DANH MỤC CÁC CHỮ VIÉT TẮTAPEC Tổ chức kinh tế châu Á - Thái Bình Dương ASEAN Tổ chức các nước Đông Nam Á C N H - HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá CNXH Chủ nghĩa xã hội ĐBSH Đồng bằng S
Trang 1BỘ GI ÁO DỤC VÀ ĐÀO T Ạ O
ĐẠÍ HỌC THÁI NGUYÊN
TRẦN VIẾT KHANH (Chủ biên)
NGUYỄN VIỆT TIẾN - VŨ NHƯ VÂN
GIAO TRINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
_ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN • • _
TRẦN VIẾT KHANH (Chủ biên)
NGUYỄN VIỆT TIẾN - vũ NHƯ VÂN ■
GIÁO TRlNH
Đ|fl LÝ TRUNG Da MIỀN NÚI
(GIÁO TRÌNH DÙNG CHO HỆ CAO HỌC CHUYẺN NGÀNH ĐỊA LÝ)
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3SÁCH ĐƯỢC XUẤT BẢN BỞI s ự TÀI TRỢ CỦA D ự ÁN GIÁO DỤC ĐẠI HiỌC 2
Trang 4MỤC LỤC
T rang
Danh mục các chữ viết tắt 5
Chương 1 Đặc điểm tự nhiên vùng TDMNPB 7
1.1 Vị trí địa lý 7
1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 8
1.2.1 Tiểu vùng Đông B ắc 8
1.2.2 Tiểu vùng Tây B ắc 14
Chương 2 Dân cư và cộng đồng các dân tộc TDMNPB 27
2.1 Đặc điểm dân cư và lao đ ộ n g 27
2.1.1 Dân sổ và mật độ phân b ố 27
2.1.2 Gia tăng dân số 29
2.1.3 Cơ cấu dân số thành thị và nông thôn 31
2.1.4 Chất lượng dân c ư 33
2.1.5 Nguồn lao đ ộ n g 36
2.2 Cộng đồng các dân tộc Trung du miền núi phía b ắ c 38
2.2.1 Tổng quan về dân tộc và phân loại dân tộc ở Việt Nam 38
2.2.2 Cộng đồng các dân tộc Trung du miền núi phía B ắc 44
Trang 5Chương 3 Kinh tế và phát triển vùng TDMNPB: điều
kiện hội nhập 97
3.1 Triết lý phát triển kinh tế TDMNPB trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc t ế 97
3.1.1 Định kiến và phi định kiến 97
3.1.2 Khó khăn và thuận lợ i 99
3.1.3 Phát triển hay chậm phát triển 104
3.1.4 Cơ cấu và phi cơ cấu 106
3.1.5 Chấp nhận và hành động 110
3.1.6 Chiến lược phát triển bền vững vùng TDM NPB 113
3.2 Vị trí của TDMNPB trong phân công lao động theo lãnh thổ cả n ư ớ c 113
3.3 Tổ chức lãnh thổ vùng TDMNPB 117
3.3.1 Cơ cấu kinh tế ngành và khu vực kinh tế 117
3.3.2 Sự phân hoá lãnh thổ 120
3.3.3 Tổ chức không gian phát triển mở vùng TDMNPB trước cơ hội m ớ i 128
3.4 Một số vấn đề phát triển TDMNPB thời kỳ hội nhập kinh tế quốc t ế 133
3.4.1 Hội nhập kinh tế quốc tế, cơ hội và thách thức với sự phát triển KTXH vùng dân tộc thiểu số và miền núi 133
3.4.2 Mô hình không gian phát triển mở 138
3.4.3 TDMNPB dưới tác động của vùng kinh tế trọng điểm Bắc B ộ 147
Bài đọc th êm 161
Tài liệu tham khảo 174
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIÉT TẮT
APEC Tổ chức kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
ASEAN Tổ chức các nước Đông Nam Á
C N H - HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
CNXH Chủ nghĩa xã hội
ĐBSH Đồng bằng Sông Hồng
GDP Tổng sản lượng quốc nội
HDI Chỉ số phát triển con người
TCKGPTM Tổ chức không gian phát triển mở
TDMNPB Trung du Miền núi phía Bắc
Trang 7C hương 1
ĐẶC ĐIỀM TỤ NHIÊN VÙNG TRUNG DU MIỀN NÚI PHÍ A BẤC
Trung du miền núi phía Bắc (TDMNPB) là một vùng lãnh thổ rộng lớn phía bắc của tổ quốc, với tổng diện tích 102.963 km2 về
mặt hành chính, vùng TDMNPB bao gồm các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh, Lai Châu, Điện Biên Sơn La và Hoà Bình
Trang 81.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Điều kiện tự nhiên của vùng TDMNPB được chia làm hai tiểu vùng là Đông bẳc và Tây bắc với nhiều tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên để phát triển kinh tế xã hội
1.2.1 Tiểu vùng Đông Bắc
Tiểu vùng Đông Bắc bao gồm các tỉnh Cao bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Bắc Giang và Quảng Ninh
1.2.1.1 Đăc điểm đìa chất• •
Theo các tác giả tờ bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 (1965), tiểu vùng Đông Bắc có cấu trúc địa chất phức tạp với sự có mặt nhiều phức hệ đá có thành phần và tuổi khác nhau Tiểu vùng này được chia ra các đới cấu tạo sau:
- Đới Sông Lô là phần tây bắc của hệ chuẩn uốn nếp đông Việt Nam, đây là đới nâng duy nhất, phát triển rộng rãi các trầm tích tuổi Proterozoi và trầm tích Cambri hạ Ranh giới phía tây nam của đới Sông Lô với hệ chuẩn uốn nếp tây Việt Nam là đứt gãy Sông Chảy Ranh giới phía đông tạo bởi đứt gãy Sông Lô Đây là đới nâng
có dạng đẳng thước, tạo nên nhân cổ của vùng Đông Bắc Việt Nam Nếp uốn lớn nhất trong vùng là nếp uốn Chiêm Hoá, sau đó đến nếp uốn Sông Chảy (với trung tâm là khối granit Sông Chảy)
Hoạt động magma trong vùng xảy ra khá nhiều lần, với sự có mặt các khối magma có tụổi khác nhau, c ổ nhất là khối magma Sông Chảy có tuổi Proterozoi Ngoài ra còn có thể gặp các phức hệ magma khác như phức hệ Điện Biên, Bản Sang, Phia Biooc
- Đới Sông Hiến là đới sụt võng, tích tụ trầm tích dày Mặt cắt Paleozoi tương đối đầy đủ và phát triển rộng rãi trầm tích tuổi Trias
Trang 9với các tướng lục nguyên, cacbonat, trầm tích núi lửa, trầm tích than Phía đông của đới phát triển các khối núi đá vôi Trầm tích Sông Hiến bị uốn nếp phức tạp, tạo nên các phức nếp lồi Bắc Sơn, Đồng Văn.
Hoạt động magma xảy ra mạnh mẽ, tạo nên các phức hệ magma như gabro Núi Chúa, granit Núi Điệng và các thành tạo trầm tích núi lửa tuổi Trias
- Đới An Châu là miền võng nằm phía nam hệ chuẩn uốn nếp đông Việt Nam, nó được lấp đầy bởi các trầm tích biển và trầm tích lục nguyên Đới này có cấu trúc hai bậc Bậc dưới được cấu tạo bởi các đá trầm tích của hệ tầng Lạng Sơn, hệ tầng Nà Khuất và hệ tầng Mầu Sơn Bậc trên bao gồm các đá có tuổi Trias chứa than, trầm tích Jura, trầm tích Neogen và trầm tích phun trào a-xit
- Đới Duyên Hải: nằm ở phía nam và đông nam tạo thành một vòng cung thoải ôm lấy đới An Châu Thành phần đá bao gồm các trầm tích chứa than tuổi Trias thuộc hệ tầng Hòn Gai Các trầm tích
ở đây được chia làm hai dải: dải Đông Triều - Yên Tử và dải Hạ Long - Bái Tử Long Đây là vùng chứa than lớn nhất cả nước với hàng chục mỏ than lớn nhỏ
- Đới Hạ Lang: nằm ở phía đông bắc của hệ chuẩn uốn nếp đông Việt Nam Phần kéo dài của nó nối với khối nâng Quảng Tây (Trung Quốc) Các đá cấu tạo nên đới này chủ yếu có tuổi Devon, với thành phần chính là cacbonat và trầm tích lục nguyên
1.2.1.2 Đặc điểm địa hình
- Núi cao trung bình: Kiểu này phân bố chủ yếu ở vùng Việt Bắc
Hình thái địa hình thường có dạng vòm khối tảng, được cấu tạo từ các đả magma xâm nhập, magma phun trào, các loại đá trầm tích và biến chất khác nhau Độ dốc sườn 20-30°, độ phân cắt sâu đạt tới 1000m/km2 Hiện tượng trượt đất thường xuyên xảy ra Bề mặt địa
Trang 10hình ở đây thường bị chia cắt mạnh, Một số đỉnh cao trên l.OOOm, đỉnh nhọn, sườn dốc, cấu tạo chủ yếu bởi đá granit Điển hình cho kiểu địa hình này là khối núi Hoàng Su Phì Nó tạo nên một mặt bằng ở độ cao trung bình l.OOOm với độ chia cắt sâu và chia cắt ngang tương đối lớn, độ cao tương đối thường đạt trên 200m Các sườn núi có độ dốc 25° chiếm diện tích lớn, địa hình hiểm trở Phần lớn trên các địa hình này tồn tại các loại đất mùn vàng đỏ.
- Núi thấp và đồi xâm thực - bóc mòn: chiếm phần lớn diện tích, độ cao chủ yếu từ 300-1.000m Các đỉnh núi rời rạc, độ dốc sườn dưới 25° chiến ưu thế Quá trình bóc mòn mạnh tạo nên địa hình mềm mại, dốc thoải (Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh)
- Các cao nguyên đá vôi: phổ biến ở các vùng Đồng Văn, Mẻo Vạc, Quản Bạ, Bắc Sơn với đặc trưng núi cao, địa hình sắc nhọn xen kẽ các thung lũng hẹp
- Các bán bình nguyên: đây là kiểu địa hình thành tạo tại vùng tân kiến tạo bình ổn, thường là ranh giới giữa các vùng nâng và vùng sụt, mang tính chuyển tiếp giữa đồi và đồng bằng Độ cao tuyệt đối kiểu địa hình này chủ yếu dao động trong khoảng ÌOO- 200m, độ cao tương đối dưới 25m, độ dốc sườn thường nhỏ hơn 8° Trong vùng TDMNPB gặp kiểu này ở Phú Thọ, Thái Nguyên, B ắc Giang, Móng Cái
Đặc điểm chung của vùng bán bình nguyên là địa hình dạmg đồi thấp, thoải, xen kẽ với thung lũng rộng Những đồi có độ c;ao trên 50m, chiếm diện tích không đáng kể, phân bố ở khu vực Thái Nguyên, Bố Hạ và được cấu tạo chủ yếu bởi cuội kết, phiến sét, cát bột kết màu đỏ tuổi Devon, Trias, Jura Những đồi có độ cao nỉhỏ hơn 5 Om phân tố chủ yếu ở phía sông Thương, được cấu tạo bởi các đã tuổi Trias Tại Hiệp Hòa, các đồi thường cao không quá
Trang 1120m, sườn dốc rất thoải Các thung lũng xen giữa các đồi được lấp đầy bởi các vật liệu hạt thô.
1.2.1.3 Đặc điểm khí hậu
Đây là miền chịu ảnh hưởng trực tiếp và nhiều nhất của gió mùa đông bắc So với cả nước đây là vùng có gió mùa đông bắc đến sớm nhất và kết thúc muộn nhất (sớm hơn tiểu vùng Tây Bắc
từ 15-20 ngày) Hon nữa, địa hình tiểu vùng Đông Bắc không cao nên gió mùa đông bắc xâm nhập vào theo các hướng tương đối thuận lợi So với Tây Bắc, cùng độ cao thì ở đây nhiệt độ thường thấp hơn l°-2°c, lượng bức xạ cũng nhỏ hon Nhiệt độ trung bình năm của miền đạt 22°-23°C, ở độ cao 200m nhiệt độ trung bình năm là 20-22°C, ở độ cao 500-1.000m là 18°-20°c, trên 1.500m giảm xuống còn 15°c Thời kỷ lạnh (dưới 20°C) kéo dài khác nhau, phụ thuộc vào độ cao địa hình Ở vùng địa hình thấp, thời kỳ này kéo dài 3-4 tháng, vùng có độ cao từ 800-1.000m kéo dài tới 6-7 tháng, vùng có độ cao trên 1.500m gần như quanh năm mùa lạnh thống trị
Nhiệt độ trung bình tháng 1 là khoảng 16°c, tháng 7 xấp xi
29°c, lượng mưa trung bình năm khoảng 1800mm nhưng phân bố không đều Nhiệt độ tối cao tuyệt đối lên tới 41°3, tối thấp tuyệt đổi xuống tới 3°c Lượng mưa trung bình trong vùng 1.170-2.000mm
1.2.1.4 Đặc điểm thuỷ văn
Nước ở tiểu vùng Đông Bắc kém phong phú hơn tiểu vùng Tây Bắc Nhiều khu vực do cấu tạo bởi đá vôi bị nứt nẻ mạnh nên nước bị thất thoát nhiều gây nên hiện tượng thiếu nước hoặc điều tiết nước rất khó khăn (Mèo Vạc, Bắc Hà, Mường Khương, Cao Bằng, Bắc Sơn ) Một số thung lũng do địa hình đón mưa nên có
Trang 12lượng mưa lớn và lượng nước dồi dào như Bắc Quang, các thung lũng sông Lô, sông Hồng.,
Mặc dù một số tháng có lượng mưa thấp, nhưng mức độ khô hạn ở Đông Bắc không khốc liệt như ở các tỉnh miền Nam Tính vĩ
độ không ảnh hưởng lớn đến tính chất khí hậu mà chính gió mùa Đông Bắc mới quyết định sự khác biệt khí hậu giữa các miền Mặc
dù tiểu vùng Đông Bắc có nhiều nơi lượng mưa ít, số tháng có lượng mưa dưới 50mm nhiều hơn ở miền Trung, nhưng mức độ khô hạn không lớn do nền nhiệt thấp, mưa phùn xảy ra ổn định, lượng bốc hơi không cao nên mức độ khô hạn không gay gắt như ở miền Trung hoặc miền Nam
1.2.1.5 Đặc điểm thồ lĩliưỡng
Đây là tiểu vùng có quá trình san bằng xảy ra mạnh mẽ, tạo nên các bình nguyên cổ với đất íeranít đỏ vàng trên đá phiến, đất íeranít vàng nhạt trên các thung lũng, đất xám bạc màu và đất feranít nâu vàng trên phù sa cổ và trên các bậc thềm Các loại đá ở đây chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng
ẩm nên đã hình thành các tầng phong hoá dày
1.2.1.6 Thực vật
Thực vật tự nhiên còn rất ít, thảm rừng kín thường xanh lá rộng nhiệt đới đã bị tàn phá mạnh mẽ do vùng này được khai thác lâu đời nhất ở Việt Nam Tính đa dạng của các điều kiện tự nhiên dẫn đến các khả năng đa dạng của thực vật Tại đây có thể tồn tại các loại cây nhiệt đới, á nhiệt đới, do đó thuận lợi cho việc đa dạng hoá hệ canh tác
Một số nơi vẫn tìm thấy rừng với kiến trúc nhiều tầng, trong
đó lim là một loài lập quần chiến tỷ trọng khá ưu thế Một số nơi gặp các thảm thực vật á nhiệt đới với các loài thực vật đặc trưng:
Trang 13dẻ, long não, bạch dương, thông Ở một vài nơi, các loài thực vật này còn lấn xuống tới độ cao 300m (Quảng Ninh).
Hiện nay, diện tích đất trống đồi trọc đang được thu hẹp nhờ việc phát triển những vùng chuyên canh cây ăn quả như cam, quýt, vải thiều, dưa và cây công nghiệp dài này như chè, ngoài ra còn có cây công nghiệp ngắn ngày như đậu lạc, vừng, thuốc lá
Sự phân hoá cơ bản của tự nhiên tiểu vùng Đông Bắc là do nền địa chất, hướng sơn văn, độ cao đã ảnh hường tới sự hoạt động của gió mùa đông bắc Còn yếu tố vĩ độ và mức độ xa biển ảnh hưởng yếu hơn
1.2.1.7 Tài nguyên khoảng sản
Tiều vùng này có nguổn tài nguyên khoáng sản thuộc loại phong phú nhất nước ta Ở đây có thể gặp các loại khoáng sản kim loại, phi kim loại, nhiên liệu, vật liệu xây dựng, đá quý.v.v Các khoáng sản này phân bố rải rác ở nhiều địa phương trong vùng Có thể kể đến một số loại khoáng sản cụ thể như sau:
Than đá gặp chủ yếu ở Quảng Ninh, Thái Nguyên; Thiếc gặp
ở Tĩnh Túc, Sơn Dương, Tam Đảo; sắt gặp ở Trại Cau, Cao Bằng,
Hà Giang; Chì - kẽm gặp ở Chợ Đồn, Chợ Điền, Chiêm Hoá, Son Dương; Titan gặp ở Núi Chúa, Thái Nguyên; Barit gặp ở Sơn dương, Tam Đảo Đại Từ; Vàng gặp ở Ngân Sơn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên và nhiều nơi khác (cả vàng sa khoáng
và vàng gốc), Apatit gặp ở Lào Cai
Các loại khoáng sản này đã được khai thác từ lâu để phục vụ công nghiệp Tuy nhiên, sự khai thác đó cũng đã để lại những hủy hoại về môi trường mà cho đến nay vẫn chưa khắc phục hết
Với 98% nguồn than đá - than năng lượng và 62% thủy năng của cả nước, miền núi và trung du phía Bắc là vùng giàu năng lượng hơn các vùng khác trong nước
Trang 14Ngoài bể than Quảng Ninh, với trữ lượng công nghiệp là 2,1
tỷ tấn, nhiên liệu rắn còn những tiềm năng đáng kể như: các vỉa than tuổi Neogen nằm dưới lớp đá trầm tích của đồng bằng sông Hồng, với trữ lượng dự đoán hàng trăm tỷ tấn
Gần đây, đá quý được phát hiện (chủ yếu là rubi và saphia) ờ vùng Lục Ngạn (Yên Bái) với trữ lượng dự báo trên 60.000kg, trong đó phẩm cấp loại Ai và Bi khoảng 90kg, là cơ sở để hình thành ngành công nghiệp đá quý ở Việt Nam Vùng lưu vực sông Hồng từ Lào Cai đến Phú Thọ có thể trở thành vùng đá quý lớn trong tương lai
1.2.2 Tiểu vùng Tây Bắc
Tiểu vùng Tây Bắc bao gồm các tỉnh: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La và Hòa Bình Đây là tiểu vùng có địa hình núi cao, hiểm trở, đồ sộ nhất Việt Nam cấu trúc hệ thống sơn văn, thủy văn kéo dài theo hướng chung Tây Bắc - Đông Nam, với nhiều đỉnh núi cao trên 2500m, khí hậu nhiệt đới ẩm có mùa đông lạnh Tiềm năng phát triển kinh tế xã hội ở đây chủ yếu là phát triển thuỷ điện, khai thác khoáng sản, trồng cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc
Nền móng tiểu vùng Tây Bắc được hình thành trên nền địa chất kiến tạo có tuổi cổ thuộc nguyên đại Nguyên Sinh Trong miền
có những nếp uốn, đứt gãy địa chất lớn, nhiều nếp lồi, nếp lõm chạy song song xen kẽ nhau: Hoàng Liên Sơn - Sông Đà - Sông Mã
- Sầm Nưa - Phu Hoạt - Sông Cả Trong vận động Hymalaya, tiểu vùng Tây Bắc được nâng nhiều nhất với biên độ mạnh nhất để tạo nên các khối núi cao bị chia cắt mạnh nhất Việt Nam Do được nâng cao và độ dốc của mạng lưới sông suối lớn nên vùng này phong phú nguồn năng lượng thủy văn Khí hậu cũng có nhiều nét khác biệt với các miền phụ cận do có sự phân hoá đai cao và sự khác biệt về hướng sườn đón gió của các dãy Hoàng Liên Sơn và các dãy núi ở biên giới Việt - Lào Nền nhiệt ở Tây Bắc cao hơn so
Trang 15vói Đông Bắc Chế độ mùa cũng bị thay đồi nhanh lên hoặc chậm
đi do hiệu ứng chắn gió của các dãy núi Thực vật cũng có nét của miền Trung và Thượng Lào, Thanh Hoá, Nghệ An, đã xuất hiện bằng lãng, săng lẻ là loại cây phổ biến ở Tây Nguyên Đất Tây Bắc cũng đa dạng có các loại Feralít mùn, đất mùn alít núi cao phong phú hơn các miền khác do nền địa hình của Tây Bắc cao hơn Tây Bac có dải cao nguyên đá vôi chạy từ Lai Châu về Sơn La đã và đang được khai thác trồng cây công nghiệp
v ề mặt tự nhiên, sự phân hoá đai cao, phân hoá sườn là cơ sở thực tiễn cho các nghiên cứu phân vùng địa lý tự nhiên Việt Nam
v ề mặt kinh tế xã hội, đây là cái nôi của người Mường, nơi cư trú đông đảo của người Thái, người Mông, cỏ di tích lịch sử Điện Biên Phủ, có công trình thủy điện Hòa Bình, công trình hồ chứa nước thủy điện Sơn La
1.2.2 L Đặc điểm địa chất
Theo kết quả nghiên cứu địa chất, tiểu vùng Tây Bắc có cấu trúc địa chất và hoạt động kiến tạo phức tạp với sự có mặt nhiều loại đá cổ nhất Việt Nam Tiểu vùng này được chia ra các đới cấu tạo sau :
- Đới Phan-xi-păng: đây là vùng núi cao nhất Việt Nam, với nhiều đỉnh cao trên 2000m, một số đỉnh cao trên 3.000m, tạo nên một hệ thống núi hùng vĩ với đỉnh cao nhất là đỉnh Phan-xi-păng (3 143m) Các đá cấu tạo nên đới này chủ yếu là granit và các trầm tích tuổi cổ (Proterozoi) Hầu hết các đã đã bị biến chất mạnh mẽ
- Đới Sông Đà: nằm dọc theo thung lũng sông Đà, từ Hoà
Bì nh kéo dài tới biên giới Việt - Trung Các đá cấu tạo nên đới sômg Đà chủ yếu là các loại trầm tích tuổi Trias giữa (T2)
- Đới Sơn La: nằm ở các khu vực Son La, Mộc Châu, Yên Châu kéo dài tới biên giới Việt - Trung Đây là vùng có địa hình
Trang 16núi trung bình, núi thấp và đồi Diện tích địa hình có độ cao dưới l.OOOm chiến tới 93%, khối núi đồ sộ nhất là khối Hoàng Su Phì với đình Tây Côn Lĩnh cao nhất (2.43 lm) Giới hạn phía tây của miền là chân sườn đông của khối Phan-xi-păng, giáp với đứt gãy sông Hồng Phía Nam tiếp giáp với miền đồng bằng Bắc bộ ở độ cao xấp xỉ 50m.
ỉ 2.2.2 Đăc điểm đìa hình• •
Tây Bắc là vùng địa hình miền núi đồ sộ, có đinh Phan-xi- păng (3.143m) cao nhất Việt Nam và nhiều đỉnh cao khác xấp xỉ 3.000m Được nâng cao và chia cắt mạnh nên độ chia cắt sâu phổ biến 150-1.000m Độ chia cắt ngang phổ biến 0,6-0,75km/km2 Các mạch núi và thung lũng kéo dài, chạy song song với nhau theo hướng Tây Bắc - Đông Nam
Dãy núi Hoàng Liên Sơn dài 180 km với các đỉnh Phan-xi-păng 3.143m, Tả Giang Phình 3.096m, Pu Luông 2.983m, Xa Phình 2.879m Dãy này được cấu tạo bằng đá granít và đá biến chất vửa được nâng cao, vừa bị các quá trình ngoại sinh gọt đẽo, tạo nên các đỉnh sắc nhọn, sườn dốc (có chỗ đạt 40 - 45°), chia cắt sâu dừ dội, dôi khi đạt 2.000 méưkm2 Một số chỗ còn tìm thấy các mặt san bàng cổ ở các bậc 2.700-2.800m, 2.100-2.200m, 1.700-1.800m và 1.300-1.500mi
Xen giữa dãy Hoàng Liên Sơn, Pu Luông và dải cao nguyẽn
đá vôi ở phía tây là những bồn địa Than Uyên, Nghĩa Lộ, Quang Huy Dải cao nguyên đá cuội chạy từ Phong Thổ đến Thanh Ho>á, dài khoảng 400km, rộng 10-25km, bao gồm các bề mặt san bằng cao xấp xỉ 1.000m Đó là các cao nguyên Sin Chải, Tà Phình, cao nguyên Sơn La (độ cao 600-700m) và cao nguyên Mộc Châu (cao xấp xỉ 1.000m) Qua Mộc Châu, bề mặt này thấp hẳn xuống thành các dải đồi Dãy núi Su Chảo trải dài 50km với các đỉnh cao xấp xỉ 1800m từ Tuần Giáo cho đến phía nam cao nguyên Sơn La thì tíỏa rộng sang sầm Nưa
Trang 17Tiểu vùng Tây Bắc có các kiểu địa hình như sau:
Khối và dãy núi cao bóc 'mòn xâm thực tạo thành trên đá magma biến chất như dãy Hoàng Liên Sơn và khối Pu Si Lung
Núi cao trung bình bóc mòn xâm thực trên các đã biến chất, trần tích lục nguyên uốn nếp Kiểu núi này phân bố ở lưu vực sông
Mã, tả ngạn sông Đà, tả ngạn sông Cả
Núi thấp bóc mòn xâm thực hình thành trên các đá lục nguyên uốn nếp, cao 400-800m Phân bố ở hữu ngạn sông Hồng, hạ lưu sông Đà, một phần phía đông vùng núi Thanh Hoá
Núi và cao nguyên đá vôi xen kẽ đá phiến cát kết: đó là các cao nguyên và núi từ Phong Thổ về đến Ninh Bình
Đồi xâm thực bóc mòn trên đá phiến, cát kết: kiểu địa hình này là phần nâng yếu ở các vùng Hòa Bình
Thung lũng và lòng chảo miền núi: đây là kiểu địa hình âm lớn, hình thành do sông ngòi cắt xẻ tạo nên Tuỳ theo mức độ hoạt động kiến tạo có thể chia cáp thung lũng này thành các dạng xâm thực - tích tụ (khi hoạt động nâng lên chiếm ưu thế) hay tích tụ - xàm thực (khi hoạt động hạ thấp chiếm ưu thế) Trong tiểu vùng Tây Bắc kiểu địa hình này gặp ở lòng chảo Điện Biên
Nét son văn chính của địa hình Tây Bắc là dãy núi Hoàng Liên Sơn kéo dài, kẹp lấy dải cao nguyên đá vôi, chạy theo phương Tày Bắc - Đông Nam Như vậy, ngoài phân hoá theo đai cao, phân hoá theo tuyến kéo dài trùng với cấu trúc son văn chung là nét đặc trựng của địa hình khu vực
1.2.2.3 Đặc điểm khỉ hậu
Địa hình có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành khí hậu và phân hoá khí hậu trong miền, số lần gió mùa Đông Bắc vượt qua câc dãy núi ảnh hưởng tới Tâỵ Bấc chỉ bằng một nửa số các đợt khí
ĐAI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG ì ÁM THÔNG TIN THƯ VIỆN 17
Trang 18lạnh tràn về Đông Bắc Bắc bộ Đầu và cuối mùa đông các đợt khí lạnh càng yếu thì càng khó vượt qua Mặt khác, khi gió mùa Tây Nam theo lưu vực sông Mê Kông quét qua dãy núi biên giới Việt - Lào đã tạo nên hiện tượng phơn ở Tây Bắc, gây ra sự khác biệt ngay trên sườn và các thung lũng giữa sườn đông và sườn tây các dãy núi Mùa lạnh ở Tây Bắc bắt đầu vào tháng 11, cứ lên cao
1 OOm thì mùa lạnh đến sớm hon 5 - 6 ngày Mùa lạnh kết thúc vào đầu tháng 3 và cũng lên cao lOOm thì kết thúc muộn hơn 4 - 5 ngày Như vậy, càng lên cao mùa đông càng dài và cứ lên cao lOOm thì dài thêm khoảng 10 ngày Trung bình mùa lạnh ở Tây Bắc dài hơn nơi khác khoảng 10 ngày
Tháng lạnh nhất là tháng 1 và nóng nhất là tháng 7 Bảng 1.1 cho thấy nhiệt độ tháng 1 và tháng 7 tại một số điểm có độ cao khác nhau
Bảng 1.1: Nhiệt độ trung bình một số năm quan trắc tại các trạm (°C) Địa điểm Độ cao (m) Năm Tháng 1 Tháng 7
Mùa hè ở Tây Bắc bắt đầu vào tháng 4 Mùa nóng kéo dài hơn mùa lạnh đến hai tháng Càng cao thì mùa nóng bắt đầu chậm hơn
và kết thúc sớm hơn về mùa hè, gió tây nam thống trị tạo ra hiện thượng phơn ở thung lũng sông Đà Càng về phía sườn đông bắc của dãy núi biên giới Việt - Lào như Điện Biên, Sông Mã, gió Lào càng thổi mạnh tạo thời tiết khô nóng Tháng 7 là tháng nóng nhất,
Trang 19nhiệt độ tối cao có nơi trên 40°c, nhiệt độ tối cao tuyệt đối 41- 42°c, trong các lòng chảo có thể lên tới 44°c.
Nhiệt độ đất cũng có biến trình năm như nhiệt độ không khí
v ề mùa lạnh, nhiệt độ đất cao hơn nhiệt độ không khí 1 - 2°c Trên
bề mặt cao nguyên, nhiệt độ mặt đất cũng chỉ cao hơn nhiệt độ không khí 2°c
Mưa ở Tây Bắc cũng dao động và phân hoá theo không gian Sơn La 1.444mm/năm Điện Biên 1.583mm/năm, Lai Châu 2.066mm/năm, Tây Hiên 1.592mm/năm Mùa mưa phần phía Bắc bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 9 Càng về phía Nam mùa mưa càng chậm dần, phía tây Thanh Hoá mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 11 và tây của Nghệ An từ tháng 7 đến tháng 12 Mùa khô ở khu vực phía Bắc thì ngắn nhưng càng xuống phía tây nam càng dài Từ tháng 11 đến tháng 1 là ít mưa nhất
Bắt đầu tháng 4 lượng mưa tăng lên rõ rệt, vào tháng 5 có mưa dông do dải hội tụ nhiệt đới Lượng mưa cực đại ở phía Bắc vào tháng 6 Phần trung tâm vào tháng 7 và phần phía Nam vào tháng 8
Bốc hơi ở Tây Bắc dao động từ 800-1.000mm/năm Đầu cuối mùa lạnh bốc hơi nhiều nhất 90-100mm/tháng Bốc hơi cao nhất vào tháng 2 hoặc 3 khoảng lOOmm/tháng Mùa nóng bốc hơi tới 60mm/tháng, nhỏ hơn mùa đông Nhìn chung, miền này khí hậu có nhiều giá trị cực đoan trong chế độ nhiệt và ẩm
1.2.2.4 Đặc điểm thuỷ văn
Sông Đà chiếm vị trí quan trọng trong đặc điểm thuỷ văn bắc Tày Bắc Sông Đà bắt nguồn từ Trung Quốc chảy trong địa phận Việt Nam Sông có độ dốc lớn, từ biên giới đến Vạn Yên: 38cm/km, từ Vạn Yên đến Suối Rút tăng lên 44cm/km Lưu lượng bình quân ở Tạ Bú là 1.480 m3/s, về mùa lũ đạt 13.600 m3/s, mùa cạn chỉ còn 290 m3/s, tổng lượng cát bùn tại Tạ Bú là 73,2 triệu tấn
Trang 20Tổng lượng nước tại Lai Châu là 37,4 tỷ m3, tại Tạ Bú là 50 tỷ m3, tại Hòa Bình là 57,2 tỷ m3 Như vậy, có thể thấy rằng phần lớn nước là từ Trung Quốc đưa về Do đó, chế độ thủy văn của sông Đà phụ thuộc nhiều vào chế độ thủy văn thượng nguồn.
Nước có chất lượng tốt, độ PH từ 7,2 - 7,6, độ khoáng hoá vừa phải: 179 - 202mg/l, thuận lợi cho tưới tiêu và sinh hoạt Đặc biệt, qua số liệu nhiều năm cho thấy đoạn từ Tạ Bú đến Hòa Bình lượng phù sa giảm đi Như vậy, nếu xây dựng đập Tạ Bú thì lượng bồi lắng ở kè Hòa Bình không còn là vấn đề lo ngại nữa
Hồ Hòa Bình có dung tích 9,5 tỷ m3; với 208 km2 mặt nước
đã làm thay đổi một phần đặc điểm tự nhiên của vùng
Toàn miền có 5 hệ thống sông: Sông Thao, sông Đà, sông Mã
- Chu, sông Nậm Rốm, sông Côn và các sông chảy vào sông Cả
Các sông chảy vào sông Thao nằm ở sườn Đông của Hoàng Liên Sơn, trong đó chia ra:
- 129 sông, suối có diện tích lưu vực nhỏ hơn l.OOOkm2
- 3 sông với diện tích lưu vực từ 1.300-1.700km2
Các sông thuộc lưu vực sông Đà có:
- 179 sông, suối với diện tích lưu vực nhỏ hơn 1 OOOkm2;
- 6 sông có diện tích lưu vực l.OOOkm2
- 2 sông có diện tích lưu vực trên 500km2
Các sông thuộc hệ thống sông Mã - Chu có 80 sông, chia ra:
- 75 sông, suối có diện tích lưu vực nhỏ hơn 600km2
- 5 sông có lưu vực từ 600-1.000km2
Hệ thống sông Nậm Rốm có 5 sông với diện tích lưu vực từ 50-1200km2
Trang 21Mật độ sông, suối toàn miền đạt 1,6km/km2 Ờ phần phía Bắc, mật độ này lớn hơn (2,63km/km2) Trong các vùng đá vôi mật độ này có giảm xuống (0,5km/km2).
Các sông lớn có dòng chảy trùng với các hướng sơn văn của miền: Tây Bắc - Đông Nam, các sông con đổ thẳng góc ra sông chính Các sông con ở giai đoạn đào sâu, trắc diện hẹp, lắm ghềnh thác Do hoạt động kiến tạo mà một số sông đã đổi hướng chảy, quay ngoặt lại hoặc rẽ ngang Sông suối Tây Bắc là sông trẻ Chúng chảy thẳng góc với sông chính, lòng sông dốc Sự phân hoá mùa lũ mùa kiệt rất rõ rệt, phù hợp với chế độ mưa lưu vực Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 10 Tháng có lũ lớn nhất ở phía Bắc là tháng 6, 7, Phần nam và tây nam vào tháng 7, 9, lũ chặn đầu từ bắc xuống nam phù hợp với sự đi xuống của bão và dải hội tụ nhiệt đới
Mùa kiệt ở phía Bắc bắt đầu tháng 6, chấm dứt vào tháng 4 Phần phía nam bắt đầu từ tháng 12 và chấm dứt vào tháng 6, cạn nhất vào tháng 1 và tháng 2
Mô đun dòng chảy trung bình toàn miền dao động 30- 601/s/km2 Vùng núi cao phía Bắc đạt 40-60 1/s/km2 Trên các cao nguyên và dọc sông Đà, mođun đạt 30-40 1/s/km2 Phía Tây của vùng Thanh - Nghệ Tĩnh, mođun dòng chảy đạt 40 1/s/km2 Chế
độ dòng chảy của sông, suối Tây Bắc thay đổi từ vùng phía Bắc xuống phía nam và tây nam và dao động theo thời gian Do hệ thống sông trẻ, dòng chảy dọc, khi mưa lớn hay gây lù lụt Lớp phủ thực vật rừng bị suy thoái đến mức báo động làm cho cán cân nước thay đổi và những năm gần đây lũ quét xuất hiện và tần suất bắt đầu gia tăng
1.2.2.5 Thổ nhưỡng
Đất Tây Bắc có đặc điểm chung như các miền núi khác là sự phổ biến của các loại đất feralit đỏ vàng Đất này ở Tây Bắc có
Trang 22lấn lên cao hơn so với tiểu vùng Đông Bắc Ngoài các đặc điểm như đất chua, nghèo dinh dưỡng, bị rửa trôi mạnh thì đất của tiếu vùng Tây Bấc ẩm hơn và ít bị đá ong hoá hơn so với tiểu vùng Đông Bắc.
Do các yếu tố phát sinh như khí hậu, địa chất, địa hình và tác động của con người, sự phân hoá đất thay đổi phân hoá theo độ cao: feralit đỏ vàng, feralit vàng đỏ, đất miền núi cao Ngoài ra còn
có các loại đất phù sa, đất đầm lầy trong các thung lũng Đất Tây Bắc tập trung vào một số loại điển hình như sau:
- Đất feralit đỏ vàng: rất phổ biến trong miền, phân bố ở độ cao dưới 600-700m ở Thanh - Nghệ, dọc thung lũng sông Đ à Có thể nói đây là một nhóm các loại đất feralit đỏ vàng hình thành trên
đá bazan, đá vôi, đá hoa và đất feralit vàng đỏ hình thành trên các
đá magma a-xít như granit riôlit và các đá trầm tích biến chất khác như phiến sét, phiến silic Tuy cùng một quá trình hình thành đất là ferai it - tích tụ tương đối sắt, nhôm do rửa trôi mạnh các nguyên tố kiềm thổ, nhưng đất feralit hình thành trên đá vôi, đá bazan có tầng dày, hàm lượng dinh dưỡng khá hơn đất hình thành từ các đá magma a-xít
- Đất feralit màu vàng đỏ trên núi Phân bố từ độ cao 600- 700m đến độ cao 1.800m, tập trung chủ yếu ở Hoàng Liên Sơn, Su
Si Lung, dãy núi biên giới Việt - Lào và rải rác ờ miền Tây của Thanh - Nghệ Hình thành trong điều kiện càng lên cao càng lạnh Quá trình feralit yếu dần và tắt hẳn Sự.tích lũy Fe, AI có thay đổi
Do quá trình phân giải hữu cơ khoáng hoá giảm, hàm lượng mùn cao (5 - 8%) Đất thường có phản ứng chua, tầng dày trung bình,
ẩm, tầng đất mặt xốp
- Đất miền núi cao: Phân bố tò 1.800m trở lên, chủ yếu ở Hoàng Liên Sơn, Pu Si Lung và một số ngọn núi cao trên 1.800m khác
Trang 23Quá trình hình thành đất chủ yếu là sự tích lũy các chất hữu
cơ Càng lên cao, lớp thảm mục bán phân hủy càng dày, tầng mùn
thô cũng càng dày và ngược lại vỏ phong hoá tạo đất càng Máng và
coi như không đáng kể trong phẫu diện đất
Phẫu diện đất ờ độ cao 2.900m bao gồm tầng thảm mục 6cm,
tầng mùn thô 24cm, tầng mùn nhuyễn 28cm, dưới là tầng đá mẹ
Như vậy, từ tầng mùn chuyển tiếp thẳng sang tầng đá gốc Sự liên
kết giữa thế giới vô cơ và hữu cơ không mật thiết như các loại đất
feralit ở các tầng dưới chân núi
- Đất dốc tụ phân bố ở Điện Biên, Bình Lư, Quang Huy, Nghĩa Lộ, Than Uyên Thực chất là sản phẩm phù sa sông, suối và
vật liệu sườn đưa xuống Đất hơi chua, giàu dinh dưỡng, hiện tại là nơi trồng cây lương thực
Có thể thấy rằng, đất tiểu vùng Tây Bắc chủ yếu là đất phát triển trên các sườn núi đồi với độ dốc cao do địa hình chia cắt, bóc
mòn mạnh Độ ẩm Tây Bắc khá hơn Đông Bắc nên cần cải tạo lớp phủ thực vật để khép tán bảo vệ đất, chống xói mòn, giữ ẩm cho mùa khô Rừng tái sinh khoanh nuôi là các giải pháp hữu hiệu để khôi phục lóp phủ rừng
1.2.2.6 Thưc vât • •
Thực vật Tây Bắc phát sinh và phát triển thống nhất với đặc
điểm khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, tác động của con người trong khu vực và các yếu tố di cư
Thảm thực vật có phổ đai cao đầy đủ nhất ở Việt Nam từ đai
rừng nhiệt đới đến tận đai rừng ôn đới trên núi Thảm thực vật có diễn thế thứ sinh và thảm cây bụi, cỏ, cây trồng ngắn ngày Các đại điện như họ đậu, họ bồ hòn, họ tre, họ dừa rất phổ biến ở đai rừng nhiệt đới chân núi Có đại diện của phương Nam di cư lên như gụ, săng lẻ, kiền kiền mà không hề gặp ở tả ngạn sông Hồng Sự có mặt
Trang 24của săng lẻ là loài cây tiêu phong ưa sáng ở Nghệ An, Sơn La chỉ thị cho loài rụng lá mùa khô ở vùng có chế độ mùa khô kéo dài và sâu sắc Ngoài săng lẻ, rừng táu ở Tây Bắc là loại cây thường xanh
lá rộng Từ phía Nam sông Chu, các loài táu muối, táu mặt quỷ thuộc họ dâu đã mọc gần như thuần loại Càng xuống phía Nam, các địa diện của phương Nam càng nhiều Các loài chịu lạnh như lim, ngát, trầm vẫn chiếm tỷ lệ nhất định trong tổ thành loài Luồng
di cư Án Độ - Miến Điện cũng có các đại diện như chè xanh, lai, thung gạo Trên dải rừng ôn đới trên núi gặp các đại diện phương Bắc như vân sâm, thiết sâm, đồ quyên, trúc lùn
Một số kiểu thảm thực vật phổ biến gồm:
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới: Kiểu rừng vùng phổ biến ở các núi thấp, các thung, đất ẩm, độ cao không quá 700m Rừng thường có nhiều tầng (rừng Cúc Phương 5 tầng), thành phần loài phức tạp, phân bố ở Sơn La, Mường Tè, Mường Lay, Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ, Hòa Bình, Ninh Bình
- Rừng kín nửa rụng lá: Hình thành trong các vùng có chế độ mùa mưa, mùa khô rõ rệt Tầng trên rụng lá vào mùa khô Kiểu rừng này phân bố ở Sơn La, Lai Châu - nơi giáp biên giới Việt Lào, Quỳ Châu, Mường Xén
- Rừng kín hỗn giao lá kim, lá rộng á nhiệt đới: Phân bố thông
3 lá ở độ cao trên 700m Thành phần cây lá rộng thường là họ dẻ, lá kim là thông Kiểu rừng này gặp ở Sa Pa, Sơn La
- Rừng kiểu nửa rụng lá và rụng lá hơi ẩm đến hơi khô miền núi Kiểu rừng này gặp ở Son La Thành phần loài gồm các đại điện như săng lẻ, kền kền bị rụng lá vào mùa khô
- Từ 700-1.800m là đai rừng thông lả nhiệt đới trên núi với thành phần phổ biến là họ dẻ
Trang 25- Từ 1.800-2.OOOm là rừng hồn giao và gặp các đại diện của dổi, hồi.
- Từ 2.200m là đai rừng nhiệt đới núi cao, rừng thông 3 lá mây
mu gặp các loài thiết sâm, vân sâm, trúc liên, đồ quyên
Tây Bắc có nhiều khu rừng gỗ quý gồm các loại phổ biến như hồi ở Tuần Giáo, rừng Tô Hạp ở Điện Biên, Hoàng Liên Sơn
- Trảng cây bụi thứ sinh sau nương rẫy rất phổ biến dọc quốc
lộ 6 Thành phần gồm cây bụi và cỏ lào, cò tranh
1.2.2.7 Tài nguyên khoáng sản
Miền núi và trung du Bắc Bộ là nơi tồn tại nhiều đới cấu trúc sinh khoáng, được các chuyên gia trong nước và ngoài nước đánh giá là vùng giàu tài nguyên khoáng sản nhất Việt Nam Vị trí tiếp xúc giữa hai đới sinh khoáng - đới Tây Thái Binh Dương và đới ngoài Địa Trung Hải và 2 mảng kiến tạo - rìa địa máng và rìa tái sinh đại dương, đã khiến cho miền núi và trung du Bắc Bộ có đủ đại diện của nhiều loại khoáng sản, cho phép khai thác công nghiệp với quy mô vừa và nhỏ
So với tiểu vùng Đông Bắc, tiểu vùng Tây Bắc có mặt ít khoáng sản hơn Các khoáng sản chính có triển vọng ở đây có thể
kể đến là:
- Pyrit: Là một trong những khoáng sản đặc trưng của Tây Bắc
và tập trung với trữ lượng tương đối lớn, chủ yếu ở vùng Kim Bôi (Hòa Bình), Bó Xinh (Sơn La), gồm trên 300 triệu tấn quặng pyrit, trong đó có hàng chục triệu tấn quặng giàu, có thể khai thác sử dụng ngay không qua tuyển
- Đồng: Được phát hiện từ những năm 1970 ở Tây Bắc, đến nay vẫn được đánh giá là khu vực mỏ đồng lớn nhất nước ta với trữ lượng dự báo gần 1 triệu tấn đồng kim loại và nhiều loại khoáng
Trang 26sản đi kèm như vàng, bạc, nguyên tố phóng xạ, nguyên tố hiếm Ngoài ra, còn tìm kiếm, thăm dò được một số mỏ và khu vực có đồng và đồng - niken, bạch kim ở Son La.
- Đất hiếm có trừ lượng thuộc loại lớn nhất thế giới, tập trung ờ địa bàn Lai Châu; đã tìm kiếm, đánh giá các mỏ Nậm Xe, Đông Pao với trữ lượng tài nguyên trên 9 triệu tấn, có hàm lượng 8 - 30%
- Sắt: Các mỏ quặng phân bố dọc sông Hồng gồm Quý Xa, Lạng Mỵ, Hưng Khánh, Ba Hòn, Làng Lếch với tổng trữ lượng tài nguyên dự báo trên 200 triệu tấn Trong đỏ, riêng mỏ Quý Xa có trữ lượng trên 100 triệu tấn, hàm lượng sắt trong quặng thuộc loại cao: 43 - 45%
- Vàng: Ngoài những mỏ sa khoáng đã được đánh giá như Chợ Bến, Mai Sơn, Miếu Môn, còn tìm thấy những mỏ vàng gốc có giá trị ở Phù Yên (Sơn La) và Lương Sơn (Hòa Bình)
Trang 27C hư ơng 2
DÂN CƯ VÀ CỘNG ĐÒNG CÁC DÂN T ộ c
TRUNG DU MIÈN NÚI PHÍA BẮC
2.1 Đặc điểm dân cư và lao động
2.1.1 Dân số và mật độ phân bổ
Theo kết quả thống kê dân số 1/4/1999, Trung du và miền núi phía bắc có số dân 11.092,5 nghìn người, chiếm 14,76% dân số cả nước Năm 2007, dần số của khu vực tăng lên 12.194 nghìn người, chiếm 14,3% dân số cả nước Theo dự báo dân số đến năm 2024, TDMNPB sẽ đạt khoảng 15.400 nghìn người, tương ứng chiếm 14,5% dân số cả nước
Dân cư trong vùng phân bổ không đều, có sự chênh lệch đáng
kể giữa tiểu vùng Đông Bắc và Tây Bắc Năm 2007, mật độ trung bình toàn vùng là 120 người/km2, gần bằng nửa mật độ trung bình
cả nước (257 ngưởi/km2) Trong đó, Đông Bắc có mật độ dân số
149 người/km2, cao gấp hơn hai lần so với Tây Bắc (71 người/ km2) Dân số tập trung đông ở các tỉnh trung du Một số tinh có số dân trên 1 triệu người là: Bắc Giang (1,60), Phú Thọ (1,34), Thái Nguyên (1,13), Quảng Ninh (1,09), Sơn La (1,02) Hai tỉnh có số dân ít nhất vùng, đồng thời cũng thấp nhất trong cả nước là Bắc Kạn (208,9 nghìn người) và Lai Châu (335,5 nghìn người) Lai Châu ngoài dân số ít còn là tỉnh có mật độ dân số thấp nhất vùng, cũng như trong cả nước (37 người/km2) Các huyện, các xã vùng cao dải biên giới Việt - Trung và Việt - Lào có mật độ dân số rất thấp như : Mường Tè (7 người/km2), Mường Lay (13 người/km2), Sìn Hồ (25 người/km2) Tuy nhiên, tại những nơi có điều kiện sổng
Trang 28thuận lợi như đô thị, các đồng bằng thung lũng, các khu vực hạ du tiếp giáp với đồng bằng Bắc Bộ và ven biển thì mật độ dân số khá cao Ba tỉnh có mật độ dân số cao hơn mật độ chung của cả nước là Bắc Giang 425 người/km2, Phú Thọ 387 người/km2, Thái Nguyên
325 người/km2, chi tiết xem bảng 2.1
Bảng 2.1 Dân số và mật độ dân số các tình Trung du miền núi phía Bắc (2007)
Dân số trung bình (Nghìn ngưài)
Diện tích (km2)
Mật độ dân số (Ngườỉ/km2)
Trang 292.1.2 Gia tăng dân số
Cùng với xu hướng giảm chung của cả nước trong những năm gần đây, tỷ suất gia tăng tự nhiên dân số khu vực TDMNPB giảm tương đối nhanh Ở Đông Bắc, tỷ suất này giảm từ 2,6 % năm 1989 xuống 1,3% năm 1999 và xuống còn 1,3% năm 2005, tương đương với tỷ suất gia tăng tự nhiên dân số chung cả nước cùng thời điểm
So với Đông Bắc, tỷ suất gia tăng tự nhiên dân số Tây Bắc giảm nhưng tương đối chậm; giảm từ 2,6% năm 1989 xuống 2,2% năm
1999 và còn 1,6 % năm 2005 Chi tiết xem bảng 2.2
Bảng 2.2 Tỷ suất gia tăng tự nhiên dân số tiểu vùng Đông Bắc và Tây Bắc giai đoạn 1989 - 2005 (%)
Trang 30mức tử của vùng giảm gần tương đương với các vùng khác (8 %0 năm 1989 và 6,4 %0 năm 2005), nên dẫn tới tỷ suất gia tăng tự nhiên vẫn còn cao Điều này một mặt nói lên rằng, chính sách dân
số trong vùng chưa thực hiện một cách hiệu quả nên tỷ lệ sinh đẻ còn cao, nhưng mặt khác nó cũng chứng tỏ phần nào đời sống kirah
tế cũng như các điều kiện khác như y tế, giáo dục của người dãn
đã được cải thiện đáng kể nên dẫn tới tỷ lệ tử thấp
* về tuổi thọ trung bình (Eo): thống kê trong Bảng 2.3 cho thấy tuổi thọ trung bình của khu vực TDMNPB có sự tụt hậu đárag
kể so với cả nước và với các vùng khác
Bàng 2.3 Mức sinh, mức chết và tuổi thọ theo vùng ở Việt Nam
ĐB sông Cửu Long 35,5 7,0 66,4 18,9 5,0 68,9 17,1 5,1 73,,0
Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Giáo trình GDDS - SKSiS.
Nguyễn Minh Tuệ HN.20Ũ9 Chủ thích:
- CBR : Tỷ suất sinh thô (%o)
- CDR : Tỷ suất chết thô (%o)
- Eo: Tuổi thọ trung bình (năm)
Trang 31Trong khi tuổi thọ trung bình của người dân cả nước tăng nhanh chóng từ 65,3 năm (năm 1989) lên 73,7 năm (2005), tức là tăng 8,4 năm trong 16 năm thì cũng trong thời gian đó, cả hai vùng Đông Bắc và Tây Bắc con số này chi là 3,6 năm, chưa bằng một nửa so với mức tăng chung của cả nước.
Năm 2005, Tây Bắc là vùng có tỷ lệ chết trẻ em (IMR) gấp 1,9 lần trung bình cả nước (34%0 so với 18%o), cao gấp 2,8 lần vùng Đồng bằng sông Hồng, gấp hơn 3 lần vùng Đông Nam Bộ
2.1.3 Cơ cấu dân số thành thị và nông thôn
Đại bộ phận dân cư khu vực TDMNPB sống ở nông thôn; tỷ
lệ người dân sống ở thành thị rất thấp, chỉ chiếm trong khoảng 15 -
18 % tổng số dân, thấp hơn khá nhiều so với mức trung bình cả nước: 27,47% (2007) So với Tây Bắc, Đông bắc có tỷ lệ đô thị hoá cao hơn Trong những năm gần đây, tỷ lệ dâa cư thành thị của cả khu vực có nhích lên cùng với quá trình phát triển công nghiệp và dịch vụ Xem Bảng 2.4
Bảng 2.4 Tỷ lệ dân số thành thị và nông thôn
Trung du miền núi phía Bắc
Đơn vị: %
Thành thị
Nông thôn
Thành thị
Nông thôn
Thành thị
Nông thôn
Thành thị
Nông thôn
Cả nước 20,75 79,25 24,18 75,82 26,88 73,12 27,47 72,53 Vùng
TDMNPB 15,3 84,7 16,9 83,1 18,1 81,9 18,0 82,0 Đông
Băc 15,9 84,1 18,0 82 19,3 80,7 19,1 80,9 Tây Bắc 12,9 87,1 12,6 87,4 13,9 86,1 14,0 86,0
Nguồn: Niên giám thống kê 2008
Trang 32Tính đến 31/12/2002 toàn khu vực có 6 thành phố trực thuộc tỉnh, đó là các thành phố Lạng Sơn, Yên bái, Thái Nguyên, Việt Trì (Phú Thọ), Hạ Long (Quảng Ninh), Điện Biên (tỉnh Điện Biên); 16 thị xã, 139 thị trấn Những năm gần đây, phần lớn thành phổ, thị xã, thị trấn được quy hoạch mới theo các tiêu chí: xanh, sạch, đẹp Thành phố Thái nguyên là trung tâm công nghiệp gang thép, cơ khí; Thành phố Việt Trì là trung tâm công nghiệp hoá chất, dệt; Thành phố Hạ long là trung tâm công nghiệp than, du lịch, dịch vụ Trong xu thế kinh tế mở cửa, các đô thị cửa khẩu như thành phố Lạng Sơn, thị xã Móng Cái, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Sơn La, Điện Biên, cũng như các thị trấn, huyện lỵ, biên giới được quy hoạch khang trang, dân cư đông đúc, hoạt động kinh tê nhộn nhịp.
Dân cư và quần cư đô thị tập trung chủ yếu theo các trục đường giao thông chính trong vùng như: Dọc theo quốc lộ 1 chạy qua Bắc Giang rồi tới Lạng Sơn; Quốc lộ 2 từ Hà Nội qua Việt Trì, Phú Thọ, Tuyên Quang và tới cửa khẩu Thanh Thuỷ của Hà Giang; Tuyến quốc lộ 3 từ Hà Nội đi qua Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, rồi tới Thuỷ Khẩu (Tà Lùng); Tuyến quốc lộ 18 từ Bắc Ninh
đi qua Ưông Bí, Hạ Long rồi tới Móng Cái; Quốc lộ số 4B từ Mũi Chùa của Quảng Ninh, qua Lạng Son rồi nối với quốc lộ 4A tới Cao Bằng; Quốc lộ 6 từ Hà Nội qua Hoà Bình, Sơn La rồi tới Lai Châu Quốc lộ 70 từ Đầu Lô (Phủ Thọ) quà thị trấn Yên Bình (Yên Bái) rồi tới Bản Phiệt của Lào Cai Tại các địa bàn thấp tiếp giáp với vùng đồng bằng sông Hồng và ven biển, mật độ đô thị hoá cũng cao hơn các dẻo đai cao Trong vùng có tỉnh Quảng Ninh, tỷ lệ dân thành thị cao nhất vùng, thậm trí cao hơn nhiều so với mức trung bình của cả nước, chiếm 41,0% (năm 2007) Nhưng có những tỉnh
có tỷ lệ dân thành thị rất thấp như Bắc Giang, Hà Giang, tỷ lệ dân thành thị dưới 10% (tương ứng với 2 tinh là 9,2% , 9,1%)
Trang 332.1.4 Chất lượng dân cư
TDMNPB có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước, chiếm 30,87%, tương ứng với 722 nghìn hộ dân số hộ nghèo chủ yếu tập trung ở các huyện, xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc ít người Thu nhập bình quân đầu người một tháng trong giai đoạn 1999-2006 của cả hai tiểu vùng Đông Bắc và Tây Bẳc có tăng, nhưng rất chậm so với cả nước cũng như so với các vùng khác Giữa Tây Bắc và Đông Bấc có sự phân hoá khá rõ nét (Hình 2.1)
Hình 2.1 Thu nhập binh quân đầu người giai đoạn 1999 - 2006
D ông Tfty Bác Bác Duyên hải "niy D ông Đổng Bắc Trung Bộ ' Nam N guyên Nam Bộ bầng
Trung bộ Kông Cửu
Long
Tây Bắc là tiểu vùng có thu nhập bình quân theo đầu người thấp nhất cả nước, mặc dù trong những năm gần đây tình hình đang dần được cải thiện; từ mức thu nhập chỉ bằng 54,7% mức chung cả nước năm 2001 đã nâng lên 58,6% năm 2007 Tỷ lệ đói nghèo giảm đáng kể từ 44% năm 2005, xuống còn 37,5% năm 2007 Hiện nay,
so với các vùng khác trong cả nước, Tây Bắc vẫn là vùng nghèo nhất Trong đó, Lai Châu có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất, chiếm 55,3%
Trang 34tổng số hộ trong tỉnh Các tỉnh khác có tỷ lệ này còn tương đối cao như: Điện Biên - 40,8%, Sơn La - 37,1%, Hoà Bình - 30,9% (so vói 14,1% của cả nước, 10,1% vùng đồng bằng sông Hồng) Theo thống kê năm 2008, Tây Bắc vẫn còn 61 huyện trong vùng có tỷ lệ nghèo chiếm trên 50% tổng số hộ.
Tỷ lệ đói nghèo ở Đông Bắc giảm một cách nhanh chóng nhờ làm tốt công tác tuyên truyền xoá đói giảm nghèo, các chính sách đầu tư hỗ trợ bà con nông dân Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 86,1% năm
1993 xuống 62% năm 1998, xuống 38,4% năm 2002, 32,6% năm
2005 và xuống còn 21,4% năm 2007 Tuy nhiên, Đông Bắc vẫn nằm trong nhóm 4 vùng (Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Bắc) có tỷ lệ hộ đói nghèo cao hơn 20% và người dân có mức chi tiêu cho cuộc sống thấp nhất, chất lượng xoá đói giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ tái nghèo còn cao, đời sống đồng bào ờ các vùng sâu, vùng xa vẫn còn gặp nhiều khó khăn Cùng với sự tăng trưởng kinh tế trong cơ chế thị trường, quá trình phần lớp, phân tầng xã hội cũng hình thành và gia tăng nhanh chóng Theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê, sự chênh lệch giữa nhóm thu nhập cao nhất và nhóm có thu nhập thấp nhất trong những năm 1992-1993 là 4,3 lần, tăng lên 6,98 lần giai đoạn 1997-1998, rồi tăng lên 8,14 lần vào những năm 2001-2002 và hiện nay mức chênh lệch này vẫn trên 7 lần Tốc độ giảm nghèo phần lớn ở các
hộ đồng bào dân tộc ít người, sống trong các địa phương có điều kiện địa lý khó khăn rất chậm chạp
Trình độ dân trí khu vực TDMNPB nhìn chung thấp, tình trạng mù chữ ở người lớn tương đối cao, phong tục tập quán lạc hậu còn khá phổ biến Theo số liệu điều tra biến động dân số ngày 1/4/2004, tỷ lệ người lớn biết chữ ở vùng Đông Bắc đạt 89,3% so với 91,1% của cả nước, trong đó tỷ lệ biết chữ ở nữ giới chiếm 85%
so với 88,2% cả nước Vùng Tây Bắc có tỷ lệ người lớn biết chữ đạt 73,3%, thấp nhất cả nước, trong đó tỷ lệ này của nữ giới chỉ đạt
Trang 3563.4% Như vậy, TDMNPB không những tụt hậu chung về học vấn
to với cà nước mà còn có khoảng cách chcnh lệch về giới Tình
trạng phụ nữ không biết chừ có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình biến động dân số như: hạ thấp tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh; nâng cao chất lượng nuôi dạy con cái; tăng vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình và xã hội
Xét theo các dân tộc, nhóm các dân tộc Kinh, Tày, Thái, Mường có tỷ lệ người biết chừ tương đối cao so với các dân tộc khác Ở các địa bàn thấp thấp như đồng bằng và thung lũng trước núi
- nơi cư trú chủ yếu của người Mường, Tày, Nùng, Thái, Hoa, tỷ lệ thất học của trẻ em từ 5 tuổi trở lên chiếm từ 8-16%; nhưng ở các vùng cao, vùng sâu, vùng xa gần biên giới - nơi dân cư thưa thớt, đi lại khó khăn, đời sống còn nhiều thiếu thốn, con số này chiếm rất cao, cụ thể như với đồng bào Mông là 70%, Mảng: 71,6%, La Hủ: 90%, xem bảng 2.5
Bảng 2.5 Một số chì tiêu phát triển con người
ở Trung du miền núi phía Bắc
Tỷ lệ đi học các cấp học (%)
Tuổi thọ trung bình (năm)
Tỷ lệ người lớn biết chữ (%)
GDP trên đẩu
ng ư ờ i (VNĐ)
GDP trên đầu ngư ời (PPP)
Chỉ số tuổi thọ trung bình
Chỉ sô giáo dục
Chỉ số GDP
HDI 1999
HDI 2004
Trang 36Tỷ lệ đi học các cấp học (%)
Tuổi thọ trung bình (năm)
Tỷ lệ người lớn biết chữ (%)
GDP trên đầu người (VNĐ)
GDP trên đầu người (PPP)
Chỉ số tuổi thọ trung bình
Chỉ sổ giáo dục
Chỉ số GDP
HDI 1999
HDi 2004
Điện Biên 61,9 66,6 55,5 3885 1199 0,69 0,58 0,41 0,510 0,561 Lai Châu 60,5 64,9 55,5 2656 820 0,66 0,57 0,35 0,486 0.529
Nguồn: Bảo cảo phát triển con người năm 2004
và Hòa Bình là hai tình có nguồn lao động đông nhất trong vùng
Tuy nhiên, trình độ chuyên môn của nguồn lao động khu vực TDMNPB còn thấp, phần lớn lao động làm trong ngành nông
Trang 37nghiệp, chiếm 75% tổng số lao động, chi có 25% lao động tham gia trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ cao, chiếm tới 35% tổng số lao động; trong đó Tâv Bắc
là 49%, Đông Bắc là 25%, xem bảng 2.6
Bảng 2.6 Trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật
của lực lượng lao động Trung du miền núi phía Bắc năm 2003
Tỷ lệ chưa biết chữ trong độ tuổi lao động (%)
Tỷ lệ lao động
có trình độ sơ cấp trờ lên (%)
Tỷ lệ lao động
có trinh độ công nhân kỹ
Trang 38Bảng 2.6 cho thấy, tỷ lệ chưa biết chữ trong độ tuổi lao động của Đông Bắc vẫn còn 7,43%, trong đó một số tỉnh có tỷ lệ này chiếm rất cao như Cao Bằng (20,45%), Hà Giang (19,47%); tức là trung bình cứ 5 người trong độ tuổi lao động thì có 1 người không biết chừ Nhờ làm tốt công tác xoá đói giảm nghèo và công tác giáo dục, các tỉnh Quảng Ninh, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Giang và Lạng Sơn có tỷ lệ chưa biết chữ trong độ tuổi lao động hạ xuống rất thấp, dưới 4% Tỷ lệ lao động có trình độ sơ cấp trở lên trong toàn vùng đạt 16,22%; lao động được đào tạo trình độ công nhân kỹ thuật đạt 12,2% Con số này có sự khác nhau giữa các tỉnh, nhưng nhìn chung cho thấy trình độ học vấn và kỹ thuật của người lao động còn rất thấp Đây sẽ là một thách thức lớn đối với vùng trên con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá và hội nhập với khu vực
và quốc tế
So với vùng Đông Bắc, các con số của bảng 2.6 cho thấy các vấn đề trên của người lao động vùng Tây Bắc càng nghiêm trọng hơn Tý lệ lao động không biết chữ còn rất cao, chiếm 18,09%, trong khi đó tỷ lệ lao động được đào tạo hoặc có trình độ từ sơ cấp trở lên rất thấp Neu không có những giải pháp đột phá đầu tư cho con người và cho người lao động thì khó có thể nâng cao năng suấ.t lao động, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc trong khu vực
2.2 Cộng đồng các dân tộc Trung du miền núi phía Bắc
2.2.1 Tổng quan về dân tộc và phân loại dân tộc ở Việt Nam
2.2.1.1 Khái niệm dân tộc
Dân tộc có thể được hiểu theo hai nghĩa:
+ Theo nghĩa hẹp thông thường, "dân tộc" dùng để chỉ mộ)t cộng đồng tộc người Theo nghĩa này, thuật ngữ "dân tộc" có nguồm gốc từ tiếng Hy Lạp cổ "Ethnic"- tộc người - đó là hình thái đặic
Trang 39biệt của những cộng đồng người được hình thành trong quá trình phát triển tự nhiên - lịch sử.
Mồi dân tộc có tính bền vững nội tại, được thống nhất bởi một số yếu tổ đặc trưng như địa vực cư trú, ngôn ngữ (tiếng nói), đặc điểm văn hoá, đời sống kinh tế, ý thức dân tộc và nhờ đó người
ta có thể phân biệt được dân tộc này với dân tộc khác, ví dụ như: dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Thái Ở nước ta, cụm từ "dân tộc" còn được thay thế bằng từ "người", ví dụ: dân tộc Kinh còn được gọi là người Kinh, dân tộc Thái còn được gọi là người Thái
+ Theo nghĩa rộng, dân tộc được hiểu là một cộng đồng chính trị - quốc gia (Nation) - cộng đồng người sinh sống trong một quốc gia, một nước như dân tộc Việt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc Dân tộc theo nghĩa này được hiểu trong một quốc gia bao gồm nhiều dân tộc theo nghĩa hẹp (tộc người), ở phương Tây, sự ra đời dân tộc - quốc gia gắn với sự xuất hiện và phát triển của CNTB cùng với sự hình thành thị trường dân tộc thống nhất Nhưng ở châu Á, theo các nhà nghiên cứu, dân tộc - quốc gia được hình thành sớm hon, ví dụ như dân tộc Trung Quốc được coi là đã hình thành từ hơn 200 năm trước Công nguyên (khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất các nước và lên ngôi Hoàng Đe)
Một dân tộc được gọi là "thiểu số" hay "đa số" căn cứ vào số lượng người, chứ không căn cứ vào trình độ phát triển
2.2.1.2 Nguyên tắc phân loại dân tộc
Các nhà nghiên cứu đều nhất trí các cộng đồng tộc người khác nhau không chỉ bởi một dấu hiệu đặc trưng nào đó, mà bởi tổng thể một số dấu hiệu đặc trưng Khi xác định các cộng đồng người cần dựa trên một tổ hợp nguyên tắc sau:
a) Cùng chung lãnh thổ
Lãnh thổ được coi như một điều kiện vật chất cơ bản để hình thành các cộng đồng tộc người Cùng cư trú trên một lãnh thổ nhất
Trang 40định là một điều kiện quan trọng để con người tiếp xúc, giao dịch với nhau Những người cùng một xuất xứ thường cư trú gần nhau, trên một địa vực nhất định Những nhóm người không cùng một ngôn ngữ, không cùng một xuất xứ, nhưng nếu sống gần nhau trong một thời kỳ lịch sử lâu dài, họ có thể tạo thành một dân tộc thống nhất Tuy nhiên, trong thực tế do ảnh hưởng của các cuộc di cư, một dân tộc vẫn có thể sống phân tán ở nhiều nước, trên nhiều vùng lãnh thổ khác nhau, thậm chí rất xa nhau, ví dụ như người Digan hoặc dân tộc Do Thái là những trường hợp tiêu biểu.
b) Cùng chung một ngôn ngữ (mỗi dân tộc sử dụng một tiếng nói riêng)
Có thể nói cộng đồng ít bị phân hoá rõ nét hơn cả là cộng đồng về ngôn ngữ Ngôn ngữ không những là phương tiện giao tiếp, mà còn là phương tiện để phát triển đời sống văn hoá, tinh thần của con ngưòi Tiếng mẹ đẻ được tiếp nhận từ thời thơ ấu giúp con người thực sự cảm nhận hết những sắc thái tinh tuý nhất của đời sống tình cảm, văn hoá và tinh thần của người cùng trong một cộng đồng Nhiều tác giả cho rằng ngôn ngữ (tiếng mẹ đẻ) là đặc trưng quan trọng nhất để xác định dân tộc
Tuy vậy, ngôn ngữ cũng không thể là tiêu chí duy nhất Vì trên thực tế có rất nhiều dân tộc khác nhau nhưng lại sử dụng chung một ngôn ngữ như ở nhiều nước ở châu Phi hoặc Mỹ Latinh
c) Đặc điểm văn hoá
Văn hoá là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và được tích luỹ qua nhiều thế hệ trong mối tương tác giữa con người - tự nhiên - xã hội Mồi dân tộc tồn tại và phát triển
trong những hoàn cảnh tự nhiên và xã hội khác nhau, vì vậy sẽ có
những bản sắc văn hoá dân tộc khác nhau Hai dân tộc có thể cùng
sử dụng một ngôn ngữ, nhưng không thể cùng một bản sắc văn hoá
Vì thế văn hoá là một tiêu chí quan trọng để phân biệt dân tộc