc nối lớn ở dưới
- Phía sau là cơ hoành ở trên, khối tá tụy và thận trái ở dưới
- Phía trên là cơ hoành
- Phía dưới là mạc treo đại tràng ngang
- Phía trái là tỳ có mạc nối vị tỳ và mạc nối tụy tỳ
- Phía phải là khe thông từ hậu cung mạc nối với ngoài Khe tạo bởi tĩnh mạch chủ dưới ở sau trước là bờ phải của mạc nối nhỏ trong đó có cuống gan Trên là thùy Spiegen (spiegel) của gan Khe đó có tên là Uyn-slô (Winslow)
Ta có thể đặt ngón trỏ vào khe này để thăm khám cuống gan, ống mật chủ Trong ngoại khoa thường vào hậu cung mạc nối để thăm mặt sau dạ dầy, và nối thông vị tràng qua mạc treo đại tràng ngang
2 Phân chia ổ bụng:
Lấy phúc mạc làm ranh giới, những tạng được phúc mạc bao bọc gần hết hoặc bao bọc hết gọi là tạng nằm trong ổ phúc mạc Tạng được phúc mạc đi qua một mặt gọi là tạng ngoài phúc mạc Dù tạng nằm trong phúc mạc hoặc ngoài phúc mạc đều gọi là trong ổ bụng
- Những tạng nằm ngoài phúc mạc (ngoài màng bụng)
Lại chia làm 2 phần : sau phúc mạc, dưới phúc mạc
+ Tạng nằm sau phúc mạc: Hai thận, niệu quản tuyến thượng thận, động mạch
chủ bụng, tĩnh mạch chủ dưới
+Tạng nằm dưới phúc mạc: Gồm bàng quang, các tạng sinh dục và trực tràng
- Những tạng nằm trong phúc mạc:
+ Tầng trên đại tràng ngang gồm: Gan, dạ dày tỳ và hầu hết khối tá tụy Tầng
này được mạc chằng liềm chia thành ô dưới hoành phải và ô dưới hoành trái
Trang 9+ Tầng dưới đại tràng ngang: Gồm hỗng tràng hồi tràng và một phần rất ít của
khối tá tụy Tầng này có rễ mạc treo tiểu tràng ngăn cách thành ô dưới bên phải đến manh tràng (hố chậu phải) và ổ dưới bên trái đến tận túi cùng Dougla
Trang 10BÀI 2: HỆ XƯƠNG
Mục tiêu học tập:
Trình bày được cầu tạo xự hình thành và phát triển của xương
Mô tả được những đặc điểm hình thể chính của xương
Gọi đúng được cơ các chi tiết trên phương diện thực hành giải phẫu
Nội dung:
ĐẠI CƯƠNG
1 Thành phần của bộ xương:
Bộ xương người có 206 xương chia thành:
- Các xương trục: Xương sọ và xương mặt, cột sống, xương xườn và xương ức
- Các xương phụ: xương chi trên, xương chi dưới
Ngoài ra còn có xương vừng trong các gân cơ, và những xương bất thường khác
2 Chức năng:
Xương có 4 chức năng chính:
- Nâng đỡ: Bộ xương tạo cho cơ thể một hình dáng và vị thế nhất định
- Bảo vệ: Các xương tạo thành hộp sọ che chở cho não, lồng ngục bảo vệ tim phổi, các mạc nối lớn, khung chậu chứa đựng bang quang, tử cung
- Vận động: Xương là nơi các cơ đến bám nên khi co sẽ tạo cử động quanh các khớp như là một đòn bẩy
- Tạo máu và trao đổi các chất: Tủy xương tạo ra các hồng cầu, bạch cầu hạt và tiểu cầu Đồng thời nó cũng là nơi dự trữ mỡ, canxi, phot-pho…
3 Phân loại:
Có thể sắp xếp loại xương theo hình thể và theo nguồn gốc cấu trúc của nó
3.1 Theo hình thể:
Có các loại sau:
- Xương dài như xương cánh tay, xương đùi
- Xương ngắn như xương cổ tay, cổ chân…
- Xương bất định hình, như xương thái dương, xương hàm trên…
- Xương vừng như xương bánh chè
3.2 Theo nguồn gốc , cấu trúc xương:
- Xương màng như xương hộp sọ và một số xương sọ mặt
- Xương sụn như xương chi, cột sống , xương ức , xương sườn , xương chậu…
4 Mô tả
4.1 Hình thể loài người:
Mỗi xương có một hình thể ngoài riêng biệt và có những chỗ lồi lõm được chia làm 2 loại:
Trang 11- Loại tiếp khớp (diện khớp).Loại tiếp khớp lõm được gọi là ổ chảo hay ổ cối Loại lồi gọi là lồi cầu, chỏm, hay ròng rọc
- Loại không tiếp khớp : Chỗ lồi được gọi là lồi củ , củ , mỏm ,ụ ,gai , mào…
nơi lõm gọi là hố , rãnh , khe , ống khuyết…
Riêng ở một số xương sọ mặt có các hốc xương gọi là xoang hay hang
4.2 Cấu tạo của xương dài:
Gồm có 1 thân xương hình ống và 2 đầu phình to gọi là đầu xương
- Thân xương: cấu tạo bởi chất xương đặc được bao bọc trong màng xương , ở giữa than xương co một hốc xương gọi là buồng tủy
- Đầu xương: phần ngòi mỏng, cấu tạo bởi chất xương cốt mạc, trừ ở diện khớp được thay bằng sụn khớp, phần trong xương dày là chất xương xốp
4.3 Cấu tạo xương ngắn: Tương tự như cấu trúc xương dài
4.4 Cấu tạo xương dẹt và xương bất định hình:
Các xương vòm sọ cấu tạo bởi một lớp xương xốp ở giữa 2 bản xương đặc Màng xương chỉ phủ một mặt ngoài của bản ngoài
4.5 Mạch máu và thần kinh:
Chui qua lỗ nuôi xương, để dinh dưỡng và cảm giác cho xương
5 Sự tăng trưởng của hệ xương:
5.1 Sự cốt hóa
Cốt hóa là một quá trình biến đổi mô lien kết thường thành mô lien kết rắn, đặc ngấm đầy muối canxi, mô xương
Có 2 hình thức cốt hóa:
- Cốt hóa trực tiếp ( gọi là cốt hóa màng) Chất căn bản của mô lien kết ngấm canxi
và biến thành xương được hình thành bằng cách này gọi là xương màng
- Cốt hóa sụn: Các cơ bản của mô lien kết ngấm Cartiragen thành sụn, sau đó sụn này biến thành xương
5.2 Sự tăng trưởng:
Tăng trưởng theo chiều dài: Nhờ sụn đầu xương nối giữa đầu và than xương làm xương tiếp tục tăng trưởng cho đến khoảng 25 tuổi thì ngừng
Tăng trưởng theo chiều dày: Là do sự phát triển của cốt mạc
5.3 Sự tái tạo xương:
Khi xương gãy, giữa nơi gãy sẽ hình thành tổ chức liên kết Tổ chức liên kết này sẽ ngấm canxi và biến thành xương và làm lành xương Khi các đoạn gãy xa nhau thì xương chậm liền hoặc tạo khớp giả Vì vậy cần bất động với nơi gãy
Trang 12XƯƠNG ĐẦU MẶT Các xương đầu mặt chia làm 2 phần:
- Khối xương sọ có 8 xương tạo thành hộp sọ não
- Khối xương mặt gồm 15 xương tạo thành sọ mặt
1 Khối sọ mặt:
1.1 Xương trán:
Nằm trước hộp sọ, gồm trái trán, phần mũi và phần ổ mắt Mặt ngoài trái trán
ở bên đường giữa có ụ trán, cung mày và bờ trên ổ mặt Bên trong xương ở bề trong cung mày có 2 xoang trán ngăn cách nhau bởi một vết xương mỏng
1.2 Xương sàng:
Ở phần trước nền sọ gồm có mảnh sàn nằm ngang, mảnh thẳng đứng thẳng góc với mảnh sàn để tạo thành một vật của vách mũi và 2 mê đạo sàn treo phía dưới hai bên mảnh sàn Mỗi mê đạo sàn có các xoang sàn ở bên trong và 2 xương xoang trên
và giữa ở mặt trong, tạo với mặt này các ngách mũi trên và giữa
1.3 Xương bướm:
Hình con bướm nằm giữa nền sọ Phía trước tiếp khớp với xương trán, xương sàn Phía sau tiếp khớp với xương chẩm Hai bên với xương thái dương Xương bướm gồm một thân bướm hai đôi cánh bướm lớn và nhỏ và mỏm chân bướm Mặt trên thân bướm là hố yên có tuyến yên nằm trong Giữa 3 lỗ: Lỗ tròn, lỗ bầu dục và lỗ gai Bên trong thân xương bướm là xoang bướm
1.4 Xương chẩm:
Ở sau dưới hộp sọ, gồm có 2 chẩm, phần nền và 2 phần bên Bốn phần này bao quanh lỗ lớn xương chẩm Qua lỗ này hộp sọ thông với ống sống Ở 2 bên lỗ lớn có 2 lồi cầu xương chẩm tiếp khớp với đôt sống cổ thứ nhất Ở trước lồi cầu có ống thần kinh hạ thiệt đi qua Ở giữa mặt ngoài trái chẩm là ổ chẩm ngoài
1.5 Xương đỉnh:
Là xương đôi, hai bên đỉnh sọ, hình hơi vuông Mặt ngoài xương cong thành bướu gọi là ụ đỉnh
1.6 Xương thái dương:
Cũng là xương đôi gồm 3 phần: Phần trai, phần đá, phàn nhĩ Phần trai là một phần thành bên của hộp sọ có mỏm gò má tiếp khớp với xương gò má Phần đá có 3 mặt, nền khớp với vành tai và phần nhĩ tạo nên vách ngoài của sọ não và chỏm chũm Mặt sau này có lỗ ống tai trong để thần kinh mặt và thần kinh tiền đình ốc tai đi ra
Phần nhĩ là mảnh xương cong nằm dưới trai và trước mỏm chũm, tạo thành phần lớn ống tai ngoài
2 Khối xương mặt:
Khối xương mặt gồm 15 xương, trong đó có 6 xương chẵn, là các xương: hàm trên, gò má, mũi, lệ khẩu cái và xương xoăn mũi dưới Còn có 3 xương lẻ là các xương: hàm dưới, lá mía và xương móng
2.1 Xương hàm trên:
Trang 13Là xương chính ở mặt, tiếp khớp với các xương khác để tạo thành ổ mắt, ổ mũi
và vòm miệng Xương gồm một than, chứa xoang hàm trên ở trong và bốn mỏm là : mỏm trán mỏm gò má, mỏm khẩu cái và mỏm huyệt răng Các răng được trồng vào những huyệt răng của mỏm này
2.2 Xương khẩu cái:
Có 2 mảnh: Mảnh thẳng và mảnh ngang Mảnh ngang của 2 xương khẩu cái hợp thành phần sau nền miệng và nền mũi Mảnh thẳng có mặt trong là phần sau của thành ngoài lỗ mũi
Là xương nhỏ và mảnh dẻ nhất của khối xương mặt, nằm ở trước, thành trong
ổ mắt Có mào lệ sau và rãnh lệ tạo nên một phần của ống lệ mũi
2.6 Xương xoăn mũi dưới:
Là lá xương mỏng được treo lơ lửng ở thành mũi ngoài Giữa xương với thành này là ngách mũi dưới
2.9 Xương móng:
Hình chữ U, nằm ở hần trước cổ, giữa xương hàm dưới và thanh quản xương
có một thân và 2 cặp sừng lớn và nhỏ, có nhiều cơ vùng cổ bám vào xương
3 Các khớp đầu mặt:
Các xương đầu mặt nối với nhau bằng các khớp bất động Chỉ trừ khớp thái dương – hàm dưới là khớp động duy nhất để ta há miệng, ngậm miệng và nhai Trên trẻ sơ sinh còn thấy ở các góc của 2 xương đỉnh những khoang mà xương chưa tiếp nối liền với nhau, gọi là thóp Có thóp trước hình thoi ở nơi xương trán tiếp nối với 2
Trang 14xương đỉnh Thóp sau hình tam giác, là chỗ tiếp khớp giữa 2 xuong chẩm Hai thóp này là mốc để chuẩn đoán và tiên lượng một số cuộc đẻ
CỘT SỐNG
Cột sống là một cột xương dài, uốn éo từ mặt dưới xương chẩm đến xương cụt Cột sống có từ 33-35 đốt sống, được chia làm 5 phần: phần cổ gồn 7 đốt, phần ngực
có 12 đốt, phần thắt lưng 5 đốt, phần cùng 5 đốt, và phần cụt có 4-6 đốt Các đốt sống cùng và cụt dính lại thành xương cùng và xương cụt
1 Cấu tạo chung của các đốt sống:
Một đốt sống nói chung gồm các thành phần sau:
2 mỏm ngang và 4 mỏm khớp ( 2 mỏm khớp trên và 2 mỏm khớp dưới) Cung đốt sống cùng với thân đối sống tạo thành lỗ đốt sống Khi các đốt sống ghép lại thành cột sống thì các lỗ đốt sống tạo thành ống sống để bao bọc tủy gai ở trong
2 Đặc điểm của từng loại đốt sống:
Các đốt sống của 3 đoạn cổ, ngực và thắt lưng có những đặc điểm riêng đối với các mỏm, lỗ đốt sống… nhưng đặc điểm cơ bản để phân biệt chúng là: các đốt sống
cổ có lỗ ở mỏm ngang, gọi là lỗ ngang, các đốt sống ngực có hố sườn ở mặt bên thân đốt sống để khớp với các đầu xương sườn , các đốt sống thắt lưng không có cả 2 đặc điểm (lỗ ngang và hố sườn) Riêng đốt sống cổ I không có thân đốt sống và tiếp khớp với xương chẩm nên gọi là đốt đội Đốt sống cổ II có mỏm răng ( đốt trục), đốt sống
cổ VI có mỏm ngang lồi to ra thành củ cảnh, đốt sống cổ VII có mỏm gai dài thẳng ra
sờ thấy ngay dưới da (đốt sống lồi)
Xương cùng do 5 đốt sống cùng dính lại mà thành Xương có hình tháp dẹt trước sau nên có 2 mặt, một nền quay lên trên, một đỉnh quay xuống dưới tiếp khớp với xương cụt và 2 phần bên Mặt chậu hông quay ra trước có 4 đôi lỗ cùng chậu hông, lõm Mặt lưng lồi và gồ ghề, có 4 cặp lỗ cùng lưng và các mào cùng: giữa, trung gian và bên Các lỗ cùng để cho các dây thần kinh gai sống chui qua Bên trong xương cùng có ống cùng lien tiếp ở phía trên với ống sống và trước các nhánh của đuôi ngựa Phần bên xương cùng có diện hình tai để khớp với xương chậu Phía sau diện này là lồi củ cùng, có các dây chằng bám vào Chỗ xương cùng khớp với đốt sống thắt lưng V tạo thành một góc lồi ra trước gọi là ụ nhô Đó là điểm mốc để đo các dường kính trước, sau của eo trên khung chậu Từ ụ nhô này chạy ngang qua 2
Trang 15bên liên tiếp với mặt chậu hông của xương cùng là phần sau của đường tận cùng chậu (hình)
Xương cụt do 4-6 đốt sống cụt tạo thành, là di tích của các loài vật Đỉnh xương cụt quay xuông dưới và là một mốc để đo các đường kính trước sau của eo dưới khung chậu Nền xương cụt quay lên trên để khớp với đỉnh xương cùng Khớp cùng cụt là một khớp bán động nên có thể cho phép xương cụt uốn cong ra sau khi sinh nở
XƯƠNG NGỰC
Ngực được tạo bởi khgung xương sụn gồm 12 đốt sống ngực, xương ức, các xương sườn và sụn sườn.khung này hình nón cụt nên có 2 lỗ trên và dưới lỗ dưới được cơ hoành bít lại ngăn cách ổ bụng ở dưới và lông ngực ở trên
1 Xương ức:
Xương ức là một xương dẹt nằm ở thành trước của ngực và gồm 3 phần: cán
ức, thân ức và mỏm mũi kiếm cán ức nối với thân ức bằng một góc lồi ra trước bờ trên có cán ức có khuyết tĩnh mạch ở giữa và hai khuyết đòn hai bên để khjowps với đầu ức của xương đòn mỗi bờ trên có 7 khuyết sườn để khớp với 7 sụn sườn
2 Xương sườn:
Có 12 đôi xương sườn , là những xương dài, dẹt, cong ở hai bên lồng ngực giwuax hai xương sườn kế tiếp nhau là khoang gian sườn
2.1 Cấu tạo chung của các xương sườn:
Mỗi xương sườn có một đầu , một cổ và một thân
- Đầu sườn có hai diện khớp ngăn cách nhau bởi một mào gọi là mào đầu sườn
để tiếp khớp với hố sườn ở mặt bên của thân hai đốt sống ngực kề nhau
- Cổ sườn là phần thắt lại nối đầu sườn đến củ sườn , củ sườn nằm ở phần sau chỗ nối giữa cổ và thân Phía dưới trong của củ sườn có một diện khớp lồi để tiếp khớp với hố sườn ngang của mỏm ngang đốt sống ngực
- Thân dài, dẹt, rất cong doc theo bờ ở mặt trong có rãnh sườn để chứa mạch
và thần kinh gian sườn
2.2 Điểm vài xương sườn đặc biệt:
- Xương sườn I: rộng và ngắn nhất Có hai mặt trên và đưới Mặt trên có tĩnh mạch dưới đòn ở phía trước và rãnh động mạch dưới đòn ở sau giữa hai rãnh là củ cơ bật thang trước mặt dưới không có rãnh sườn
- Xương sườn II: có hai mặt chếch trên ngoài và dưới trong , ở phần giữa mặt trên ngoài có lồi củ cơ răng trước
- Xương sườn XI và XII: đầu sườn chỉ có một mặt khớp , không có cổ sườn ,
củ sườn lẫn góc sườn xương sườn XII không có rãnh sườn và ngắn hơn xương sườn
XI
Trang 16- Sụn sườn : sụn sườn nối thân sườn với xương ức ở các khuyết sườn bảy sụn trên bám trực tiếp vào xương ức , có 3 sụn sườn VIII, IX và X thì bám vào xương ức gián tiếp qua sụn sườn VII, hai xương sườn XI và XII không có sụn mà lơ lửng nên gọi là sườn cụt Nhờ các sụn sườn mà thành ngực có tính đàn hồi hơn , thích hợp với các cử động hô hấp
XƯƠNG CHI TRÊN
Ở người có 4 chi gồm 2 chi trên và 2 chi dưới:
- Các xương bả vai: có 2 xương là xương đòn và xương vai gọi chung là đai vai
- Xương ở cánh tay: có một xương là xương cánh tay
- Các xương ở cẳng tay: có 2 xương là xương trụ và xương quay, khi cẳng tay ngửa hai xương nằm song song, xương trụ ở trong, xương quay ở ngoài
- Các xương cổ tay : có 8 xương nhỏ xếp thành 2 hàng , mỗi hàng có 4 xương
- Các xương ở bàn tay: có 5 xương đốt bàn tay và 14 xương đốt ngón tay Mỗi ngón có 3 xương, ngón cái có hai xương
Các xương chi trên liên kết với nhau bởi khớp động
1 Xương đòn:
Xương đòn là một xương dài, cong hình chữ s, nằm ngay dưới da ngang qua phí trước nền cổ Xương có một thân và hai đầu đầu trong tiếp khớp với xương ức, đầu ngoài tiếp khớp với xương vai
- Đầu ức ở trong tiếp khớp với xương ức
- Đầu cùng vai ở ngoài tiếp khớp với mỏm cùng vai của xương vai
2 Xương vai:
Là một xương dẹt hình tam giác nằm áp phía sau trên của lồng ngực Xương vai khớp với xương đòn và xương cánh tay phía ngoài , còn ở phía trong được nối với cột sống chỉ bằng các cơ
2.1 Định hướng:
Đặt xương đứng ngang, góc có diện khớp hình xoan lên trên và ra ngoài, mặt
có gai nằm ngang ra sau
2.2 Mô tả:
Xương có 3 mặt, 3 bờ, 3 góc.mặt sườn lõm thành hố nhìn ra trước gọi là hố dưới vai Mặt lưng có gai vai chia mặt này thành hố trên gai và hố dưới gai, phần
Trang 17ngoài của gai vai là mỏm cùng vai tiếp khớp với xương đòn Ba bờ là bờ trên có khuyết vai va mỏm quạ, bờ ngoài và bờ trong Ba góc là góc trên , góc dưới và góc ngoài Góc ngoài có một hõm khớp hình xoan gọi là để khớp với xương cánh tay
và phía trên ròng rọc là hố vet Ở trên ngoài chỏm con là mỏm trên lồi cầu ngoài và ở trên trong dòng rọc là mỏm trên lồi cầu trong Mặt sau ở trên ròng rọc có hố mỏm khuỷu
3 mặt 3 bờ: bờ trước, bờ sau và bờ gian cốt, mảnh và sắc, ba mặt là mặt trước, mặt trong và mặt sau Đầu dưới nhỏ hơn đầu trên, phía ngoài có diện khớp vòng để khớp với xương quay, phía trong có mỏm châm trụ
5 Xương quay:
Nằm phía ngoài xương trụ, xương quay khớp vói xương cánh tay ở trên, các xương cổ tay ở dưới và xương trụ ở trong
5.1: Định hướng:
Trang 18Đặt xương đứng thẳng, đầu lớn ở dưới, mấu nhòn của đầu này ra ngoài và mặt
có nhiều rãnh ở đầu này ra sau
5.2 Mô tả:
Xương có một thân và hai đầu, đầu trên có chỏm xương quay hình trụ tiếp khớp với chỏm con xương cánh tay ở phía trên và với xương trụ ở phía trong Phía dưới chỏm là cổ xương quay Phía dưới và trong của cổ là lồi củ quay để cơ nhị đầu cánh tay bám Thân xương có 3 mặt trước, ngoài và sau và 3 bờ là bờ trước, bờ sau
và bờ gian cốt, sắc hướng vào trong và ở đoạn dưới thì bờ này tách ra làm 2 gờ trước
và sau giới hạn nên khuyết trụ, đầu dưới lớn hơn đầu trên và có 4 mặt: mặt dưới có diện khớp cổ tay để nối với xương cổ tay, mặt trong có khuyết trụ để nối với xương trụ , mặt ngoài thảng liên tục xuống dưới thành mỏm trâm quay, xuống thấp hơn mỏm trâm trụ Mặt sau có nhiều rãnh để gân các cơ duỗi đi xuống bàn tay
6 Các xương cổ tay:
Có 8 xương cổ tay xếp thành 2 hàng, mỗi hàng có 4 xương xếp theo thứ tự vào trong:
Hàng trên: xương thuyền, xương nguyệt, xương tháp, xương đậu
Hàng dưới: xương thang, xương thê , xương cả , xương móc
Ở mặt gan tay, các xương cổ tay tạo thành rãnh cổ tay, có mạc giữ gân gấp căng ngang phía trước biến rãnh cổ tay thành ống cổ tay để các cơ gấp, mạch thần kinh đi qua
7 Các xương đốt bàn tay:
Có 5 xương đốt bàn tay được đánh số thứ tự từ ngoài vào trong là I đến V mỗi xương có một nền để khớp với xương cổ tay và xương đốt bàn tay bên cạnh (trừ xương đốt bàn tay một), một thân hơi cong ra trước và một chỏm để khớp với nền đốt gần của các xương ngón tay
8 Các xương ngón tay:
Mỗi ngón tay có 3 đốt theo thứ tụ từ trên xuống: đốt gần, đốt giữa và đốt xa, riêng ngón cái chỉ có 2 đốt, mỗi đốt cũng có một nền, một thân và một chỏm nền để tiếp khớp với xương ở trên và chỏm để khớp với xương ở dưới, trừ các đầu dưới của các đốt ngón xa (chỏm) không tiếp khớp mà có hình móng ngựa
XƯƠNG CHI DƯỚI
Chi dưới giống như chi trên, được nối vào thân mình bởi một đai, gọi là đai chi dưới và có 3 phần: Đùi, cẳng chân và bàn chân Đai chi dưới do xương chậu khớp với nhau ở phía trước và với xương cùng ở phía sau tạo thành Đùi gồm xương đùi và xương bánh chè Cẳng chân có xương chày và xương mác, bàn chân có các xương cổ chân, các xương đốt bàn chân và các xương đốt ngón chân
Các xương chi dưới được nối với nhau bằng cá khớp động giống như xương chi trên
1 Xương chậu:
Trang 19Xương chậu là xương chẵn, hình chong chóng hai cánh và do 3 xương hợp thành: xương cánh chậu, xương mu và xương ngồi
Ở giữa có một chỗ hõm gọi là ổ cối, có hai phần: phần tiếp khớp với xương đùi
có hình chư C mở xuống dưới gọi là diện nguyệt Phần không tiếp khớp nằm ở đáy ổ cối là hố ổ cối Ổ cối bị khuyết ở dưới gọi là khuyết ổ cối Trên ổ cối là mặt ngoài của xương cánh chậu, có 3 đường mông: Sau, trước va dưới có các cơ mông bám vào Dưới ổ cối gọi là ổ bịt do xương ngồi và xương mu tạo nên Lỗ bịt được giới hạn ở trên bởi rãnh bịt Qua rãnh có mạch và thần kinh bịt từ vùng chậu chạy ra đùi
- Mặt trong:
Ở giữa là đường cung, chạy chéo từ sau ra trước xuống dưới Phía trên đường cung là hố chậu Phía sau có một diện khớp hinh vành tai gọi là diện tai để khớp với xương cùng
- Các bờ:
+ Bờ trên: Thường được gọi là mào chậu, bắt đầu từ gai chậu trước trên đến
gai chậu sau trên Gai chậu trước trên và gai chậu sau trên là các điểm mốc để xác định vùng tiêm bắp an toàn ở mông
+ Bờ dưới: Được tạo bởi ngành dưới xương mu và ngành xương ngồi
+ Bờ trước: Từ trên xuống dưới có gai chậu trước trên, gai chậu trước dưới, gò
chậu mu (gò chậu lược), một diện hình tam giác gọi là diện lược giới hạn bởi phía sau bởi mào lược, sau cùng là củ mu
+ Bờ sau: Có nhiều chỗ lồi lõm, từ trên xuống dưới có: Gai chậu sau trên, gai
chậu sau dưới, khuyết ngồi lớn có hình lê đi qua, gai ngồi nhô vào khoang chậu bé nên người ta lấy gai ngồi làm mốc để xác định đường kính ngang của gai chậu bé (đường kính ngang của eo giữa) và độ lọt của ngôi thai trong tiến trình chuyển dạ sanh, khuyết ngồi nhỏ, ụ ngồi là nơi nối thân với ngành xương đùi ngồi
1.3 Các đường kính của khung chậu:
Khung chậu được tạo bởi 4 xương: Hai xương chậu ở phía ngoài và phía tước, xương cùng và xương cụt ở phía sau Khung chậu được chia làm chậu lớn và chậu bé bởi một mặt chếch xuống dưới và ra trước, băng qua ụ nhô của xương cùng, đường cung của xương chậu, mào lược xương mu và bờ trên của khớp mu Chu vi của mặt phẳng này gọi là đường tận cùng hay eo chậu trên Chậu lớn liên quan với các tạng nằm ở phần dưới ổ bụng, còn chậu bé chứa đụng bàng quang, trực tràng và cơ quan sinh dục trong… Ở nữ giới, chậu bé còn là một đường ống để thai nhi chui và sổ ra ngoài sau khi sinh Ống này có hai lỗ: lỗ trên là eo chậu trên, lỗ dưới là eo chậu, được
Trang 20giới hạn bởi bờ dưới khớp mu ở phía trước, hai ụ ngồi hai bên, xương cùng và xương cụt ở phía sau
Trong sản khoa, người ta đo các đường kính của khung chậu Có thể kể các đường kính đó là:
1.3.1 Các đường kính ngoài của chậu lớn:
- Đường kính lưỡng gai: là khoảng cách giữa hai gai chậu trước trên
- Đường kính lưỡng mấu: là khoảng cách giữa hai mấu chuyển lớn xương đùi
- Đường kính lưỡng mào: là khoảng cách giữa hai điểm xa nhất của mào chậu
- Đường kính trước sau (Baudeloque): là khoảng cách giữa bờ trên khớp mu đến chỗ hõm giữa đốt sống thắt lưng V và xương cùng
1.3.2 Các đường kính trong của chậu bé:
Các đường kính của eo trên:
- Các đường kính trước sau: đường nhô – thượng vệ, nhô – hạ vệ, nhô – hậu vệ
là các khoảng cách từ ụ nhô lần lượt đến bờ trên, bờ dưới và mặt sau khớp mu – Đường kính chéo: là khoảng cách từ khớp cùng chậu bên này đến gò chậu mu đối bên
- Đường kính ngang: là khoảng cách từ phần giữa của đường cung xương chậu bên này đến đường kính cung bên kia
Các đường kính của eo dưới:
- Đường kính trước sau: là khoảng cách từ bờ dưới khớp mu đến đỉnh xương cụt
- Đường kính ngang: là khoảng cách giữa hai bờ trong của hai ụ ngồi
Xương đùi có một thân và hai đầu: trên và dưới
Đầu trên: Gồm 4 phần: chỏm đùi, cổ đùi và hai mấu chuyển (lớn, bé)
- Trục của cổ nghiêng lên trên và vào trong hợp với trục của thân một góc
1300
- Ở phía trước hai mấu chuyển nối nhau bởi đường gian mấu và ở phía sau bởi mào gian mấu
Thân xương: có 3 mặt và 3 bờ
- Bờ trong và bờ ngoài không rõ lắm Bờ sau lồi gọi là đường ráp
- Đường ráp có hai mép: mép trong và ngoài Ở phía dưới, mép tách đôi ra giới hạn nên một cùng hình tam giác gọi là diện kheo
- Xương có ba mặt: Trước, ngoài và trong được phủ các cơ nên không sờ thấy được dưới da
Trang 21Đầu dưới của xương đùi:
Tiếp khớp với xương chày bởi hai lồi cầu: lồi cầu tong và lồi cầu ngoài Ở phía trước, hai lồi cầu nối với nha bởi diện bánh chè Ở phía sau, hai lồi cầu được phân cách nhau bởi hố gian lồi cầu Mặt ngoài lồi cầu ngoài có mõm trên lồi cầu ngoài, mặt trong lồi cầu trong có mõm trên lồi cầu trong Phần trên của mõm trên lồi cầu trong là củ cơ khép, có cơ khép lớn bám vào
3 Xương bánh chè:
Là một xương hình tam giác dẹt nằm phía trước đầu dưới xương đùi và được bọc trong gân cơ tứ đầu đùi Xương có hai mặt trước và su, ba bờ: Trên, trong và ngoài và một đỉnh quay xuống dưới Xương bánh chè bảo vệ khớp gối ở phía trước
và góp phần quan trọng động tác duỗi gối
rõ lắm Ba mặt là mặt trong, mặt ngoài và mặt sau Phần trên của mặt sau có đường
cơ dép chạy chếch vào trong và xuống dưới Đầu dưới nhỏ hơn đầu trên, phía trong
có một mấu xương gọi là mắt cá trong Mặt dưới có diện khớp với xương sên
6 Các xương bàn chân:
Xương bàn chân gồm các xương cổ chân, các xương bàn chân, các xương đốt bàn chân và các xương ngón chân Các xương bàn chân liên tiếp nhau tạo thành hình vòm để thích ứng với chức năng chịu đựng khi đi đứng
Trang 22Các xương cổ chân: Gồm 7 xương xếp thành hai hàng Hàng sau có xương gót
tạo thành gót chân và xương sên tiếp khớp với hai xương cẳng chân Hàng trước có 5 xương: xương ghe, xương hộp và 3 xương chêm: trong, giữa và ngoài
Các xương đốt bàn chân: Gồm có 5 xương được đánh số từ một đến năm (I-V)
kể từ trong ra Mỗi xương có một nền, một thân và một chỏm
Các xương đốt ngón chân: Mỗi ngón có 3 đốt: Gần, giữa và xa Riêng ngón cái
có 2 đốt Mỗi đốt cũng có một nên, một thân và một chỏm
Trang 231 Khớp bất động:
Không có ổ khớp, các xương được nối với nhau bằng mô liên kết sợi (gọi là khớp bất động sợi), bằng sụn (khớp bất động sụn), hoặc bằng chính mô xương (khớp bất động xương) Các khớp này bất động hoặc ít động về mặt chức năng tùy theo thời gian của tổ chức sụn tồn tại, khớp bất động sụn còn chia làm 2 loại:
- Loại tạm thời: tổ chức chỉ tồn tại đến một lứa tuổi nhất định, sau đó sẽ thay bằng tổ chức xương, như các khớp ở nền sọ, khớp cùng chậu
- Loại vĩnh viễn: tổ chức sụn tồn tại đến suốt đời , nhừ khớp đá bướm, khớp đá chẩm
2 Khớp bán động:
Có khe khớp và bao khớp sợi nhưng không có bao hoạt dịch tùy theo tính chất sụn xen giữa khe khớp là sụn sơ hay sụn trong mà người ta phân biệt khớp sụn sơ như khớp mu và khớp sụn trong, như khớp giữa cán ức và thân xương ức
5 Bao khớp:
Gồm hai màng: màng sời và màng hoạt dịch Màng sợi, hay bao sợi bám chung quanh mặt khớp nối liền hai đầu xương vào nhau và liên tục với màng xương Màng hoạt dịch hay bao hoạt dich lót bên trong bao khớp , và dính quanh viền sụn khớp , ở hai đầu xương tạo thành một ổ khớp Màng hoạt dịch sinh ra chất hoạt dịch để làm trơn và giảm ma sát ở khớp
Trang 246 Ổ khớp:
Là một khoang kín được giới hạn bởi mặt khớp và bao hoạt dịch, ổ khớp chứa chất hoạt dịch và áp lực âm nên luôn bị tác động của áp lực khí quyển làm cho các mặt khớp sát vào nhau Hầu hết các khớp chi trên và chi dưới là những khớp động Ví dụ: khớp vai, khớp khuỷu, khớp hông, khớp gối chúng tôi sẽ lấy khớp vai để mô tả một khớp động
2 Phương tiện nối khớp :
- Các dây chằng ổ chảo - cánh tay: thật ra là những chô dày lên của bao khớp
ở mặt trên và trước có 3 dây chằng :
+ Dây chằng ổ chảo - cánh tay trên: từ đỉnh ổ chảo đến đầu trên củ nhỏ
+ Dây chằng ổ chảo - cánh tay giữa:từ vành trên ổ chảo đến nền củ nhỏ
+ Dây chằng ổ chảo - cánh tay dưới: từ vành trước ổ chảo đến cổ giải phẫu
Ở giữa dây chằng giữa và dây chằng dưới là chỗ yếu nhất của bao khớp nên khi bị trật khớp vai ( kiểu trước trong) chỏm xương cánh tay thương hay bị trật ở chỗ này
3 Bao hoạt dịch
Là một bao áp vào mặt trong bao khớp bao có 3 điểm:
- Bọc vòng quanh gân dài của cơ nhị đầu cánh tay, do đó khi gân này ở trong bao khớp nhưng ngoài bao hoạt dịch
- Qua lỗ hổng của bao khớp, bao hoạt dich liên quan trực tiếp với mặt sau dưới vai
- Bao hoạt dich thông với túi thanh mạc của cơ dưới vai, cơ nhị đầu và cơ delta
Động tác: khớp vai là một khớp chỏm nên biên độ rất rộng:
Đưa ra trước 900 ra sau 400
Xoay ngoài 600 xoay trong 900
Trang 25Khép 300 dạng 900
Và khi phối hợp với động tác quay vòng
Mô Mục tiêu học tập:
Mô tả và phân loại được các loại thượng mô
Mô tả được cấu tạo và chức năng của các loại mô liên kết
Vẽ và chú thích được sơ đồ mô liên kết chính thức
Nội dung:
Các cơ quan trong cơ thể cấu tạo bởi nhiều loại mô Mô là một hệ thống những
tế bào và chất gian bào có cấu tạo và sắp xếp đặc biệt để đảm nhận những chức năng chuyên biệt Dựa vào cấu tạo và chức năng, ta có nhiều loại mô khác nhau: thượng
mô, mô liên kết, mô cơ, mô thần kinh, mô máu
1 Thượng mô:
Thượng mô là một loại mô được cấu tạo bởi các tế bào sắp xếp sát vào nhau nên khoảng gian bào và chất gian bào không đáng kể Dựa vào chức năng ta có hai loại thượng mô: thượng mô phủ và thượng mô tuyến
1.1 Thượng mô phủ:
Phủ các khoang tự nhiên như ổ mũi, ổ miệng ruột… tùy theo cách sắp xếp và hình dáng tế bào ta có nhiều loại thượng mô phủ
1.1.1 Thượng mô đơn:
Cấu tạo bởi một lớp tế bào Tùy hình dáng tế bào ta có :
- Thượng mô lát đơn: tế bào hình đa giác dẹt lót màng bụng, màng phổi
- Thượng mô vuông đơn: các tế bào hình vuông như thượng mô lót ống thận
- Thượng mô trụ đơn: các tế bào hình trụ như thượng mô lót mặt trong dạ dày, ruột
Bề mặt các tế bào này có chất nhầy bảo vệ và lồi lõm để tăng diện tích trao đổi
1.1.2 Thượng mô tầng :
Cấu tạo bởi nhiều lớp tế bào xếp chồng lên nhau Tùy hình dáng tế bào ta có:
- Thượng mô lát tầng: thượng mô âm đạo, thượng bì da, thượng mô đường tiết niệu
- Thượng mô vuông tầng: thượng mô thành ống bài xuất mồ hôi và các tuyến ngoại tiết
- Thượng mô trụ tầng: thượng mô đường hô hấp, bề mặt thượng mô này có lông rung chuyển, chuyển động đẩy bụi ra ngoài
1.2 Thượng mô tuyến:
Là một tập hợp tế bào chức năng sản xuất và bài tiết những chất tiết Dựa vào cách bài tiết của tuyến ta có hai loại tuyến : tuyến nội tiết và tuyến ngoại tiết
1.2.1 Tuyến ngoại tiết :
Trang 26Là những tuyến bài tiết chất tiết ra ngoài cơ thể hay vào các khoang tự nhiên trong cơ thể, do đó tuyến ngoại tiết nào cũng có ống bài tiết dẫn chất tiết ra khỏi tuyến, ví dụ tuyến nước bọt, tuyến mồ hôi, tuyến niêm mạc ruột
1.2.2 Tuyến nội tiết :
Là tuyến mà chất tuyến ngấm thẳng vào máu Do đó tuyến nội tiết không có ống bài tiết mà cả mô tuyến tiếp xúc với một mạng lưới mao mạch Ví dụ: tuyến giáp, tuyến thượng thận…
có thể biến thành tế bào khác như: đại thức bào, tế bào sợi, tế bào lympho, tế bào mở, tương bào, tế bào bón, tế bào nội mô Những tế bào của mô liên kết chính nằm trong một chất cơ bản gồm chất tạo keo và chất trun
Căn cứ vào cách sắp xếp và chức năng ta có các loại mô liên kết chính thức
- Mô liên kết thưa: có tác dụng đệm giữa các cơ quan và các mô khác với chức năng dinh dưỡng Trong loại mô này tế bào và sợi đều ít, sắp xếp không định hướng
Mô sụn là mô liên kết trong đó chất căn bản nhiễm chất sụn Nhờ vậy mô sụn
có độ rắn chắc nhất định để đáp ứng nhu cầu chóng đỡ có hiệu lực có ba loại sụn:
- Sụn trong: đó là các sụn khớp xương, sụn sườn, sụn thanh quản, sụn khí
quản Sun trong cấu tạo bằng những tế bào sụn hình cầu nằm trong các ổ sụn Chất căn bản có nhiều loại sợi tạo keo và nhiễm chất sụn Phía ngoài sụn có màng sụn gồm hai lớp, lớp ngoài chứa mạch máu, lớp trong là lớp sinh sụn
- Sụn xơ: có ít tế bào sụn, chất căn bản có nhiều bó sợi tạo keo xếp song song
Ví dụ: sụn liên đốt sống, gân cơ bám vào xương…
- Sụn trun: là loại sụn cấu tạo nên vành tai, sụn mũi, sụn nắp thanh quản Sụn trun có nhiều sụn, chất căn bản có nhiều sợi trun
2.3 Mô xương:
Mô xương có chức năng chuyển động, chống đỡ cơ thể bảo vệ các nội tạng bên trong và có vai trò chuyển hóa calci… mô xương
Trang 27- Tế bào xương: có dạng hình sao, có nhiều nhánh bào tương, nhân tế bào hình bầu dục Các nhánh bào tương của tế bào này nối với các nhánh bào tương của tế bào lân cận
- Chất căn bản: chứa nhiều chất xương gồm các chất khoáng calci, photpho chiếm 70% trọng lượng xương, chất hữu cơ chiếm 30% trọng lượng xương Chất căn bản xương tạo nên những lá xương, chen vào các lá xương là ổ xương chứa tế bào xương Trong chất căn bản còn chứa nhiều sợi tạo keo, các ổ xương nối với nhau bằng tiểu quản xương Các tiểu quản xương hợp thành lưới chứa các nhánh bào
tương của tế bào, ngoài ra các xương còn có tủy xương ở trong và bao bọc bên ngoài bởi màng xương tủy xương: có nhiều loại như tủy tạo xương, tủy tạo cốt, tủy mỡ, tủy xương Màng xương bọc bên ngoài xương, trừ mặt khớp, dầy độ hai li gồm hai lớp: lớp ngoài che chở, lớp trong tạo ra xương cốt mạc
2.4 Mô cơ:
Mô cơ cấu tạo bởi những tế bào có chức năng co rút gọi là tế bào cơ Có ba loại cơ:
- Cơ trơn: là cơ của các tạng, các tuyến và các thành mạch Mỗi sợi là tế bào
hình thoi dài 60-100 micromet Nhân hình bầu dục, bào tương gồm những sợi tơ cơ gồm các sợi actin và sợi myosin,chạy theo chiều dọc của tế bào giúp cơ co rút cơ trơn
co rút và không theo ý muốn, chịu sự chi phối của hệ thần kinh tự chủ
- Cơ vân: các cơ ở chi, ở lưỡi đều là cơ vân Mỗi sợi cơ vân là một tập hợp tế
bào hình lăng ngang từ 2-7 micromet dài có thể đến 12 cm có nhiều nhân nằm sát màng tế bào Sợi tơ cơ xếp thành những đoạn tối và những đoạn sáng tạo nên những vân ngang Sợi tơ cơ gồm các sợi actin mỏng và sợi mysin dày Các sợi tơ cơ nằm sen kẽ và lồng một phần vào nhau, trượt lên nhau khi cơ co rút Cơ vân co rút theo ý muốn
- Cơ tim: cấu tạo nên quả tim Tế bào cơ tim hình lăng trụ dài, có nhiều nhân
nằm chính giữa tế bào Cấu tạo của cơ tim giống như cơ vân, nhưng cơ tim co rút theo chu kỳ, không theo ý muốn Sự có rút của tim nhờ hệ thần kinh tự động của tim
và đám rối thần kinh tự chủ của tim
2.5 Mô thần kinh :
Mô thần kinh cấu tạo bởi các tế bào thần kinh hay nơ-rôn và các tế bào thần kinh đệm
Tế bào thần kinh:
Tế bào thần kinh có một thân hình sao, giữa là hình cầu, bào tương có thể nissl
và xơ thần kinh Xung quanh tế bào có nhiều nhánh cành ngắn giữ chức năng thu nhận các kích thích đưa vào thân Mỗi tế bào còn có một nhánh trục dài đi từ thân đến tế bào kế cận Nơi tiếp xúc giữa các nhánh của hai tế bào, có chùm tận cùng là nơi chứa các synap Túi synap chứa các chất hóa học chung gian giúp cho sự dẫn truyền thần kinh Nhánh trục thần kinh có hai dạng:
- Sợi có myelin được bao bọc bởi vỏ schwan và vỏ myelin tạo nên chất trắng của hệ thần kinh
Trang 28- Sợi không có myelin chỉ được bao bọc ở ngoài bằng vỏ schwan tạo nên chất xám của hệ thần kinh
Những tế bào thần kinh đệm:
Gồm nhiều loại tế bào thần kinh khác nhau:
- Tế bào thượng mô đám rối màng mạch nằm lồi não thất có chức năng dinh dưỡng nơ-ron và thực bào các tế bào thần kinh bị thoái hóa
- Tế bào thần kinh đệm ngoại vi tạo thành vỏ schwan, bảo vệ sợi thần kinh
Huyết tương có hàm lượng các chất, độ PH tương đối ổn định nhờ cơ chế điều hòa chung của cơ thể, và tham gia vào nhiều chức năng quan trọng của máu như dinh dưỡng, đề kháng, ổn định nội mô, dông máu…
2.6.2 Các huyết cầu:
Hồng cầu ( hình) là những tế bào hình đĩa, lõm hai mặt, mất nhân trước khi vào
hệ tuần hoàn, đường kính khoảng 7 mcromet, dày khoảng 2 mcromet, có màu đỏ nâu
Nó chứa chất Hemogiobine nên chức năng chủ yếu là vận chuyển oxy và CO2 Số lượng 3,5 triệu/mm3 máu
Bạch cầu: có kích thước lớn hơn hồng cầu ( 7-15 micromet ) đây là những tế bào rất di động nhờ bào tương hình thành các gia túc Người ta thường phân loại bạch cầu theo hình thể nhân của nó Bạch cầu đơn nhân gồm hai loại : là monocyt và
lymphocyt Bạch cầu đa nhân gồm ba loại: đa nhân trung tính, ái toan và ái kiềm
Công thức bạch cầu bình thường là :
Số lượng bạch cầu thay đổi theo bệnh lý
- Tiểu cầu (H2 14) là những mảnh tế bào nhỏ có hình dạng không nhất định, không có nhân, kích thước 2-5 mmicromet Số lượng 150.000-300.000/mm3 máu
Trang 29BÀI 4: HỆ THẦN KINH
MỞ ĐẦU
Hệ thần kinh chỉ huy mọi hoạt động của cơ thể như : vận động, cảm giác và dinh dưỡng làm cho các cơ quan trọng trong cơ thể hoạt động thống nhất với nhau, làm cho cơ thể thống nhất với môi trường sống bằng cách nhận các kích thích qua phân tích, tổng hợp rồi gây các phản ứng để thích nghi
Người ta chia hệ thần kinh thành 2 phần:
- Phần có tính chất động vật (thần kinh não tủy) có nhiệm vụ vận động, cảm giác và dinh dưỡng cho các cơ vân xương và da Phần này gồm 2 phần là thần kinh trung ương và ngoại vi Trung ương gồm não bộ và tủy sống, ngoại vi gồm 32 dây thần kinh sống và 12 đôi dây thần kinh sọ não
- Phần có tính chất thực vật gồm hệ giao cảm và phó giao cảm chỉ huy hoạt động cơ trơn và nội tạng, các tuyến Hệ này có tính chất tự động mỗi phần giao cảm
và phó giao cảm đều gồm trung ương và ngoại vi
Hai phần thần kinh là động vật và thực vật đều thống nhất dưới sự chỉ huy chung của vỏ đại não và liên hệ mật thiết với nhau
HỆ THẦN KINH NÃO TỦY
Hệ thần kinh não tủy (thần kinh động vật) gồm hai phần là trung ương và ngoại
1.1.1 Hình thể ngoài:
Tủy sống giống cây tròn đường kính khoảng 1cm dài 42-45 chia làm 32 đốt tủy, mỗi đốt cho một đôi dây thần kinh sống Tủy sống cũng cong theo cột sống, ở chính giữa phía trước có rãnh giữa trước rộng và nông, chính giữa phía sau có rãnh giữa sau, hẹp và sâu Hai bên rãnh giữa trước là rãnh bên trước có rễ vận động đi ra Hai bên rãnh giữa sau là rãnh bên sau phát ra rễ cảm giác Rễ vận động và rễ cảm giác chạy ra ngoài hợp thành dây thần kinh tủy sống
Trang 30- Chất trắng ở xung quanh chất xám, do những bó sợi thần kinh tập hợp lại tạo thành Các bó này chia làm hai loại chính là vận động và cảm giác
Các bó vận động đi từ não xuống tủy sống, gồm : bó tháp thẳng đi ở hai bên rãnh giữa trước, bó tháp chéo đi ở hai bên trước sừng sau, các bó ngoại tháp như bó tiền đình tủy, hạt đỏ tủy dẫn truyền những vận động không tùy ý
Các bó cảm giác dẫn chuyền cảm giác từ tủy sống lên não Gồm các bó: bó gôn (goll) ở hai bên rãnh sau, dẫn truyền cảm giác sâu có ý thức như đau ở cơ, xương, khớp xương, bó Buốc-đắc ( burdach) ở ngoài bó gôn cũng dẫn truyền cảm giác sâu có
ý thức Bó tiểu não ở ngoài cũng dẫn truyền cảm giác sâu không có ý thức, gồm các
bó Gôvơ (Gowers) ở phía trước là bó Phlech- xích (Flechsig) ở phía sau Bó cảm giác nông (xúc giác) có bó cung trước dẫn truyền những cảm giác sờ mó có tính chất ý niệm về vị trí, bó cung sau dẫn truyền cảm giác nóng, lạnh, đau
Ngoài những bó vận động và cảm giác còn có bó liên hợp có tính chất liên lạc các phần của tủy sống với nhau
1.2.1 Hình thể ngoài:
Chia làm 3 phần:
- Thân não: ở phía dưới đại não, ở phía trước tiểu não Thân não gồm 3 phần
kể từ dưới lên là: hành não, cầu não và trung não
+ Hành não ( hành tủy) ở trên tủy sống ở dưới cầu não Nhìn ngoài rất giống tủy sống nhưng phình to hơn Giữa hành tủy về cầu não là rãnh cầu phát ra các dây thần kinh sọ não VI, VII, VIII ( kể từ trong ra) Hai rãnh bên sau phát ra đôi dây thần kinh IX, X, XI có 2 rãnh bên sau có trám hành Phía sau trám hành là có hai cuống tiểu não dưới dính hành não với tiểu não Giữa 2 cuống tiểu não dưới là phần dưới của nền buồng não IV
+ Cầu não ở dưới trung não, ở trên hành não Cầu não ở phía trước lồi hơi tròn, hai bên có nhiều khía ngang và phát ra đôi dây thần kinh số V Cầu não ở phía sau dính với tiểu não bởi 2 cuống tiểu não giữa Phía sau cầu não là phần trên của cầu não
IV
+ Trung não ở trên cầu não, ở dưới gian não Ở giữa trung não có một ống thông từ buồng não III đến buồng não IV Ở sau cầu não và hành não, ở trước cầu não gọi là cống Si-vi-uyt ( Sil-vius) Cống này chia trung não thành hai phần: phần
Trang 31trước gọi là cuống đại não, ở giữa hai cuống này phát ra đôi dây thần kinh số III Phần sau cuống này có củ não sinh tư ( gồm 2 củ trước và 2 củ sau) Phía trên 2 củ trước có tuyến tùng, ở phía dưới đôi củ sau phát ra đôi dây thần kinh số IV chạy vòng
2 bên cuống đại não ra trước
Dưới dây thần kinh số IV là phần trung não nối với tiểu não bởi hai cuống tiểu não trên
- Tiểu não: ở phía sau thân não, dưới đại não
Tiểu não có 3 thùy: thùy giữa gọi là thùy dun ( thùy nhộng), hai thùy bên là hai bán cầu tiểu não Tiểu não được dính với thân não bởi hai cuống tiểu não dưới ( dính với trung não), hai cuống tiểu não giữa ( dính với cầu não) hai cuống tiểu não trên ( dính với trung não) Phía trước tiểu não tạo với thân não một khoảng trống chứa dịch não tủy gọi là buồng não IV Buồng não IV thông với buồng não II qua ống Sylvius thông với ống tủy sống ở dưới, thông với khoang dưới nhện bởi lỗ Magiăngđi ( Magc-ndi) và 2 lỗ Luytka (Luseehka)
- Đại não: ở trên thân não và tiểu não
Đại não gồm gian não và 2 bán cầu đại não
+ Gian não: ở trên trung não và được 2 bán cầu đại não phủ lên trên Gian não
có 2 nhân xám lớn nhất hình quả xoan, nằm ở hai bên gọi là đổi thị được nối với nhau bởi 2 mép xám giữa 2 đồi thị là buồng não III Phía trước dưới đồi thị là vùng dưới thị Dưới vùng dưới thị có cuống tuyến yên dính tuyến yên vào gian não Tuyến yên nằm trong hố yên có thùy trước và thùy sau Phía sau gian não có 2 cuống tuyến tùng
+ Hai bán cầu đại não ở hai bên được ngăn cách với nhau bởi khe liên bán cầu
và trùm lên trên gian não Hai bán cầu đại não được dính với nhau bởi mép liên bán cầu gồm: thể trai thể tan giác, mép trắng trước và mép trắng sau
Mỗi bán cầu đại não có 3 mặt ngoài, trong và mặt dưới Trên bán cầu có các khe chia mặt bán cầu thành từng thùy, có các rãnh chia các thùy thành từng hồi Các khe như khe Sylvius, Khr Rô-lăng-đô (Rolando), khe thẳng góc ngoài, khe thẳng góc trong, khe viền trai Vì vậy mắt bán cầu đại não chia thành 6 thùy Mỗi thùy lại chia thành nhiều hồi Cụ thể: thùy trán có 4 hồi là hồi trán lên, hồi trán 1,2,3 Thùy đỉnh có
3 hồi là đỉnh lên, đỉnh trên và đỉnh dưới Thùy chẩm có 6 hồi là chẩm 1,2,3,4,5,6 Thùy thái dương có 5 hồi là hồi thái dương 1,2,3,4,5 Thùy trái (thùy khuy) có 1 hồi Thùy đảo phải banh khe Synviuys ra mới nhìn thấy có 4 hồi là 1,2,3,4
Ở phía trước mặt dưới bán cầu đại não có đôi dây thần kinh số I và II
Bán cầu đại não được bọc 1 lớp thân tế báo thần kinh màng xám gọi là vỏ não Mỗi vùng ở vỏ đại não phụ trách một chức năng nhất định Sự định khu tụy đến nay chưa hoàn toàn thống nhất nhưng nhiều khu đã được công nhận như : vận động ,nghe, nhìn, nếm, khu hiểu tiếng nói, khu hiểu chữ viết… bên trong hai bán cầu đại não có hai khoang trắng chứa dịch não tủy gọi là hai buồng não bên 1, liên thông với buồng não III bởi lỗ Mông rô (Monro)
1.2.2 Hình thể trong não:
Cắt ngang não thấy cũng có chất xám và chất trắng như tủy sống
Trang 32- Chất xám: không tập trung như tủy sống mà phân tán rải rác gồm vỏ đại não, tiểu não và các nhân xám dưới vỏ Cụ thể như : ở hành não có nhân trám hành, nhân tiền đình , nhân của các dây thần kinh sọ não số V, VI, VII, VIII Ở trung não có nhân đỏ, liềm đen, các nhân của các dây thần kinh sọ não số III, IV và củ não sinh tư
Ở tiểu não có nhân mái, nhân răng chính và phụ, vỏ tiểu não Ở gian não có đồi thị thể Luyt (luys) và nhân xám ở dưới thị Bán cầu đại não có nhân đuôi, nhân bèo, nhân trước tương (gọi là thế vân) và vỏ não
- Chất trắng: xem kẻ chất xám như những cành cây, là những bó sợi dẫn truyền cảm giác từ dưới lên, vận động từ trên xuống, chúng bắt chéo nhau ở não hoặc tủy sống Vì vậy khi tổn thương ở não bên phải thì biểu hiện bệnh lý ở nửa người bên trái
và ngược lại, ở hành tủy vẫn có bó cung, bó tiểu cầu Còn có gôn và bó buốc- rây (reil ) giữa Bó tháp phần lớn bắt chéo nhau tạo thành bó tháp chéo còn lại chạy thẳng xuống gọi là tháp thẳng Ở cầu não cũng có bó cung tiểu não chéo còn bó tiểu não thẳng chạy thẳng vào tiểu não từ dưới hành tủy bó gây giữa hột với bó cung tạo thành
bó gây chính, ngoài ra còn có sợi ngang của cầu não chạy và tiểu não Bó tháp bị các sợi ngang phân tán thành các bó nhỏ
Ở tiểu não chất trắng bao bọc chất xám và xen vào thành nhánh như cành cây
Ở trung não các bó vận động (bó tháp, bó rối, bó vỏ cầu) tập trung thành cuống đại não Các bó cảm giác (bó gây giữa, bó cung, bó khứa giác) ở phía sau các bó vận động
Ở đại não các bó tạo thành các bao như bao trong, bao ngoài, bao ngoài cùng
và trung tâm bầu dục ( là phần chất trắng ở giữa vở xám và nhân xám)
1.2.3 Các vùng não:
Ở não bộ có 4 khoang rộng chứa dịch não tủy gọi là các buồng não (não thất) Các khoang này thông với nhau và thông với khoang dưới nhện
Hai buồng não bên (buồng não I và II) ở trong hai bán cầu đại não
Buồng não III ở trong gian não
Buồng não IV ở sau hành não và cầu não, ở trước tiểu não
Hai buồng não bên thông với buồng não III bởi hai lỗ Mông rô Buồng não III thông với buồng não IV bởi ống Sylvius, buồng não IV thông với ống, thông với khoang dưới nhện bởi lỗ Magiangdi và 2 lỗ Luytka
1.2.4 Mạch máu não:
Não bộ được nuôi dưỡng bởi động mạch cảnh trong và động mạch đốt sống
cổ, máu sau khi nuôi não được đổ về các xoang tĩnh mạch Xoang được tạo bởi xương xọ và màng cùng của não Não có các xoang tĩnh mạch
- Xoang tĩnh mạch dọc ở trên đường giữa sọ đi từ xương trán đến xương chẩm Xoang tĩnh mạch dọc dưới là xoang chẩm
- Xoang tĩnh mạch ở hai bên xương chẩm và sau xương chủm
- Xoang tĩnh mạch hang ở hai bên thân xương bướm, các xoang tĩnh mạch này nối tiếp nhau và tiếp nối hệ tĩnh mạch ngoài sọ
1.2.5 Vận dụng thực tế:
Trang 33Khi chọc hút dịch não tủy nếu hút nhanh quá dể gây tụt hành tủy vào lỗ chẩm gây choáng và chết đột ngột
Có thể tiêm thuốc cảm quang vào động mạch cảnh trong để chụp não phát hiện khối u não hoặc ô máu tụ
- Màng nhện: có hai lớp giữa là 2 khoang nhện Khoang giữa màng cứng và lớp ngoài của màng nhện gọi là khoang dưới nhện
-Màng nuôi: là lớp màng mạch máu sát với não và tủy sống
1.4 Đại cương về đường dẫn truyền thần kinh:
1.4.1 Đường cảm giác nông:
Là bó niềm hoặc bó cung Đêgiơrin (dezerin) gồm bó liềm trước và liềm sau
- Bó liềm sau dẫn truyền cảm giác nóng, lạnh và đau từ ngoài qua rễ sau vào sừng sau rồi chéo qua đường giữa sang bên đối diện chạy lên hành tủy lên đồi thị để lên vỏ não
- Bó liềm trước cảm giác xúc giác về ý niệm vị trí, từ ngoài qua rễ sau đến sừng sau rồi bắt chéo sang bên đối diện đến bó liềm trước lên hành tủy qua đối thị đến vỏ não
1.4.2 Đường dẫn truyền cảm giác sâu có ý thức:
Là bó Gôn và bó buốc dắc, từ các sợi dẫn truyền từ ngoài qua rễ sau đến sừng sau rồi vào bó gôn và buốc dắc chạy lên hành tủy dừng ở nhân Gôn và nhân Buốc dắc rồi bắt chéo sang đồi thị đối diện để lên vỏ não Cảm giác cho ta biết hình thể, kích thước, trọng lượng của vật ta cần nhận biết
1.4.3 Đường dẫn truyền cảm giác sâu không ý thức:
Là các bó tiểu não Gô và Flếchxích
- Bó Gôvơ: do các sợi đi từ ngoài theo rễ sau vào sừng sau bắt chéo đường giữa sang bên kia vào bó Gôvơ, lên cầu não vòng qua cuống tiểu não dưới vào thùy dun của tiểu não rồi theo cuống tiểu não tới nhân đỏ rồi vào đồi thị trên đối diện
-Bó Flếchxích: cũng do những sợi vào rễ sau đến sừng sau đến bó Flếchxích cùng bên, qua hành tủy theo cuống tiểu não dưới vào tiểu não rồi theo cuống não trên sang nhân đỏ bên đối diện, một số sợi lên đồi thị
1.4.4 Đường vận động: có 3 bó
- Bó gối: do các sợi từ vỏ não (hồi trán lên) xuống hành tủy đa số các sợi bắt chéo nhau tạo thành bó tháp chéo xuống tủy sông để vào sừng trước cùng bên rồi chạy ra ngoài Còn số ít sợi chạy xuống tủy sống tạo thành bó tháp thẳng rồi bắt chéo nhau ở đường giữa sang sừng trước bên kia để theo rễ vận động ra ngoài
- Bó vỏ cầu: do các sợi chạy từ vỏ não xuống nhân cầu ở cầu não
Trang 342 Thần kinh ngoại vi (ngoại biên)
Gồm 12 đôi dây thần kinh sọ não và 32 đôi dây thần kinh sống xuất phát từ não
và hành tủy đi đến chi phối các cơ vận động là chủ yếu còn một số dây sọ não có tính thực vật thì đến các cơ trơn và các tuyến
2.1 Mười hai đôi dây thần kinh sọ não:
Xuất phát từ não bộ đến chi phối các giác quan ở đầu mặt cổ riêng dây X chi phối hầu hết các tạng
- Dây I (dây khứu giác) chức năng ngửi
- Dây II (dây thị giác) chức năng nhìn Hai dây thị giác bắt chéo nhau gọi là giao thoa thị giác
- Dây III (dây vận nhãn chung) vận động nhẫn cầu lên trên, xuống dưới, vào trong, kéo mi trên lên trên và làm co đồng tử
- Dây IV (dây cảm động) vận động cơ chéo to đưa nhãn cầu xuống dưới và ra ngoài
- Dây V (dây tam khoa) cho 3 nhánh mắt, nhánh hàm trên, nhánh hàm dưới, 2 nhánh hàm chi phối cơ nhai, nhánh mắt cảm giác ở giác mạc
- Dây VI (dây vận nhãn ngoài) đưa nhãn cầu ra ngoài
- Dây VII (dây mặt) vận động các cơ ở mặt gọi là dây tình cảm có nhánh trên
và nhánh dưới Còn dây VII phụ cảm giác vị giác ở 2/3 trước lưỡi
- Dây VIII (dây thánh giác) có nhánh óc và nhánh tiền đình, chức năng thính giác thăng bằng và định hướng
-Dây IX (dây hầu thiệt) là dây phó giao cảm vận động cảm giác và tiết dịch vùng hậu và cảm giác 1/3 sau lưỡi tiết nước bọt tuyến mang tai
- Dây X (dây phế vị) cũng là dây phó giao cảm lớn nhất cơ thể vận động các cơ thanh quản, chi phối hoạt động của tim, phổi, dạ dày, ruột
- Dây XI (dây gai) chi phối các cơ ức dòa chũm, cơ thân và cơ thanh quản
- Dây XII (dây hạ nhiệt) vận động các cơ lưỡi
2.2 Ba mươi hai đôi dây thần kinh sống:
Phát ra từ tủy sống, chui qua lỗ liên hợp ra ngoài chia làm hai nhánh: nhánh sau chi phối cơ hai bên cột sống, nhánh trước đến các đám rối thần kinh hoặc là các dây thần kinh liên sườn
- Đám rối cổ: do các nhánh trước từ đốt sống cổ I đến đốt cỡ IV đi đến tạo thành đám rối cho nhánh cơ hoành, các nhánh chi phối vùng cổ
- Đám rối cánh tay: các nhánh từ đốt sống cổ V đến đốt sống ngực I, cho 7 dây đến chi phối chi trên và các nhánh nhỏ đến chi phối vai nách
- Mười hai đôi dây thần kinh liền sườn chi phối ngực và thành bụng
- Đám rối thẳng lưng do các nhánh từ đốt sống thắt lưng I đến thắt IV cho các nhánh chi phối thành bụng và chi dưới
- Đám rối cùng: do các nhánh từ đốt sống thắt lưng V đến đốt sống cùng III -
IV, đám rối chi phối mong 6 và chi dưới
Trang 35- Đám rối cụt: có tính thực vật do các nhánh từ đốt sống cùng IV - V cùng với các nhánh cụt tạo thành đám rối chi phối các tạng mầm mống nằm trong chậu hông
Gồm 3 phần là trung khu, hạch và 2 dây thần kinh giao cảm
1.1 Trung khu thần kinh giao cảm
Nằm dọc hai bên mép xám từ đốt tủy cổ VII đến đốt tủy thắt lưng III Từ trung khu có các dây đến hạch rồi đến tạng
1.2 Các hạnh thần kinh giao cảm:
Có 22-23 đôi hạch tạo thành 2 chuỗi chạy dọc 2 bên cột sống Các hạch có nhánh không trắng và thân xám nối với tủy sống và dây thần kinh sống Các hạch chia làm 4 tầng
- Tầng cổ trung thất trước: có 3 hạch cổ là trên, giữa và dưới Tầng này cho các dây đến đám rối tim phổi Hạch cổ dưới cùng là hạch ngực I tạo thành hạch sau:
- Tầng cổ trung thất sau: có 5 hạch chi phối trung thất sau thực quản
-Tầng ngực bụng có 6 hạch tiếp theo tạo thành dây tạng lớn, tạng bé chui qua
cơ hoành xuống bụng đến đám rối dương (thái dương)
-Tầng thắt lưng chậu hông gồm 4-5 hạch thắt lưng 4 hạch cùng và 1 hạch cụt cho các nhánh đến đám rối hạ vị
1.3 Các dây thần kinh giao cảm:
Đi từ trung khu giao cảm đến hạch rồi đến đám rối thực vật và tạng Vì vậy có
2 Hệ thần kinh phó giao cảm ( hệ đối giao cảm)
Tác dụng ngược lại giao cảm trên cùng 1 cơ quan, cũng gồm 3 phần là trung khu, hạch và dây phó giao cảm
2.1 Trung khu phó giao cảm:
Nằm ở nhân của các dây thực vật III, V, VI, VII,IX, X, XI ở thân não và ở hai bên mép xám đoạn tủy cùng II, III, IV
2.2 Các hạch phó giao cảm:
Thường nằm gần ở tạng hay thành của các tạng (hạch trước tạng hoặc hạch thành) Như dây III có hạch mắt, dây IX có hạch tai, dây VII có hạch bướm khẩu cái, dây X có hạch Sberg
2.3 Các dây phó giao cảm
Trang 36Cũng có đoạn trước hạch và đoạn sau hạch, nhưng đoạn trước hạch dài hơn và
có vỏ myêlin bọc, đoạn sau hạch ngắn hơn và không có vỏ myêlin cần chú ý dây X
và các dây của đoạn tủy cùng
-Dây X từ não chạy qua cổ ( nằm trong bó mạch thần kinh cổ) xuống ngực, chui qua cơ hoành xuống bụng Đây là dây phó giao cảm lớn nhất của cơ thể Trên đường đi dây X cho các nhánh như : nhánh quật ngược, nhánh vào đám rối tim phổi (
ở ngực), nhánh vào đám rối dương ở mặt sau dạ dày, nhánh vào đám rối hạ vị ở mặt trước xương cùng cụt
-Đoạn tủy cùng phát ra 3 dây cương chạy vào đám rối hạ vị rồi đến các tạng trong chậu hông nhỏ
3 Các đám rối thần kinh thực vật:
Có 3 đám rối chính
- Đám rối tim phổi: do thần kinh giao cảm từ các hạch tầng cổ trung thất trước
và phó giao cảm là dây X tạo thành Đám rối này quấn quanh quai động mạch chủ đi đến chi phối các tim và phổi
-Đám rối dương ( thái dương hay mặt trời ): do thần kinh giao cảm từ các hạch tầng ngực bụng và phó giao cảm là nhánh của dây X tạo thành Đám rối nằm trước động mạch chủ bụng đoạn từ cơ hoành, đám rối gan, đám rối dạ dày, đám rối mạc treo tràng trên, đám mạc treo tràng dưới
-Đám rối hạ vị : do thần kinh giao cảm từ các hạch tầng thắt lưng chậu hông và phó giao cảm là nhánh của X cùng với 3 dây cương tạo thành Đám rối ở mặt trước xương cùng đến chi phối các tạng nằm trong chậu hông bé
4 So sánh giữa thần kinh giao cảm và thần kinh phó giao cảm:
-Về dẫn truyền:
Thần kinh phó giao cảm dẫn truyền nhanh nhưng duy trì hưng phấn kém hơn thần kinh giao cảm vì đoạn trước hạch có myêlin bọc
-Về tác dụng:
Trái ngược nhau hoàn toàn:
+ Giao cảm làm tim đập nhanh, giãn động mạch vành, giảm nhu động ruột, giãn khí quản, co mạch ngoại biên, co mạch não, giãn đồng tử
+ Phó giao cảm ngược lại tim đập chậm, co động mạch vành, tăng nhu động ruột, co khí quản, giãn mạch ngoại biên, giãn mạch não, co đồng tử
Trang 37Hố nách có 4 thành, 1 đỉnh, 1 nền Trong hố nách có mạch máu và thần kinh từ
cổ xuống chi trên
Cơ răng trước:
+ Nguyên ủy: mặt ngoài 10 xương sườn đầu
+ Động tác: kéo xương vai xuống
- Cơ quạ cánh tay:
+ Nguyên ủy: đỉnh mỏm quạ
Trang 38+ Bám tận: mặt trong trên xương cánh tay
+ Động tác: khép cánh tay
1.4 Thành sau:
- Cơ dưới vai:
+ Nguyên ủy: hố dưới vai
+ Bám tận: củ nhỏ xương cánh tay
+ Động tác: xoay cánh tay vào trong
- Cơ trên gai và cơ dưới gai
+ Nguyên ủy: hố trên gai và dưới gai
- Cơ dưới vai:
+ Nguyên ủy: bờ ngoài xương vai (1/2 dưới)
2.1 Đám rối thần kinh cánh tay:
Được tạo bởi các nhánh trước của các dây thần kinh gai sống từ CIV đến DI
* CIV, CV, CVI: Tạo thân trên
*CVII : Tạo thân giữa
* CVIII : Tạo thân dưới
Ba thân này mỗi thân chia làm hai ngành (trước và sau)
- Ngành trước thân trên và ngành trước thân giữa tạo thành bó ngoài Ngành trước thân dưới tạo bó trong
- Ba ngành sau của ba thân tạo bó sau Từ ba bó này tách ra các nhánh sau: + Bó ngoài tách ra: dây thần kinh cơ bì, rễ ngoài thần kinh giữa
+ Bó trong tách ra: rễ trong thần kinh giữa, dây thần kinh trụ, dây thần kinh bì cánh tay trong và TK bì cẳng tay trong
+ Bó sau tách ra: dây thần kinh nách và dây thần kinh quay
2.2 Động mạch nách:
2.2.1 Nguyên ủy – đường đi – liên quan – tận cùng:
Do động mạch dưới đòn đổi tên bắt đầu từ điểm giữa phía sau xương đòn đến
bờ dưới cơ ngực lớn
Trang 39Tĩnh mạch nách luôn đi trong động mạch Cơ ngực bé chạy ngang phía trước động mạch chia động mạch thành 3 đoạn:
- Đoạn trên cơ ngực bé: thần kinh nằm ngoài động mạch khi các thân tạo nên
bó thì vây quanh động mạch
- Đoạn sau co ngực bé: có các nhánh tách ra từ các bó vây quanh
- Đoạn dưới cơ ngực bé: chỉ còn dây TK giữa đi trước ngoài động mạch
Cơ qua cánh tay
2.2.4 Đường chuẩn đích: đường thẳng từ giữa xương đòn đến giữa nếp khuỷu
Kể tên và nêu được động tác các cơ ở cánh tay
Mô tả được các thành và các thành phần nằm trong ống cánh tay
Trình bày được động mạch cánh tay
Nội dung:
1 Giới hạn:
Trên: nền nách
Dưới: cách nếp gấp khuỷu hai khoát ngón tay ở phía trên
Trên thiết đồ cắt ngang cánh tay xương cánh tay, vách gian cơ trong vách gian
cơ ngoài chia cánh tay làm hai vùng ( trước, sau)
2 Vùng cánh tay trước:
2.1 Lớp nông: da, thần kinh dưới da, mạc nông
2.2 Lớp sâu: cơ, mạch máu, thần kinh
2.2.1.Các cơ vùng cánh tay trước:
Lớp nông: cơ nhị đầu
- Nguyên ủy: ổ chảo, mỏm quạ
Trang 40- Bám tận: lồi củ quay, mạc nông cẳng tay
- Động tác: gấp cẳng tay
Lớp sâu: cơ quạ cánh tay
- Nguyên ủy: đỉnh mỏm quạ
- Bám tận: mạt trong trên xương cánh tay
- Động tác: xoan cánh tay vào trong
Nằm trong ống cánh tay, ống cánh tay có hình lăng trụ tam giác gồm 3 thành:
- Thành trước: 1/2 trên là cơ nhị đầu + cơ quạ cánh tay
1/2 dưới là nhị cơ đầu + cơ cánh tay
- Thành sau: vách gian cơ trong
- Thành trong : mạc nông, da, thần kinh dưới da
* Động mạch cánh tay:
+ Đường đi – liên quan – tận cùng: tiếp theo động mạch nách ( từ bờ dưới cơ ngực lớn) đi thẳng xuống dưới khuỷu 3cm chia làm 2 ngành cùng ( động mạch trụ và động mạch quay) Ở cánh tay động mạch nằm trong ống cánh tay đến nếp khuỷu nằm trong vành nhị đầu trong Đi cùng động mạch có dây thần kinh giữa ( ở trên dây giữa nằm trước ngoài động mạch, sau đó bắt chéo phía trước động mạch để xuống dưới nằm phía trong động mạch)
+ Phân nhánh:
Động mạch cánh tay sâu
Động mạch bên trụ trên
Động mạch bên trụ dưới
+ Cơ tùy hành: cơ nhị đầu
+ Đường chuẩn đích: từ đỉnh nách đến giữa nếp khuỷu
+ Vòng nối:
Vòng nối quanh cánh tay ( động mạch cánh tay sâu nối với đ/m mũ cánh tay sâu)
Mạng mạch ở khớp khuỷu
* Thần kinh vùng cánh tay trước:
-Thần kinh cơ bì: tách ra từ bó ngoài Chi phối vận động cho cơ vùng cánh tay trước, cảm giác cho mặt ngoài cẳng tay
- Thần kinh bì cánh tay trong: tách ra từ bó trong Chi phối cảm giác cho nền nách, phần trên mặt trong cánh tay
-Thần kinh bì cẳng tay trong: tách ra từ bó trong Chi phối cảm giác cho mặt trong dưới cánh tay và mặt trong cẳng tay