1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh (188 trang)

188 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 188
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh được biên soạn nhằm cung cấp cho người học có cái nhìn tổng quan về việc phân tích hoạt động kinh doanh ở các cá nhân, tổ chức kinh doanh để thấy được ưu điểm khuyết điểm trong quá trình kinh doanh trên cơ sở sử dụng các phương pháp phân tích.

Trang 1

BÀI 1 KHÁI QUÁT CHUNG CỦA PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH Giới thiệu:

Khái quát chung của phân tích hoạt động kinh doanh nhằm cung cấp cho người học có cái nhìn tổng quan về việc phân tích hoạt động kinh doanh ở các cá nhân, tổ chức kinh doanh để thấy được ưu điểm khuyết điểm trong quá trình kinh doanh trên cơ sở sử dụng các phương pháp phân tích

1.1.2 Nội dung:

Nội dung của Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh là đánh giá quả trình hướng đến kết quả hoạt động kinh doanh, với sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng và được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế

Ví dụ: Doanh thu = Số lượng x Đơn giá

Trang 2

Doanh thu thuần = Doanh thu - Các khoản giảm trừ

Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh là cơ sở quan trọng để ra các quyết định kinh doanh

Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh là công cụ quan trọng trong các chức năng quản trị có hiệu quả ở doanh nghiệp

Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh là biện pháp quan trọng để phòng ngừa rủi ro

1.2 Các phương pháp phân tích hoạt động kinh doanh:

1.2.1.Phương pháp so sánh:

Lựa chọn tiêu chuẩn so sánh:

Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu của một kỳ được lựa chọn làm căn cứ để so sánh, được gọi là gốc so sánh Các gốc so sánh có thể là: năm trước (kỳ trước),

kế hoạch, dự toán, định mức, các chỉ tiêu trung bình ngành, khu vực,… Các chỉ tiêu kỳ được so sánh với kỳ gốc được gọi là chỉ tiêu kỳ thực hiện và là kết quả

mà doanh nghiệp đã đạt được

Điều kiện được so sánh:

Các chỉ tiêu sử dụng phải đồng nhất, các chỉ tiêu kinh tế phải được quan tâm về mặt thời gian và không gian

Để đảm bảo tính đồng nhất người ta cần phải quan tâm tới phương tiện được xem xét, mức độ đồng nhất có thể chấp nhận được, độ chính xác cần có, thời gian phân tích được cho phép,

- Về mặt thời gian: là các chỉ tiêu được tính trong cùng một khoảng thời gian hoạch toán phải thống nhất trên 3 mặt sau:

+ Phải cùng phản ánh nội dung kinh tế

Trang 3

+ Phải cùng một phương pháp tính toán

+ Phải cùng một đơn vị đo lường

- Về mặt không gian: các chỉ tiêu phải được quy đổi về cùng quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự nhau

Kỹ thuật so sánh:

So sánh bằng số tuyệt đối: là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế, kết quả biểu hiện khối lượng quy mô của các hiện tượng kinh tế

So sánh bằng số tương đối: là kết quả của phép chia, giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế Kết quả biểu hiện kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức độ phổ biến của hiện tượng kinh tế

So sánh theo chiều dọc: là quá trình so sánh nhằm xác định tỷ lệ quan hệ tương quan giữa các chỉ tiêu từng kỳ của các báo cáo kế toán – tài chính

So sánh theo chiều ngang: là quá trình so sánh nhằm xác định tỷ lệ và chiều hướng biến động giữa các kỳ từng kỳ của các báo cáo kế toán – tài chính

Ví dụ: Công ty A có 2 chỉ tiêu sau:

Doanh thu tiêu thụ kế hoạch là 400 triệu đồng, thực tế 500 triệu đồng Tổng quỹ lương kỳ kế hoạch là 40 triệu đồng, thực tế là 45 triệu đồng Hãy so sánh sự biến động và nhận xét ?

Trang 4

Bảng 1.1 - So sánh biến động Doanh thu, tổng quỹ lương công ty A

1.2.2.Phương pháp phân tích nhân tố:

Phương pháp thay thế liên hoàn:

Là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu phân tích Gồm 4 bước:

B1: Xác định đối tượng phân tích

B2: Thiết lập mối quan hệ các nhân tố, sắp xếp các nhân tố từ nhân tố lượng đến nhân tố chất

B3: Lần lượt thay thế các nhân tố kỳ phân tích vào kỳ gốc

B4: Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến đối tượng phân tích

Ví dụ: Công ty H có tài liệu sau:

- Số lượng SP kỳ kế hoạch là 800, thực tế 1.000

- Mức tiêu hao vật liệu kỳ kế hoạch 9kg, thực tế 8,5kg

- Đơn giá vật liệu kỳ kế hoạch 40.000 đồng, thực tế 45.000 đồng

Yêu cầu: Dùng phương pháp thay thế liên hoàn xác định biến động tổng chi phí vật liệu giữa kỳ thực tế so với kế hoạch

Giải

Xác định đối tượng phân tích, thiết lập mối liên hệ

Trang 5

Tổng CP VL = Số lượng SP x Mức tiêu hao vật liệu x Đơn giá vật liệu Tổng CP VL kỳ kế hoạch = 800 x 9 x 40.000 = 288 triệu đồng

Phương pháp hồi quy:

Là mối quan hệ nguyên nhân phát sinh và kết quả của hiện tượng kinh tế thường có quan hệ tỷ lệ thuận hoặc quan hệ tỷ lệ nghịch Các chỉ tiêu được thể hiện thông qua phương trình tuyến tính có dạng sau:

Trang 6

Công ty H đang xây dựng công thức dự đoán chi phí kinh doanh theo hai yếu tố định phí và biến phí, công ty đã thu thập số liệu dựa trên n lần quan sát thực nghiệm với X là khối lượng tiêu thụ, Y là tổng chi phí kinh doanh tương ứng Tổng định phí của công ty đáp ứng trong phạm vi phù hợp từ 10.000 sản phẩm đến 15.000 sản phẩm mỗi năm Sau khi tính toán được thông số a là tổng định phí hoạt động hàng năm, b là biến phí đơn vị sản phẩm

a = 120.000.000 đồng, b = 30.000 đồng

Công thức dự toán chi phí Y = 120.000.000 + 30.000X

Bảng 1.2 - Kế hoạch dự toán chi phí kinh doanh

ĐVT: Triệu đồng Khối lượng SP Tổng định phí

- Theo thời điểm lập báo cáo: thường xuyên, định kỳ

- Theo nội dung: phân tích chỉ tiêu tổng hợp, phân tích chuyên đề

1.3.2 Tổ chức:

Công tác phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp, đặc điểm, điều kiện kinh doanh

Trang 7

Công tác phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh có thể nằm ở một bộ phận riêng biệt đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của ban giám đốc và làm tham mưu cho giám đốc

Công tác phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh được thực hiện ở nhiều

bộ phận riêng biệt căn cứ theo chức năng của quản lý, nhằm cung cấp và thỏa mãn thông tin cho các bộ phận của quản lý được phân quyền, trách nhiệm, trong lĩnh vực kiểm tra, kiểm soát và ra quyết định đối với chi phí, doanh thu,… trong phạm vi được giao

Câu hỏi và bài tập 1.Tại sao ở doanh nghiệp cần phải tiến hành phân tích hoạt động kinh

doanh?

2.Trình bày nội dung của phân tích hoạt động kinh doanh?

3.Trình bày nội dung của phương pháp so sánh?

4.Tại sao phương pháp so sánh phải quan tâm đến điều kiện thời gian và

không gian?

5.Trình bày nội dung của phương pháp thay thế liên hoàn?

6.Cho biết ưu và nhược điểm của phương pháp thay thế liên hoàn khi sử

dụng phân tích?

7.Trình bày nhiệm vụ của phân tích kinh doanh?

8.Muốn tổ chức tốt công tác phân tích kinh doanh ở doanh nghiệp thì cần

phải quan tâm đến yếu tố nào?

9.Có tài liệu một công ty trong năm như sau:

1 Giá trị sản xuất hàng hóa 1.000 1.025

3 Giá trị sản xuất hàng hóa tiêu thụ 900 800

Yêu cầu:

1 Hãy xác định khái quát các chỉ tiêu phản ánh quy mô sản xuất?

2 Phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu sản xuất?

Trang 8

3 Phân tích kết quả sản xuất trong mối liên hệ với chi phí đầu tư?

10.Trong kỳ phân tích doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ba loại mặt hàng

Phân tích kết quả sản xuất sản phẩm theo mặt hàng với thước đo hiện vật?

11 Có tài liệu tại một doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng như sau:

Mặt hàng sản xuất Kế hoạch Sản lượng Thực tế kế hoạch Đơn giá

2.Đánh giá tình hình hoàn thành mặt hàng chủ yếu?

12 Có tài liệu doanh nghiệp như sau:

Đơn vị: triệu đồng

Chỉ tiêu Ký hiệu Năm trước Năm nay Giá trị sản xuất sản lượng Q 127.800 175.266 Nguyên giá bình quân TSCĐ V 15.000 18.200

Yêu cầu:

Phân tích hiệu suất sử dụng tài sản cố định tại doanh nghiệp?

Trang 9

13 Có số liệu về tình hình cung cấp và dự trữ vật liệu cho sản xuất tại một

doanh nghiệp trong một kỳ như sau:

4 Vật liệu tồn kho đầu kỳ Kg 12.000 14.000

5 Vật liệu thu mua trong kỳ Kg 350.000 340.000

6 Vật liệu tồn kho cuối kỳ Kg 82.000 93.000

Hãy phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới khối lượng sản phẩm sản xuất?

14 Có tài liệu của một doanh nghiệp như sau:

Hãy phân tích hiệu suất sử dụng nguyên vật liệu tại doanh nghiệp?

15 Hãy phân tích tình hình hoàn thành kế hoạch sử dùng lao động của

doanh nghiệp X qua bảng số liệu sau:

Chỉ tiêu Đơn vị tính Kế hoạch Thực hiện Giá trị sản xuất sản lượng Triệu đồng 500 580

Trang 10

BÀI 2 - PHÂN TÍCH MÔI TRUỜNG KINH DOANH,

THỊ TRƯỜNG, CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP Giới thiệu:

Phân tích môi trường kinh doanh của doanh nghiệp nhằm cung cấp kiến thức căn bản về kỹ năng phân tích môi trường, thị trường kinh doanh, và chiến lược kinh doanh, giúp các chuyên gia phân tích có đầy đủ thông tin cho các nhà quản lý xác định được thị phần trên từ đó đưa ra các chiến lược phù hợp phục vụ hiệu quả hoạt động kinh doanh

Mục tiêu:

- Phân biệt được sự ảnh hưởng của môi trường vi mô và môi trường vĩ mô đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;

- Trình bày được ý nghĩa nội dung của phân tích thị trường;

- Xây dựng và đánh giá được các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp;

- Tổ chức thực hiện điều tra thăm dò thị trường theo nhóm để xác định thái độ của người tiêu dùng đến sản phẩm của doanh nghiệp;

- Phân tích hướng tăng trưởng và khả năng thâm nhập thị trường trong tương lai của doanh nghiệp;

- Tổ chức nhóm lập một số chiến lược kinh doanh với quy mô nhỏ để phân tích đánh giá

- Nghiêm túc tiếp thu và phân tích hướng tăng trưởng, thâm nhập thị trường của các doanh nghiệp

Nội dung chính:

2.1.Chức năng, vai trò của doanh nghiệp:

2.1.1.Khái niệm doanh nghiệp là gì:

Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế độc lập, một tập hợp gồm những bộ phận gắn bó với nhau, có vốn và các phương tiện vật chất kỹ thuật, hoạt động theo những nguyên tắc và mục tiêu thống nhất, thực hiện hoạch toán kinh doanh hoàn chỉnh, có nghĩa vụ và được hệ thống pháp luật thừa nhận cũng như bảo vệ

2.1.2.Chức năng của doanh nghiệp:

Trang 11

Vừa là một đơn vị sản xuất: Doanh nghiệp sản xuất ra của cải vật chất hoặc thực hiện nhiệm vụ cung cấp cho nhu cầu thị trường nhằm tạo ra lợi nhuận Thực hiện chức năng là đơn vị sản xuất trên thị trường với tư cách là một chủ thể sản xuất kinh doanh, tiến hành các quá trình hoạt động và xác lập các mối quan hệ cần thiết cho việc đạt được các mục tiêu đã đề ra

Vừa là một đơn vị phân phối: Doanh nghiệp bán ra thị trường thành quả sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ, đổi lại doanh nghiệp sẽ thu về tiền hoặc các hình thức thanh toán của khách hàng Về phía doanh nghiệp, doanh nghiệp cũng phải thanh toán các khoản phí, đóng thuế, trả lương, thực hiện chức năng phân phối, doanh nghiệp phân phối hợp lý thành quả nhằm tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, đồng thời bảo đảm sự công bằng xã hội

2.1.3.Vai trò của doanh nghiệp:

Doanh nghiệp là một chủ thể sản xuất hàng hóa: trong cơ chế thị trường doanh nghiệp là một chủ thể sản xuất hàng hoá trong khuôn khổ pháp luật, có quyền quyết định và chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình

Doanh nghiệp là một pháp nhân kinh tế bình đẳng trước pháp luật: Doanh nghiệp được xem là chủ thể có đầy đủ tư cách pháp nhân riêng biệt với các chủ

sở hữu của doanh nghiệp Mọi doanh nghiệp dù là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH hay công ty hợp danh, đều được đối xử như nhau

Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế, là tế bào của nền kinh tế quốc dân: Nền kinh tế quốc dân là một tổng thể thống nhất, mỗi doanh nghiệp chỉ là một tế bào, một mắt xích Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước tạo ra môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp tự do kinh doanh trong khuân khổ của hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo cho sự tự do ấy tạo thành sức mạnh kinh tế chung của

cả nước

Doanh nghiệp là một tổ chức xã hội: Doanh nghiệp là một tập hợp những con người gắn bó với nhau, cùng nhau tiến hành hoạt động kinh doanh nhằm đạt các mục tiêu chung đã định Ngoài việc phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, bồi dưỡng và nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật và chuyên môn công nhân viên chức, doanh nghiệp có trách nhiệm làm tốt các vấn đề xã hội như bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

2.2 Phân tích môi trường kinh doanh:

2.2.1.Môi trường vi mô:

Trang 12

Khách hàng:

Nhu cầu của khách hàng quyết định quy mô và cơ cấu nhu cầu trên thị trường của doanh nghiệp và là yếu tố quan trọng hàng đầu khi xác định chiến lược kinh doanh Khách hàng bao gồm:

- Người tiêu dùng

- Nhà sản xuất

- Các nhà buôn bán trung gian

- Các cơ quan nhà nước

- Khách hàng quốc tế

Đối thủ cạnh tranh

Đối thủ cạnh tranh trong ngành gồm có các doanh nghiệp hiện có mặt trong ngành và các doanh nghiệp tiềm ẩn có khả năng tham gia vào ngành trong tương lai Số lượng các đối thủ, đặc biệt các đối thủ có quy mô lớn trong ngành càng nhiều thì mức độ cạnh tranh trong ngành càng găy gắt Cạnh tranh là quá trình đấu tranh giữa các doanh nghiệp khác nhau nhẳm đứng vững được trên thị trường và tăng lợi nhuận, trên cơ sở tạo ra và sử dụng ưu thế của mình về gia trị

sử dụng của sản phẩm, giá bán và cách thức phục vụ khách hàng Sự cạnh tranh một mặt sẽ trừng phạt các doanh nghiệp có chi phí cao bằng các hình thức như loại doanh nghiệp đo ra khỏi thị trường hoặc doanh nghiệp có chỉ thu được lợi nhuận thấp bằng cách doanh nghiệp càng có chi phí thấp càng thu được lợi nhuận cao Chính nguyên tắc trừng phạt và khuyến khích cạnh tranh đã tạp áp lực buộc các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp để giảm chi phí sản xuất, vì

đó là cơ sở cho sự tồn tại hay phá sản của doanh nghiệp

Phân tích các đối thủ trong nghành nhằm nắm được các điểm mạnh và yếu của đối thủ để từ đó xác định đối sách của mình nhằm tạo được thế đứng vững mạnh trong môi trường ngành

Các nhà cung ứng

Trong nền kinh tế thị trường, quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải có mối quan hệ mật thiết với các nguồn cung ứng các yếu tố đầu cơ vào cơ bản như sau: vật tư, nguyên liệu, lao động, vốn thông tin công nghệ… Số lượng và chất lượng các nguồn cung ứng các yếu tố ảnh hưởng rất lớn tới khả năng lựa chọn và xác định phương án kinh doanh tối ưu Phân tích các nguồn cung ứng nhằm xác định khả năng thỏa mãn nhu cầu đối với các yếu tố đầu vào

Trang 13

của quá trình sản xuất để từ đó xây dựng phương án hữu hiệu nhất trong việc tận dụng các nguồn cung ứng này

Công chúng trực tiếp

Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng hoạt động trong môi trường bao gồm cả 7 loại công chúng trực tiếp

- Giới tài chính

- Công chúng trực tiếp thuộc các phương tiện thông tin

- Công chúng trực tiếp thuộc các cơ quan nhà nước

- Công chúng trực tiếp thuộc nhóm công nhân hành động

- Công chúng trực tiếp địa phương

- Quần chúng đông đảo

- Công chúng nội bộ

2.2.2.Môi trường vĩ mô:

Yếu tố nhân khẩu:

Có ý nghĩa đối với quá trình phân tích môi trường kinh doanh Dân số tăng kéo nhu cầu con người tăng theo và các doanh nghiệp phải thỏa mãn những nhu cầu đó Điều này có nghĩa là thị trường cũng tăng cùng với sức mua khá lớn

Yếu tố kinh tế:

Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, lãi suất ngân hàng, chính sách tài chính tiền tệ của Nhà nước, mức độ làm việc và tình hình thất nghiệp,…Khi phân tích các yếu tố kinh tế cần lưu ý đến tình hình phân bố thu nhập của dân

Yếu tố tự nhiên:

Nguồn lực tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái,…biến động nào của các yếu tố tự nhiên cũng đều có ảnh hưởng đến hàng hóa của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

Yếu tố khoa học kỹ thuật:

Là lực lượng mang lại kịch tính, có ảnh hưởng quan trọng và trực tiếp đến môi trường kinh doanh Mọi kỹ thuật mới đều thay đổi đến vị trí của kỹ thuật cũ

Trang 14

Yếu tố chính trị:

Thể hiện sự điều tiết bằng pháp luật của nhà nước đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nền kinh tế thị trường một mặt kích thích sản xuất phát triển, năng động, lực lượng sản xuất và dịch vụ dồi dào Nhưng mặt khác lại chứa đựng mầm mống của khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát, cạnh tranh không lành mạnh vì vậy phải có sự can thiệp của nhà nước bằng các văn bản pháp luật để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của nó

Yếu tố văn hóa:

Là những giá trị văn hóa cơ bản có tính bền vững cao, được lưu truyền từ thế hệ bố mẹ sang con cái và được củng cố bằng những quy chế cơ bản của xã hội, pháp luật, tôn giáo, hệ thống kinh doanh và chính quyền

Giá trị văn hóa được thể hiện qua thái độ của con người đối với bản thân mình, đối với người khác, đối với các thể chế tồn tại trong xã hội, đối với toàn

xã hội, tự nhiên và vũ trụ

2.3.Phân tích thị trường:

2.3.1.Ý nghĩa:

Thị trường có triển vọng nhất đối với sản phẩm của doanh nghiệp

Khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường

Chiến lược kinh doanh để làm tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường

2.3.2.Nội dung phân tích:

Xác định thái độ của người tiêu dùng:

Thái độ của người tiêu dùng quyết định hành vi của họ Để nghiên cứu thái độ của người tiêu dùng người ta thường dùng phương pháp so sánh thí điểm

Xác định kết cấu thị trường và thị trường mục tiêu của sản phẩm:

Theo kết quả nghiên cứu về lĩnh vực thị trường xác nhận thị trường của một sản phẩm hoặc dịch vụ bao gồm 4 bộ phận:

- Thị trường hiện tại của các đối thủ cạnh tranh

- Thị trường hiện tại của doanh nghiệp

- Thị trường không tiêu dùng tương đối

Trang 15

- Thị trường không tiêu dùng tuyệt đối

Các doanh nghiệp phải xác định thị trường mục tiêu, thị trường tiềm năng của sản phẩm

Thị trường mục tiêu là thị trường hiện tại của doanh nghiệp và là cơ sở xác định mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp Quy mô của thị trường mục tiêu vừa thể hiện thế và lực của doanh nghiệp, vừa thể hiện tình trạng và mức độ cạnh tranh hiện tại trong ngành

Thị trường tiềm năng bao gồm thị trường hiện tại của các đối thủ cạnh tranh và phần thị trường không tiêu dùng tương đối Quy mô của thị trường tiềm năng phản ánh khả năng và triển vọng phát triển thị trường của doanh nghiệp trong tương lai

- Phân tích và lựa chọn các hướng tăng trưởng thị trường theo lĩnh vực kinh doanh

- Phân tích các tác động của các kết quả đổi mới đến sự thay đổi của nhu cầu thị trường

- Phân tích tác động qua lại giữa các sản phẩm để xác định hướng tăng trưởng thị trường

Trang 16

Bảng 2.1 - Các tiêu chuẩn đánh giá của người tiêu dùng

Tính theo hệ số có kết quả trong bảng sau:

Bảng 2.2 - Tính điểm tiêu chuẩn đánh giá của người tiêu dùng

Trang 17

Qua bảng số liệu cho thấy sản phẩm I được số điểm tính theo hệ số cao nhất, như vậy thái độ của người tiêu dùng tập trung vào sản phẩm I

2.4.Chiến lược kinh doanh:

2.4.1.Yêu cầu và căn cứ xây dựng chiến lược kinh doanh

Yêu cầu:

Phải nhằm vào mục đích tăng thế lực của doanh nghiệp và giành lợi thế cạnh tranh

Phải đảm bảo sự an toàn kinh doanh cho doanh nghiệp

Phải xác định phạm vi kinh doanh, mục tiêu và những điều kiện cơ bản để thực hiện mục tiêu

Phải dự đoán được môi trường kinh doanh trong tương lai

Phải có chiến lược dự phòng

Phải kết hợp độ chín mùi với thời cơ

Căn cứ xây dựng:

Khách hàng

Khả năng của doanh nghiệp

Đối thủ cạnh tranh

2.4.2.Nội dung của chiến lược kinh doanh:

Chiến lược tổng quát:

Khả năng sinh lời: Mục đích của kinh doanh là lợi nhuận Do vậy một trong những mục tiêu chủ yếu của chiến lược kinh doanh là lợi nhuận có khả năng sinh ra Đứng trên góc độ của doanh nghiệp, lợi nhuận là sự dôi ra của giá bán so với chi phí đã bỏ ra

Thế lực trên thị trường: Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là quy luật phổ biến, kinh doanh không thể lẩn chốn cạnh tranh, cạnh tranh luôn gắn liền với kinh doanh Canh tranh và kinh doanh chỉ là hai mặt của một vấn đề Vì vậy chiến lược kinh doanh phải đạt được mục tiêu giành thắng lợi trong cạnh tranh để xác lập được chỗ đứng của mình trên thị trường

Trang 18

An toàn trong kinh doanh: Kinh doanh luôn luôn gắn với may rủi Chiến lược kinh doanh càng táo bạo thì khả năng thu lợi càng lớn, nhưng rủi ro càng nhiều Rủi ro là sự bất chắc trong kinh doanh, vì thế khi xây dựng chiến lược kinh doanh, doanh nghiệp không nên chỉ nghĩ đến việc dám chấp nhận nó mà phải tìm cách ngăn ngừa, tránh né, hạn chế sự hiện diện của nó hoặc nếu rủi ro

có xảy ra thì thiệt hại cũng chỉ ở mức thấp nhất

Chiến lược bộ phận:

Chiến lược sản phẩm: Là xương sống của chiến lược kinh doanh Thị trường cạnh tranh càng gay gắt, vai trò của chiến lược sản phẩm càng trở nên quan trọng Không có chiến lược sản phẩm thì không có chiến lược giá cả., chiến lược phân phối, chiến lược quảng cáo tiếp thị Nhưng nếu chiến lược sản phẩm sai lầm thì các chiến lược kia có chất lượng đến đâu cũng không có ý nghĩa gì cả

Chiến lược giá cả: Mặc dù trên thị trường hiện nay, cạnh tranh bằng giá cả ngày càng nhường chỗ cho cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm Nhưng giá cả vẫn luôn có vai trò quan trọng

Chiến lược phân phối: Là phương hướng thể hiện cách mà doanh nghiệp cung ứng các sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng của mình trên thị trường lựa chọn Chiến lược phân phối có vai trò quan trọng ở chỗ nếu được xây dựng hợp

lý sẽ làm cho quá trình kinh doanh an toàn, tăng cường khả năng liên kết trong kinh doanh, giảm được sự cạnh tranh và làm cho các chức năng của quá trình phân phối được thực hiện đầy đủ, nhờ vậy nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Chiến lược quảng cáo tiếp thị: Là chiến lược sử dụng các kỹ thuật yểm trợ bán hàng nhằm mục đích làm cho cung và cầu về một loại sản phẩm nào đó gặp nhau Chiến lược quảng cáo tiếp thị sẽ làm cho việc bán hàng dễ dàng hơn, quyết định các kênh phân phối hợp lý hơn và giúp cho doanh nghiệp tránh được rủi ro trong kinh doanh, tăng thế lực trên thị trường

2.5.Lựa chọn và quyết định chiến lược kinh doanh:

2.5.1.Những nguyên tắc thẩm định và đánh giá chiến lược kinh doanh:

Chiến lược kinh doanh phải đảm bảo mục tiêu bao trùm của doanh nghiệp

Chiến lược kinh doanh phải có tính khả thi

Trang 19

Chiến lược kinh doanh phải đảm bảo mối quan hệ biện chứng giữa DN với thị trường về mặt lợi ích

2.5.2.Tiêu chuẩn thẩm định và đánh giá chiến lược kinh doanh

Nhóm tiêu chuẩn định lượng

Nhóm tiêu chuẩn định tính

2.5.3.Phương pháp lựa chọn và quyết định chiến lược kinh doanh:

Chọn một số các tiêu chuẩn đặc trưng cho mục tiêu chủ yếu của doanh nghiệp

Cho điểm cho mỗi tiêu chuẩn

Tiến hành đánh giá và cho điểm từng tiêu chuẩn của từng chiến lược kinh doanh dự kiến

Tiến hành so sánh và lựa chọn

Ví dụ:

Ba tiêu chuẩn được chọn để so sánh lựa chọn chiến lược kinh doanh là: tổng lợi nhuận, thị phần, mức an toàn trong kinh doanh Bảng cho điểm của ba tiêu chuẩn này như sau:

Bảng 2.3 - Mức độ đáp ứng của các tiêu chuẩn

Mức độ đáp ứng Tiêu chuẩn

Trang 20

Bảng 2.4 - Tính điểm tiêu chuẩn cho từng chiến lược

Qua bảng trên cho thấy có 3 chiến lược đạt 8 điểm được chọn Chiến lược

3 được 7 điểm bị loại Nếu coi trọng chỉ tiêu lợi nhuận thì chọn chiến lược 4 vì tiêu chuẩn lợi nhuận đạt 4 điểm, chiến lược 1, 2 loại Nếu coi trọng vừa tổng lợi nhuận, vừa an toàn thì chọn chiến lược 1 loại chiến lược 2, 3

Câu hỏi và bài tập

1.Chủ thể kinh doanh có đặc điểm gì?

2.Trình bày chức năng, vai trò chủ yếu của doanh nghiệp?

3.Loại hình doanh nghiệp nào đang phát triển tại Việt Nam? Tại sao? 4.Phân tích các yếu tố quan trọng của sức mạnh cạnh tranh?

5 Có tài liệu về điều tra ý kiến của người tiêu dùng về tiêu chuẩn và nhãn hiệu, hệ số cho điểm của 5 sản phẩm A, B, C, D, E sau đây:

Trang 21

Yêu cầu:

Tính điểm và đánh giá thái độ của người tiêu dùng có xu hướng tập trung vào sản phẩm nào?

Trang 22

BÀI 3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ TRONG SẢN XUẤT Giới thiệu:

Phân tích tình hình sử dụng các yếu tố trong sản xuất nhằm cung cấp cho người học kiến thức và kỹ năng phân tích các yếu tố sản xuất trong doanh nghiệp trên cơ sở đó xác định được mức độ tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Mục tiêu:

- Trình bày đựơc các yếu tố sản xuất chủ yếu của doanh nghiệp, những mặt cân đối và mặt mất cân đối giữa các yếu tố sản xuất;

- Phân biệt được các loại năng suất lao động;

- Vận dụng được các phương pháp phân tích của phân tích hoạt động kinh doanh để đánh giá và xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố về lao động, tài sản cố định, nguyên vật liệu đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Vận dụng được thành thạo các bài tập ứng dụng

Nội dung chính

3.1.Phân tích tình hình quản lý kỹ thuật của sản xuất

3.1.1.Phân tích trình độ tổ chức - kỹ thuật của sản xuất

Năng lực sản xuất ở doanh nghiệp được biểu hiện bằng khối lượng sản phẩm mà doanh nghiệp có thể đáp ứng được để cung cấp cho thị trường trong từng kỳ nhất định Kết quả và hiệu quả sản xuất lại phụ thuộc vào tình độ kỹ thuật tổ chức sản xuất Phân tích trình độ tổ chức kỹ thuật của sẩn xuất có hai nhiệm vụ:

- Nhiệm vụ thứ nhất là phân tích kinh tế của việc áp dụng kỹ thuật mới

- Nhiệm vụ thứ hai là phân tích sự cân đối giữa các yếu tố kỹ thuật trong sản xuất

Việc xây dựng cơ sở kỹ thuật cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh

là vấn đề chủ yếu của việc xây dựng kế hoạch sản xuất Kế hoạch của doanh nghiệp gồm hai nội dung, nội dung thứ nhất là sản xuất sản phẩm và tiêu thụ, nội dung thứ hai là phần về trình độ tổ chức kỹ thuật của sản xuất Chính nội dung

Trang 23

thứ hai này là nhằm cụ thể hoá những yêu cầu cần thiết để thực hiện nội dung thứ nhất

Thực chất phương pháp phân tích kinh tế của việc áp dụng kỹ thuật mới là

sự so sánh mức độ hiệu quả của phương án có thể ứng dụng để chọn phương án

có hiệu quả nhất Để đạt được các kết quả, chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc của phương pháp so sánh trong quá trình định lượng trên cơ sở những dự kiên có thể áp dụng được trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Về hình thức, ta có thể lập bảng so sánh tổng hợp ở một số chỉ tiêu qua bảng phân tích sau:

Bảng 3.1 - Tổng hợp các chỉ tiêu

Phương án dự

kiến

Vốn đầu tư

Doanh thu

Chi phí hoạt động

Tỷ suất lợi nhuận Vốn

đầu tư

Doanh thu

Chi phí Phương án 1

Trong thực tế có doanh nghiệp hoàn thành về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, nhưng lại không hoàn thành các biện pháp về kỹ thuật Điều này chứng tỏ

là kế hoạch sản xuất đặt ra chưa phải là tích cực, vì không cần thực hiện kỹ thuật mới doanh nghiệp vẫn hoàn thành kế hoạch, chứng tỏ ở doanh nghiệp thực tế vẫn còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác hết công suất

Như vậy tiềm năng sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp là phần chênh lệch giữa năng lực sản xuất ở doanh nghiệp có thể đạt được với kết quả thực tế

Năng lực sản suất ở doanh nghiệp là một chỉ tiêu khó xác định một cách chính xác Thường có thể xác định dễ nhất là căn cứ vào công suất mới được thiết kế, nhưng qúa trình hoạt động theo thời gian, thì tiềm năng đó ngày càng giảm đi Nhất là trong giai đọan hiện nay các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường, sự đa dạng hoá sản xuất sản phẩm và các sản phẩm sản xuất ngày

Trang 24

càng được hoàn thiện và đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu thị trường, làm cho dây chuyền sản xuất và quy trình công nghệ luôn thay đổi, theo tính linh hoạt biến động của thị trường

Nhiệm vụ thứ hai của phân tích kinh tế về kỹ thuật mới là phân tích cân đối giữa các yếu tố kỹ thuật mới Có nghĩa là cần phải đảm báo cân đối giữa nghiên cứu, triển khai trong sản xuất với việc đảm bảo cơ sở tổ chức, quản lý phù hợp với việc áp dụng kỹ thuật mới đó Có thể nói khái niệm kỹ thuật tổ chức

- kỹ thuật là một khái niệm tổng hợp, bao gồm bản thân kỹ thuật mới, cải tiến tổ chức và cải tiến quản lý Theo kinh nghiệm cho thấy trình độ triển khai kỹ thuật mới đã vượt xa trình độ tổ chức sản xuất và trình độ quản lý lao động Quá trình vận dụng thành tựu mới của khoa học kỹ thuật vào sản xuất, bị kìm hãm thường

do khâu tổ chức quản lý và tổ chức ứng dụng kỹ thuật mới vào sản xuất Sự thống nhất giữa kỹ thuật, tổ chức quản lý là điều kiện đảm bảo nâng cao hiệu quả của sản xuất kinh doanh

Khi phân tích tình hình thực hiện kế hoạch kỹ thuật mới thường dựa vào hai nhân tố chủ yếu: danh mục kỹ thuật mới (tên gọi máy móc kỹ thuật mới) và hiệu quả sử dụng của từng danh mục kỹ thuật mới

Hiệu quả sử dụng kỹ thuật mới có ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng các tiềm năng sản xuất, trước hết ảnh hưởng tới năng suất lao động, suất chi phí nguyên vật liệu và hiệu suất sử dụng vốn Hiệu quả sử dụng các tiềm năng sản xuất lại ảnh hưởng tới giá thành, tổng sản lượng và lợi tức Khi phân tích kỹ thuật mới, người ta còn phân tích hai chỉ tiêu là chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật mới và chỉ tiêu tình trạng của kỹ thuật mới

Người ta thường phân loại các chỉ tiêu phản ánh trình độ kỹ thuật – tổ chức của sản xuất, thành nhóm để tiện cho quá trình đánh giá phân tích như sau:

Nhóm 1: Các chỉ tiêu phản ánh về trình độ khoa học kỹ thuật của sản xuất

Nhóm 2: Các chỉ tiêu phản ánh về tình hình tổ chức lao động khoa học Nhóm 3: Các chỉ tiêu phản ánh về trình độ tổ chức quản lý của sản xuất kinh doanh

3.1.2.Phân tích tính cân đối của các yếu tố sản xuất

Để quá trình hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp được tiến hành liên tục

và có hiệu quả, thì doanh nghiệp phải biết sử dụng và khai thác triệt để các nguồn năng lượng sẵn có của mình Các yếu tố quyết định năng lực sản xuất,

Trang 25

đồng thời quyết định đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh gồm hai nhóm:

Nhóm các yếu tố thuộc về tổ chức quản lý và nhóm các yếu tố thuộc về cơ

sở vật chất kỹ thuật của sản xuất kinh doanh Các yếu tố thuộc về vật chất kỹ thuật của sản xuất kinh doanh được phân thành ba yếu tố, gọi là các yếu tố quyết định đến quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh, bao gồm:

Các yếu tố thuộc về lao động, gồm số lượng và chất lượng lao động (lao động sử dụng);

Các yếu tố về trang bị và sử dụng tài sản cố định (thiết bị máy móc cho sản xuất kinh doanh)

Các yếu tố thuộc về cung cấp và sử dụng nguyên vật liệu (tài nguyên cho sản xuất kinh doanh)

Nếu doanh nghiệp có đầy đủ ba yếu tố thuộc về cơ sở vật chất kỹ thuật của sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp biết sử dụng và khai thác tất cả các yếu

tố trên để tham gia hoạt động kinh doanh một cách đồng bộ sẽ tạo ra năng lực sản xuất kinh doanh rất lớn

Tạo ra sự cân đối và đồng bộ của các yếu tố sản xuất kinh doanh đây là biểu hiện các yếu tố phản ánh trình độ tổ chức quản lý ở doanh nghiệp Có thể nêu ra một số mặt cân đối chủ yếu sau:

- Cân đối giữa hoạt động kinh doanh hiện tại với các hoạt động kinh doanh ở các mục tiêu tương lai;

- Cân đối giữa kết quả sản xuất (hoặc thu mua) với kết quả tiêu thụ và tồn kho;

- Cân đối giữa chi phí với doanh thu;

- Cân đối giữa các loại vốn và nguồn vốn sử dụng;

- Cân đối giữa các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh;

- Cân đối giữa các bộ phận (phân xưởng, công đoạn) trong hoạt động sản xuất kinh doanh…

Cho dù doanh nghiệp có đầy đủ ba yếu tố thuộc về cơ sở vật chất kỹ thuật, sức lao động, thiết bị và nguyên vật liệu thì vẫn chưa đủ, nếu như trong hoạt động tổ chức quản lý không đồng bộ, mất cân đối giữa các yếu tố sẽ dẫn đến kết quả hoạt động kinh doanh bị hạn chế ở nơi mất cân đối đó

Trang 26

Như vậy quá trình hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp luôn đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các yếu tố sản xuất diễn ra liên tục trong từng

bộ phận sản xuất cũng như toàn bộ doanh nghiệp Mức độ đồng bộ và cân đối càng cao, thì càng tạo ra nhiều năng lực cho sản sản xuất càng lớn

Khi quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra, việc mất cân đối giữa năng lực sản xuất của các yếu tố sản xuất (hoặc bộ phận sản xuất) so với nhiệm vụ đặt ra,

sự chênh lệch năng lực sản xuất này chứa đựng khả năng tiềm tàng mà doanh nghiệp cần phải khai thác

Nếu năng lực giữa các bộ phận (hoặc công đoạn) có sự chênh lệch nhau thì nơi có năng lực thấp nhất được gọi là điểm hẹn sản xuất Vậy điểm hẹn của sản xuất kinh doanh là nơi có năng lực thấp nhất hoặc là điểm hạn chế nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Nếu năng lực sản xuất giữa các bộ phận (hoặc công đoạn) có sự chênh lệch nhau thì năng lực sản xuất vượt quá yêu cầu của nhiệm vụ sản xuất đặt ra gọi là điểm rộng của sản xuất Vậy điểm rộng của sản xuất kinh doanh là điểm

có năng lực vượt trội hơn yêu cầu của sản xuất kinh doanh đặt ra

Ví dụ:

Tại một doanh nghiệp sản xuất một loại sản phẩm duy nhất, nhiệm vụ sản xuất mỗi năm là 20.000 sản phẩm, doanh nghiệp có quy trình sản xuất đơn tuyến, gồm 3 phân xưởng, phân xưởng một (bắt đầu) đảm bảo sản xuất số lượng tỉêu thụ sản phẩm nhưng nhiệm vụ đặt ra 20.000 sản phẩm phân xưởng hai (tiếp tục) chỉ có khả năng sản xuất 15.000 sản phẩm mỗi năm Phân xưởng ba (hoàn tất) có khả năng lắp ráp 25.000 sản phẩm mỗi năm

Như vậy điểm hẹp trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là phân xưởng tiếp tục, tại đây doanh nghiệp phải thuê gia công 5.000 sản phẩm thì mới đảm bảo nhiệm vụ sản xuất đặt ra

Điểm rộng trong sản xuất của doanh nghiệp là phân xưởng hoàn tất có năng lực sản xuất vượt trội so với nhiệm vụ đặt ra 5.000 sp/năm Tại đây doanh nghiệp phải hợp đồng gia công với đơn vị bạn để tận dụng hết năng lực sản xuất

Qua ví dụ trên chúng ta mới xem xét khái quát điểm hẹp và điểm rộng của sản xuất ở doanh nghiệp trên môt quy trình công nghệ sản xuất công nghệ một loại sản phẩm Trong thực tế có nhiều doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm, trên nhiều quy trình công nghệ khác nhau, ở doanh nghiệp loại này việc xác định điểm hẹp và điểm rộng sẽ phức tạp hơn

Trang 27

Ta nghiên cứu qua ví dụ sau: Doanh nghiệp sản xuất 3 loại sản phẩm khác nhau, số lượng sản xuất theo mục tiêu kế hoạch như sau:

Bảng 3.2 - Năng lực sản xuất và thời gian cần để sản xuất sản phẩm

Đơn vị: giờ Công đoạn

sản xuất

Năng lực sản xuất

Thời gian cần cho sản xuất một sản phẩm

Căn cứ tài liệu trên ta có thể xác định tổng số giờ cần thiết theo mục tiêu

kế hoạch của từng phân xưởng sản xuất Qua đó ta xác định được điểm hẹp và điểm qua bảng sau:

Bảng 3.3 - Tổng hợp giờ sản xuất sản phẩm ở mỗi phân xưởng

Sản phẩm

Kế hoạch sản xuất

Số giờ sản xuất theo kế hoạch Cộng giờ FXI FX II FX III

-

-

-

37.500 18.000 10.000

65.500 70.000 + 4.500

15.000 36.000 20.000

71.000 90.000 + 19.000

30.000 18.000 25.000

73.000 65.500

- 7.500

82.500 72.000 55.000

209.500 225.500 + 16.000

Kết quả tổng hợp trên cho ta thấy, tổng số giờ giữa năng lực sản xuất so với nhiệm vụ sản xuất là không có sự chênh lệch (225.000 – 225.000)

Trang 28

Nếu xét theo từng phân xưởng cho thấy:

Phân xưởng I: Năng lực sản xuất còn dư 4.500 giờ

Phân xưởng II: Năng lực sản xuất còn dư 19.000 giờ

Phân xưởng III: Nhu cầu sản xuất cao hơn so với năng lực hiện có 7.500 giờ Việc sản xuất cùng một lúc nhiều sản phẩm khác nhau có thể phát huy năng lực tối đa ở doanh nghiệp, tận dụng được năng lực sản xuất thừa (điểm rộng) ở phân xưởng I và II giảm thiếu hụt năng lực sản xuất ở phân xưởng III (điểm hẹp)

Cụ thể là: Doanh nghiệp có thể điều chỉnh nhiệm vụ sản xuất theo chiều hướng tăng tỷ trọng sản xuất sản phẩm B và A có số giờ sản xuất một sản phẩm cao ở phân xưởng I và phân xưởng II tận dụng số giờ sản xuất thừa Và giảm khối lượng sản xuất sản phẩm C có số giờ sản xuất một sản phẩm cao ở phân xưởng III Việc phân biệt điểm hẹp, điểm rộng trong sản xuất kinh doanh có ý nghĩa quan trọng trong công tác xây dựng kế hoạch, nhằm để phát huy tốt nhất các tiềm năng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài các khái niệm trên nhằm phục vụ cho công tác xây dựng kế hoạch, người ta còn có các khái niệm phân biệt khác như năng lực tối thiểu tối đa và năng lực trung bình

Năng lực sản xuất tối thiểu là nơi có năng lực sản xuất thấp nhất, tức là công suất điểm hẹp trong quy trình công nghệ sản xuất

Năng lực tối đa đựơc xác định dựa vào nơi có công suất lớn nhất trong dây chuyền công nghệ sản xuất của doanh nghiệp Đây là mục tiêu triển vọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Các mức chênh lệch giữa năng lực sản xuất tối đa với trung bình và tối thiểu phản ánh tính mất cân đối, nói lên khả năng tiềm tàng doanh nghiệp cần phải tập trung khai thác

Ngoài việc phân tích tính cân đối thông qua các khâu, các mặt thiếu đồng

bộ trong quy trình sản xuất như trên Doanh nghiệp cần quan tâm tính cân đối đồng bộ giữa các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh Các nguyên nhân

có thể có thể dẫn đến tính mất cân đối giữa các yếu tố sản xuất thường là:

Do trình độ tay nghề của công nhân yếu so với quy trình công nghệ hiện đại, do đó không sử dụng hết công suất của thiết bị, chất lượng sản phẩm thấp,

tỷ lệ sai hỏng nhiều, nguyên vật liệu lãng phí

Trang 29

Do thiết bị sản xuất cũ lạc hậu, chi phí vật tư cho đơn vị sản phẩm cao, tiến độ kinh doanh không đảm bảo mục tiêu đề ra;

Do việc cung cấp vật liệu cho sản xuất không đảm bảo và đồng bộ về số lượng chất lượng, chủng loại cho dù máy móc hiện đại công nhân có tay nghể cao cũng làm giảm năng lực sản xuất

Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp biểu hiện mối quan hệ tổng hợp trong đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố sản xuất và yếu tố tổ chức quản lý kỹ thuật của sản xuất Sự kết hợp càng chặt chẽ thì việc tận dụng khai thác khả năng trong hoạt động sản xuất kinh doanh càng cao

Phân tích tính cân đối giữa các yếu tố sản xuất kinh doanh trên Cho ta thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của sự kết hợp, đồng bộ giữa các yếu tố sản xuất kinh doanh Để tiến hành nghiên cứu tiềm năng của từng yếu tố, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh như thế nào? Ta phải đi sâu phân tích tình hình

sử dụng các yếu tố, vì các yếu tố này có tác dụng tới quyết định tới việc hoàn thành các mục tiêu của doanh nghiệp

3.2 Phân tích tình hình sử dụng lao động

3.2.1 Phân tích tình hình sử dụng số lượng lao động

Đây là vấn đề quan trọng đặc trưng cho tiềm lực lao động, được phản ánh thông qua trình độ tay nghề, bậc lương của công nhân Vấn để là làm sao cân đối được bậc lương của công nhân với bậc lương bình quân của công việc cụ thể mà người đó đảm nhiệm

Tổng số lao động của doanh nghiệp thường đựơc phân thành các lọai, có thể khái quát theo sơ đồ sau:

Trang 30

Sơ đồ 3.1 - Mối quan hệ giữa các bộ phân cán bộ nhân viên

trong doanh nghiệp

Tổng số lao động của doanh nghiệp thường được chia thành hai loại: công nhân viên sản xuất và nhân viên ngoài sản xuất

3.2.1.1 Công nhân viên sản xuất

Công nhân viên sản xuất là những người làm việc mà hoạt động của họ,

có liên quan đến quá trình chế tạo sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ Chi phí của công nhân viên trực tiếp được tính vào giá trị giá thành sản phẩm sản xuất Công nhân viên trực tiếp đựơc chia làm hai, công nhân trực tiếp và công nhân gián tiếp

Công nhân trực tiếp là những người trực tiếp vận hành thiết bị sản xuất tạo ra sản phẩm Chi phí của nhân công trực tiếp được hoạch toán vào riêng khoản mục chi phí nhân công trực tiếp trong giá thành sản phẩm sản xuất

Nhân viên gián tiếp là những người trong phân xưởng sản xuất phục vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm của công nhân trực tiếp Chi phí của nhân viên gián tiếp là một bộ phận của chi phí sản xuất chung trong giá thành sản phẩm

3.2.1.2 Nhân viên ngoài sản xuất

Nhân viên ngoài sản xuất là những người không tham gia vào hoạt động sản xuất chế tạo ra sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ Họ là những người tham

Công nhân sản xuất trực tiếp

Nhân viên quản lý chung Nhân viên bán hàng

Trang 31

gia vào họat động ngoài lĩnh vực sản xuất Nhân viên ngoài sản xuất được chia làm hai loại: nhân viên bán hàng và nhân viên quản lý chung

Nhân viên bán hàng là những người làm nhiệm vụ, mà hoạt động của họ gắn với qua trình để thực hiện các đơn đặt hàng và giao hàng cho khách Chi phí của nhân viên bán hàng phản ánh các phí tổn phát sinh ngoài hoạt động sản xuất

và có liên quan trực tiếp với khối lượng sản phẩm tiêu thụ

Nhân viên quản lý chung là những người làm nhiệm vụ quản lý và hành chính của doanh nghiệp, mà không thể xếp vào loại nhân viên bán hàng được

Chi phí của nhân viên quản lý có liên quan đến hoạt động tổ chức quản lý

và hành chính của doanh nghiệp

3.2.1.3 Phương pháp phân tích

So sánh tỷ trọng (kết cấu) biến động của từng loại công nhân viên, giữa các kỳ phân tích, đối chiếu với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, để rút ra kết luận, tình hình và khả năng tiềm tàng trong việc sử dụng số lượng lao động của doanh nghiệp

Ví dụ

Có tài liệu tại doanh nghiệp sản xuất về tình hình biến động số lượng lao động giữa thực hiện so với kế hoạch như bảng sau:

Bảng 3.4 - Phân tích biến động số lượng lao động

Số lượng Tỷ trọng Số lượng Tỷ trọng Công nhân viên sản xuất

- Công nhân trưc tiếp

- Nhân viên gián tiếp

Nhân viên ngoài sản xuất

- Nhân viên bán hàng

- Nhân viên quản lý

Cộng công nhân viên

100

Qua tài liêu phân tích cho ta thấy: Tổng số lao động của doanh nghiệp, giảm so với kế hoạch đặt ra là 49 người (951- 1.000)

Xét về cột tỷ trọng cho ta thấy: Việc giảm này là do giảm nhân viên quản

lý 2,2% (7,8%-10%) và nhân viên sản xuất gián tiếp 0,3% (4,7% - 5%) Nếu công việc của các loại nhân viên này, trên thực tế vẫn đảm bảo cho hoạt động

Trang 32

sản xuất kinh doanh bình thường, thì việc giảm này so với kế hoạch được đánh giá tốt

Về tỷ trọng của công nhân trực tiếp tăng 0,5% (5,5% - 5%) Việc tăng tỷ trọng của hai loại lao động này có tác động trực tiếp đến kết quả sản xuất (khối lượng sản xuất) và kết quả tiêu thụ (khối lượng tiêu thụ) Vậy để đánh giá tình hình biến động số lượng này, ta phải chứng tỏ mối liên hệ với kết quả sản xuất

và tiêu thụ mới có kết luận chính xác được

Trong điều kiện doanh nghiệp chưa tự động hoá quá trình sản xuất, khối lượng thành phẩm được sản xuất ra trong doanh nghịêp, chủ yếu là do lao động của công nhân trực tiếp sản xuất ra trong doanh nghiệp, chủ yếu là do lao động cuả công nhân trực tiếp sản xuất, do đó sự biến động công nhân trực tiếp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng sản phẩm sản xuất

Phân tích tình hình biến động số lượng công nhân trực tiếp cần xem trên hai mặt:

Mức biến động tuyệt đối: Cho phép ta đánh giá về tình hình tuyển dụng

và đào tạo công nhân, chỉ tiêu này phản ánh về quy mô khối lượng

Mức biến động tương đối là kết quả so sánh kỳ phân tích với kỳ gốc được điều chỉnh hệ số của quy mô sản xuất cho phép ta kết luận tình hình quản lý và

sử dụng công nhân, chỉ tiêu này phản ánh hiệu suất sử dụng

Để minh hoạ cho quá trình phân tích ta có tài liệu sau:

Bảng 3.5 - Tính tình hình sử dụng công nhân trong mối

liên hệ với kết quả sản xuất

Chỉ tiêu Kế hoạch Thực hiện Chênh lệch

1.Giá trị sản lượng (trđ)

2.Số công nhân sản xuất BQ

3.Năng suất lao động

50.000

800 62,5

49.000

780 62,82

- 1.000

- 20 +0,32

- 2

- 2,5 + 0,5

Qua bảng phân tích trên cho thấy: Mức biến động tuyệt đối công nhân trực tiếp so với kế hoạch giảm 2,5% tương ứng 20 công nhân sản xuất Như vậy quy mô về khối lượng công nhân trực tiếp giảm so với mục tiêu kế hoạch Mức biến động tuyệt đối chưa phản ánh tình hình sử dụng công nhân sản xuất như thế

Trang 33

nào? Thông qua chỉ tiêu mức biến động tương đối mới biểu hiện được hiện được hiệu suất của tình hình sử dụng lao động

Mức biến động CNSX CNSX Hệ số điều chỉnh tương đối CNSX = thực hiện - kỳ gốc x theo quy mô sản xuất

4 công nhân = 780 - 800 x 49.000/50.000 ( 98%)

4 công nhân = 780 - 784

Mức biến động tương đối vì công nhân sản xuất trực tiếp giảm 4, biểu hiện trong điều kiện như mục tiêu kế hoạch đặt ra là: doanh nghiệp cần 800 công nhân để đạt đựơc 50.000 trđ giá trị sản lượng trên thực tế giá trị đạt là 49.000 trđ, tương tự với mục tiêu kế hoạch thì số lượng công nhân sản xuất trực tiếp tương ứng phải là 784, nhưng thực tế doanh nghiệp chỉ sử dụng 780 công nhân sản xuất, vậy so với mục tiêu kế hoạch doanh nghiệp tiết kiệm được 4 công nhân sản xuất trực tiếp trong kỳ đã hiệu quả hơn kế hoạch

Để làm rõ nguyên nhân kết quả sản xuất thay đổi do tác động của sô lượng công nhân hay năng suất lao động Chúng ta sử dụng phương pháp liên hoàn để xác định các nhân tố ảnh hưởng như sau:

Kết quả sản xuất về chỉ tiêu giá trị sản lượng so với kế hoạch giảm 1.000 (49.000 - 50.000), do hai nguyên nhân như sau:

Điểu kiện năng suất lao động bình quân của một công nhân theo kế hoạch

là 62,5, số lượng công nhân sản xuất so với kế hoạch giảm 20 (780 - 800), vậy

sẽ làmcho giá trị sản lượng giảm là:

(780 - 800) x 62,5 = - 1.250 Điều kiện số lượng công nhân sản xuất là 780 thực tế đã sử dụng, năng xuất lao động bình quân một công nhân sản xuất tăng 0,32 (62,82 - 62,5) = +

250

Như vậy kết quả sản xuất thực hiện so với kế hoạch giảm 1.000 trđ là do

số lượng công nhân sản xuất và đã làm giá trị sản lượng giảm là 1.250 Doanh nghiệp đã giảm số lượng công nhân dưới mức cần thiết, không bảo đảm kế hoạch kế hoạch sản xuất như mục tiêu đặt ra Nếu như năng suất lao động không tăng thì giá trị sản lượng sẽ giảm nữa chứ không phải là giảm ở mức 1.000 trđ

Phân tích tình hình biến động của nhân viên bán hàng cũng có thể được thực hiện tương tự như công nhân sản xuất trực tiếp phân tích ở trên Nhưng hệ

số điều chỉnh ở đây là theo quy mô của doanh thu tiêu thụ, vì kết quả hoạt động

Trang 34

của các nhân viên bán hàng có quan hệ trực tiếp với doanh thu tiêu thụ Đối với doanh nghiệp thương mại thuần tuý, thì việc phân tích biến động của các nhân viên thu mua, cũng có thể thực hiện phân tích biến động của các nhân viên thu mua, cũng có thể thực hiện tương tự phương pháp phân tích trên, vì kết quả hoạt động của các nhân viên thu mua có liên quan trực tiếp với doanh số của hàng mua

3.2.2 Phân tích tình hình tăng năng suất lao động

Lao động là yếu tố cơ bản nhất trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, lao động bao giờ cũng mang lại hiệu quả lao động của mình ngày một tăng cao, nghĩa là năng suất lao động (NSLĐ) không ngừng tăng lên Do đó khi phân tích năng suất lao động thì mục tiêu duy nhất của doanh nghiệp là phải làm sao nâng được năng suất lao động lên

3.2.2.1 Các loại năng suất lao động

Năng suất lao động biểu hiện là khối lượng sản phẩm do một công nhân làm ra trong một đơn vị thời gian Trong ý nghĩa rộng hơn thì nó là chi phí tổng hợp lao động xã hội, tức là bao gồm cả lao động vật hoá và lao động sống ngày càng cao thì chi phí lao động xã hội trên một đơn vị sản phẩm càng thấp

Có thể hiểu năng suất lao động một cách khác là : Năng lực của người lao động có thể sáng tạo ra một đơn vị sản phẩm vật chất có ích trong một đơn vị thời gian nhất định hoặc thời gian hao phí để tạo ra một đơn vị sản phẩm vật chất

Công thức năng suất lao động được khái quát như sau:

NSLĐ = Lượng SP/ Lượng thời gian = 2.000 SP/4.000 giờ

= 0,5 sản phẩm / 1giờ Hoặc:

NSLĐ = Lượng thời gian/Lượng SP = 4.000 giờ /2.000 SP

= 2 giờ / 1 sản phẩm

Các mặt biểu hiện của chỉ tiêu năng suất lao động

Phần lớn các doanh nghiệp, các ngành sản xuất ra các dang sản phẩm rất khác nhau, hay nói một cách khác, sản xuất theo danh mục với chủng loại mặt hàng rất đa dạng Các mặt biểu hiện của chỉ tiêu năng suất lao động Cho nên thực tế đã dẫn đến chỗ không sử dụng dụng số lượng sản phẩm tính bằng hiện

Trang 35

vật, mà sử dụng chỉ tiêu năng suất lao động biểu hiện bằng giá trị Thước đo bằng giá trị thường dùng là chỉ tiêu giá trị sản lượng hàng hóa Thước đo này đòi hỏi chênh lệch của sản phẩm dở dang đầu và cuối kỳ không đáng kể Sử dụng chỉ tiêu này đo lường năng suất lao động cũng có thể thiếu sót nhất định ở chỗ là nếu giá trị vật chất, là nguyên vật liệu, khấu hao…kết tinh trong một sản phẩm khác nhau giữa các kỳ phân tích thì chỉ tiêu năng suất lao động tính ra sẽ khác nhau, việc khác nhau này không phải do thay đổi lao động mới sáng tạo ra, mà

do giá trị lao động quá khứ của xã hội đã tạo ra trước đó Để khắc phục nhược điểm này nhà kinh tế đưa ra chỉ tiêu thay thế là chỉ tiêu sản lượng định mức thuần túy chính là giá trị sản lượng trừ đi giá trị chi phí vật chất Họ cho rằng khi xác định năng suất lao động sử dụng thước đo sản lượng định mức thuần túy đúng đắn hơn giá trị sản lượng hàng hóa

Lượng thời gian hao phí, có thể sử dụng nhiều đơn vị thời gian khác nhau (giở, ngày , tháng, quý, năm) Do đó chỉ tiêu năng suất lao động được biểu hiện thành nhiều loại năng suất lao động qua đơn vị thước đo thời gian khác nhau như sau:

NSLĐ giờ = Giá trị sản lượng/ Tổng giờ làm việc

= 576.000 ngàn đồng/ 115.200 giờ = 5 ngđ/g

Năng suất lao động giờ chính là giá trị sản lượng bình quân 1 giờ làm việc của công nhân sản xuất trực tiếp là 5 ngđ

NSLĐ ngày = Giá trị sản lượng/ Tổng số giờ làm việc

= 576.000 ngàn đồng/14.400 ngày = 40 ngđ/ngày

Năng suất lao động ngày chính là giá trị sản lượng bình quân 1 ngày làm việc của công nhân sản xuất trực tiếp là 40 ngđ

Mối liên hệ giữa năng suất lao động ngày với năng suất lao động giờ thông qua độ dài của ngày làm việc biểu hiện công thức sau:

NSLĐ ngày = Số giờ làm việc bình quân ngày x NSLĐ giờ

40 ngđ = 8 giờ x 5 ngđ

Như vậy nếu tốc độ tăng năng suất lao động ngày cao hơn tôc độ tăng của năng suất lao động giờ, điều này chứng tỏ số giờ làm việc bình quân trong kỳ đã

Trang 36

được tăng lên và ngược lại qua đây cho phép ta có thể đánh giá được tình hình

sử dụng số giờ lao động giữa các kỳ phân tích:

NSLĐ năm (kỳ) = Giá trị sản lượng/ Số CNSXBQ = 576.000/50 = 11.520 ngđ/công nhân

Năng suất lao động năm (hoặc kỳ phân tích) chính là giá trị sản lượng

bình quân của mỗi công nhân sản xuất trực tiếp đạt được trong năm Biểu hiện

qua công thức sau:

NSLĐ năm = Số ngày làm việc bình quân năm x NSLĐ ngày

11.520 ngđ = 288 ngày x 40 ngđ

Như vậy nếu tốc độ tăng năng suất lao động năm (kỳ) cao hơn tốc độ

năng suất lao động ngày, điều đó chứng tỏ ngày làm việc trong năm (kỳ) được

chọn tăng lên Qua đây cho phép ta có thể đánh giá được tình hình sử dụng số

ngày lao động của công nhân sản xuất giữa các kỳ phân tích Thông qua ba loại

năng suất lao động đã nghiên cứu trên ta có thể lập phương trình biểu hiện mối

quan hệ của nhân tố thuộc về lao động ảnh hưởng đến kết quả sản xuất như sau:

Gía trị Số CNSX Số ngày làm việc Số giờ làm việc

sản lượng = bình quân x bình quân 1 CN x bình quân ngày x NSLĐ giờ

3.2.2.2 Phương pháp phân tích năng suất lao động

Phương pháp phân tích năng suất lao động là:

Đánh giá tình hình tăng giảm các loại năng suất lao động, trên cơ sở đánh

giá này ta có thể kết luân tình hình sử dụng về thời gain lao động ở doanh

nghiệp giữa các kỳ phân tích

Xác định các nhân tố ảnh hưởng về mặt lao động đến mức chênh lệch của

kết quả sản xuất kinh doanh giữa các kỳ phân tích

Để minh họa ta có thể lập bảng phân tích, căn cứ trên tài liệu ở doanh

nghiệp như sau:

Trang 37

Bảng 3.6 - Phân tích tình hình biến động năng suất lao động

Tính

Năm trước

Năm nay

Chênh lệch NN/NT

Ngày Giờ Giờ 1.000đ Đồng Đồng

502.740

315 83.790

266 628.425 7,5 1.596 6.000

800

524.319

310 86.180

178 672.204 7,8 1.691 6.084

780

+ 21.579

-5 + 2.390

+ 12 + 43.779 + 0,3 + 95 + 84 -20

+ 4,3 -1,6 + 2,8

+ 4,5 + 6,7 + 0,4 + 5,9 + 1,4 -2,5

Đánh giá tình hình tăng giảm các loại năng suất lao động

Tài liệu phân tích trên cho ta thấy kết quả so sánh năng suất lao động năm nay so với năm trước của mỗi loại không giống nhau, có loại tăng, có loại giảm,

cụ thể là:

Năng suất lao động giờ: so với năm trước giảm 2,5% tương ứng 20 đ Việc giàm này thường do các nguyên nhân gây nên là: do trình độ tay nghề của công nhân thấp, do thiết bị sản xuất chưa được hiện đại hóa Có thể do việc cung cấp nguyên vật liệu, không đầy đủ kịp thờiđúng quy cách phẩm chất cho sản phẩm Hoặc cũng do khâu tổ chức ở doanh nghiệp chưa tốt… Nhìn chung đây là biểu hiện không tốt, doanh nghiệp cần tìm ra nguyên nhân và đề ra biện pháp khắc phục

Năng suất lao động ngày: so với năm trước tăng 1,4% tương ứng 8 đ Năng suất lao động ngày: so với năm trước tăng 1,4% tương ứng 84 đ ở đây ta thấy tốc độ tăng năng suất lao động ngày tăng còn năng suất lao động giờ thì giảm (1,4% và – 2,5%) điều này chứng tỏ số giờ làm việc trong ngày năm nay

so với năm trước đã tăng lên (7,8% > 7,5%)

Trang 38

Năng suất lao động năm: so với năm trước tăng 5,9% tương ứng 95 ngđ

Ở đây ta thấy tốc độ tăng năng suất lao động năm tăng nhanh hơn tốc độ tăng năng suất lao động ngày (5,9% > 1,4%) điều này đã chứng tỏ số ngày sử dụng của công nhân sản xuất năm nay cao hơn so với năm trước (278 > 266)

Xác định các nhân tố ảnh hưởng về mặt lao động đến kết quả kinh doanh sản xuất

Phương trình biểu hiện các nhân tố ảnh hưởng được thiết lập và căn cứ vào tài liệu phân tích trên như sau:

Giá trị SL = Số CNSXBQ x Số ngày LVBQ1 CN x Số giờ LVBQ ngày x NSLĐ giờ

Do giảm 5 công nhân làm cho giá trị sản lượng giảm là:

Trang 39

Nhân tố làm tăng Nhân tố làm giảm

Kết quả sản xuất Kết quả sản xuất

và khai thác

3.2.3 Phương hướng nâng cao năng suất lao động

Mục tiêu chủ yếu của kế hoạch về năng suất lao động là xác định những khả năng sẵn có để giảm chi phí lao động cho sản phẩm sản xuất ra Mục đích cuối cùng của nhiệm vụ này là huy động sức lao động sẵn có ở doanh nghiệp và tận dụng những tiềm lực đó Những nguồn dự trữ này là những khả năng thực tế chưa sử dụng đến để tăng suất lao động trong mỗi doanh nghịêp trong mỗi ngành kinh doanh thực tế không có giới hạn Còn đối với kế hoạch phải tính đến những khả năng thực tế để nâng cao năng suất lao động trong giai đoạn dự kiến

3.2.3.1 Những phương hướng cải thiện tổ chức lao động chủ yếu để lập kế hoạch tăng năng suất lao động

Một là: cải tiến các hình thức phân công và hiệp tác lao động bên trong daonh nghiệp, giữa các phân xưởng các bộ phận với nhau Việc này sẽ liên quan đến sắp xếp công việc hợp lý trong quá trình lao động, việc phân

+ 43.003

-21.424

Trang 40

Hai là: tổ chức một cách hợp lý việc phục vụ nơi làm việc Mục đích của phương pháp này là đảm bảo các điều kiện cho người lao động có thể hoàn thành một cách bình thường chức năng của mình

Ba là: Nghiên cứu và phổ biến các biện pháp và phương pháp lao động tiên tiến Điều thực tế ta thường thấy các công nhân cung làm một công việc như nhau, sử dụng các thiết bị công việc như nhau, nhưng họ lại tạo ra những khối lượng sản phẩm khác nhau Nguyên nhân của thực trạng này là sự chênh lệch về trình độ tay nghề Trong trường hợp này phải nhờ đến việc phổ biến những kinh nghiệm tiên tiến như là một phương pháp quan trọng của việc hoàn thiện tổ chức lao động

Bốn là: Tạo ra cho người lao động những điều kiện thuận lợi nhất để làm việc nghỉ ngơi Điều này liên quan đến các vấn đề cải tiến những điều kiện vệ sinh lao động, nơi làm việc, việc giảm tiếng ồn trong sản xuất xuống mức bình thường… Điều này chính bản thân nó ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lao động, tâm trạng người lao động…

Ngoài bốn phương hướng đã xem xét trên, trong việc cải tiến tổ chức lao động một hướng nữa mà chúng ta cần phải quan tâm đó là định mức lao động

Trong thực tế, cải tiến việc lập ra các định mức lao động được tiến hành thông qua quá trình dự thảo và áp dụng các định mức thời gian, định mức sản phẩm và định mức phục vụ

Định mức thời gian: đó là số lượng thời gian cần thiết cho một công nhân

sản xuất ra một đơn vị sản phẩm nào đó Định mức thời gian này không chung chung, mà có tính đến mức trang bị kỹ thuật cụ thể và trình độ tổ chức lao động

cụ thể

Định mức sản phẩm: là khối lượng sản phẩm do một công nhân sản xuất

ra trong một đơn vị thời gian Định mức sản phẩm và quy định mức thời gian có mối liên quan chặt chẽ với nhau Và mặc dù mối liên quan trực tiếp, song tác

Ngày đăng: 03/03/2021, 08:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w