Tâm lý học kinh doanh là là một ngành khoa học nghiên cứu các hiện tượng, quy luật, đặc điểm tâm lý con người và các mối quan hệ trong sản xuất kinh doanh. Nghiên cứu về tâm lý trong việc tiêu thụ sản phẩm, theo hướng này tâm lý học kinh doanh tìm hiểu những qui luật tâm lý trong các vấn đề như: nhu cầu thị hiếu của khách hàng; phong tục tập quán của thị trường, để nhà kinh doanh lập kế hoạch sản xuất; nghiên cứu tâm lý của người bán hàng; tâm lý của người mua hàng trước và sau khi dùng sản phẩm. Mời các bạn cùng tham khảo giáo trình Tâm lý kinh doanh để biết thêm chi tiết.
Trang 1BÀI 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA TÂM LÝ HỌC 1.1.Tâm lý và tâm lý học
1.1.1.Khái niệm tâm lý
Tâm lý là toàn bộ những hiện tượng tinh thần nảy sinh và diễn biến ở trong não, tạo nên cái mà
ta gọi là nội tâm của mỗi người (người khác không trực tiếp nhìn thấy) và có thể biểu lộ ra hành vi (có thể trực tiếp nhìn thấy)
Tâm lý là một trong 3 mặt cấu trúc của con người: mặt sinh học (cơ thể), mặt xã hội (các quan
hệ với những người khác, với gia đình, xã hội) và mặt tâm lý
Động vật cũng có tâm lý Tùy theo trình độ tiến hóa mà tâm lý của từng loài động vật cũng khác nhau, tương ứng với kích thước và cấu tạo của não và với môi trường sống của mỗi loài Tâm lý con người, là tâm lý phát triển cao nhất, khác với bản chất với tâm lý của bất kì loài động vật nào
1.1.2.Khái niệm tâm lý học
Đối tượng của nghiên cứu của tâm lý học là tâm lý người nói chung và từng loại hiện tượng tâm lý người nói riêng
Nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lý học là:
Nghiên cứu bản chất, cấu trúc và qui luật hình thành, vận hành và phát triển của tâm lý nói chung, của từng loại hiện tượng tâm lý nói riêng
Nghiên cứu những qui luật tâm lý đặc thù của từng loại hoạt động nghề nghiệp khác nhau của
xã hội như: y tế, giáo dục, khoa học, nghệ thuật, thể thao, kinh doanh, quản lý, nhân sự…
Nghiên cứu lịch sử hình hành và phát triển của tâm lý học và nghiên cứu các phương pháp tiếp cận và nghiên cứu tâm lý người
1.1.3.Một số khoa học liên quan mật thiết với tâm lý học
1.2.Triết học
Triết học với tư cách là khoa học về những qui luật chung nhất của tự nhiên, của xã hội và của
tư duy, là một cơ sở lý luận quan trọng hàng đầu của tâm lý học Nó giúp cho tâm lý học có một quan niệm triết học đúng đắn về tâm lý con người Triết học Mác – Lênin là triết học cung cấp cho tâm lý học về quan niệm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử về tâm lý con người trong mối quan hệ biện chứng và lịch sử với tự nhiên và với xã hội Nó là một cơ sở phương pháp luận cho việc tiếp cận và nghiên cứu tâm lý người
1.2.1.Sinh lý học
Tâm lý là chức năng của não nói riêng và của hệ thần kinh nói chung Hệ thần kinh không thể tách rời với các hệ khác của cơ thể như: hệ tiêu hóa, hệ tim mạch, hệ hô hấp, hệ nội tiết, hệ cơ….Không thể nào hiểu được cảm giác, tri giác nếu không có hiểu biết về các giác quan như: mắt, tai, da, mũi, lưỡi… Không thể nào hiểu được xúc cảm, hành vi nếu không có hiểu biết về hệ nội tiết,
hệ cơ…Vì thế, sinh lý học người nói chung là sinh lý học hoạt động thần kinh cao cấp nói riêng là những khoa học giúp cho tâm lý học biết được những nguyên nhân từ phía cơ thể đối với tâm lý, biết được cơ sở tự nhiên của tâm lý Tâm lý học học sinh là chuyên ngành nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh lý và tâm lý, giữa sinh lý học và tâm lý học
Trang 2cá nhân đối với xã hội Chuyên ngành tâm lý học xã hội là kết quả của việc nghiên cứu mối quan hệ giữa xã hội và cá nhân, giữa xã hội học và tâm lý học
1.3.1.Nhóm chuyên ngành tâm lý học cơ bản
Tâm lý học đại cương, Lịch sử tâm lý học, Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu tâm
lý người, Tâm lý học phát triển, Tâm lý học thần kinh, Tâm lý học giới tính, Tâm lý học nhân cách, Tâm lý học xã hội, Tâm lý học dân tộc, Tâm lý học tôn giáo, Tâm lý học gia đình…
1.3.2.Nhóm chuyên ngành tâm lý học ứng dụng
Tâm lý học sư phạm, Tâm lý học y tế, Tâm lý thể thao, Tâm lý học nghệ thuật, Tâm lý học tư pháp, Tâm lý học quân sự, Tâm lý học lao động, Tâm lý học kinh doanh, Tâm lý học tổ chức nhân sự, Tâm lý học lâm sàng, Tâm bệnh học, Chuẩn đoán tâm lý, Tư vấn tâm lý, Trị bệnh tâm lý …
1.3.3.Một số nghề tâm lý học
Tâm lý học không chỉ là một môn khoa học, một môn học mà còn là một lĩnh vực hoạt động xã hội – thực tiễn thông qua một số nghề cụ thể Đó là nghề: Giảng dạy tâm lý học; Nghiên cứu tâm lý và tâm lý học; Chuẩn đóan tâm lý; Tư vấn và tham vấn tâm lý; Trị bệnh tâm lý hoặc ứng dụng tâm lý học trong các hoạt động tổ chức nhân sự, kinh doanh, thể thao, y tế, giáo dục…
1.4.Vài nét về lịch sử hình thành và phát triển tâm lý học
Những ý tưởng về tâm lý con người đã nảy sinh trong dân gian từ thời xa xưa với các quan niệm về “hồn”, về “phách”, về “vía”….(“hồn xiêu, phách lạc”, “sợ mất vía”, …) mà theo quan niệm này thì đó là những cái trú ngụ trong thể xác và khi con người chết đi thì nó rời khỏi thể xác để đến một nơi khác (lên “ trời”, hay xuống “địa ngục”, “suối vàng”, hay nhập vào một cơ thể khác….) Đó là những ý tưởng có tính chất mê tín hoặc tôn giáo
Có ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành của tâm lý học như là một môn khoa học là những
ý tưởng của những nhà triết học về tâm lý con người: bắt đầu từ thời cổ đại ở Ấn Độ, Trung Quốc, Hy Lạp….Có thể nói tâm lý học đã phải trải qua một thời gian thai nghén dài qua nhiều thế kỷ từ trong lòng triết học và một số khoa học khác như sinh lý học và y học có thể chính thức ra đời với tư cách là một môn khoa học độc lập, vào năm 1879 nhà tâm lý học người Đức WILHELM WUNDT thành lập phòng thực nghiệm tâm lý học đầu tiên trên thế giới đặt tại trường Đại học LEIPZIG
1.4.1.Một số tư tưởng tâm lý học thời Cổ đại
Phật Thích ca (623-543 trước CN) người Ấn Độ đã sáng lập ra đạo Phật, là người đã nêu lên tư tưởng về Tứ Diệu Đế (có nghĩa là 4 chân lý cao thượng: chân lý thứ nhất – sống là khổ; chân lý thứ hai - nguyên nhân của khổ là lòng ham muốn (ái dục) và sự vô minh (chưa được giác ngộ); chân lý thứ
ba – trạng thái khổ diệt (hết khổ), tức là trạng thái Niết Bàn và chân lý thứ tư là con đường đưa đến khổ diệt tức là con đường thực hiện 8 điều răn của Phật (Bát chánh đạo) Có thể nói đạo Phật là đạo có
cả một hệ thống quan niệm và khái niệm rất phong phú, rất tỉ mỉ, thậm chí có thể nói có cả một tâm lý học riêng của mình, Tâm lý học phật giáo
Khổng tử (551-479 trước CN) là nhà triết học và đạo đức học tại Trung Quốc, người sáng lập
ra đạo Khổng, người đã đề cao vai trò của cái tâm trong mối quan hệ với cái đức Theo Khổng Tử, phải có cái tâm thiện thì mới có hành động thiện, cuộc sống thiện, nhân cách thiện, đạo đức thiện
Trang 3Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín là những tiêu chuẩn của đạo đức Theo Khổng Tử, trên đời có loại nhân cách: quân tử là người có tâm, có đức, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín và tiểu nhân là kẻ không có cái tâm, cái đức đó
Hiếu: là hiếu thảo Hiếu thảo với cha mẹ là điều căn bản làm con Hiếu thảo nghĩa là báo đáp công ơn dưỡng dục của cha mẹ
Để: là kính trọng Kính trọng người lớn hơn mình.Trung: là trung thành Hết lòng trung thành với đất nước của mình, đó là trách nhiệm của người công dân, có tận trung thì mình mới báo đền được công ơn của đất nước
Tín: là nhiệm Đối với bạn bè phải có tín nhiệm, hứa với bạn chuyện gì thì phải làm chuyện đó, không thể thất tín, sai hẹn
Lễ: là lễ phép Đối với người, mình phải có lễ phép, phải hết sức khiêm nhường Nếu không có
lễ thì mình chỉ là thú vật mà thôi
Nghĩa: là nghĩa khí Thấy điều gì có nghĩa thì phải dũng cảm mà làm Khi thấy ai gặp tai nạn thì mình phải tận lực giúp đỡ, giải quyết vấn đề giúp họ Với bạn bè thì mình phải có đạo nghĩa; khi giúp ai không cần có điều kiện gì cả, tuyệt đối không có tâm mưu đồ mong đền ơn đáp nghĩa
Liêm: là liêm khiết Người liêm khiết thì bất luận gặp hoàn cảnh nào cũng không động lòng tham cầu, cũng chẳng muốn hưởng tiện nghi Hơn nữa mình phải có tinh thần chí công vô tư, và biết quên mình mà làm chuyện ích chung
Sỉ: là hổ thẹn Gặp chuyện gì không hợp đạo lý, đi ngược lại với lương tâm của mình thì tuyệt đối chẳng làm Con người nếu không biết hổ thẹn thì giống như cầm thú vậy
SOCRATES (470-399 trước CN), PLATO (428-348 trước CN) và ARITOTE (388-322 trước CN) là những nhà triết học Hy Lạp Cổ đại đã từng nói về 5 loại cảm giác, về tưởng tượng, ham muốn, những trạng thái khác của “linh hồn” Họ cũng đã bàn nhiều về vấn đề trí não hoạt động ra sao, vấn đề
ý chí, tự do là gì, con người sinh ra vốn thiện hay vốn ác, có lý trí hay không có lý trí, có ý chí tự do hay bị các lực lượng bên ngoài khống chế
Plato cho rằng tâm hồn là cái có trước, thực tại là cái có sau và tâm hồn là do Thượng đế sinh
ra
Aistote thì cho rằng tâm hồn thì có ba loại: “tâm hồn thực vật” có chung ở người và động vật, làm chức năng dinh dưỡng (còn gọi là “tâm hồn dinh dưỡng”), và “tâm hồn động vật”, có chung ở người và động vật, làm chức năng cảm giác và vận động (còn gọi là “ tâm hồn cảm giác”) và “ tâm hồn trí tuệ” chỉ có người (còn gọi là “ tâm hồn suy nghĩ”)
Một nhà triết học Hy Lạp Cổ đại khác, rất nổi tiếng là HIPPOCRATES (460-377) mà y học hiện đại tôn vinh là sư tổ của mình, đã cho rằng não là “ người phiên dịch của ý thức”, rằng những đặc điểm của nhân cách có liên quan tới những đặc điểm của cơ thể, rằng tâm bệnh có cơ sở sinh lý của
nó
GALEN (130-200 sau CN) là một nhà vật lý của La Mã Cổ đại thì cho rằng mỗi người sinh ra đều có một trong 4 kiểu khí chất: hăng hái, điềm đạm, nóng nảy, trầm tư
1.4.2.Một số tư tưởng tâm lý học thời cận đại
DESCARTES (1596-1650) là nhà toán học và triết học Pháp cho rằng cơ thể là một thực thể vật chất, còn tâm trí là một thực thể tinh thần, hai thực thể đó, song song và tồn tại và tương tác với nhau qua một cấu trúc rất nhỏ trong não Quan niệm nhị nguyên luận của Descartes đã đưa ông đến kết luận rằng con người có thể nghiên cứu cơ thể một cách khoa học, nhưng không thể nghiên cứu tâm trí một cách khoa học được vì là sản phẩm của “linh hồn” có ý chí
HOBBES (1588-1679) là nhà triết học Anh đã phản bác quan niệm Nhị nguyên luận của Descartes Ông cho rằng tư tưởng và tình cảm của con người đều là những quá trình vật chất xuất phát
từ não người và do đó là đối tượng nghiên cứu khoa học của con người
CABANIS (1757 – 1808) một y học Pháp, cho rằng “ não tiết ra tư tưởng như gan tiết ra mật” FEUERBACH (1804-1872) nhà triết học duy vật Đức khẳng định tinh thần, tâm lí không thể tách rời khỏi não người, là sản phẩm cao nhất của sự phát triển vật chất
Trang 4HELMHOLTZ (1821-1894) nhà vật lý học và sinh lý học Đức, đã có những công trình nghiên cứu về các cơ quan thụ cảm ở trong mắt và tai
1.4.3.Tâm lý học trở thành một khoa học độc lập từ năm 1879 đến nay
Với sự kiện nhà tâm lý học Đức WUNDT thành lập phòng thí nghiệm tâm lý học đầu tiên trên thế giới, tâm lý học trở thành một khoa học thực sự
WILHELM WUNDT (1832-1920) và thuyết cấu trúc Wundt bắt đầu sự nghiệp của mình bằng
sự nghiên cứu các cảm giác, nhất là thị giác, rồi sau đó nghiên cứu sự chú ý, xúc cảm, và trí nhớ Ông cho rằng cảm giác và tri giác là cơ sở của cấu trúc tâm lý vì thế người ta coi ông là người đã đề ra thuyết cấu trúc trong tâm lý học và tâm lý học của Wundt là tâm lý học cấu trúc Wundt cũng là người
đề xướng ra phương pháp nội quan là phương pháp phát hiện tâm lý của một người nào đó Bằng cách yêu cầu người đó nhìn vào nội tâm của mình rồi báo cho nhà tâm lí học biết đang có cảm giác và tri giác như thế nào Phương pháp này bị phê phán là không khoa học vì nó phụ thuộc vào hoàn toàn lời khai báo của chủ thể, mà khai báo như thế nào là một việc hoàn toàn chủ quan và có thể sai lệch không đúng sự thực
WILLIAM JAMES (1842-1919) và thuyết chức năng Nhà tâm lý học người Mỹ đã nghiên cứu
và viết trong 12 năm để xuất bản được cuốn Những nguyên lý của tâm lý học vào 1890 mà nội dung của nó không thể thiếu trong bất kỳ cuốn sách giáo khoa tâm lý học nào đang dạy và học trong các trường đạy học ngày nay: cảm giác, trí nhớ, sự chú ý, sự học, sự lập luận, ý thức, xúc cảm Chính James đã đưa ra một thuyết mới, độc đáo về xúc cảm Nếu như nhiều người cho rằng khi gặp cọp, ai cũng hoảng sợ (xúc cảm) và sự hoảng sợ đó làm ta phải bỏ chạy Nhưng theo James thì hành động bỏ chạy đã tạo ra một phản ứng sinh lý mà não ta gọi là hoảng sợ, nghĩa là sự bỏ chạy làm ta hoảng sợ chứ không phải sự hoảng sợ làm ta bỏ chạy William James không theo thuyết cấu trúc của Wundt Theo Ông, không phải cấu trúc mà là chức năng của tâm lý mới là quan trọng và cần phải nghiên cứu
để biết tâm lý phải thích ứng với môi trường đang biến đổi như thế nào Vì thế người ta gọi William James là nhà tâm lý học đã đề xướng thuyết chức năng, trong tâm lý học và tâm lý học của James là tâm lý học chức năng
JONH B WASTON (1878-1958) và thuyết hành vi Theo thuyết này, tâm lý học sẽ là một khoa học thật sự khách quan chỉ khi nào nó coi khách thể nghiên cứu của nó là hành vi, là cái có thể quan sát được, tiên đoán được và kiểm soát được là cái có thể nghiên cứu một cách khách quan được
1920-1970, thuyết hành vi của Waston đã thống trị toàn bộ nền tâm lý Mỹ, trong đó có cả sự thống trị những công trình tâm lý học của SKINNER, người đã tích cực truyền bá và phát triển thuyết hành vi của Waston Tâm lý của Waston và Skinner còn gọi là tâm lý học kích thích – đáp ứng, đã dần dần mất đi vai trò thống trị của nó trước sự xuất hiện của Tâm lý học nhận thức
ALBERT BANDURA là một người vốn theo thuyết hành vi của Waston và Skinner, nhưng đã phê phán tính cứng nhắc của thuyết hành vi và đã xây dựng lý thuyết của mình là thuyết kết hợp những hành vi có thể quan sát với những quá trình nhận thức diễn ra ở trong não Theo cách tiếp cận học tập xã hội của Bandura thì hành vi của chúng ta không đơn giản chỉ là kết hợp của những động tác
và củng cố của môi trường mà còn là kết quả của sự quan sát, sự bắt chước và sự suy nghĩ nhận thức của chúng ta
SIGMUND FREUD (1856-1939) là một bác sĩ tâm thần người Áo là người đã sáng lập ra Tâm phân học là phương pháp nghiên cứu tâm lý mà ông dùng để điều trị bệnh nhân bị bệnh tâm thần bằng cách phát hiện những ý nghĩ, những tình cảm dồn nén trong vô thức và sau đó phân tích để đưa nó trở
về ý thức
ALFRED BINET (1857-1911) nhà tâm lý người Pháp, Ông cho rằng trí thông minh là một tổ hợp của những năng lực tinh thần và do đó để đo được trí thông minh của một người nào đó thì phải
đo năng lực hoàn thành những nhiệm vụ nhận thức của người đó chứ không phải đo bộ não của người
đó Do được giao nhiệm vụ thiết kế những trắc nghiệm để phân biệt những học sinh trí thông minh bình thường với những học sinh chậm phát triển về mặt trí tuệ trong các trường học ở Paris, năm 1905 ông đã cùng với nhà tâm thần học THEODORE SIMON thiết kế thành công bảng trắc nghiệm trí
Trang 5thông minh đầu tiên trên thế giới (được gọi là trắc nghiệm Binet – Simon) Trắc nghiệm này còn có nhiều hạn chế do chỉ dùng để đo trẻ kém phát triển, do đó không khỏi ý nghĩ tiêu cực của nó, sau đó mấy năm Binet đã cải tiến được trắc nghiệm của mình và đề xuất khái niệm mới gọi là tuổi khôn, phân biệt với tuổi đời Năm 1906 ông cải tiến trắc nghiệm Binet – Simon bằng công thức về Thương
số thông minh (Intelligence quotient)
EDWARD THORNDIKE (1874-1949) nhà tâm lý học người Mỹ đã phát hiện ra định luật hiệu quả qua thí nghiệm với con mèo tìm cách thoát khỏi cái cũi “ thử tài” của Ông Định luật này là một
cơ sở của hoạt động học tập, được gọi là điều kiện hóa thao tác
JEAN PIAGET (1896-1980) nhà tâm lý học Thụy Sĩ, người đã có công đầu trong việc xây dựng và phát triển Tâm lý học phát triển, trong đó ông đi sâu vào nghiên cứu quá trình phát triển trí tuệ của trẻ em, ngôn ngữ, tư duy của trẻ em và do đó được ứng dụng rộng rãi trong giáo dục học và trong thực tiễn giáo dục
ABRAHAM MASLOW ông nổi tiếng với tạp chí Tâm lý học nhân văn do Ông sáng lập với lý thuyết của Ông về thang nhu cầu của con người
Trang 6VƯGOSTXKI (1896-1960) là người đã sáng lập ra một phương hướng độc đáo trong tâm lý học Liên xô mà cơ sở của nó là học thuyết về bản chất xã hội và lịch sử của ý thức Ông cũng là người nghiên cứu về tâm lý học đại cương, Tâm lý học trẻ em, Tâm lý học bệnh lý, Tâm lý học thần kinh,
Tâm lý học nghệ thuật
1.5.Hiện tượng tâm lý
1.5.1.Bản chất của hiện tượng tâm lý
Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua chủ thể và do đó mang tính chủ thể
Phản ánh là thuộc tính chung của mọi sự vật đang vận động và tác động vào nhau và do đó để lại dấu vết của sự tác động đó trên nhau Dấu vết đó là sự phản ánh Sự phản ánh là hiện tượng có thể mang tính vật lý, hóa học, sinh học, xã hội, tâm lý từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất và có thể chuyển hóa lẫn nhau
Phản ánh tâm lý là sự phán ánh có những đặc điểm sau đây:
Có sự tác động của những sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan vào các giác quan
và từ các giác quan não, của một con người cụ thể
Mang tính chủ quan và chủ thể (tức con người cụ thể mang bộ não đang hoặc đã được hiện thực khách quan tác động) do chủ thể có một vai trò nhất định trong sự tiếp nhận sự tác động của hiện thực khách quan
Tâm lý người là tâm lý mang tính xã hội – lịch sử Nội dung của tâm lý người là phản ánh hiện thực khách quan, mà hiện thực khách quan này không chỉ là tự nhiên mà còn là chủ yếu xã hội, tồn tại
xã hội, và ý thức xã hội, quan hệ xã hội, thiết chế xã hội, văn hóa xã hội và hoạt động xã hội…
Tâm lý của từng cá nhân không chỉ là tâm lý của từng cá nhân đó mà còn có phần nào đó là tâm lý của một nhóm người trong xã hội (một gia đình, một cộng đồng, một địa phương…) mà cá nhân đó là thành viên hay nói cách khác, trong cái riêng là tâm lý của một cá nhân có cái chung là tâm
1.5.2.Chức năng của tâm lý
Chức năng định hướng cho từng hành động, cho từng hoạt động, cho cả một chặng đường đời
và cho cả cuộc đời, với tư cách là xu hướng, là động cơ của mỗi người
Chức năng điều khiển hành động và hoạt động để hành động và hoạt động được thực hiện theo
định hướng đã có và đạt được mục đích đề ra
Chức năng kiểm tra và đánh giá kết quả của hành động và hoạt động để biết hành động và hoạt
động của mình có theo đúng sự điều khiển, sự định hướng của mình hay không, kết quả có như ý muốn của mình hay không
Chức năng điều chỉnh hành động và hoạt động khi thấy hành động và hoạt động kém hiệu quả
hoặc không có hiệu quả, cần có sự thay đổi ít nhiều về phương pháp, về quy trình, thậm chí cả về mục đích, mục tiêu…
Bốn chức năng trên để thực hiện chức năng chung của tâm lý là giúp con người không chỉ thích ứng được với môi trường với hoàn cảnh mà còn làm chủ được môi trường và hoàn cảnh, Cải tạo
được môi trường và hoàn cảnh, sáng tạo ra môi trường và hoàn cảnh và thông qua đó con người làm
ch ủ được bản thân mình, cải tạo và sáng tạo ra chính bản thân mình
1.5.2.Phân loại các hiện tượng tâm lý
1.5.2.1.Phân loại theo thời gian tồn tại
Trang 7Những quá trình tâm lý (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng, trí nhớ, cảm xúc, hành
Phân loại theo nơi biểu hiện
Trong nội tâm (tức tâm trí ở trong não)
Qua hành vi (lời nói, việc làm, cử chỉ, bộ mặt, cử động, vận động)
1.5.2.2.Phân loại theo cặp phạm trù cái riêng và cái chung có hai loại:
Tâm lý cá nhân
Tâm lý xã hội
Phân loại theo sức khỏe
Tâm lý bình thường
Tâm lý không bình thường
1.6.Cơ sở tự nhiên và cơ sở xã hội của tâm lý
1.6.1.Cơ sở tự nhiên của tâm lý
1.6.1.1.Di truyền
Di truy ền là hiện tượng một số đặc điểm sinh học của cơ thể bố mẹ được truyền lại cho cơ thể
của con qua quá trình sinh sản, trong đó có những đặc điểm của giác quan, của hệ thần kinh nói chung
và của bộ não nói riêng
Bi ến dị là hiện tượng một số đặc điểm sinh học của cơ thể đứa con khác với cơ thể bố mẹ và khác với những đứa con khác do chính bố mẹ đó sinh ra
Di truy ền và biến dị là hai hiện tượng song song và tồn tại trong cùng một cơ thể, làm cho cơ
thể của đứa con vừa có những đặc điểm giống, vừa có đặc điểm khác với cơ thể bố mẹ Các giác quan,
hệ thần kinh nói chung và não nói riêng của mỗi con người, với tư cách là một bộ phận của cơ thể, đều
có những đặc điểm nào đó giống và những đặc điểm nào khác với bố mẹ Vì các giác quan, hệ thần kinh não của mỗi người là cơ sở sinh lý - thần kinh của các hiện tượng tâm lý cho nên tâm lý của đứa con cũng có đủ các loại hiện tượng và quy luật như đã có ở tâm lý của bố mẹ, đồng thời cũng có
những đặc điểm hoặc giống hoặc khác với tâm lí bố mẹ
Như vậy qui luật sinh học về di truyền và biến dị của cơ thể khi sinh ra là nguyên nhân tạo ra
sự giống nhau và khác nhau về mặt sinh học của cơ thể đứa con so với cơ thể của bố mẹ và do đó mà
có sự giống nhau và khác nhau về mặt hình thành và phát triển tâm lý ở đứa con so với bố mẹ Nói cách khác, nếu tâm lý bố mẹ là tâm lý người thì đứa con cũng là tâm lý người và một số đặc điểm của tâm lý đứa con dù cũng là tâm lý người như tâm lý bố mẹ, nhưng ngoài ngoài những cái giống bố mẹ, còn có những cái khác với bố mẹ
Nguyên nhân sinh học của hiện tượng di truyền là các gien trong các nhiễm sắc thể của tế bào Tuy nhiên, nhân tố di truyền (gien) chỉ là một trong các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức, nhân cách của mỗi người Những nhân tố quan trọng hơn là môi trường và hoàn cảnh, là sự giáo dục và tự giáo dục và nhất là sự hoạt động và giao tiếp của chính bản thân của mỗi người trong tập thể, trong cộng đồng, trong xã hội
1.6.1.2.Hệ thần kinh
Trang 8Tất cả noron trong cơ thể (hàng nghìn tỷ) liên hợp với nhau tạo nên hệ thần kinh
Hệ thần kinh gồm: hệ thần kinh trung ương, hệ thần kinh ngoại biên
Hệ thần kinh trung ương gồm: tủy sống (ở trong cột sống) và não (trong hộp sọ)
Hệ thần kinh ngoại biên ở bên ngoài hộp sọ và cột sống gồm: các noron, các dây thần kinh Có chức năng dẫn truyền xung từ các thụ quan cảm giác tới tủy sống và não và ngược lại, từ não và tủy tới các quan (các cơ và các tuyến)
Chức năng chung của hệ thần kinh là điều khiển phối hợp và điều hòa hoạt động của tất cả các
cơ quan trong cơ thể
Chức năng của tủy sống là thực hiện các phản xạ không điều kiện
Chức năng của não
- Tham gia điều chỉnh tất cả hoạt động của cơ thể
- Tiếp nhận, xử lý, phân tích và các thông tin từ các thụ quan cảm giác và trả lời có ý thức bằng hoạt động của hệ cơ xương
- Tham gia và duy trì cân bằng các chức năng diễn ra tự động vô ý thức như nhịp tim, nhịp thở, tiêu hóa, tuần hoàn, tuyến giáp
- Là trung khu các hoạt động thần kinh cao cấp như tư duy, học tập, trí nhớ…
1.6.2.Phản xạ
Là chức năng của hệ thần kinh thực hiện một phản ứng tự động và đáp trả lại một kích thích
Để đáp ứng yêu cầu bức xúc của tình thế, một phản xạ có thể được thực hiện tự động và rất nhanh, không cần có sự tham gia của não, nhưng vì trung khu thần kinh có liên hệ với não nên não vẫn nhận biết được (có cảm giác và biết được điều gì đang xảy ra) và có thể ra lệnh thực hiện những hành vi cần thiết nào đó sau sự phản xạ đó Ví dụ: tay ta vô ý chạm vào nước sôi thì lập tức rút tay ra khỏi nước sôi – phản xạ, đồng thời có cảm giác bị bỏng và biết là mình bị bỏng nên đi lấy thuốc chữa bỏng bôi lên tay (do não nhận biết và ra lệnh thực hiện)
1.6.2.1.Phản xạ có điều kiện
Là phản xạ tự tạo trong đời sống của từng cá thể (người hoặc động vật) để thích ứng với môi trường luôn luôn biến đổi Là cơ sở sinh lí của hoạt động tâm lí Phản xạ có điều kiện thường không bền vững, có thể mất đi nếu không thường xuyên củng cố Phản xạ có điều kiện có thể thành lập với bất cứ kích thích nào
1.6.2.2.Phản xạ không điều kiện
Là phản xạ bẩm sinh, được di truyền mang tính chất của loài, ổn định suốt đời và có nhiều loại khác nhau, phản xạ ăn uống, phản xạ tự vệ, phản xạ sinh dục, phản xạ vận động, phản xạ định hướng… có phản xạ ngay sau khi sinh (khóc, bú) và phản xạ đến tuổi mới xuất hiện (vận động, sinh dục)
Các giác quan
Trang 9Các giác quan bên ngoài (mắt, tai, mũi, lưỡi, da) và các giác quan bên trong cơ thể (mạch máu,
cơ, dây chằng, khớp gối…) đều có những tế bào đặc biệt gọi là thụ quan cảm giác để cơ thể nhận biết
các thông tin báo hiệu (tín hiệu) những sự thay đổi trong môi trường và trong cơ thể do được kích thích và dẫn truyền tín hiệu theo xung thần kinh vào xung trung ương thần kinh để được xử lý và đáp trả, bảo đảm sự toàn vẹn, thống nhất của cơ thể và vị trí thích ứng của cơ thể với môi trường
Các giác quan nói trên đóng vai trò quan trọng đầu tiên để các cảm giác và tri giác có thể xuất hiện trong não và trên cơ sở đó những hoạt động, những hiện tượng tâm lý khác cũng xuất hiện như tư duy, tưởng tượng, trí nhớ, xúc cảm, hành động…Có thể nói không có giác quan thì không có hoạt động của hệ thần kinh, của não do đó không có tâm lý, ý thức
1.7.Cơ sở xã hội của tâm lý
Tâm lý người mang tính xã hội và mang tính lịch sử Sự hình thành và phát triển của tâm lý
người xét về mặt loài cũng như xét về mặt cá thể, không chỉ có cơ sở tự nhiên, sinh học, mà còn có cơ
sở xã hội, trước hết là các quan hệ xã hội, nền văn hóa xã hội, hoạt động xã hội, giao tiếp xã hội
1.7.1.Quan hệ xã hội
Quan hệ xã hội là những mối quan hệ khách quan giữa người và người trong xã hội, giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân và nhóm, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa nhóm này, cộng đồng này và nhóm khác, cộng đồng khác
Quan hệ xã hội giữa người và người bao gồm nhiều loại: quan hệ sinh sản, quan hệ kinh tế, quan hệ chính trị, quan hệ pháp luật, quan hệ đạo đức, quan hệ tình dục và tình yêu, quan hệ gia đình
và họ hàng, quan hệ hôn nhân, quan hệ giáo dục…
C.Mác đã khẳng định rằng “bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội” Do đó, tâm lý con người được hình thành và phát triển trong sự chi phối những mối quan hệ đó và sự phản ánh của mối quan hệ
1.7.2.Nền văn hóa của xã hội
Mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc có nền văn hóa của riêng nó và các nền văn hóa khác nhau của các cộng đồng và dân tộc khác nhau có ảnh hưởng qua lại với nhau, thâm nhập vào nhau trong một chừng mực nào đó và chuyển hóa lẫn nhau do kết quả của giao lưu kinh tế và văn hóa
Văn hóa bao gồm các giá trị vật chất và tinh thần, vật thể và phi vật thể do xã hội đã sáng tạo ra trong lịch sử và đang sáng tạo ra trong nó hiện tại để thõa mãn những nhu cầu của sự tồn tại và phát triển xã hội Khoa học, công nghệ, kỹ thuật, nghệ thuật, pháp luật, đạo đức, lối sống….đều là các dạng khác nhau của văn hóa xã hội
Tiếng nói và chữ viết của mỗi dân tộc mà tâm lý học gọi là hệ thống tín hiệu thứ hai (do nó là những tín hiệu dùng để chỉ một sự vật, hiện tượng nào đó là tín hiệu thứ nhất) cũng là một bộ phận cực
kỳ quan trọng của nền văn hóa của xã hội, một phương tiện để duy trì, phát triển và giao lưu của dân tộc đó Nó cũng là cơ sở xã hội của ngôn ngữ cá nhân và của sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức của cá nhân
Mỗi con người, mỗi cá nhân khi mới lọt lòng mẹ chưa phải là một con người có văn hóa, nhưng nhờ xã hội đã có sẵn một nền văn hóa và nhờ được giáo dục, nhờ được sống và lớn lên trong môi trường có văn hóa của gia đình, của nhà trường và của xã hội mà con người tiếp thu được những giá trị văn hóa của xã hội để trở thành một con người có văn hóa của xã hội đó
1.7.3.Hoạt động xã hội của cá nhân
Là nh ững hoạt động của cá nhân trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của xã hội để thỏa mãn nhu c ầu của cá nhân và xã hội Ví dụ: hoạt động học tập, hoạt động vui chơi - giải trí, hoạt động
nghề nghiệp (trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, pháp luật, khoa học, nghệ thuật, thể thao, quân sự… ), hoạt động tôn giáo, hoạt động cứu trợ nhân đạo……
Trang 10Trong mỗi lĩnh vực hoạt động xã hội nói trên, mỗi cá nhân đều phải thông qua những quan hệ
xã h ội cụ thể để có sự ủng hộ, sự giúp đỡ, sự giám sát, sự kiểm tra của những người khác (trong gia
đình, trong nhà trường, trong tập thể lao động và ở nơi công cộng) và đều phải vận dụng những kiến thức văn hóa đã học được để hoạt động của hiệu quả
Khi hoạt động trong một lĩnh vực nào đó, mỗi cá nhân là chủ thể phải thực hiện những hành động và khi thực hiện một hành động nào đó thì cá nhân phải sử dụng một hay nhiều công cụ (phương tiện kỹ thuật) với những thao tác để tác động vào khách thể và đối tượng của hoạt động và hành động
Về mặt tâm lý, mỗi cá nhân đều có một động cơ chủ yếu khi tham gia một lĩnh vực hoạt động nào đó Và đều có mục đích cụ thể cho từng hành động của mình trong hoạt động đó Sản phẩm của hành động là kết quả của việc thực hiện được hay không, được hoàn toàn hay một phần động cơ của hoạt động và mục đích của hành động
Có thể khái quát cấu trúc của hoạt động bằng sơ đồ sau đây:
Hình 1.11 - Sơ đồ cấu trúc hoạt động xã hội của cá nhân 1.8.Sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức
1.8.1.Sự hình thành và phát triển tâm lý
1.8.1.1.Sự nảy sinh và hình thành tâm lý ở các loài động vật
Những phản xạ không điều kiện đơn giản là nhân tố ban đầu của sự nảy sinh và hình thành tâm
lý của động vật
Ở những sinh vật đơn giản nhất cũng đã có tính dể bị kích động và đã có khả năng phản ứng đối với các tác động của môi trường
Ở những động vật có nhiều tế bào hoàn thiện hơn và có tổ chức thần kinh cơ phức tạp hơn thì
đã có những hành vi đáp trả các kích thích của môi trường như là những phản xạ không điều kiện đơn giản và tức thì (ví dụ: phản xạ vồ thức ăn vừa trông thấy, phản xạ quay người sang phía có kích thích đột ngột, phản xạ giật mình…
Những phản xạ không điều kiện phức tạp hoặc hành vi bản năng
Hành vi bản năng là những hành vi lần lượt xuất hiện liên quan tới các kích thích phức tạp của môi trường xảy ra từ môi trường bên ngoài cũng như môi trường bên trong cơ thể, như những phản xạ không điều kiện phức tạp kéo dài, mang tính bẩm sinh, vô ý thức và công thức (theo một khuôn mẫu
KHÁCH THỂ
HÀNH ĐỘNG HOẠT ĐỘNG
MỤC ĐÍCH
ĐỘNG CƠ
Trang 11và một trình tự nhất định, không thay đổi, ví dụ: đào hang, làm tổ, tìm thức ăn, đuổi bắt con mồi, giao phối với con cái, hoặc con đực…) tùy theo từng loài
Các hành vi bản năng với tư cách là những phản xạ không điều kiện phức tạp chỉ có thể có ở động vật có hệ thần kinh phức tạp và do đó không chỉ có những cảm giác mà có cả tri giác và xúc cảm cần thiết để thực hiện hành vi bản năng
Những phản xạ có điều kiện hoặc những hành vi kỹ xão của động vật
Các hành vi kỹ xão là những hành vi không phải là bẩm sinh (như hành vi bản năng) mà được hình thành và củng cố trong quá trình sinh sống của từng cá thể con vật do đã có những mối liên hệ tạm thời vững chắc giữa các kích thích nhất định của môi trường và các phản ứng đáp lại của con vật
ấy như là những phản xạ có điều kiện phức tạp bảo đảm sự thích nghi có phân biệt của động vật đối với các điều kiện luôn thay đổi của môi trường và do đó thỏa mãn đầy đủ hơn các nhu cầu của động vật
Các hành vi kỹ xão được hình thành nhờ có sự luyện tập lâu dài thông qua việc thực hiện lập lại nhiều lần các động tác nhất định Các động vật có bán cầu đại não thì hành vi kỹ xão có phát triển hơn, với các cảm giác và tri giác đạt trình độ phân biệt cao, nhiều hơn và chính xác hơn Do đó, phản ứng đối với môi trường bên ngoài một cách hoàn thiện và chi tiết hơn, kể cả các phản ánh về quan hệ giữa các vật thể trong môi trường và giữ lại được trong trí nhớ những biểu tượng của những sự vật đã được tri giác trước đó
Hành vi trí tuệ của động vật chỉ là hành vi mò mẫm một cách tự phát ngẫu nhiên, không phải
do suy nghĩ trước rồi thực hiện theo suy nghĩ trước đó Hành vi đó cũng không phải do con vật khác truyền cho, nghĩa là không phải là sản phẩm của kinh nghiệm đồng loại
1.8.2.Sự nảy sinh và hình thành tâm lý ở con người
Tâm lí loài người xét về mặt mức độ phản ánh hiện thực khách quan, đã trải qua 3 thời kỳ: cảm giác, tri giác và tư duy So với các loài động vật khác thì cảm giác và tri giác của con người cao hơn rất nhiều Tư duy của con người cũng phát triển từ tư duy bằng tay lên tư duy bằng ngôn ngữ So với
tư duy bằng tay của con vật thì tư duy bằng tay của con người cũng cao hơn rất nhiều do não người và bàn tay người có trình độ phát triển cao hơn nhiều so với não và bàn tay con vật Riêng tư duy bằng ngôn ngữ thì chỉ có ở con người, vì chỉ có con người thì mới có tiếng nói và chữ viết để tư duy và giao tiếp với nhau, để học tập và nghiên cứu di sản văn hóa và qua đó phát triển tâm lý và nâng cao trình độ văn hóa của mình
Xét về mặt hành vi thì tâm lý con người cũng trải qua 3 thời kỳ: hành vi, bản năng, hành vi kỹ xão và hành vi trí tuệ
So với con vật thì hành vi bản năng, hành vi kỹ xão và hành vi trí tuệ của con người đạt trình
độ cao hơn rất nhiều về lượng, chất, hình thức, nội dung, năng suất và hiệu quả và nhất là hành vi trí tuệ là hành vi trong đó con người không chỉ tư duy bằng tay mà còn tư duy bằng ngôn ngữ là loại tư duy mà con vật không thể nào có được Với loại tư duy này, con người có thể suy nghĩ, đề ra mục đích, mục tiêu lựa chọn và sáng tạo phương pháp, xây dựng kế hoạch… ở trong não trước khi bắt tay hành động và có thể suy nghĩ để tổng kết kinh nghiệm, rút ra bài học sau khi hành động
1.8.3.Sự phát triển tâm lý về phương diện cá thể
1.8.3.1.Thế nào là phát triển tâm lý (về phương diện cá thể của con người)?
Trang 12Sự phát triển tâm lý của con người từ lúc sinh ra cho đến khi qua đời, trải qua nhiều giai đoạn (gọi là giai đoạn lứa tuổi)
Sự phát triển tâm lý của con người gắn liền với sự hoạt động của con người trong thực tiễn đời sống của nó, trong đó có một số hoạt động đóng vai trò chính (chủ đạo) trong sự phát triển, một số hoạt động khác giữ vai trò phụ
Hoạt động chủ đạo ở tuổi sơ sinh (từ 0-1 tuổi) là hoạt động giao tiếp cảm xúc trực tiếp với người lớn, trực tiếp với cha mẹ
Hoạt động chủ đạo ở tuổi mẫu giáo (từ 3-6 tuổi) là hoạt động vui chơi
Hoạt động chủ đạo ở tuổi học sinh (từ 6-18 tuổi) là hoạt động học tập
Hoạt động chủ đạo ở tuổi thanh niên và người trưởng thành (từ 18-60 tuổi) là hoạt động lao động và hoạt động xã hội
1.8.3.2.Các giai đoạn phát triển tâm lý theo lứa tuổi
Giai đoạn Ấu niên (từ khi mới sinh ra cho đến 11 tuổi)
Giai đoạn thiếu niên (Vị thành niên) (từ 12 đến 18 tuổi)
Giai đoạn thanh niên (từ 19 đến 25 tuổi)
Giai đoạn tráng niên (từ 26 đến 45 tuổi)
Giai đoạn trung niên (từ 46 đến 65 tuổi)
Giai đoạn cao niên (từ 66 đến chết)
Có hai loại gắn bó: một là, sự gắn bó bảo đảm khi đứa trẻ coi cha mẹ là chỗ dựa an toàn để nó
có thể đi lăng quăng khám phá thế giới xung quanh nó Sự gắn bó loại này sẽ làm cho đứa trẻ sau này
lớn lên càng gắn bó với cha mẹ Hai là, sự gắn bó không bảo đảm khi đứa trẻ tránh né, có thái độ hai
mặt đối với cha mẹ, (ví dụ: có thể ôm chặt mẹ và đòi mẹ bế ở phút này nhưng sang phút sau đã đòi tụt khỏi tay mẹ và chạy đi chỗ khác)
1.8.4.2.Sự phát triển nhận thức
Theo Piaget, sự phát triển nhận thức của một con người bao gồm 4 giai đoạn
Giai đoạn thứ nhất: (từ khi mới sinh ra cho đến hai tuổi) là các giai đoạn giác động – đứa trẻ tiếp xúc và hiểu biết các sự vật chung quanh mình bằng cách liên hệ những kinh nghiệm cảm giác với những hành động vận động của mình Một sự phát triển nhận thức đáng kể trong giai đoạn này là đứa trẻ biết được rằng sự vật hay hiện tượng vẫn tiếp tục tồn tại kể cả khi ta không nhìn thấy hay sờ thấy
nó
Giai đoạn thứ hai: (từ 2 đến 7 tuổi) là giai đoạn tiền thao tác – đứa trẻ học cách dùng các biểu tượng để suy nghĩ về các sự vật vắng mặt và về các cách giải quyết những vấn đề đơn giản Trong giai đoạn này, đứa trẻ có xu hướng suy nghĩ về thế giới xung quanh chỉ từ góc độ của riêng mình, coi mình
là trung tâm, đó là cách suy nghĩ mang tính duy kỉ hay còn gọi là duy kỉ trí tuệ
Giai đoạn thứ ba: (từ 7 đến 11 tuổi) là giai đoạn thao tác cụ thể - đứa trẻ đã có một số thao tác
tư duy logic để phán xét các sự vật cụ thể dang hiện diện trước mắt Một đặc trưng cho sự phát triển nhận thức của đứa trẻ ở giai đoạn này là ý nghĩ của đứa trẻ cho rằng khối lượng của sự vật không thay đổi hình thù của nó theo nguyên tắc bảo toàn
Giai đoạn thứ tư: (từ 12 tuổi trở lên) – con người trong giai đoạn này phát triển và vận dụng năng lực tư duy logic hình thức của mình để suy nghĩ và giải quyết vấn đề
Trang 13Mỗi giai đoạn phát triển nhận thức nói trên là một sự khác biệt về chất so với giai đoạn trước của nó vì trong mỗi giai đoạn mới đều có xuất hiện một số năng lực mới về tư duy
1.8.4.3.Sự phát triển của thiếu niên
Tuổi thiếu niên là một giai đoạn trong đó tính độc lập và tính tự xác định thay thế tình trạng phụ thuộc của tuổi ấu thơ vào cha mẹ và những người lớn khác Lứa tuổi này có thể kéo dài hơn một thập kỉ, từ 10 tuổi đến 20 tuổi, cho đến khi bắt đầu vai trò người lớn
Ba nhiệm vụ phát triển mà thiếu niên thường phải đối diện: thành thục về thể chất, tính dục như người trưởng thành và xác định lại các vai trò xã hội, kể cả việc dành quyền tự chủ đối với cha mẹ
và đưa ra quyết định trên các mục tiêu nghề nghiệp
Thành thục về thể chất – ngày càng quan tâm tới ngoại hình và ý nghĩa về sự chấp nhận của bạn bè cùng trang lứa (nhất là các bạn khác giới), khiến mối quan tâm đến hình ảnh thân thể của mình càng sâu sắc thêm
Tính dục là một vấn đề mà cha mẹ khó bàn bạc với con cái, thành thử vấn đề này hay được giữ kín Khiến việc chia sẽ thông tin trở nên khó khăn hơn
Bản sắc xã hội - ở tuổi này là khám phá ra cái bản sắc đích thực của mình Những sợi dây ràng buộc của gia đình trở nên giãn ra là vì dành nhiều thời gian cho cuộc sống bên ngoài tổ ấm gia đình Thanh thiếu niên nào ít sự ràng buộc của người lớn thì dể dàng được phơi bày giá trị mới mẻ nảy sinh một nhu cầu mạnh mẽ, có sự nâng đỡ và chấp nhận của bạn bè cùng trang lứa Xác định được loại người nào lựa chọn để trở thành người đó (chọn thần tượng) và những quan hệ nào theo đuổi Vì nhu cầu muốn có tình bạn thân thiết và muốn được bạn bè cùng trang lứa chấp nhận ngày càng lớn nên lo
sợ về khả năng bị từ chối cũng gia tăng Các lực ép từ cha mẹ và bạn bè (cùng trang lứa) đôi khi bộc lộ các mâu thuẫn, là nguồn thúc đẩy sự tách biệt cha mẹ và gia tăng đồng nhất hóa với bạn bè Song nói chung cha mẹ và bạn bè đều có vai trò bổ xung và đáp ứng các nhu cầu khác nhau
Lập nghiệp (lựa chọn nghề nghiệp) việc quyết định lập nghiệp là một các mốc của sự hình thành bản sắc người thanh thiếu niên Câu hỏi “ta sẽ làm gì khi ta trưởng thành” phản ánh quyết định cái ta là gì
Những thanh thiếu niên xuất thân từ các gia đình có cương vị cao về mặt kinh tế xã hội thì chắc chắn dể theo đuổi và hưởng thụ đầy đủ nền học vấn ngoài bậc đại học và có nhiều hoài bão để hướng tới và vươn tới mức thành đạt cao hơn Các bậc cha mẹ thuộc tầng lớp xã hội trung lưu và trung lưu ở mức cao thì khuyến khích động cơ thành đạt ở mức cao trong con cái của họ
1.8.4.4.Sự phát triển của người trưởng thành
Nhu cầu có các quan hệ thân thiện đối lập với tình trạng cô lập Bước ngoặc cốt lõi đối với tuổi bắt đầu trưởng thành là giải quyết các mẫu thuẫn giữa nhu cầu muốn có những mối quan hệ thân mật đối người với tình trạng cô lập, để tạo ra những khả năng có những ràng buộc đầy đủ về mặt cảm xúc, đạo đức, tình dục với những người khác Gây dựng những ràng buộc như vậy đòi hỏi phải hy sinh các
sở thích cá nhân, chấp nhận các trách nhiệm và tạo ra cuộc sống riêng tư và độc lập phần nào đó
Sự gắn bó lứa đôi được xem là khả năng tạo ra một một sự ràng buộc đầy đủ - về mặt tình dục, xúc cảm và đạo đức với một người khác Có nhiều người giờ đây phải vật lộn với những vấn đề của chính mình (lựa chọn nghề nghiệp chẳng hạn) còn phải đương đầu với những vấn đề của cuộc sống, gắn bó thân mật với người khác
Nhu cầu mở rộng các quan hệ xã hội đối lập với sự trì trệ Những người thuộc lứa tuổi 30-40 chuyển ra khỏi cái tôi và người bạn đời tiến tới những ràng buộc rộng hơn nhắm tới gia đình, lao động,
xã hội và thế giới Những người nào không vượt qua được cái khủng hoảng ban đầu về cái chính mình
và cuộc sống gắn bó thân mật với ai đó thì có thể trải nghiệm qua cuộc khủng hoảng giữa tuổi trưởng thành Những người đó vẫn có cuộc sống buông thả, nghi ngờ những lựa chọn đã qua, ham muốn cuộc sống tự do bất chấp có an toàn hay không
Người nào vượt qua được về cái chính mình về cuộc sống gắn bó riêng tư thì thường xảy ra nhu cầu xã hội hóa Đây là một ràng buộc bản thân với gia đình, lao động, xã hội hoặc với các thế hệ
Trang 14tương lai – một thử thách cốt lõi ở tuổi trung niên là một cuộc đấu tranh giữa mong muốn được an toàn với ham muốn được tự do
Nói cách khác, một người muốn có một cuộc sống có ý nghĩa hơn, được hài lòng hơn phải chấp nhận hy sinh cái gì là ổn định trong cuộc sống của mình Ngược lại, người nào cố bám lấy một lề lối an toàn lại có một nguy cơ trở nên trì trệ, sẽ chuốc lấy một cuộc đời tàn trong ngõ hẹp, trong khi những người khác thì tới được những chân trời rộng mở, thênh thang
Những giai đoạn chuyển tiếp của người trưởng thành Với nam giới, lứa tuổi 20 có vẻ là một thời kỳ vọng, lạc quan, độc lập và hành động có trách nhiệm Những năm đầu của lứa tuổi 30, nam giới có thể đánh giá lại cuộc sống của mình, đặt thành vấn đề những hướng cơ bản được đặt ra những năm 20 hoặc khẳng định chúng hoặc chọn các hướng sau Cuối thời kỳ tuổi 30 thường là một điểm củng cố và thỏa mãn Giữa 40-50 tuổi, một bước ngoặc có thể xảy ra khi những lựa chọ đã qua và những cam kết hiện nay phải đặt thành vấn đề, cuộc đời đã qua một nữa: liệu tự do có bị hy sinh cho
sự an toàn không? Phải chăng cuộc sống gắn bó riêng tư đã bị đánh đổi thành công nghề nghiệp? nam giới thường trở nên băn khoăn về cái chính mình đích thực và để thích nghi có thể phải đổi mới cam kết, tạo ra những thay đổi hoặc tìm kiếm những khả năng chịu đựng và chấp nhận những lựa chọn không làm mình thỏa mãn
Dưới ánh sáng những thay đổi vai trò giới tính, hơn vài thập kỉ qua, một vấn đề trung tâm đối với những phụ nữ trưởng thành và sự chỉnh hợp những khát vọng nghề nghiệp với gia đình Phụ nữ bấp bênh trong lựa chọn năng khiếu nghề nghiệp nhiều hơn so với nam giới, trong số những phụ nữ hoàn toàn chỉ làm việc ở nhà Một công trình nghiên cứu cho thấy họ có những cảm nghĩ bị cô lập về mặt xã hội, bị hụt hẫng và bị giày vò bởi những mặt cảm tội lỗi không theo đuổi được cái mục tiêu học vấn đã được chuẩn bị cho mình Một công trình nghiên cứu khác cho thấy những phụ nữ nào có gia đình và làm việc ngoài gia đình thì có xu hướng hài lòng với cuộc sống của mình nhiều hơn những phụ
nữ chỉ làm việc không thôi hoặc những phụ nữ đã kết hôn chỉ làm việc ở nhà
Tư duy người trưởng thành khác với thanh thiếu niên theo nhiều mặt Họ phải quan tâm đến các triển vọng và các nhân cách khác nhau nhiều hơn so với khi họ còn là thanh thiếu niên Họ phải thương lượng, tranh cãi, thỏa hiệp và đi đến thỏa thuận
Cuộc sống của người trưởng thành đòi hỏi một cách tư duy năng động hơn, ít trừu tượng hơn khả dĩ chấp nhận được những sự thống nhất quán và những mẫu thuẫn
Chẳng hạn – một cậu bé hoặc vị thành niên có thể tránh không đến lớp với một ông thầy mình không ưa, song một người trưởng thành giàu kinh nghiệm biết rất rõ không thể lánh mặt một vị thủ trưởng hoặc một thượng cấp đáng nghét như vậy được
Tuổi già
Khủng hoảng của giai đoạn này là mẫu thuẫn giữa tính toàn vẹn của ta với sự tuyệt vọng Giải quyết được các khủng hoảng là tại mỗi giai đoạn trước kia sẽ chuẩn bị cho người già giải quyết khủng hoảng thấy thích thú đã được mãn nguyện Nếu những khủng hoảng trước đây không được giải quyết, các khát vọng không được thực hiện thì con người có cảm nghĩ có cuộc sống vô nghĩa, tuyệt vọng và
sự phản đối mình và rồi sẽ không vượt qua được khủng hoảng ở giai đoạn cuối cùng này
Những cách nhìn mới về quá trình già Quá trình già là gì? Từ cách nhìn sinh học, ý nghĩa đặc trưng của quá trình già là sự suy giảm – các dự trữ năng lượng giảm, các tế bào suy tàn và trương lực
cơ giảm Nhiều phương diện của điều kiện con người được cải thiện với tuổi tác Sự tích lũy trải nghiệm trong cuộc sống cuối cùng có thể đạt tới đỉnh điểm của sự sáng suốt Các lí thuyết về quá trình già là những mô hình về sự cân bằng hoặc sự thỏa hiệp: đến tuổi già, một con người có thể mất đi dự trữ năng lượng song có được năng lực làm chủ các trải nghiệm cảm xúc và do vậy bảo toàn được năng lượng Do đó, ta có thể mong đợi hai loại thay đổi – được và mất khi ta bước vào tuổi già
Những thay đổi của tuổi già Nhìn phần lớn những người trên tuổi 65 điều trải nghiệm ít nhiều giảm thị lực
Nghe – Giảm sức nghe là hiện tượng thường gặp ở những lứa tuổi 60 hoặc hơn
Trang 15Hoạt động tình dục – Chẳng có lứa tuổi nào cho cả nam lẫn nữ khiến cực khoái bị ngừng lại cả Những năm tuổi già chỉ mất đi khả năng sinh sản chứ không mất đi khả năng mang lại khoái cảm Tình dục là một trong những «khoái cảm lành mạnh» trong cuộc sống và việc quan hệ tình dục đều đặn chỉ làm tăng thêm cuộc sống thoải mái của tuổi già
Quên – Khả năng nhớ lại các sự vật không còn nhạy bén như trước Những thay đổi về mặt xã hội Người ta trở nên ngày càng ít hoạt động về mặt xã hội khi đến tuổi về già Họ tự nguyện rút khỏi
xã hội trong việc chuẩn bị mang tính tượng trưng cho cái chết Một học thuyết cho rằng khi bước vào tuổi già người ta trở nên kỹ tính hơn trong việc lựa chọn các đối tác về mặt xã hội
Tâm bệnh học – Diễn biến bình thường của quá trình già không nhất thiết hoặc thường không kéo theo trình trạng sức khỏe tâm thần trở nên tồi tệ Trầm nhược từ lâu được cho là rối nhiễu tâm lý thường gặp nhất ở tuổi già Trầm nhược đặt ra một vấn đề quan trọng đối với nhiều người cao tuổi và
đó là lý do hàng đầu đưa người già vào điều trị tại khoa tâm thần
Cuối cuộc đời – Các thành tựu của y khoa trong khi không ngăn cản được cái chết lại làm thay đổi cách chúng ta chết như thế nào Các bệnh mãng tính hiện nay chiếm phần lớn các nguyên nhân gây
tử vong Do vậy, với phần lớn chúng ta chết sẽ là một quá trình diễn ra rất dài Chuẩn bị cho cái chết của mình và cái chết của người khác là một phần của cuộc sống mà các nhà tâm lý học muốn tìm hiểu nhằm giúp cho con người đối mặt với nó
Chết một cách thoải mái Theo tất cả các bệnh nhân đang chết đều trải qua cùng một loạt các giai đoạn cảm xúc Đầu tiên là phủ nhận, điều này thật sự giúp cho con người giữ được hy vọng tránh khỏi nỗi buồn tràn ngập Trong giai đoạn thứ hai, giận dữ con người phản ứng với sự thể mất năng lực
cá nhân làm chủ các sự kiện và các kế hoạch Giai đoạn thứ ba, là thương lượng khi một người sắp chết, chẳng hạn, có thể hy vọng mặc cả với thượng đế để kéo thêm một thời gian ngắn nữa Giai đoạn thứ tư, là trầm nhược, nảy sinh từ một chiều hướng đã dự tính hoặc một chiều hướng thực sự trở thành tồi tệ Giai đoạn sau chót là chấp nhận Nếu con người chấp nhận cái chết của mình thì con người sẽ chết dể dàng hơn, trong bình thản và phẩm giá, đó là điều cốt lõi «được chết cái chết thanh thản » Tâm lý con người khi chết Điều này đã giúp cho các nhân viên y tế hỗ trợ với tấm lòng trắc ẩn cho con người đang lâm chung vượt qua được giai đoạn chuyển tiếp cuối cùng này của cuộc đời
Tình trạng mất người thân Gia đình và bạn bè đối phó với những nỗi buồn của chính mình và với sự tổn thất do mất người thân trong nhiều tháng thậm chí trong nhiều năm cái chết của một người gần gũi với mình Mất người vợ hoặc chồng đã chung sống lâu năm với nhau có thể là một tổn thất đặc biệt gây chấn thương, nó thật sự làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong Những người góa chồng, góa vợ có rủi ro mắc bệnh tăng hai lần nhiều hơn những người cùng lứa tuổi sống độc thân hoặc đã kết hôn Stress do góa vợ nghiêm trọng hơn so với stress do góa chồng Những phụ nữ đã kết hôn so với các ông chồng, tỏ ra vẫn giữ được mối quan hệ xã hội rộng lớn hơn thành thử góa chồng đối với họ có một ý nghĩa và hậu quả khác với đàn ông góa vợ
Một số nhà nghiên cứu đã nhận diện một số giai đoạn chịu tang khác nhau Giai đoạn đầu tiên, sốc, tiếp theo là giai đoạn khao khát được sống chung với người đã qua đời Giai đoạn phản ứng thứ
ba, là giai đoạn trầm nhược, với nỗi thất vọng đôi khi hòa lẫn giận dữ và mơ hồ Giai đoạn cuối cùng, của cuộc chịu tang là giai đoạn hồi phục, còn gọi là giai đoạn tang, khi cái chết cuối cùng được đặt vào trong một viễn cảnh có ý nghĩa
Những kí ức về người đã qua đời có thể còn sống trong lòng tất cả những ai đã từng xúc động bởi sự hiện diện của người đó Theo ý nghĩa này, ta có thể nói rằng cuộc sống của con người không bao giờ kết thúc cả
1.9.Sự hình thành và phát triển ý thức
1.9.1.Khái niệm ý thức
Là sự nhận biết được những tác động của môi trường đang có đối với bản thân mình, cũng như
sự nhận biết được những hiện tượng tâm lý đang diễn ra trong tâm trí mình trước những tác động đó của môi trường, một sự nhận biết được thể hiện bằng ngôn ngữ của chủ thể
Trang 161.9.2.Các thuộc tính cơ bản của ý thức
Ý thức được thể hiện năng lực nhận thức cao nhất của con người về thế giới Nhận thức cái bản chất, nhận thức khái quát bằng ngôn ngữ Dự kiến trước kế hoạch hành vi, kết quả của nó làm cho hành vi mang tính chủ định, có mục đích Ý thức trước khi hành vi xảy ra
Ý thức thể hiện thái độ của con người đối với thế giới Thể hiện thái độ đối với nó là tình cảm, xúc xảm, lời nói và hành vi
Ý thức thể hiện năng lực điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người đạt tới mục đích đã đề
ra Vì thế, ý thức có khả năng sáng tạo
Khả năng tự ý thức là có khả năng tự nhận thức về mình, tự xác định thái độ đối với bản thân,
tự điều khiển, tự điều chỉnh, tự hoàn thiện mình
1.9.3.Cấu trúc của ý thức
Trong ý thức có 3 mặt thống nhất hữu cơ với nhau
M ặt nhận thức - Các quá trình nhận thức cảm tính mang lại những tài liệu đầu tiên cho ý thức
là tầng bậc thấp của ý thức Quá trình nhận thức lý tính là bậc tiếp theo trong mặt nhận thức của ý thức, đem lại cho con người những hiểu biết bản chất, khái quát về thực tại khách quan
M ặt năng động của ý thức – ý thức điều khiển, điều chỉnh hoạt động của con người, làm cho
hoạt động của con người là hoạt động có ý thức Đó là quá trình con người vận dụng những hiểu biết
và tỏ thái độ của mình nhằm thích nghi, cải tạo thế giới và cải biến cả bản thân
M ặt thái độ của ý thức - thể hiện ở sự đánh giá, sự lựa chọn và ở xúc cảm, tình cảm
1.9.4.Các cấp độ ý thức, tự ý thức
C ấp độ vô thức: chúng thường gặp những hiện tượng tâm lý chưa có ý thức diễn ra chi phối
hoạt động của con người Ví dụ- người mắc chứng mộng du vừa ngủ, vừa đi trên mái nhà, người say rượu nói ra những điều không có ý thức, người bị thôi miên, người bị động kinh….thường có những hành động không có ý thức (chưa ý thức) Hiện tượng tâm lý không ý thức chưa nhận thức được, trong tâm lý gọi là vô thức
Vô thức là hiện tượng tâm lý ở tầng bậc chưa ý thức, nơi mà ý thức không thực hiện chức năng của mình Vô thức bao gồm nhiều hiện tượng tâm lý khác nhau:
Vô thức ở tầng bản năng, vô thức (bản năng dinh dưỡng, tự vệ, sinh dục) tiềm tàng ở tầng sâu, dưới hình thức mang tính bẩm sinh, di truyền
Vô thức còn bao gồm cả những hiện tượng tâm lý dưới ngưỡng cửa ý thức (dưới ý thức hay tiền ý thức) Ví dụ - có lúc ta cảm thấy thích một cái gì đó, nhưng không hiểu rõ vì sao
Có những hiện tượng tâm lý vốn là có ý thức nhưng do lặp đi lặp lại nhiều lần chuyển thành dưới ý thức Chẳng hạn một số kỉ xão, thói quen ở con người do đã luyện tập đã thành thục, trở thành
“tiềm thức” Tiềm thức thường được chỉ đạo hành động, lời nói, suy nghĩ… của một con người tới mức không cần ý thức tham gia
Ở cấp độ ý thức con người nhận thức, tỏ thái độ của chủ tâm và dự kiến trước được hành vi của mình, làm cho hành vi trở nên có ý thức Ý thức thể hiện trong ý chí, trong chú ý
Tự ý thức là mức độ phát triển cao của ý thức Tự ý thức bắt đầu hình thành từ tuổi lên ba Thông thường tự ý thức biểu hiện ở các mặt sau:
Cá nhân tự nhận thức về bản thân mình từ bên ngoài đến nội dung tâm hồn, đến vị thế và các quan hệ xã hội
Có thái độ đối với bản thân, tự nhận xét, tự đánh giá
Tự điều chỉnh, tự điều khiển hành vi theo mục đích tự giác
Có khả năng tự giáo dục, tự hoàn thiện mình
1.9.5.Cấp độ ý thức nhóm, ý thức tập thể, ý thức xã hội
Trong mối quan hệ giao tiếp và hoạt động, ý thức của cá nhân sẽ phát triển dần đến cấp độ ý thức nhóm, ý thức tập thể, ý thức xã hội
Trang 17Ý thức nhóm, ý thức tập thể và ý thức xã hội là cái chung trong ý thức của tất cả hay của đa số
cá nhân trong nhóm đó, tập thể đó, xã hội đó trong giai đoạn lịch sử đó, thời đại đó
1.10.Sự hình thành và phát triển ý thức
1.10.1.Sự hình thành ý thức con người
Lao động – sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ đó là hai động lực chủ yếu đã biến đổi bộ não con vượn thành bộ não con người Đây cũng chính là hai yếu tố tạo nên sự hình thành
ý thức của con người
Ý thức được hình thành và biểu hiện trong suốt quá trình lao động của con người, thống nhất với quá trình lao động và sản phẩm lao động do mình làm ra
Hoạt động lao động là hoạt động tập thể, mang tính xã hội Trong lao động như ngôn ngữ và giao tiếp mà con người thông báo trao đổi thông tin với nhau, phối hợp động tác với nhau để cùng làm
ra sản phẩm chung Nhờ có ngôn ngữ và giao tiếp mà con người có ý thức về bản thân mình, ý thức về người khác (biết mình, biết người)
Thông qua các hình thức hoạt động đa dạng bằng con đường giáo dục và giao tiếp trong quan
hệ xã hội, cá nhân lĩnh hội tiếp thu các chuẩn mực xã hội, các định hướng giá trị xã hội để hình thành
2.1.1.Cảm giác
2.1.1.1Các giác quan và 3 đặc điểm chung của nó
Mỗi người chúng ta đều có những giác quan như mắt, tai, mũi, lưỡi và da Đó là những cái cảm biến phức tạp và tinh vi của cơ thể chúng ta chuyên thực hiện chức năng thu nhận mọi thông tin của môi trường do có thụ thể là những tế bào thần kinh ngay trong mỗi giác quan đó Tất cả các giác quan
đó đều rất khác nhau về mặt hình thù và cấu tạo nhưng đều có 3 đặc điểm sau đây:
2.1.1.2.Sự chuyển hóa
Là quá trình trong đó có một giác quan biến đổi năng lượng vật lý thành tín hiệu điện tức là những xung thần kinh và những tín hiệu điện này được chuyển vào não để được xử lý Ví dụ, những phân tử bốc lên từ một đóa hoa hồng lọt vào mũi và chạm vào những tế bào thần kinh ở mũi (năng lượng vật lý), được tế bào thần kinh mũi biến thành những tín hiệu điện (xung thần kinh) (năng lượng sinh lý) và chuyển những tín hiệu đó vào não và não làm cho ta cảm thấy đó là một mùi thơm rất dể chịu mà chúng ta gọi là mùi thơm của hoa hồng Như vậy, quá trình hình thành một cảm giác gồm có 3 giai đoạn: vật lý, sinh lý và tâm lý
2.1.1.3.Sự thích ứng
Trang 18Là sự giảm bớt phản ứng của giác quan đối với sự kích thích kéo dài Ví dụ, da của ta sẽ không còn cảm thấy sự kích thích của bộ quần áo khi ta mặc qua nó một thời gian ngắn, nghĩa là ta đã thích nghi, đã quen với việc mặc bộ áo quần đó trên người
2.1.1.4.Sự phát sinh cảm giác và tri giác ở trong não
Từ những tín hiệu điện vốn là năng lượng vật lý được giác quan chuyển hóa thành thông tin về môi trường, sự phát sinh này gồm có hai giai đoạn: giai đoạn 1 là giai đoạn phát sinh cảm giác và giai đoạn 2 phát sinh tri giác
2.1.2.Định nghĩa và phân tích đặc điểm của cảm giác
Cảm giác là hình thức đầu tiên và đơn giản nhất của mối liên hệ tâm lý của cơ thể với môi trường
Cảm giác là hiện tượng tâm lý đầu tiên và là mức độ thấp nhất của sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong não, là bước đầu tiên của quá trình nhận thức
2.1.2.2.Phân tích đặc điểm
Cảm giác là một quá trình tâm lý, nghĩa là có phát sinh, có diễn biến và có kết thúc
Mỗi cảm giác là sự phản ánh vào trong não của chỉ một thuộc tính lẻ nào đó của sự vật hoặc hiện tượng
Cảm giác chỉ có khi đang có sự tác động trực tiếp của một sự vật hay hiện tượng nào đó vào thụ thể của giác quan
Mỗi cảm giác chỉ có một mẫu thông tin vô nghĩa Nhiều giác quan về cùng một sự vật hay hiện tượng có thể được kết hợp với nhau để phản ánh trọn vẹn sự vật hay hiện tượng đó và tạo nên một thông tin có ý nghĩa, tức tạo nên một tri giác
Sự chuyển hóa từ những cảm giác thành một tri giác về một sự vật hay hiện tượng thường diễn
ra rất nhanh đến nỗi chúng ta không kịp cảm nhận được những cảm giác đó trước khi có tri giác
2.1.3.Phân loại cảm giác
Có thể chia tất cả cảm giác ra làm hai loại là những cảm giác bên ngoài và những cảm giác bên trong tùy theo nguồn kích thích gây ra những cảm giác đó là nguồn ở bên ngoài hay nguồn ở bên trong
cơ thể
2.1.3.1.Những cảm giác bên ngoài
Là những cảm giác về sự vật hay hiện tượng ở môi trường bên ngoài con người, chung quanh con người, gồm 5 loại: cảm giác nhìn thấy (thị giác), cảm giác nghe thấy (thính giác), cảm giác ngửi thấy (khứu giác), cảm giác do da (xúc giác là cảm giác đau đớn, nónh lạnh…) và cảm giác nếm thấy (vị giác)
2.1.3.2.Thị giác
Mắt (hai con mắt) là giác quan để ta có thể nhìn thấy, tức là thị giác Cấu tạo của mắt cho phép mắt thu nhận kích thích của ánh sáng và hình ảnh của sự vật hay hiện tượng hiện lên trên võng mạc ở đáy mắt do ánh sáng đó đưa vào sau khi đã bị khúc xạ vì đã xuyên qua giác mạc, thủy tinh thể và thủy tinh dịch Hình ảnh trên võng mạc, theo nguyên lí quan học là hình ảnh ngược
Thị giác là cảm giác nhìn thấy sự vật hay hiện tượng đã có hình ảnh hiện lên trên võng mạc Nhưng cảm giác nhìn thấy đó phát sinh không phải ở võng mạc mà ở trong não do các xung thần kinh
Trang 19từ các tế bào thần kinh thị giác ở võng mạc theo dây thần kinh thị giác truyền vào đến tận cùng thị giác trên thùy chẩm của võ não Như vậy, trong thực tế, sự nhìn thấy là cảm giác không phải ở trong mắt
mà là ở trong não Mỗi dây thần kinh thị giác của mỗi con mắt có khoảng 500.000 sợi thần kinh tạo thành hai bó trong và bó ngoài cùng chạy đến chéo thị giác ở trước tuyến yên, tại đó bó trong của dây thần kinh thị giác mắt này bắt chéo với bó trong của dây thần kinh của mắt kia, còn bó ngoài của dây thần kinh thì chạy thẳng Do đó, hình ảnh của sự vật ở bên trái (của mặt người) xuất hiện ở bên phải của thùy chẩm trên vỏ não, và hình ảnh của sự vật ở bên phải (của mặt người) xuất hiện ở bên trái của thùy chẩm trên vỏ não
Các loại cảm giác khác nhau thuộc thị giác là cảm giác về màu sắc, cảm giác về hình dáng và cảm giác về vị trí và khoảng cách (không gian)
Ba loại cảm giác cơ bản về màu sắc là cảm giác đỏ, cảm giác lục (xanh lá cây) và cảm giác lam (xanh da trời) Các cảm giác về màu khác (tím, vàng…) là do sự kết hợp với nhau của 3 màu cơ bản nói trên Hai loại rối loạn cảm giác màu sắc chủ yếu là mù màu và nhầm màu
Thính giác có nhiều loại khác nhau: thính giác về tiếng động, thính giác về tiếng kêu, thính giác về tiếng nói, thính giác về âm nhạc…
2.1.3.4.Cảm giác do da (xúc giác, và các cảm giác về áp xuất, đau đớn, nóng lạnh)
Da là giác quan để ta có cảm giác xúc giác, cảm giác đau đớn và cảm giác nóng lạnh
Trong da có các tế bào thần kinh chuyển tiếp nhận các kích thích về và chạm, cọ sát và các tế bào thần kinh chuyển tiếp nhận các kích thích của áp lực (để ta có cảm giác là xúc giác) các tế bào loại này phân bố không đồng đều trên bề mặt da: chúng tập trung ở lưỡi, môi, đầu ngón tay và thưa thớt ở lưng, bụng, cánh tay…
Trong da còn có tế bào thần kinh chuyên tiếp nhận các kích thích của nhiệt độ nóng và các tế bào thần kinh chuyên tiếp nhận của nhiệt độ lạnh (để ta có cảm giác nóng và lạnh)
Ngoài ra trong da còn có tế bào thần kinh chuyên tiếp nhận các kích thích mạnh làm tổn thương da gây cho ta cảm giác đau đớn
2.1.3.5.Khứu giác (cảm giác ngửi thấy mùi)
Mũi là giác quan để ta có cảm giác ngửi thấy mùi (khứu giác) Trong mũi có xoang mũi là nơi
có các tế bào thần kinh chuyên tiếp nhận các kích thích của các phân tử hóa học của vật chất bốc hơi hoặc của các hạt rất nhỏ trong không khí được hít vào mũi và chạm vào xoang mũi, để các tế bào thần kinh trên xoang mũi bị kích thích, phát sinh xung thần kinh và truyền vào não (khu thính giác) để phát sinh ở đó cảm giác ngửi thấy mùi gì đó (thơm, thối, hôi, tanh…)
Độ nhạy cảm về khứu giác thay đổi theo loài (những loài động vật như chó chẳng hạn có độ nhạy cảm khứu giác cao hơn cả người), theo đuổi, theo sự luyện tập (nghề kiểm tra chất lượng mùi nước hoa, mùi cà phê, mùi thuốc lá, mùi rượu, mùi trà…
2.1.3.6.Vị giác (cảm giác nếm thấy vị)
Lưỡi là giác quan để ta có cảm giác nếm thấy vị (vị giác) Trên lưỡi có những gai lưỡi chứa các
tế bào thần kinh chuyển tiếp nhận các kích thích của các phân tử hóa học của các chất trong thức ăn, thức uống, sự kích thích đó tạo ra xung thần kinh trong các tế bào và truyền tới não (khu vị giác) để
Trang 20phát sinh ở đó cảm giác nếm thấy vị gì đó (có 4 vị cơ bản: mặn, ngọt, chua, đắng) Còn các vị khác chỉ
là sự kết hợp với nhau của các vị cơ bản nói trên Trên lưỡi có các vùng khác nhau: đầu lưỡi tiếp nhận
vị ngọt, hai bên lưỡi tiếp nhận vị mặn, hai bên lưỡi tiếp theo tiếp nhận vị chua, phía sau lưỡi tiếp nhận
2.1.4.Những cảm giác bên trong
Cảm giác bên trong là cảm giác có nguồn kích thích ở ngay bên trong cơ thể gồm 3 loại: cảm giác cơ thể, cảm giác vận động và cảm giác thăng bằng
2.1.4.1.Cảm giác cơ thể
Là những cảm giác do các tế bào thần kinh cảm giác của các cơ quan bên trong cơ thể (các nội quan) bị kích thích mà có Đó là những cảm giác về áp lực và ma sát (cảm giác no của dạ dày), cảm giác mót đái của bàng quan, cảm giác mót đi vệ sinh của hậu môn….) và cảm giác đau (đau dạ dày, đau ruột, đau tim, đau phổi….)
2.2.Các qui luật cơ bản của cảm giác
Quy luật về ngưỡng cảm giác: không phải mọi sự kích thích vào giác quan đều gây ra cảm giác: kích thích quá yếu hay quá mạnh đều không gây ra cảm giác Giới hạn của cường độ mà ở đó kích thích gây ra được cảm giác thì gọi là ngưỡng cảm giác Có 2 loại ngưỡng cảm giác - ngưỡng cảm giác phía dưới là cường độ kích thích tối thiểu đủ để gây ra cảm giác và ngưỡng cảm giác phía trên là cường độ kích thích tối đa mà ở đó vẫn còn gây ra được cảm giác Ngưỡng cảm giác phía dưới còn gọi
là ngưỡng tuyệt đối, nó tỉ lệ nghịch với độ nhạy cảm của cảm giác
Quy luật về sự thích ứng của cảm giác: đó là khả năng thay đổi độ nhạy cảm giác của cảm giác cho phù hợp với sự thay đổi của cường độ kích thích - khi cường độ kích thích tăng thì giảm độ nhạy cảm, khi cường độ kích thích giảm thì tăng độ nhạy cảm
Quy luật về sự tác động lẫn nhau giữa các cảm giác: sự tác động qua lại giữa các cảm giác là
sự thay đổi tính nhạy cảm của một cảm giác này dưới ảnh của cảm giác kia Sự tác động qua lại đó diễn ra theo một quy luật chung như sau - sự kích thích yếu lên một giác quan này sẽ làm tăng độ nhạy cảm của một giác quan kia, sự kích thích mạnh lên một giác quan này sẽ làm giảm độ nhạy cảm của một giác quan kia
Sự tác động qua lại giữa các cảm giác có diễn ra một cách đồng thời hay nối tiếp giữa các cảm giác cùng loại hay khác loại Sự tương phản chính là sự tác động qua lại giữa các cảm giác thuộc cùng
Trang 21một loại Đó là sự thay đổi cường độ và chất lượng của cảm giác dưới ảnh hưởng của một kích thích cùng loại xảy ra trước đó hay đồng thời
2.2.1.Tri giác
Khái niệm tri giác
Là quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta
Là quá trình não kết hợp các cảm giác vô nghĩa lại với nhau để tạo ra được một ấn tượng hay một hình ảnh có ý nghĩa về một sự vật hay hiện tượng nào đó đang tác động vào các giác quan của ta
và đã cho ta những cảm giác đó
2.2.2.Đặc điểm của tri giác so với cảm giác
2.2.2.1.Tri giác có những đặc điểm giống cảm giác
Cũng là một quá trình tâm lý
Cũng phản ánh những thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng
Cũng diễn ra và chỉ có thể diễn ra khi sự vật hay hiện tượng mà có phản ánh đang tác động vào giác quan
Cũng là nhận thức cảm tính như cảm giác
2.2.2.2.Nhưng tri giác lại có những đặc điểm khác với cảm giác
Tri giác phản ánh sự vật, hiện tượng một cách trọn vẹn Tri giác là sự nhận thức được ý nghĩa của sự vật, hiện tượng; nó cho ta biết (tri) sự vật, hiện tượng đã cho ta cảm giác là sự vật gì, hiện tượng
gì
Các tri giác của mỗi chúng ta không bao giờ cũng là sự tổng hợp một cách khách quan các cảm giác mà ta có được trước đó mà thường là có sự tham gia của những kinh nghiệm và tình cảm riêng tư, chủ quan của chủ thể làm cho sự tri giác đó có thể thiên lệch, méo mó và không giống với sự tri giác của những người khác đối với cùng sự vật, hiện tượng đó, nghĩa là đã có sự cá nhân hóa tri giác của mỗi người Tri giác nhận thức cảm tính cao hơn cảm giác
2.2.3.Sự chuyển hóa của cảm giác thành tri giác
Sự chuyển hóa này là một quá trình thường là rất nhanh (nhanh đến mức ta không cảm thấy được rằng cảm giác có trước, tri giác có sau mà tưởng rằng cảm giác và tri giác là một) nhưng vẫn có 4 bước sau đây:
Bước 1: Sự kích thích của một số năng lượng vật lý của môi trường đối với giác quan (ví dụ: ánh sáng đối với mắt, âm thanh đối với tai, sức ép, cọ sát đối với da, các phân tử hóa chất đối với da, lưỡi hay với mũi) là nơi có các tế bào cảm giác chuyên chịu kích thích của một loại năng lượng vật lý nào đó
Bước 2: Sự chuyển hóa năng lượng vật lí thành năng lượng thần kinh (điện sinh học) ở tế bào cảm giác đang bị kích thích – hưng phấn và năng lượng này được truyền theo dây thần kinh để vào một vùng não nào đó trên vỏ não với tư cách là những xung mang tín hiệu điện
Bước 3: Sự phát sinh những cảm giác vô nghĩa trên vùng đó của vỏ não
Bước 4: Các xung thần kinh trên vùng đó của vỏ não lan truyền sang vùng não kế cận gọi là vùng liên hợp để các cảm giác được liên hợp và tổng hợp lại thành một ấn tượng hay một hình ảnh có
ý nghĩa gọi là tri giác (chủ thể nhận ra và biết được sự vật, hiện tượng mà tri giác phản ánh là sự vật gì, hiện tượng gì)
2.2.4.Phân loại tri giác
2.2.4.1.Các tri giác do một giác quan tạo ra
Tri giác nhìn (được hình thành từ trong não những cảm giác do mắt tạo ra)
Tri giác nghe (được hình thành từ trong não những cảm giác do tai tạo ra)
Trang 22Tri giác sờ mó (được hình thành từ trong não những cảm giác do da tạo ra)
Tri giác ngửi (được hình thành từ trong não những cảm giác do mũi tạo ra)
Tri giác nếm (được hình thành từ trong não những cảm giác do lưỡi tạo ra)
2 2.4.2.Các tri giác do nhiều giác quan tạo ra
Tri giác không gian là tri giác cho ta biết được hình thù 3 chiều (chiều rộng, chiều dài, chiều cao), khối lượng, thể tích to nhỏ của sự vật, hiện tượng do được hình thành từ những cảm giác do mắt tạo ra từ những cảm giác do da tạo ra
Tri giác vận động là tri giác cho ta biết được sự thay đổi vị trí hoặc kích thước của sự vật, hiện tượng đang chuyển động, đang thay đổi đo được hình thành từ những cảm giác do mắt, do da, hoặc do tai (nghe âm thanh) tạo ra
Tri giác thời gian là tri giác cho ta biết độ dài, lâu, tốc độ và tính liên tục, tính đều đặn hay không của sự vận động, sự thay đổi của sự vật, hiện tượng (kể cả sự tác động của sự vật, hiện tuợng đó đến các giác quan của ta) do được hình thành từ những cảm giác do mắt, do tai, do da
2.2.4.3.Căn cứ vào đối tượng của tri giác, có thể phân loại tri giác thành
Tri giác tự nhiên (tri giác sự vật, hiện tượng thiên nhiên và các đồ vật do con người tạo ra) Tri giác xã hội (tri giác các hiện tượng xã hội là các hoạt động có nhiều người tham gia: thể thao, biểu diễn nghệ thuật, biểu tình, bạo động, hội họp
Tri giác con người (tri giác ngoại hình hành vi của từng con người khi giao tiếp với người đó
để từ sự tri giác đó mà suy ra tâm lý của người đó)
2.2.5.Quan sát và năng lực quan sát
Quan sát là hình thức tri giác cao nhất của con người, mang tính tích cực, chủ động, có mục đích rõ rệt, thậm chí có kế hoạch, có phương pháp và có phương tiện hẳn hoi
Năng lực quan sát là khả năng tri giác nhanh chóng, đầy đủ, chính xác một sự vật hay một hiện tượng nào đó theo một mục đích nào đó đã được xác định trước Năng lực quan sát của mỗi người mỗi khác Những người chuyên hoạt động trong một lĩnh vực nào đó có năng lực quan sát cao hơn nhiều so với những người khác khi quan sát những sự vật, hiện tượng thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình
2.3.Một số qui luật cơ bản của tri giác
2.3.1.Qui luật về tính đối tượng của tri giác
Tri giác bao giờ cũng là kết quả tác động của một đối tượng cụ thể nào đó vào giác quan và là
sự phản ánh trọn vẹn đối tượng đó, là ấn tượng, là hình ảnh về đối tượng đó ở trong não
2.3.2.Qui luật về tính lựa chọn của tri giác
Tri giác về đối tượng cụ thể nào đó trong hiện thực khách quan và tri giác như thế nào về đối tượng đó là tùy theo sự lựa chọn của chủ thể, do chủ thể tách đối tượng đó ra khỏi bối cảnh, ra khỏi các sự vật, hiện tượng khác, hoặc sau đó do chủ thể chuyển bối cảnh thành đối tượng và chuyển đối tượng trước đó thành bối cảnh
2.3.3.Qui luật về tính có ý nghĩa của tri giác
Khi chủ thể có được một tri giác về một đối tượng nào đó thì có nghĩa là chủ thể đã nhận biết được đối tượng đó khác với các đối tượng khác, là đối tượng nào, đối tượng gì và có thể gọi tên đối tượng đó
2.3.4.Qui luật về ảo ảnh
Trong một số trường hợp, với những điều kiện cụ thể nào đó, tri giác nhìn của ta không phản ánh đúng về đối tượng mà ta tri giác, nghĩa là nó cho ta những ấn tượng, những hình ảnh mà ta biết là không đúng với thực tế của đối tượng đó Đó là những ảo ảnh thị giác, gọi tắt là ảo ảnh
Trang 23Khác với ảo giác là sự tri giác những sự vật, hiện tượng không có thực của chỉ riêng một cá nhân nào đó do có tâm bệnh hoặc do có sử dụng chất ma túy, ảo ảnh là quy luật chung về tri giác đối với tất cả mọi người khi nhìn sự vật, hiện tượng trong những điều kiện nhất định đó
2.3.5.Qui luật về tính ổn định của tri giác
Khi ta đã tri giác một đối tượng nào đó là như thế nào rồi thì dù điều kiện tri giác có thay đổi
và do đó kết quả tri giác cũng thay đổi, sự nhận biết của ta về đối tượng đó vẫn không thay đổi, nghĩa
là vẫn ổn định Ví dụ, ta đã tri giác con voi và con ngựa, ta đã thấy con voi to hơn con ngựa Dù sau
đó, ta tri giác con voi ở đằng xa, ta thấy nó nhỏ hơn con ngựa đang đứng trước mặt ta, ta vẫn biết rằng con voi to hơn con ngựa
2.3.6.Qui luật về tổng giác
Tri giác về một sự vật hay một hiện tượng nào đó không chỉ là sự phản ánh nhữung gì là thuộc tính khách quan của sự vật hay hiện tượng đó mà còn là sự tổng hợp giữa một bên là sự phản ánh đó
và một bên là những nhân tố tâm lý chủ quan của chủ thể như nhu cầu, động cơ, mục đích, tình cảm…
có ảnh hưởng tới sự phản ánh đó Như thế, tri giác có tính tổng hợp là một quy luật gọi là tổng giác
2.3.7.Tri giác ngoại cảm
Là sự tri giác sự vật và hiện tượng chỉ bằng tâm linh chứ không phải bằng các giác quan và các cảm giác
Người ta nói rằng có 4 loại tri giác ngoại cảm là, thứ nhất – sự thần giao cách cảm là sự giao lưu ý nghĩ của 2 người với nhau mặc dù họ không thấy nhau, không giao tiếp với nhau; thứ hai – sự
tiên tri là sự biết trước những gì đã xảy ra trong tương lai; thứ ba – sự thấu thị là sự nhìn thấy được
những sự vật, hiện tượng ngoài tầm nhìn hoặc bị che khuất; và thứ tư – là sự tâm vận là sự dùng tâm
linh để làm cho đồ vật chuyển động
Một số người tin rằng các hiện tượng tri giác ngoại cảm nói trên là có thực căn cứ vào kinh nghiệm của bản thân hoặc ý kiến của người khác Một số người nữa tin, nữa ngờ Số còn lại, những nhà khoa học và những người tin vào khoa học thì không tin, với lý do là không có cơ sở khoa học để
mà tin cả và với lý do là không ai có thể tạo ra hiện tượng đó bằng thực nghiệm khoa học
2.4.Nhận thức lý tính
2.4.1.Tư duy
2.4.1.1.Khái niệm tư duy
Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất và những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật hay hiện tượng trong hiện thực khách quan là trước đó ta chưa biết
2.4.1.2.Đặc điểm của tư duy
Tính có vấn đề của tư duy
Khi con người lâm vào tình huống đối với nó là có vấn đề, đòi hỏi phải giải quyết (nghĩa là phải trả lời câu hỏi mà vấn đề đó đặt ra, hoặc phải có giải pháp cho vấn đề) mà nó chưa biết phải giải quyết như thế nào thì nó phải tư duy để tìm cho ra câu trả lời hoặc giải pháp cho vấn đề đó
Tính gián tiếp của tư duy
Tư duy phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, nghĩa là phải bằng ngôn ngữ, thông qua ngôn ngữ
Tính trừu tượng và khái quát của tư duy
Khi tư duy về một sự vật hay hiện tượng cụ thể và riêng biệt nào đó thì ta phải gạt bỏ những gì
là ngẫu nhiên, không liên quan gì đến vấn đề tư duy mà sự vật hay hiện tượng cụ thể đó đang có, nghĩa
là làm cho sự vật hay hiện tượng đó trở nên trừu tượng ở trong óc ta (trừu tượng hóa), để chỉ còn lại
Trang 24những gì là cái chung đều có ở sự vật hay hiện tượng đó và ở những sự vật hay hiện tượng khác, do đó xếp được sự vật hay hiện tượng đó vào một nhóm cùng loại với nhiều sự vật hay hiện tượng khác (khái quát hóa)
Tính quan hệ mật thiết với cảm giác và tri giác, tức là nơi nhận thức cảm tính, mặc dù bản thân
sự tư duy là thuộc về nhận thực lý tính Đó là vì, để tư duy về một sự vật hay hiện tượng nào đó con người phải căn cứ vào những cảm giác hoặc tri giác đã có trước đó về sự vật hay hiện tượng đó
2.4.2.Các giai đoạn và phương pháp tư duy
2.4.2.1.Sáu giai đoạn của một quá trình tư duy
Hình 2.1 - Quá trình tư duy 2.4.2.2.Ba phương pháp tư duy cơ bản
Phân tích – tổng hợp
Phân tích là sự tách sự vật hay hiện tượng thành nhiều mặt, nhiều bộ phận khác nhau để nhận thức bản chất và quy luật của từng mặt, từng bộ phận đó Sự phân tích này diễn ra ở trong bộ não Phân tích xong thì tổng hợp lại Tổng hợp là sự hợp nhất các mặt, các bộ phận đã được tách ra khi phân tích sự vật, hiện tượng, cũng là sự tổng kết các bản chất và các quy luật của các mặt, các bộ phận
xác hóa vấn đề
5b Thực hiện quá trình tư
duy mới 5a Giải quyết vấn đề
Trang 25đã được nhận thức trong khi phân tích để có sự kết luận về bản chất và quy luật chung của sự vật, hiện tượng đó trong sự toàn vẹn, chỉnh thể của nó
So sánh
Là đối chiếu mặt này, bộ phận này với mặt kia, bộ phận kia trong cùng một sự vật hiện tượng, hoặc đối chiếu sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng kia để thấy những gì là cái chung giống nhau và những gì là cái riêng khác nhau giữa chúng
Trừu tượng hóa – khái quát hóa
Là sự gạt bỏ trong óc ta những gì của sự vật, hiện tượng mà ta cho là không quan trọng để chỉ giữ lại trong óc ta những gì mà ta cho là quan trọng, là thuộc về bản chất và quy luật của sự vật, hiện tượng mà thôi Trừu tượng hóa để có thể khái quát hóa
Khái quát hóa là sự tìm ra những gì là cái chung đều có trong nhiều sự vật, hiện tượng để xếp các sự vật, hiện tượng đó vào cùng một loại với nhau và để gọi sự vật đó bằng một khái niệm Khái quát hóa là phương pháp không thể thiếu khi phân loại, xếp loại các sự vật, hiện tượng và khi định nghĩa khái niệm về một loại sự vật hay hiện tượng nào đó
Cụ thể hóa
Là phương pháp tư duy được thực hiện sau khi đã trừu tượng hóa và khái quát hóa Đó là sự tìm ra một sự vật cụ thể tương ứng với kết quả khái quát hóa, tức là một sự vật, hiện tượng cùng loại với tất cả các sự vật, hiện tượng đã được gọi bằng khái niệm có được từ sự trừu tượng hóa và khái niệm hóa đó
2.5.Các sản phẩm của tư duy
2.5.1 Khái niệm
Là một từ có nội dung, là cái chung trong tất cả các sự vật, hiện tượng cùng loại được tìm ra bằng phương pháp tư duy trừu tượng hóa và khái quát hóa, đồng thời cũng là tên gọi của tất cả các sự vật hiện tượng thuộc cùng loại đó
2.6.Phân loại tư duy
2.6.1.Tư duy lý luận và tư duy thực hành
Tư duy lý luận là tư duy bằng lý luận đã có, đã biết để tìm ra lý luận mới, trước đó chưa có hoặc chưa biết Tư duy thực hành là tư duy dùng lí luận hay dùng kinh nghiệm đã có để giải quyết một vấn đề cụ thể trong thực tế, thực hành, thực tiễn
2.6.2.Tư duy trừu tượng – khái quát và tư duy hình tượng – cụ thể
Tư duy trừu tượng – khái quát là tư duy bằng khái niệm, bằng lý luận để xây dựng khái niệm mới, lý luận mới Các nhà lý luận, các nhà khoa học thường hoạt động khoa học bằng loại tư duy này
Tư duy hình tượng - cụ thể là tư duy bằng hình ảnh, biểu tượng cũ để sáng tạo ra những hình ảnh, biểu tượng mới, các nghệ sĩ thường hoạt động nghệ thuật bằng loại tư duy này
2.7.Những phẩm chất của tư duy
Trang 26Tư duy độc lập (không phụ thuộc)
Tư duy phê phán (không dễ dãi)
Tư duy nhanh chóng (không chậm chạp)
Tư duy rộng rãi ( không bó hẹp)
Tư duy sâu sắc (không hời hợt)
Tư duy linh hoạt (không cứng nhắc)
Tư duy sáng tạo (không giáo điều)
2.8.Tưởng tượng
2.8.1.Khái niệm tưởng tượng
Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh một sự vật hay hiện tượng có thực (trong quá khứ, trong hiện tại, trong tương lai) hoặc không có thực, mà cá nhân người tưởng tượng chưa hề thấy bao giờ Do đó, sự tưởng tượng được thực hiện bằng cách tạo ra một hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có
2.8.2.Phân loại tưởng tượng
Tưởng tượng tích cực (là tưởng tượng có lợi cho cuộc sống của bản thân và của xã hội) và tưởng tượng tiêu cực (là tưởng tượng có hại)
Tưởng tượng tái tạo (là tưởng tượng dựa vào một sản phẩm đã được người khác sáng tạo ra rồi đổi khác đi phần nào mà thôi) và tưởng tượng sáng tạo (là tưởng tượng hoàn toàn của một cá nhân, không có gì giống với sự tưởng tượng của bất cứ người nào khác
2.8.3.Phương pháp tưởng tượng
Thay đổi kích thước, số lượng (người khổng lồ và người tí hon, phật trăm mắt, trăm tay… Chắp ghép (hình tượng con rồng, hình tượng nàng tiên cá, mỹ nhân ngư…)
2.8.3.Sự khác nhau và mối quan hệ giữa tư duy và tưởng tượng
Cả tư duy, cả tưởng tượng đều phản ánh cái mới, tạo ra cái mới và đều xuất phát từ tình huống
Mặt khác, mục đích của tưởng tượng còn là để giải trí do sản phẩm có tinh chất kỳ lạ của nó
Có khi tưởng tượng gợi ý cho một sự tư duy khoa học hay tư duy nghệ thuật và ngược lại
2.9.Ngôn ngữ
2.9.1.Định nghĩa
Ngôn ngữ là một quá trình tâm lý của cá nhân khi cá nhân đó sử dụng một ngữ ngôn nào đó để
tư duy hoặc để giao tiếp
2.9.2.Phân biệt ngữ ngôn và ngôn ngữ
Ngữ ngôn là tiếng nói và chữ viết của một dân tộc, do dân tộc đó sáng tạo, sử dụng và phát triển qua nhiều thế kỉ hoặc thiên niên kỉ về tư duy và để giao tiếp Ngữ ngôn của một dân tộc gồm có 2 phần là từ vựng (tất cả các từ trong tiếng nói của dân tộc đó) và ngữ pháp (cách dùng từ để đặt câu) Ngữ ngôn là một hiện tượng xã hội, là đối tượng nghiên cứu của ngữ ngôn học
Trang 27Ngôn ngữ là cách nói, cách viết, cách đọc một ngữ ngôn nào đó của một cá nhân và có những đặc điểm riêng không giống với cách nói, cách viết của một cá nhân khác Ngôn ngữ của mỗi cá nhân
là kết quả của việc cá nhân đó học nói, học viết, học đọc Nếu không có điều kiện để được học nói, học đọc, học viết thì cá nhân đó sẽ không biết đọc, biết viết và biết nói, thậm chí không hiểu được những gì người khác nói Ngôn ngữ là một hiện tượng tâm lý và được tâm lý học nghiên cứu
2.9.3.Cơ sở sinh lý thần kinh của ngôn ngữ
Con người nói được, nghe người khác nói hoặc đọc chữ người khác viết mà hiểu được là do trên bán cầu trái của vỏ não có những vùng ngôn ngữ có liên hệ thần kinh với vùng thính giác, vùng thị giác và vùng vận động
2.9.4.Phân loại ngôn ngữ
2.9.4.1.Ngôn ngữ bên ngoài
Là ngôn ngữ dùng để giao tiếp với người khác Ngôn ngữ bên ngoài gồm có hai loại:
Ngôn ngữ nói – tức là ngôn ngữ được biểu đạt bằng lời nói, bằng âm thanh cho người khác nghe Ngôn ngữ nói lại gồm có hai loại:
Ngôn ngữ đối thoại là ngôn ngữ nói với nhau giữa hai người, hoặc giữa một người với nhiều người Ngôn ngữ đối thoại có thể diễn ra theo hai cách: đối thoại trực tiếp, mặt đối mặt, nhìn thấy nhau
và có thể dùng những cử chỉ, điệu bộ, nét mặt để bổ trợ cho lời nói Đối thoại gián tiếp là đối thoại khi không trực tiếp nói với nhau được mà phải qua điện thoại hoặc qua một người trung gian là người phiên dịch, người truyền đạt
Ngôn ngữ độc thoại là ngôn ngữ của chỉ một người nói, còn những người khác chỉ nghe mà không nói gì với người nói Đây là một loại ngôn ngữ liên tục và một chiều mà thôi
Ngôn ngữ viết là ngôn ngữ được biểu đạt bằng chữ viết cho người khác đọc
2.9.4.2.Ngôn ngữ bên trong
Là ngôn ngữ không diễn đạt bằng âm thanh, bằng lời nói với người khác mà bằng những từ, những câu thầm lặng ở trong não để diễn đạt những ý nghĩ của mình với chính mình mà người khác không thể nào biết được mình đang nghĩ gì
2.9.5.Vai trò của ngôn ngữ
2.9.5.1.Đối với hoạt động tâm lý của chủ thể
Ngôn ngữ là công cụ để tư duy (suy nghĩ) Ngôn ngữ giúp cho chủ thể ý thức được một hiện tượng tâm lý hoặc một hành vi của mình, làm cho hiện tượng tâm lý hoặc hành vi đó trở thành có ý thức
Ngôn ngữ trí nhớ - nhờ có ngôn ngữ mà con người dể ghi nhớ, lưu giữ và tái hiện những điều cần nhớ
Ngôn ngữ và xúc cảm, tình cảm – con người có thể biểu lộ những xúc cảm và tình cảm của mình, chia sẻ những xúc cảm và tình cảm đó với người khác bằng ngôn ngữ Con người cũng có thể bằng ngôn ngữ mà làm cho người khác phát sinh những xúc cảm và tình cảm
Ngôn ngữ và hành động – ngôn ngữ có thể động viên hay ngăn cản một hành động nào đó của bản thân chủ thể hoặc của người khác, có thể dùng để giảng dạy, giáo dục, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn người khác hành động
Đối với xã hội – ngôn ngữ là phương tiện chủ yếu để con người giao tiếp với nhau
2.9.5.2.Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em
Bốn giai đoạn phát triển ngôn ngữ của trẻ em
Giai đoạn 1
Trang 28Bắt đầu khi đứa trẻ được 6 tháng tuổi Đây là giai đoạn đứa trẻ chỉ mới bập bẹ từng tiếng một trước khi có thể nghe hiểu được một từ Những âm mà trẻ phát ra ở giai đoạn này thường “ ba ba ba”,
Sự phát triển nhanh hay chậm về ngôn ngữ ở trẻ em
Có những đứa trẻ phát triển ngôn ngữ nhanh hơn, sớm hơn hoặc chậm hơn có thể đến một năm
so với sự phát triển bình thường của trẻ em nói chung Điều đó tùy thuộc vào những yếu tố di truyền bẩm sinh và những yếu tố môi trường trong đó đứa trẻ sinh ra và lớn lên
Những yếu tố di truyền: bộ máy phát âm (thanh quản và họng) trong mối liên quan với các vùng thính giác, thị giác và vận động trên não Ngoài ra mọi đứa trẻ đều có khả năng phát triển ngôn ngữ rất dể dàng khi nó đang trong tuổi từ thơ ấu đến vị thành niên
Những yếu tố môi trường là mối quan hệ giao tiếp của đứa trẻ với cha mẹ, với thầy giáo, cô giáo và với các bạn của nó Đó là chưa nói đến hoạt động học tập và vui chơi hằng ngày của trẻ ở trường và ở nhà
2.9.5.3.Những đặc điểm cá nhân của ngôn ngữ
Mỗi cá nhân có một cách nói, cách viết mang dấu ấn của riêng mình, thể hiện trình độ văn hóa giáo dục, tính cách, khí chất, thành phần xã hội, quê quán, giới tính, nghề nghiệp, tuổi tác, sức khỏe, thói quen….của cá nhân đó
Người ta có thể nhận xét ngôn ngữ của một cá nhân nào đó có những đặc điểm như thế nào qua các hiện tượng
Nói và viết đúng hay sai ngữ pháp qua cách dùng từ, cách diễn đạt một câu nói hay viết; nói và viết với những câu nói lịch sự, đứng đắn hay thô tục, bất lịch sự, nói ngắn gọn, giản dị, dể hiểu hay nói dài dòng, rối rắm khó hiểu; nói với tốc độ và cường độ vừa phải hay nói quá nhanh, quá chậm, quá to, quá nhỏ; phát âm chính chính xác hay nói ngọng, nói lắp; nói nhiều, nói dai, nói ba hoa, khoác lác, dữ dằn hay ít nói, lời lẽ ý tứ khiêm tốn, thật thà, nhỏ nhẹ,…
Cũng có những người bị câm (không nói được) do các trung khu ngôn ngữ trên vỏ não bị chấn thương, hoặc do điếc bẩm sinh Cũng có những người nói năng không bình thường, không biết ai nói với ai và nói về chuyện gì do bị rối loạn tâm thần
Trang 292.10.1.2.Các xúc cảm cơ bản và cách biểu lộ của từng xúc cảm trên bộ mặt
Có rất nhiều xúc cảm khác nhau, nhưng có 6 xúc cảm sau đây là cơ bản Mỗi xúc cảm đó có cách biểu lộ riêng trên bộ mặt
3 Sợ hãi Mắt mở to, hoảng hốt, miệng há ra Mặt tái đi, có thể
ngất xỉu
4 Tức giận Mắt dữ tợn, miệng mím chặt, mặt có thể tái đi hoặc đỏ
lên
5 Ngạc nhiên Mắt mở to, miệng há ra, có vẻ thích thú và bất ngờ
Trang 304 Luôn luôn ở trạng thái hiện thực, biểu lộ ra
trên bộ mặt, trên cơ thể
5 Xuất hiện trước
6 Thực hiện chức năng sinh vật (giúp cơ thể và
sự sống được an toàn, định hướng cho hành
động và thích nghi với môi trường
7 Gắn liền với phản xạ không điều kiện, với bản
5 Xuất hiện sau
6 Thực hiện các chức năng xã hội (giúp nhân cách được bảo vệ, được phát triển, thích nghi với xã hội và định hướng cho hoạt động xã hội)
7 Gắn liền với phản xạ có điều kiện, với ngôn ngữ
2.11.3.2.Mối quan hệ giữa xúc cảm và tình cảm
Nhiều lần xúc cảm và xúc cảm cùng loại dẫn tới nảy sinh và phát triển tình cảm (yêu quý hoặc khinh ghét) Xúc cảm là nguyên nhân dẫn tới tình cảm
Khi tình cảm đã có thì tình cảm đó được biểu lộ thành xúc cảm Tình cảm là nguyên nhân của xúc cảm
Không có xúc cảm (vô cảm, lãnh cảm) thì sẽ không có tình cảm và không có tình cảm thì sẽ không có xúc cảm
Xúc cảm -> Tình cảm-> Xúc cảm
2.11.3.3.Mối quan hệ giữa xúc cảm, tình cảm và nhận thức, hành động
Có nhận thức đúng thì có xúc cảm, tình cảm đúng, nếu nhận thức sai lầm thì sẽ có xúc cảm và tình cảm sai lầm
Có xúc cảm, tình cảm đúng thì sẽ có hành động đúng, nếu xúc cảm và tình cảm sai lầm thì hành động sẽ sai lầm
Có xúc cảm tình cảm sâu sắc, mãnh liệt thì sẽ có hành động mạnh mẽ và hoạt động kiên trì Nếu xúc cảm, tình cảm hời hợt thì không hành động hoặc hành động yếu ớt, dể làm khó bỏ
Nói chung, nhận thức sai hay đúng dẫn tới tình cảm sai hay đúng và từ đó dẫn tới hành động sai hay đúng
2.11.4.Các qui luật của xúc cảm và tình cảm
Qui luật lây lan: từ người này qua người khác
Quy luật thích ứng: một xúc cảm hay tình cảm nào đó có thể bị suy yếu hoặc chai lì do đã lâu không có gì thay đổi, không có gì mới mẻ
Quy luật tương phản: từ xúc cảm này, tình cảm này đối với một đối tượng có thể chuyển sang xúc cảm khác, tình cảm khác cũng với đối tượng đó nhưng trái ngược lại
Quy luật di chuyển: từ đối tượng này sang đối tượng khác
Quy luật pha trộn: hai xúc cảm và tình cảm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, có thể cùng phát sinh, cùng tồn tại trong cùng một chủ thể và đối với cùng một đối tượng
Trang 31Trong y học, dùng màu sắc để chữa trị, điều trị các chứng bệnh liên quan đến tâm lý cũng như sinh lý Làm con người hạnh phúc, lạc quan, thoải mái…
Trong giáo dục, dùng màu sắc để kích thích sự phát triển tư duy, trí tuệ của trẻ em…
Cần loại bỏ những gam màu không phù hợp với hoàn cảnh sống và làm việc, ảnh hưởng đến sự
Ví dụ: Màu đỏ, vàng da cam, vàng… đưa lại cho con người cảm xúc ấm áp (được gọi là những gam màu nóng) Còn các màu xanh, xanh lục, tím… đưa đến cảm giác lạnh lẽo (những gam màu lạnh) Các màu nóng và lạnh mang lại cho con người những hiệu ứng tâm lý khác nhau: màu nóng dễ làm con người phấn chấn, hoạt bát, năng nổ, còn màu lạnh dễ giúp người ta bình tĩnh, hiền hoà, lắng dịu Áp dụng thực tiễn điều này trong các phòng họp tại Dinh Thống Nhất, người ta thiết kế sơn màu xanh lá cây để tạo cảm giác thoải mái cho quan chức khi họp về những vấn đề nóng bỏng Hay khi nhìn trái chanh, me… cho ta cảm xúc thèm chua Hoặc trong tiếng Việt có nhiều từ nói lên màu sắc cảm xúc của cám giác như "đỏ lòm"," xanh lè"…
Trang 32Xúc động là một dạng của xúc cảm có cường độ rất mạnh nhưng xảy ra trong một thời gian ngắn
Đặc điểm:
Khi xảy ra xúc động con người thường không làm chủ được bản thân mình, không ý thức được hậu quả hành động của mình (cả giận mất khôn) Lúc đó dễ có những biến đổi lớn của các quá trình cơ thể như thay đổi sắc mặt (đỏ, tái), biến đổi nhịp tim (nhanh, chậm), nhịp hô hấp (nhanh, chậm, ngừng thở), nổi da gà, chân tay bủn rủn, đôi khi cơ thể có thể bị cứng đờ, lưu lưỡi, trợn mắt, cứng miệng hoặc
có thì bị ngất (vì quá vui mừng, quá thương cảm hay quá sợ hãi) Xúc động là quá trình ngắn diễn ra theo từng "cơn" (cơn giận, cơn ghen )
Ví dụ: Các cầu thủ đội tuyển bóng đá Quốc gia Việt Nam vui mừng đến rơi nước mắt khi đoạt huy chương vàng tại Sea Game 2011 Hay bạn Lan đỏ mặt thẹn thùng khi được khen ngoan Cảm giác xúc động khi được người khác quan tâm
Tâm trạng có cường độ trung bình và yếu tồn tại một thời gian tương đối lâu dài
Người mang tâm trạng thường không ý thức được nguyên nhân gây ra tâm trạng ấy Đồng thời nguồn gốc của tâm trạng cũng rất khác nhau, có nguồn gốc gần, có nguồn gốc xa Nhưng nguồn gốc chủ yếu để nảy sinh tâm trạng là vị trí của cá nhân trong xã hội Sự hài lòng hay không hài lòng đối với mọi việc xảy ra trong cuộc sống, trong việc học tập ở nhà trường, trong quan hệ với thầy cô và bạn
bè, trong gia đình hoặc ngoài xã hội…
Tâm trạng còn có tính lây lan Ví dụ như trong phòng trọ có một người buồn thì ít nhiều những người còn lại cũng sẽ không thể nào vui, “một con ngựa đau – cả tàu bỏ cỏ” Sở dĩ tâm trạng có tính lây lan là do sự đồng cảm trong mỗi con người với con người với nhau Khi con người càng gắn bó, thân thiết thì sự đồngcảm, tính lây lan tâm trạng càng thể hiện rõ nét
Vận dụng
Trong cuộc sống, khi người thân, bạn bè có tâm trạng buồn… thì chúng ta cần quan tâm, chia
sẻ, động viên họ để lạc quan, tự tin hơn trong cuộc sống
Muốn tìm hiểu tại sao ai đó có những hành động, thái độ bất thường thì phải tìm hiểu tâm trạng
họ như thế nào, tại sao tâm trạng họ như vậy
Do tâm trạng có tính lây lan Do đó trong cuộc sống ta cần phải biết quan tâm, chia sẻ và biết làm chủ cảm xúc của mình đề có thể tác động, động viên người khác, tránh ảnh hưởng đến tâm lý, công việc Ví dụ như trong một nhóm bạn thân có một người buồn thì ít nhiều những người còn lại cũng sẽ không thể nào vui, hoặc trong một gia đình cũng thế, “một con ngựa đau – cả tàu bỏ cỏ” Vận dụng tính chất này mà người ta sẽ đem lại nhiều ứng dụng cho y học như cho những người hoạt náo, vui vẻ sống chung với những người già cô đơn sẽ làm cho những người già thêm lạc quan, vui vẻ và thêm yêu đời
Trang 33Ví dụ: Tâm trạng chán nản của bạn Nam, Nam không thiết tha gì với việc học, ăn uống và cậu
bỏ bê mọi thứ Nguyên nhân do bố mẹ bạn ấy cãi nhau, điểm số ngày càng sa sút Để làm cho cậu ấy hết chán nản thì chúng ta phải tìm ra căn nguyên câu chuyện và từ đó tác động tích cực vào bản thân Nam để cậu ấy đứng vững và ngày càng tiến bộ
Vận dụng
Cần rèn luyện thể lực và ý chí thường xuyên là biện pháp ngăn ngừa stress tốt nhất
Cần phải làm việc vừa sức, một kế hoạch khoa học, không nên quá cố hết sức mà điều kiện sức khỏe không cho phép
Tạo một môi trường làm việc thoải mái, các cá nhân trong tổ chức hợp tác, phối hợp ăn ý tạo không khí thân thiện để hiệu quả công việc cao
Thường xuyên tổ chức các buổi dã ngoại, vui chơi cộng đồng tạo điều kiện cho các thành viên trong tổ chức giải tỏa được những căng thẳng trong quá trình làm việc
Khi ai đó bị Stress thì cần phải quan tâm, tạo không khí thoải mái cho họ bằng các hoạt động ngoài trời, thư giãn… để cho đầu óc họ trở về trạng thái thăng bằng, thoải mái
Ví dụ: Khi bị Stress thì có người hét thật to, có người đi dạo một mình, có người lại… đi tắm… Do tác hại của Stress ảnh hưởng đến tim mạch, tuổi thọ và trí não cho nên trong cuộc sống làm việc cần tránh làm việc căng thẳng, áp lực quá sức như tranh thủ làm nguyên đêm, cố “nhét” thật nhiều bài vở vào đầu óc Trong quá trình làm việc, khi nào thấy cơ thể dần mệt, mắt mỏi thì cần phải nghỉ giải lao, thư giãn trong giây lát để cơ thể lấy lại sức…
cá nhân, từng hoàn cảnh cụ thể… Trong đó có một loại đặc biệt, có cường độ rất mạnh, thời gian tồn tại lâu dài và được ý thức rõ ràng đó là sự say mê Đây là loại tình cảm có cường độ mạnh, nó tồn tại lâu dài và ổn định ở mỗi cá nhân Những say mê như: say mê học tập, lao động, nghiên cứu là say
mê tích cực có tác dụng thúc đẩy con người vươn lên để đạt được mục đích của cuộc sống Loại say
mê này, người ta gọi là hăng say, nhiệt tình Ngược lại, những say mê như: rượu, chè, cờ, bạc, ma túy là say mê tiêu cực, nó làm cho con người suy yếu cả tinh thần và thể chất Nó ngăn cản con người vươn lên trong hoạt động Say mê kiểu này người ta gọi là đam mê
Căn cứ vào đối tượng thỏa mãn nhu cầu, người ta chia ra thành 2 nhóm: tình cảm cấp thấp và tình cảm cấp cao
Trang 34Tình cảm cấp thấp:
Là sự thỏa mãn hay không thỏa mãn những nhu cầu sinh học của cơ thể Ví dụ như: Sự thỏa mãn khi được ăn một món ăn ngon, hạnh phúc khi được sống trong môi trường đầy đủ, mặc quần áo đẹp Hay là sự chán nản với việc cơm không đủ no, áo không đủ mặc…
Tình cảm cấp cao:
Khác với con vật, ngoài những nhu cầu vật chất, con người còn có nhu cầu tinh thần, nhu cầu tinh thần của con người cũng có nhiều loại: nhu cầu thuộc về quan hệ giữa người và người (nhu cầu giao tiếp), nhu cầu thuộc về mối quan hệ giữa người với xã hội như đạo đức, nhu cầu về cái đẹp, nhu cầu nhận thức v v Những nhu cầu đó được thỏa mãn hay không được thỏa mãn mà ta có các loại tình cảm đạo đức, tình cảm trí tuệ, tình cảm thẩm mỹ
Tình cảm đạo đức
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường đem những lời nói, cử chỉ, hành vi, việc làm của bản thân hay của người khác để đối chiếu với quy tắc, tiêu chuẩn đạo đức xã hội xem nó phù hợp hay không phù hợp Nếu phù hợp thì ta phấn khởi, vui mừng, sung sướng … Ngược lại nếu không phù hợp thì ta cảm thấy bức rứt, bực tức, hổ thẹn, căm phẫn…Đó là biểu hiện tình cảm đạo đức của con người Vậy, tình cảm đạo đức là loại tình cảm có liên quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu đạo đức của con người Tình cảm đạo đức biểu hiện thái độ của con người đối với những người khác, đối với tập thể và đối với trách nhiệm xã hội của bản thân mình
Ví dụ: Những tình cảm đạo đức cơ bản là: lương tâm, nghĩa vụ, tinh thần tập thể, tình bạn bè, đồng chí, sự kính trọng của con cháu đối với ông bà, cha mẹ, thầy cô Sự tôn trọng của người trẻ tuổi với người lớn tuổi…
Làm thế nào để xây dựng tình cảm đạo đức?
Đối với cá nhân trong gia đình thì cha mẹ, ông bà, anh chị phải biết quan tâm, thương yêu dạy
dỗ con cháu sự kính trọng, tôn trọng, cách đối xử như thế nào với mọi người xung quanh…
Đối với cộng đồng thì phải ra sức tuyên truyền, giáo dục công dân về nghĩa vụ, tinh thần, tình cảm, tình đồng chí, bạn bè anh em…
Quan trọng nhất đó chính là ý thức của mỗi cá nhân cần phải chủ động học tập, học hỏi từ cuộc sống, sách vở, người thân… qua đó đúc rút những kinh nghiệm, những bài học để ứng dụng trong giao tiếp, ứng xử của bản thân
Tình cảm trí tuệ
Đứng trước vấn đề nào đó, khi chưa hiểu được vấn đề ta băn khoăn, tò mò muốn hiểu biết Khi hiểu còn lơ mơ, ta thắc mắc hoài nghi Khi đã nắm vững ta sung sướng tin tưởng Đó chính là biểu hiện của xúc cảm trí tuệ Tính hiếu học, lòng yêu cái mới, niềm khát khao sáng tạo chính là tình cảm trí tuệ Vậy, tình cảm trí tuệ là loại tình cảm có liên quan đến sự thoa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu nhận thức của con người Tình cảm trí tuệ nảy sinh trong quá trình hoạt động trí óc, liên quan đến quá trình nhận thức và sáng tạo Nó biểu hiện thái độ của con người đối với các ý nghĩ, tư tưởng, đối với kết quả của hoạt động trí tuệ
Làm sao để xây dựng tình cảm trí tuệ?
Cần phải rèn luyện tính ham học hỏi, ham hiểu biết, luôn khát khao, sẵn sàng học hỏi mọi lúc, mọi nơi và không ngừng đặt ra những câu hỏi để hiểu rõ hơn bản chất của các vấn đề…
Cần ra sức học đi đôi với hành để nâng cao trình độ trí tuệ của bản thân
Luôn kích thích sự ham muốn tìm hiểu kho tri thức của nhân loại
Tránh thái độ mập mờ, hoài nghi thiếu khoa học bằng cách chứng minh, đặt câu hỏi và đi tìm câu trả lời, lờ giải đáp
Trang 35Ví dụ: Sự ham hiểu biết, sự ngạc nhiên, óc hoài nghi khoa học, sự tin tưởng… Hoặc cụ thể hơn khi thừa nhận một định lý nào đó ta đều tìm cách chứng minh để thừa nhận trước khi sử dụng tránh sự mập mờ, hoài nghi
Tình cảm thẩm mỹ
Là một hình thái tình cảm xã hội của con người, nhưng nó khác với tình cảm đạo đức, trí tuệ, tôn giáo Đó là sự rung động, cảm xúc bởi cái đẹp, cái bi, cái hài, cái cao cả trong cuộc sống và trong nghệ thuật Khi xem bức tranh đẹp, nghe bài hát hay, ta cảm thấy khoái chí, phấn khởi, ngược lại khi xem bộ phim, vở kịch kiểu mì ăn liền ta thấy buồn chán đó là những xúc cảm về thẩm mỹ, hiện tượng yêu cái đẹp, ghét cái xấu là tình cảm thẩm mỹ Vậy, tình cảm thẩm mỹ là loại tình cảm có liên quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu về cái đẹp Tình cảm thẩm mỹ biểu hiện thái độ thẩm mỹ của con người đối với hiện thực, trong những thị hiếu thẩm mỹ của con người
Từ những tình cảm đẹp mà tự mỗi cá nhân cần phải nhìn ra và nhận thấy những thói xấu nhằm
Ví dụ: Trước cái đẹp thì vui sướng, hân hoan, thỏa mãn Đó là sự cảm thụ những giá trị thẩm mỹ mang lại cho con người những khoái cảm tinh thần - khoái cảm thẩm mỹ; trước cái xấu - khó chịu, bực tức, cảm ghét; trước cái bi - đau đớn, thương tiếc, đồng cảm và khao khát muốn trả thù vì lý tưởng cao đẹp của cuộc sống… Cụ thể hơn là những rung cảm trước những người đẹp, những loài hoa đẹp hoặc rung cảm, tự hào, xúc động với những vẻ đẹp của non sông, đất nước…
Tình cảm mang tính chất thế giới quan
Đây là mức độ cao nhất của tình cảm con người Tình cảm này bền vững, ổn định hơn tất cả các mức độ trên, do một loại sự vật hay phạm trù nào đó gây nên, có tính chất khái quát rất cao và có tinh thần tự giác, ý thức cao Trong tiếng Việt, loại tình cảm này được diễn đạt bằng những từ "tính",
"lòng", "tinh thần" ở đầu danh từ: "tính giai cấp", "tính kỷ luật", "lòng yêu nước", "tinh thần trách nhiệm", "tinh thần giai cấp"
Ví dụ: Tinh thần yêu nước của công dân Việt Nam, tinh thần hữu nghị, hòa bình, hợp tác đối với bạn bè thế giới, như các chuyến giao lưu tàu thanh niên các nước Đông Nam Á, sự giúp đỡ về mặt vật chất và tình thần của nhân dân Việt Nam đối với Nhật Bản trong trận động đất, sóng thần
Làm sao để xây dựng tình cảm mang tính chất thế giới quan?
Từ vai trò và ý nghĩa của tình cảm thế giới quan mà chính bản thân mỗi con người cần phải rèn luyện, vun đắp cho mình hằng ngày như tính kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, lòng yêu nước để sống tốt cho bản thân, gia đình, cộng đồng và góp phần cống hiến cho đất nước
Đối với nhà nước và xã hội cần vận động, giáo dục các thành viên xã hội có tình cảm mang tính thế giới quan để góp phần xây dựng tổ quốc, giao lưu, mở rộng hợp tác với các quốc gia và các tổ chức quốc tế trên toàn cầu
Xây dựng tình cảm mang tính thế giới quan bằng các hoạt động thực tiễn hằng ngày như góp tiền cho đồng bào lũ lụt, tương thân, tương ái vì cộng đồng, "tiếp sức mùa thi", "mùa hè xanh" "trái tim nhân ái", "góp đá cho Trường Sa" nhằm biến tình cảm thế giới quan đi vào thực tiễn đời sống
Không coi thường tình cảm thế giới quan mà cần phải ý thức rõ vai trò của tình cảm này rất quan trọng và góp phần thúc đẩy đất nước phát triển, xã hội văn minh, góp phần làm cho những công dân Việt Nam vừa "hồng" lại vừa "chuyên" theo lời Hồ Chủ tịch
Trang 36Tóm lại, tình cảm con người có những mức độ đa dạng khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm tâm sinh lý, tính cách mỗi cá nhân và trong từng hoàn cảnh cụ thể khác nhau Từ những giá trị, vai trò của tình cảm đối với cá nhân và xã hội Con người cần phải nhận thức rõ ràng và làm chủ tình cảm, cảm xúc của bản thân Từ đó rèn luyện những cảm xúc đẹp, tích cực, hướng bản thân đến những giá trị của Chân – Thiện – Mỹ Luôn trau dồi, học hỏi những tình cảm, thái độ tốt đẹp để làm đẹp hơn nhân cách chính mình, đối xử hòa hợp với mọi người xung quanh Ngoài ra, dựa vào các mức độ của tình cảm
mà con người cần có những giải pháp, biện pháp để tác động vào tình cảm các cá nhân, giáo dục, hướng tình cảm các cá nhân theo chiều hướng tích cực, phát huy tối đa năng lực của mỗi cá nhân và đồng thời khắc phục, hạn chế và loại bỏ những tình cảm tiêu cực của con người trong đời sống xã hội Bản thân cần ý thức được những tình cảm, cảm xúc của chính mình để hoàn thiện bản thân, sống tốt và sống có ích, tạo điều kiện cho tình cảm cấp cao được hình thành thông qua các hoạt động học tập, nghiên cứu và đời sống xã hội
2.12.2.Quá trình cơ bản của trí nhớ
2.12.2.1.Quá trình ghi nhớ (mã hóa) thông tin
Đây là quá trình đầu tiên của hoạt động trí nhớ trong đó chủ thể tiếp nhận một thông tin, gán cho thông tin đó một hình thức như thế nào đó (mã hóa) để nó gây ra được một ấn tượng cho riêng mình và đưa nó vào “bộ nhớ” trong não Nhờ có sự mã hóa đó mà thông tin được dể lưu giữ lâu trong
bộ nhớ và nhất là sẽ dể tái hiện truy xuất nó sau này khi chủ thể cần dùng đến thông tin đó
Việc chủ thể đưa một thông tin nào đó vào “ bộ nhớ” của mình thực chất là đưa vào tiềm thức của chủ thể
2.12.2.2.Quá trình giữ gìn (lưu trữ) thông tin
Đây là quá trình thứ hai của hoạt động trí nhớ nhằm mục đích duy trì thông tin đó trong bộ nhớ, trong tiềm thức không để cho nó mất đi, thất thoát, nghĩa là không bị quên đi
2.12.2.3.Quá trình tái hiện (truy xuất) thông tin
Đây là quá trình thứ ba, là quá trình cuối cùng và quan trọng nhất của hoạt động trí nhớ Trong quá trình này, thông tin đang được lưu trữ trong bộ nhớ, trong tiềm thức được chủ thể cần tới và do đó truy xuất nó từ trong tiềm thức và đưa nó lên tầng ý thức, nghĩa là tái hiện được nó, nhớ lại được nó Khi quá trình này gặp một khó khăn nào đó (khó nhớ lại) thì chủ thể phải có sự cố gắng nhất định để nhớ lại được và quá trình này được gọi là sự hồi tưởng
Cần phân biệt sự nhớ lại với sự nhận ra Khi ta gặp lại một người mà trước đây ta đã từng gặp, từng tri giác (dù chỉ một lần) mà biết được rằng đó là người mà mình đã từng gặp thì đó là sự nhận ra người đó là người mình đã gặp trước đây Sự khác nhau giữa nhận ra và nhớ lại một đối tượng nào đó
là ở chổ khi nhận ra một đối tượng nào đó thì phải có sự xuất hiện của đối tượng đó, còn khi nhớ lại thì không có sự xuất hiện đó
2.12.3.Ba loại trí nhớ
2.12.3.1.Trí nhớ cảm giác
Trang 37Là quá trình thu nhận và lưu giữ những tín hiệu thô sơ của môi trường chung quanh trong một thời gian chừng vài ba giây
Trí nhớ hình ảnh: là một loại trí nhớ cảm giác có thể lưu giữ một thông tin thị giác trong khoảng ¼ giây hoặc hơn nữa
Trí nhớ âm thanh: là một loại trí nhớ cảm giác có thể lưu giữ một thông tin thính giác trong 1 thời gian từ 1 đến 2 giây
Phương pháp gộp các tín hiệu thành từng cụm: để nhớ từng cụm chứ không nhớ tín hiệu cũng
là một phương pháp để lưu giữ các thông tin trong trí nhớ ngắn hạn
2.12.3.3.Trí nhớ dài hạn
Các bước trong một quá trình trí nhớ
Bước 1 là bước của trí nhớ cảm giác
Bước 2 là bước của sự chú ý
Bước 3 là bước của trí nhớ ngắn hạn
Bước 4 là bước mã hóa thông tin, tức là bước biến của một thông tin từ trí nhớ ngắn hạn sang trí nhớ dài hạn bằng cách chú ý đến nó, nhẩm lại nó hoặc lập các liên tưởng
Bước 5 là bước của trí nhớ dài hạn trong đó thông tin được lưu giữ với khối lượng không hạn chế trong một thời gian dài và có khả năng tái hiện, nhớ lại vào bất cứ lúc nào trong tương lai
Bước 6 là bước tái hiện tức là nhớ lại, lựa chọn thông tin trong trí nhớ dài hạn và chuyển nó trở lại trí nhớ ngắn hạn
Đặc điểm của trí nhớ dài hạn
Có thể lưu giữ một khối lượng thông tin không hạn chế và trong một thời gian cả một đời người
Có thể tái hiện và tái hiện chính xác thông tin chứng nào là tùy thuộc vào một số nhân tố, trong
đó có nhân tố ta đã mã hóa thông tin như thế nào và những thông tin khác đã gây nhiễu ra sao
Chức năng của trí nhớ dài hạn
Làm kho chứa toàn bộ kiến thức, năng lực, kinh nghiệm của từng người, là tiểu sử bản thân mà mỗi người ghi chép lại được trong đầu óc của mình
Làm nguyên liệu để mỗi người khai thác, sử dụng suy nghĩ, tưởng tượng và hoạt động sáng tạo, khi nói và viết, lập luận, chứng minh, phản biện, dự báo, giáo dục, giảng dạy, báo cáo, kể chuyện, viết hồi kí, viết lịch sử…và khi vận động và thực hiện các thao tác tay chân…
Các loại trí nhớ dài hạn
Trí nh ớ thao tác là trí nhớ về cách thực hiện các công việc đã làm đã hình thành kỹ năng, kỹ
xảo, thói quen
Trang 38Trí nh ớ biểu đạt là trí nhớ về những thông tin bằng ngôn ngữ (nói và viết ra) trí nhớ biểu đạt lại được chia làm hai loại: một là, trí nhớ ngữ nghĩa là nhớ khái niệm, lí luận, kiến thức khoa học, ví dụ: khi thuyết trình một luận văn; hai là, trí nhớ tình tiết là nhớ sự việc đã diễn ra theo thứ tự trước sau của
thời gian và trong những khung cảnh không gian cụ thể, ví dụ: kể lại tiểu sử của một con người
2.12.4.1.Những nguyên nhân của sự quên
Sự suy giảm khả năng lưu trữ, những biểu tượng mờ dần với thời gian, khó tái hiện, phục hồi Trí nhớ bị gây nhiễu Gây nhiễu xuôi và gây nhiễu ngược
Gây nhiễu xuôi là sự gây nhiễu của thông tin cũ đã có sẵn trong trí nhớ làm cản trở sự lưu trữ
và phục hồi thông tin mới, do trí nhớ đã trở nên quá tải (học mãi không thuộc nhưng mau quên, vì trí nhớ vẫn phải lưu trữ quá nhiều thông tin cũ)
Gây nhiễu ngược là sự gây nhiễu của thông tin mới khi nó làm suy yếu sự lưu trữ và phục hồi thông tin cũ, làm ta khó nhớ (học cái sau quên cái trước, quen người mới quên người cũ, do thông tin mới chiếm chỗ của thông tin cũ và thải loại thông tin cũ ra khỏi trí nhớ, hoặc phủ lấp lên thông tin cũ
Có 3 điều kiện chi phối gây nhiễu trí nhớ
Một là chất liệu của hai thông tin giống nhau thì dể gây nhiễu hơn do bị nhàm chán (ví dụ: học bài của một môn học thì khó thuộc hơn học hai bài của hai môn học khác nhau)
Hai là những thông tin vô nghĩa, khó hiểu dể gây nhiễu hơn những thông tin có ý nghĩa
Ba là một việc làm càng khó bao nhiêu trong thời gian giữa lúc ghi nhớ và lúc phục hồi thông tin thì gây nhiễu nhiều hơn bấy nhiêu (ví dụ: buổi tối sau khi học bài xong để ngày mai thi môn đó bạn lại học bài môn khác thì trí nhớ bị gây nhiễu nhiều hơn so với bạn không học thêm bài của môn nào khác nữa mà chỉ giặt áo quần rồi đi ngủ (việc học thêm bài môn khác khó hơn việc giặc áo quần) Nếu bạn không làm gì hết mà đi ngủ luôn sau khi học các bài của môn đó để mai thì trí nhớ hầu như không
bị gây nhiễu, bạn làm bài thi rất tốt
Tạm thời không nhớ lại được
Vì mã hóa kém chất lượng, vì bị gây nhiễu nên khó phục hồi thông tin, hoặc vì thiếu sự gợi nhớ từ những tín hiệu trong môi trường chung quanh (liên tưởng) Hiện tượng không nhớ được này chỉ
là tạm thời Không phải là hiện tượng quên hẳn, không thể nhớ được những thông tin đã quá lâu (ví dụ: thời gian ở tuổi còn bú mẹ) và càng không phải là hiện tượng mất trí nhớ hoàn toàn của người bị bệnh mất trí nhớ
Quên có động cơ (cố ý quên)
Do nguyên nhân tâm lý, người ta cố quên những điều không nên nhớ, chấn thương tâm lý, chấn thương danh dự… hoặc bị đe dọa không được nhớ, không được nói cho ai biết, và thế là những điều đó bị dồn nén (lưu giữ dưới đáy của trí nhớ) và bị ngăn chặn không được nhớ tới Nhưng đến một ngày nào đó khi có điều kiện cho phép được nhớ lại thì người ta sẽ nhớ lại được
Động cơ nói trên còn có thể thúc đẩy con người thay đổi tính chất của thông tin khi nhớ lại bằng cách biến thông tin đang bị dồn nén (do tính bất lợi của nó đối với sức khỏe tinh thần và danh
dự, uy tín của chủ đề) thành thông tin “trung tính” thậm chí “ có lợi” cho chủ thể, ví dụ, người ta tô điểm thêm, đã “tân trang” cuộc đời quá khứ của mình khi kể lại; khi viết hồi kí về nó cho người khác nghe, đọc
Trang 392.13.Sự học
2.13.1.Khái niệm sự học
Để định nghĩa sự học là gì, ta xét vài ví dụ dưới đây
Có một cháu bé không biết cầm thìa xúc cơm Người ta đã chỉ bảo và tập cho cháu cầm thìa Sau đó cháu làm theo và biết cầm thìa Ta nói cháu đã học được cách cầm thìa xúc cơm
Một em học sinh không biết sử dụng máy tính Em tập trung luyện tập theo sự hướng dẫn và một thời gian sau em biết sử dụng máy tính Ta nói em học sinh đã học được cách dùng máy tính
Các em sinh viên năm nhất chưa biết giải phương trình vi phân, sang năm thứ ba các em đã biết Ta nói các em sinh viên này đã học cách giải phương trình vi phân
Qua các thí dụ trên ta thấy sự học đã tạo ra sự biến đổi hành vi hoặc hoạt động bên ngoài (vật
lý, tay chân – cầm thìa, máy vi tính) và bên trong tâm lý, trí tuệ - giải phương trình vi phân) nhờ đó có thể đạt mục đích nhất định Nói cách khác, sự học được thể hiện ở sự biến đổi hợp lý hoạt động (hoặc hành vi) bên ngoài và bên trong
Như vậy, sự học được hiểu là sự biến đổi hợp lý hóa hành động, hành vi Song cần thấy không phải bất cứ sự biến đổi hoạt động, hành vi nào kể cả khi hợp lý, cũng là sự học Sự học là sự biến đổi hợp lý hoạt động hay hành vi, nhưng không phải các thuộc tính bẩm sinh của cơ thể
Vậy sự học là gì? Là sự biến đổi hoạt động vững chắc hợp lý nhờ một hoạt động xảy ra trước
đó, chứ không phải do các phản ứng sinh học bẩm sinh của cơ thể
2.13.3.Sự học ở động vật và ở người
2.13.3.1.Nội dung sự học ở động vật và con người
Để có thể tồn tại, thích nghi và phát triển, con người và con vật đều phải học, tức đều làm biến đổi hành vi, hành động của mình để giải quyết các nhiệm vụ do hoàn cảnh sống đặt ra Sự biến đổi hành vi của con vật và con người tuy có điểm chung nhưng về nội dung thì rất khác nhau
Thí dụ, xung quanh con vật và con người là những đồ vật hoàn toàn như nhau, nhưng các đồ vật này lại được con người phát hiện rất khác nhau Con người phải phân tích - tổng hợp, trừu tượng hóa - khái quát hóa, chia tách các thuộc tính bề ngoài (hình khối - kích thước, màu sắc…) và các mối quan hệ bên trong (nguyên nhân, mục đích, giá trị…) của các đồ vật ấy, trong khi đó con vật chỉ thấy được một số thuộc tính bên ngoài của những đồ vật này như những tín hiệu về sự an toàn hay nguy hiểm đối với đời sống của nó, còn bản thân những thuộc tính đó là gì cũng như những thuộc tính bên ngoài khác và các thuộc tính bên trong của những đồ vật này đều không được con vật nhìn ra
Con vật chỉ học phát hiện và đưa vào hành vi của mình một số quan hệ vật lý của sự vật, hiện tượng, tức chỉ phát triển những cảm giác giống nhau và khác nhau do những quan hệ vật lý của sự vật
và hiện tượng gây ra để làm cơ sở cho các hành vi cũng cố, lặp lại hay lảng tránh, chạy trốn…
Con người còn diễn ra học các khái niệm, tức là nắm lấy tri thức mà loài người đã tích lũy lại trong suốt quá trình phát triển của lịch sử loài người Chính việc học các khái niệm này đòi hỏi con người cần phải học cách tư duy
Mục đích cuối cùng của tư duy là để giải quyết các nhiệm vụ do cuộc sống xã hội và sản xuất
đề ra, do đó con người cần phải học các kĩ năng và luyện tập các kĩ xảo
2.13.3.2.Phương tiện của sự học ở động vật và ở người
Trang 40Sự học ở động vật diễn ra chủ yếu nhờ quan sát và nhờ thứ tự hành vi với đồ vật, tức là lấy các giác quan của cơ thể và khả năng của hệ thần kinh làm phương tiện Ngoài ra những kinh nghiệm của tích lũy được trong đời sống cá thể cũng được dùng làm phương tiện Ngoài ra những kinh nghiệm đã được tích lũy trong đời sống cá thể cũng được dùng làm phương tiện để biến đổi các hành vi thực hiện các nhiệm vụ tương tự, tức để học cách giải quyết các nhiệm vụ tương tự
Ở con người, ngoài những phương tiện học giống ở con vật còn có nhiều phương tiện học khác
có chất lượng vượt xa hẳn các phương tiện học ở con vật trong đó nổi bật nhất là ngôn ngữ
Ngôn ngữ như một phương tiện để thể hiện một khái niệm đã làm cho sự học của con người thoát khỏi sự ràng buộc với những kinh nghiệm cảm tính, với những đồ vật riêng lẻ được tri giác trực tiếp và cho phép đưa vào sự học những mối quan hệ, liên hệ chung, trừu tượng của sự vật, hiện tượng Chính có ngôn ngữ như phương tiện học tập độc đáo, con người học được tư duy, có ý thức và những phẩm chất tâm lý cao cấp và có được những hoạt động thực tế và lý luận Ngoài ra các phương tiện học tập nêu trên, con người còn tạo ra các phương tiện chuyên dụng để học tập như máy móc, thiết bị
mà ta thường gọi chung là đồ dùng dạy học
2.13.3.3.Bản chất sự học ở động vật và ở người
Ví dụ, con khỉ cầm chiếc gậy để điều khiển quả chuối mà cánh tay không với tới được Sau nhiều lần khều, con khỉ đã lấy được quả chuối (tức đạt mục đích đề ra) Bàn tay con khỉ không tuân theo những động tác có trong chiếc gậy mà chiếc gậy phải tuân theo bàn tay con khỉ, tức là bản thân việc sử dụng chiếc gậy đó phải phục tùng những động tác mang tính chất tự nhiên, bản năng ở con khỉ Điều này cho thấy việc học dùng gậy khều quả của con khỉ vẫn nằm trong bản năng có sẵn của bàn tay con khỉ, tuy nhiên do luyện tập con khỉ cũng có những kỉ năng, kỉ xão khều quả cần thiết, hợp lý, tức
có tính tập nhiễm
Đứa trẻ tập cầm thìa xúc cơm Ở đây cái thìa không tuân theo động tác vốn có của bàn tay đứa trẻ mà bàn tay đứa trẻ phải tuân theo những động tác cố định lại trong cái thìa
Nói cách khác bàn tay đứa trẻ đã phải tham gia hệ thống động tác đã gây dựng nên trong lịch
sử xã hội (những động tác ấy được thể hiện trong công cụ đó) và bàn tay đứa trẻ phải phục tùng những động tác ấy
Có thể nói bản chất của sự học ở con người là tái hiện những thuộc tính và năng lực người đã hình thành trong lịch sử và được cố định trong các sản phẩm văn hóa vật chất và tinh thần của loài người và trong các thuộc tính của cá thể (thành các thuộc tính của cá thể), nói cách khác bản chất sự học ở con người là lĩnh hội nền văn hóa lịch sử xã hội loài người, là một quá trình nhận thức
2.13.3.4.Cơ chế sự học ở động vật và ở người
Mèo mang chuột về cho mèo con không bao giờ cho mèo con ăn ngay mà còn “biểu diễn” việc rình và vồ chuột nhiều lần trước mèo con Mèo con đã tập luyện nhiều lần các động tác quan sát được mèo mẹ Việc huấn luyện thú ở rạp xiếc đã khẳng định điều này Như vậy sự học ở con vật diễn ra theo bắt chước – luyện tập Song nếu chỉ bắt chước và luyện tập thôi là chưa đủ Mèo con sau lần bắt chước và luyện tập các động tác rình vồ với mẹ, nó phải được ăn thịt chuột thật Các con thú ở rạp xiếc cũng vậy, sau mỗi lần bắt chước và lập lại chúng cũng được thưởng cái mà chúng thích Do đó cơ thể đầy đủ của sự học ở động vật là bắt chước – luyện tập – củng cố
Sự học ở con người cũng diễn ra theo cơ chế bắt chước như ở con vật, song đây không phải là
cơ chế học tập chính và duy nhất của con người
Ở con người những kinh nghiệm sống của thế hệ trước chứa trong mầm mống thiên nhiên của thế hệ sau, mà được để lại trong sản phẩm văn hóa và tinh thần của xã hội loài người, tức là để lại các sản phẩm văn hóa và tinh thần của xã hội loài người Thế hệ sau cần phải chiếm lĩnh, nắm vững thế giới xung quanh, trước hết là các phương tiện xã hội đó, tức là phải tái hiện các thuộc tính và năng lực
đã được hình thành trong lịch sử loài người được cố định ở trong các phương tiện xã hội đó thành các thuộc tính và năng lực của bản thân mình Quá trình này được gọi là lĩnh hội và để có quá trình lĩnh hội này mỗi cá nhân cần có hai điều kiện