Có thể khái quát bốn quan niệm chủ yếu: Trong lời mở đầu giải thích cho các chuẩn mực kiểm toán của Vương quốcAnh có đưa ra định nghĩa: “Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ
Trang 1NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIAI ĐOẠN KẾT THÚC
KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH
1 Khái niệm về kiểm toán tài chính
Kiểm toán có gốc từ Latin là “Audit” Nguyên bản “Auditing” gắn liền vớinền văn minh Ai Cập và La Mã cổ đại Từ “Auditing” có nguồn gốc từ động từLatin “Audive” nghĩa là “nghe” Hình ảnh của kiểm toán cổ điển là việc kiểmtra về tài sản, phần lớn được thực hiện bằng cách người ghi chép đọc to lên chomột bên độc lập “nghe” rồi chấp nhận
Ngày nay, thuật ngữ “kiểm toán”không còn mang nghĩa nguyên thuỷ của
nó nữa mà chỉ còn mang tính chất lịch sử Ý nghiã này thực sự mới có từ thế kỷ
XX, nhất là từ sau cuộc khủng hoảng năm 1929 cùng với sự sụp đổ của hàngloạt các công ty, tập đoàn tài chính lớn thì kiểm toán được mang ý nghĩa đầy
đủ, cụ thể là ở Bắc Mỹ những năm 1930, ở Tây Âu từ những năm 1960 Domỗi quốc gia, khu vực có hoàn cảnh kinh tế, xã hội khác nhau nên thời gian bắtđầu phát sinh hoạt động kiểm toán cũng khác nhau và đồng thời, cách hiểu và
sử dụng khái niệm “kiểm toán” cũng không giống nhau
Thuật ngữ “kiểm toán” thực sự mới xuất hiện và được sử dụng ở nước ta
từ tháng 5/1991 nhưng chưa thống nhất trong cách hiểu và sử dụng khái niệm
Có thể khái quát bốn quan niệm chủ yếu:
Trong lời mở đầu giải thích cho các chuẩn mực kiểm toán của Vương quốcAnh có đưa ra định nghĩa:
“Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan”.
Theo quan điểm của các chuyên gia kiểm toán Hoa Kỳ:
“Kiểm toán là một quá trình mà theo đó, một người độc lập, có nghiệp vụ tập hợp và đánh giá rõ ràng về các thông tin có thể lượng hoá có liên quan đến một thực thể kinh tế cụ thể nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa các thông tin có thể lượng hoá với các tiêu chuẩn đã được thiết lập”.
Đối với các quan niệm chính thống trong giáo dục và đào tạo kiểm toán ởCộng hoà Pháp thì:
“Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của một
tổ chức, do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là kiểm toán viên tiến hành,
để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng đắn tình hình thực tế, không che giấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định”.
Trang 2Và theo định nghĩa của Liên đoàn Kế toán quốc tế (InternationalFederation of Accountants - IFAC):
“Kiểm toán là việc các kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về Báo cáo tài chính”
Các định nghĩa trên đã nêu khá đầy đủ các đặc trưng cơ bản của kiểm toán
do các kiểm toán viên độc lập (hoặc được bổ nhiệm) tiến hành trên cơ sở cácchuẩn mực chung song do tính phổ biến của kiểm toán Báo cáo tài chính và dochủ thể của kiểm toán Báo cáo tài chính thường là kiểm toán viên độc lập nên
đã có sự đồng nhất giữa khái niệm “kiểm toán” với khái niệm “kiểm toán báocáo tầi chính” Từ nội dung của các quan niệm trên có thể đưa ra khái niệmchính thức của kiểm toán Báo cáo tài chính như sau:
Kiểm toán tài chính là việc kiểm toán để kiểm tra và xác nhận tính trung thực, hợp lý của Báo cáo tài chính cũng như việc các Báo cáo tài chính được lập có phù hợp với các nguyên tắc, các chuẩn mực kế toán được chấp nhận rộng rãi hay không?
2 Đặc trưng của kiểm toán tài chính:
Kiểm toán tài chính là một hoạt động đặc trưng và nằm trong hệ thốngkiểm toán nói chung Cũng như mọi loại hình kiểm toán khác, kiểm toán tàichính thực hiện chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến, có đối tượng là hoạt độngcần được kiểm toán và cũng sử dụng các phương pháp kiểm toán chứng từ(kiểm toán cân đối, đối chiều trực tiếp, đối chiếu logic) và kiểm toán ngoàichứng từ (kiểm kê, thực nghiệm, điều tra) Từ đó, công tác kiểm toán tài chínhcũng phải được tổ chức khoa học theo trình tự xác định và được thực hiện bởiđội ngũ những nhà chuyên môn am hiểu và vận dụng có kinh nghiệm cácphương pháp kiểm toán vào từng đối tượng cụ thể trên cơ sở pháp lý xác định.Tuy nhiên, kiểm toán tài chính là hoạt động đặc trưng nhất của kiểm toán bởi
nó chứa đựng đầy đủ sắc thái kiểm toán ngay từ khi ra đời cũng như trong quátrình phát triển Đặc trưng cơ bản của kiểm toán tài chính thể hiện ngay trongcái chung về chức năng, đối tượng, phương pháp đến trình tự kiểm toán
Về chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến, kiểm toán tài chính hướng tới
công khai tài chính giữa các bên có lợi ích khác nhau và từ đó thu thập bằngchứng đầy đủ và tin cậy
Về đối tượng kiểm toán, kiểm toán tài chính có đối tượng trực tiếp và
thường xuyên là các Bảng khai tài chính có chứa đựng nhiều mối quan hệ kinh
tế, pháp lý cực kỳ phức tạp, phản ánh bằng những thông tin tổng hợp Tất nhiêncác thông tin tài chính này có liên quan trực tiếp đến các nghiệp vụ, đến tìnhhình thực hiện hệ thống pháp lý có liên quan, nhưng bản thân các nghiệp vụcũng như quá trình thực hiện các văn bản pháp lý không phải là đối tượng trựctiếp của kiểm toán tài chính cho nên việc xem xét chúng chỉ thực hiện các góc
Trang 3độ có liên quan đến các thông tin trên Bảng khai tài chính và được chọn lọc quađiều tra đối chiếu phân tích thực tế tại khách thể kiểm toán
Về phương pháp kiểm toán, do đặc điểm của đối tượng và quan hệ chủ thể
- khách thể kiểm toán nên trong kiểm toán tài chính, cách thức kết hợp cácphương pháp cơ bản cũng có những đặc trưng riêng Ở đây các phương phápkiểm toán cơ bản được triển khai theo hướng kết hợp lại hoặc chi tiết hơn tuỳtình huống cụ thể trong suốt quá trình kiểm toán Chẳng hạn, theo hướng chitiết phương pháp điều tra (cơ bản) có thể thực hiện thông qua quan sát, trao đổi,phỏng vấn hoặc gửi thư xác nhận Ngược lại, theo hướng tổng hợp cácphương pháp đối chiếu logic, đối chiếu trực tiếp, cân đối có thể thực hiện thôngqua các thủ tục phân tích trong lập kế hoạch và trong thẩm tra trước khi lập báocáo kiểm toán
Về quan hệ chủ thể với khách thể, kiểm toán tài chính thường được thực
hiện bởi kiểm toán độc lập hoặc kiểm toán nhà nước và trong trường hợp đặcbiệt có thể là kiểm toán nội bộ của các doanh nghiệp có qui mô lớn với các đơn
vị cơ sở Trong mọi trường hợp quan hệ của chủ thể với khách thể đều mangđặc tính của quan hệ ngoại kiểm với nội kiểm, do đó, việc xem xét và đánh giá
hệ thống kiểm soát nội bộ luôn là một trong những khâu cơ bản của quá trìnhkiểm toán
Về trình tự kiểm toán, do Bảng khai tài chính mang tính tổng hợp, tính
công khai, tính thời điểm và do quan hệ nội kiểm - ngoại kiểm, nên trình tự cụthể trong kiểm toán tài chính ngược với trình tự kế toán, gắn với kiểm soát nội
bộ, kết hợp tổng quát với chi tiết hoá các phương pháp kiểm toán
3.Trình tự chung của một cuộc kiểm toán tài chính:
Kiểm toán tài chính cũng như các loại hình kiểm toán khác đều có chứcnăng xác minh và bày tỏ ý kiến Tuy nhiên, xét về việc thực hiện chức năngnày, khác với kiểm toán nghiệp vụ, kiểm toán tài chính hướng tới xác minh vàbày tỏ ý kiến về các bảng tổng hợp và công khai tài chính trong khi kiểm toánnghiệp vụ hướng vào việc phục vụ quản lý Do đó thu thập bằng chứng kiểmtoán là mục đích trực tiếp của kiểm toán tài chính Để đảm bảo tính hiệu quả,tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểm toán cũng như để thu thập bằngchứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm căn cứ cho kết luận của kiểm toánviên về tính trung thực và hợp lý của số liệu trên báo cáo tài chính, cuộc kiểmtoán thường tiến hành theo quy trình gồm 3 giai đoạn như sau: Lập kế hoạch vàthiết kế phương pháp kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểm toán, kết thúc kiểmtoán (xem sơ đồ 1)
Giai đoạn I: Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán
Từ thư mời hoặc lệnh kiểm toán, kiểm toán viên đánh giá liệu có chấpnhận kiểm toán hay không? Sau khi đã xác định được khách hàng, công tykiểm toán sẽ tiến hành các công việc cần thiết để chuẩn bị cho lập kế hoạch
Trang 4kiểm toán bao gồm: đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán, nhận diện các lí
do kiểm toán, lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán và kí hợp đồng kiểm toán.Tiếp đó, kiểm toán viên phải thu thập các thông tin cơ sở qua việc tìm hiểu vềngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng, về hệ thống kế toán, hệthống kiểm soát nội bộ và các bên liên quan để đánh giá rủi ro và lên kế hoạchkiểm toán Từ đó, đánh giá khả năng tồn tại những sai sót trọng yếu, đưa rađánh giá ban đầu về mức trọng yếu, thực hiện các thủ tục phân tích để xác địnhthời gian cần thiết thực hiện kiểm toán và việc mở rộng các thủ tục kiểm toánkhác, đó chính là cơ sở cho kiểm toán viên xây dựng kế hoạch kiểm toán tổngquát
Trong bước tiếp theo của giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, dựa vào cácyếu tố xác định trong kế hoạch kiểm toán tổng quát, kiểm toán viên sẽ thiết kếcác thủ tục kiểm toán chi tiết và soạn thảo chương trình kiểm toán
Giai đoạn II: Thực hiện kế hoạch kiểm toán
Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình sử dụng các phương pháp kỹthuật kiểm toán thích ứng với đối tượng kiểm toán cụ thể để thu thập bằngchứng kiểm toán Đó là quá trình triển khai một cách chủ động và tích cực các
kế hoạch, chương trình kiểm toán nhằm đưa ra những ý kiến xác thực về mức
độ trung thực và hợp lí của Báo cáo tài chính trên cơ sở những bằng chứngkiểm toán đầy đủ và tin cậy bằng cách sử dụng các trắc nghiệm vào việc xácminh các thông tin hình thành và phản ánh trên Bảng khai tài chính Các trắcnghiệm kiểm toán sẽ sử dụng cụ thể và trình tự kết hợp giữa các trắc nghiệmtrước hết tuỳ thuộc vào kết quả đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, cụ thể:Nếu kiểm toán viên khẳng định không dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ,các trắc nghiệm độ vững chãi sẽ được sử dụng với số lượng lớn Trường hợpngược lại có thể sử dụng kết hợp trắc nghiệm đạt yêu cầu và trắc nghiệm độvững chãi trên một số ít các nghiệp vụ với trọng số của mỗi loại tuỳ thuộc vàomức độ tin cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ được nói đến sau đây
Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ được đánh giá có độ tin cậy cao thì kiểmtoán viên chủ yếu sử dụng trắc nghiệm đạt yêu cầu để thu thập và tích luỹ bằngchứng kiểm toán kết hợp với một số ít trắc nghiệm độ vững chãi và ngược lại.Quy mô cụ thể của các trắc nghiệm cũng như trình tự và cách thức kết hợpgiữa chúng phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm và khả năng phán đoán củakiểm toán viên với mục đích có được bằng chứng đầy đủ và tin cậy với chi phíkiểm toán thấp nhất
Giai đoạn III: Kết thúc cuộc kiểm toán
Trong giai đoạn này, kiểm toán viên phải xem xét kết quả các trắc nghiệmtrong quan hệ hợp lí chung và kiểm nghiệm trong quan hệ với giả thuyết vềtính liên tục hoạt động của doanh nghiệp, các khoản nợ ngoài ý muốn và những
Trang 5sự kiện phát sinh sau ngày lập Bảng khai tài chính Chỉ trên cơ sở đó mới đưa
ra được kết luận cuối cùng và lập báo cáo kiểm toán
Sau khi kiểm toán viên đã hoàn thành tất cả các công việc, các thể thứctrong giai đoạn thực hiện kiểm toán thì cần tổng hợp các thông tin đã thu được
để đi đến một kết luận chung về sự trình bày các Báo cáo tài chính có trungthực hay không và công bố báo cáo kiểm toán Trong giai đoạn này gồm nămcông việc chính sau:
Một là, xem xét tính hoạt động liên tục của doanh nghiệp.
Hai là, thẩm tra các khoản nợ ngoài dự kiến
Ba là, xem xét lại các sự kiện tiếp sau Có những sự kiện xảy ra sau ngày
lập bảng cân đối tài sản nhưng trước khi công bố các Báo cáo tài chính và báocáo của kiểm toán viên sẽ có ảnh hưởng đến thông tin được trình bày trên cácBáo cáo tài chính Kiểm toán viên cần thẩm tra lại các sự kiện này để xem xétmức độ ảnh hưởng của chúng và đưa ra kết luận đúng đắn nhất
Bốn là, đánh giá các kết quả kiểm toán Trong giai đoạn kết thúc kiểm
toán, kiểm toán viên phải đánh giá các kết quả của cuộc kiểm toán và quyếtđịnh xem bằng chứng đã thu thập đủ chưa, các tư liệu được xem xét lại bởinhững người nhiều kinh nghiệm hơn người thực hiện ban đầu để phát hiệnnhững sai sót và đánh giá những lời bình và kết luận của người kia Quá trìnhxem xét lại đúng đắn các tư liệu là một cách chủ yếu để đảm bảo việc thực hiện
có chất lượng và sự phán xét độc lập của toàn bộ tổ kiểm toán
Năm là, lập công bố báo cáo kiểm toán Bước cuối cùng trong giai đoạn
này là công bố báo cáo kiểm toán thích hợp, căn cứ vào bằng chứng thu thậpđược và các phát hiện trong quá trình kiểm toán
Như vậy, quy trình tiến hành một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính là mộtliên hệ chặt chẽ, khoa học các bước công việc tuần tự, cụ thể Trong đó, giaiđoạn kết thúc kiểm toán là giai đoạn cuối cùng mà các kiểm toán viên cần thựchiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm giải trình về kết quả hoạt động của đoànkiểm toán, phân tích đánh giá các sự kiện theo giác độ kiểm toán viên trên cơ
sở các chuẩn mực kiểm toán qui định, rút ra kết luận từ những phân tích đánhgiá đó và đưa ra đề nghị đối với các đơn vị khách hàng nhằm phát huy ưu điểm,đồng thời khắc phục những khiếm khuyết được phát hiện qua kiểm toán
Giai đoạn lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch hay kết thúc kiểm toán đềuđóng vai trò quan trọng nhất định và không thể thiếu trong mỗi cuộc kiểm toánBáo cáo tài chính, vì vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu chúng là hết sức cần thiết.Tuy nhiên, do giới hạn của đề tài, trong các mục tiếp theo của chương này tácgiả không đi sâu vào hai giai đoạn đầu mà chỉ tập trung trình bày chi tiết cơ sở
lí luận chung của giai đoạn cuối - giai đoạn kết thúc kiểm toán
II NỘI DUNG CÁC CÔNG VIỆC HOÀN TẤT CUỘC KIỂM TOÁN:
Trang 6Sau khi hoàn thành tất cả các thủ tục kiểm toán cần thiết đối với các khoảnmục trên Báo cáo tài chính hoặc thực hiện kiểm toán theo các chu trình, kiểmtoán viên rút ra kết luận kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán về Báo cáo tàichính Trước khi lập báo cáo kiểm toán, kiểm toán viên cần tổng hợp các kếtquả thu thập được và thực hiện một số thử nghiệm bổ sung có tính chất tổngquát Đây chính là công việc hoàn tất kiểm toán, bao gồm việc xem xét về giảthuyết hoạt động liên tục, xem xét các khoản công nợ ngoài dự kiến, xem xétcác sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc niên độ và đánh giá tổng quát về kết quảkiểm toán.
1 Xem xét tính hoạt động liên tục của doanh nghiệp:
Chuẩn mực kế toán quốc tế số 1 (IAS 1) “Thể hiện chế độ kế toán” do Uỷban chuẩn mực kế toán quốc tế phát hành đã thừa nhận rằng khái niệm “doanhnghiệp đang hoạt động” hay tính liên tục hoạt động của doanh nghiệp là mộttrong những khái niệm cơ bản trong việc lập các báo cáo tài chính Khái niệmdoanh nghiệp đang hoạt động được đoạn 7 trong IAS 1 định nghĩa như sau:
"Một doanh nghiệp được coi là đang hoạt động liên tục khi nó tiếp tục hoạtđộng cho một tương lai định trước Người ta quan niệm rằng doanh nghiệpkhông có ý định và cũng không cần phải giải tán hoặc quá thu hẹp quy mô hoạtđộng của mình"
Trong các giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán và thực hiện các thủ tục kiểmtoán, cũng như trong giai đoạn kết thúc cuộc kiểm toán khi đánh giá và thôngbáo kết luận của mình, kiểm toán viên luôn phải đánh giá xem giả thiết "liêntục hoạt động kinh doanh" làm cơ sở trong việc lập các Báo cáo tài chính cóthiết thực không căn cứ vào các dấu hiệu biểu hiện tính liên tục hoạt động bị viphạm
1.1 Các dấu hiệu biểu hiện tính liên tục hoạt động bị vi phạm:
Trong trường hợp có nghi vấn về giả thiết "liên tục hoạt động kinh doanh",kiểm toán viên phải thu thập các yếu tố chứng thực đầy đủ và thích hợp để đảmbảo một cách thoả đáng khả năng tiếp tục các hoạt độngkinh doanh trong mộttương lai có thể dự đoán được của đơn vị Các biểu hiện tính liên tục hoạt độngcủa doanh nghiệp bị vi phạm có thể xuất phát từ báo cáo tài chính hoặc cácnguồn khác Những biểu hiện điển hình thuộc loại này được liệt kê trong chuẩnmực kiểm toán quốc tế số 570 (ISA) - “Tính liên tục của hoạt động kinh doanh”
và nguyên tắc số 23 - “Doanh nghiệp đang hoạt động” trong Các nguyên tắc chỉđạo kiểm toán quốc tế (IAG) gồm có:
Các dấu hiệu về tài chính
Giá trị thuần hoặc vốn lưu động âm
Các khoản vay dài hạn đến hạn thanh toán mà không có triển vọng giahạn hoặc không có khả năng chi trả, hoặc chỉ sử dụng các khoản tín dụng ngắnhạn để tài trợ cho các khoản tài sản dài hạn
Trang 7 Các tỉ suất tài chính cho dấu hiệu xấu.
Lỗ kinh doanh thực tế lớn
Sự dây dưa hoặc gián đoạn của việc phân phối cổ tức
Không có khả năng hoàn trả các khoản tín dụng đã đến hạn
Khó khăn trong việc đáp ứng các điều kiện của hợp đồng vay
Người cung cấp tín dụng từ chối cấp tín dụng trong trường hợp khôngthanh toán khoản nợ cũ
Không có khả năng đạt được các nguồn tài chính tài trợ để phát triển cácsản phẩm mới cần thiết hoặc các khoản đầu tư cấp thiết khác
Các dấu hiệu về hoạt động của đơn vị
Thiếu cán bộ chủ chốt mà không bổ sung được
Thiếu thị trường chính, đặc quyền, giấy phép hoặc các nhà cung cấp chủyếu
Rối loạn trong nội bộ công ty hay thiếu những nguyên vật liệu quantrọng
Sự thay đổi của luật pháp hay trong quyết định của Chính phủ
1.2 Các thủ tục kiểm toán nhằm thu thập các bằng chứng về tính liên tục hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
Trong quá trình thực hiện các bước công việc của chương trình kiểm toánnói chung và trong giai đoạn hoàn thành cuộc kiểm toán nói riêng, kiểm toánviên cần đề phòng khả năng tính liên tục hoạt động của doanh nghiệp có thểkhông được thực hiện Khi có tình huống như vậy phát sinh, kiểm toán viên cầntập hợp các bằng chứng đầy đủ, thích hợp để xác minh hoặc giải quyết triệt để
về khả năng của doanh nghiệp tiếp tục hoạt động cho một tương lai thấy trước,làm cơ sở cho việc đưa ra các nhận xét về Báo cáo tài chính Các thủ tục kiểmtoán thích hợp trong trường hợp này có thể bao gồm:
Phân tích và thảo luận với Ban giám đốc doanh nghiệp về những nhu cầungân quỹ của đơn vị, về các kết quả mong đợi và các khoản dự trù khác vàomột ngày có hiệu lực gần sát với ngày ký báo cáo kiểm toán
Soát xét các sự kiện phát sinh sau ngày lập bảng tổng kết tài sản để xácđịnh những yếu tố có thể tác động tới tính liên tục của hoạt đông kinh doanh
Phân tích và thảo luận về báo cáo kỳ gần nhất của doanh nghiệp
Trang 8 Soát xét lại các điều khoản, điều kiện và nghĩa vụ của hợp đồng vay đểtìm ra tất cả những điều kiện không được đơn vị tuân thủ.
Đọc các biên bản họp đại hội cổ đông, biên bản họp ban giám đốc, hộiđồng quản trị và các uỷ ban quan trọng để thấy rõ những khó khăn tài chính củadoanh nghiệp
Thẩm vấn bộ phận tư vấn pháp lí của doanh nghiệp nhằm yêu cầu cungcấp các thông tin hoặc các vấn đề pháp lí trọng yếu như các vụ kiện cáo haytranh chấp
Xác minh tính hiện hữu, tính hợp pháp, tính hiệu lực và việc áp dụngnhững thoả thuận ký với một bên liên quan hay một bên thứ ba về việc đảm bảo
hỗ trợ tài chính, đánh giá tiềm lực tài chính của bên này để có thể cung cấp cácnguồn vốn bổ sung
Xem xét tình hình thiếu hụt đơn đặt hàng của doanh nghiệp
Thu thập thư giải trình của ban lãnh đạo doanh nghiệp về kế hoạch chocác hoạt động sắp tới, rút ra các kết luận hợp lí để cải thiện tình hình
Ngoài ra, để đánh giá tính liên tục hoạt động của đơn vị khách hàng, kiểmtoán viên có thể sử dụng phương pháp phân tích nhằm điều tra, phát hiện ra cácbiến động bất thường có thể ảnh hưởng đến khả năng hoạt động liên tục củađơn vị Việc điều tra thường bắt đầu từ việc thẩm vấn các nhà quản lí doanhnghiệp và kiểm toán viên phải:
+ Xác minh ý kiến trả lời của các nhà quản lí doanh nghiệp - ví dụ bằngcách so sánh các ý kiến trả lời này với các hiểu biết của kiểm toán viên vềdoanh nghiệp và với các bằng chứng khác đã thu thập được trong quá trìnhkiểm toán
+ Căn cứ vào kết quả của việc thẩm vấn các nhà quản lí doanh nghiệp đểcân nhắc sự cần thiết áp dụng các phương pháp kiểm toán khác
Bên cạnh đó, trong quá trình phân tích các nhu cầu tiền mặt, các kết quảmong đợi và các kế hoạch khác của đơn vị, kiểm toán viên cần quan tâm đến
độ tin cậy của hệ thống mà đơn vị sử dụng để cung cấp các thông tin này Kiểmtoán viên cũng xác định xem các giả thuyết được đặt ra đề lập kế hoạch có phùhợp với tình huống không và cần so sánh các kế hoạch đã được lập trước đâycho niên độ với kết quả hiện thực đạt được
Kiểm toán viên cũng phải xem xét và trao đổi với Ban giám đốc về các kếhoạch hành động, chẳng hạn như kế hoạch bán các tài sản, đi vay, thươnglượng lại các hợp đồng tín dụng, giảm hoặc hoãn các khoản đầu tư lại, hoặctăng thêm nguồn vốn Các kế hoạch hành động và các biện pháp dự kiến chotương lai càng xa thì chúng càng ít xác đáng Cần phải chú ý đặc biệt đếnnhững kế hoạch có thể tác động đến khả năng thanh toán của đơn vị trong mộttương lai gần
Trang 9Khi thấy có vấn đề về tính liên tục hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,thì tuỳ theo mức độ kiểm toán viên sẽ có những giải trình cần thiết
1.3 Tính liên tục hoạt động của doanh nghiệp với ý kiến của kiểm toán viên trong báo cáo kiểm toán :
Sau khi đã thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung mà kiểm toán viên xétthấy cần thiết, thu thập tất cả các thông tin cần có, xem xét tính thích hợp củamọi kế hoạch của các nhà quản lí cũng như các yếu tố làm giảm nhẹ dấu hiệu viphạm tính liên tục hoạt động của doanh nghiệp, kiểm toán viên phải xác địnhxem các vấn đề phát sinh có liên quan đến khái niệm “tính liên tục hoạt động”
đã được giải quyết hợp lí hay chưa Nếu kiểm toán viên có đủ cơ sở để kết luậnrằng khái niệm “doanh nghiệp đang hoạt động” được sử dụng trong khi lập Báocáo tài chính là thích hợp thì kiểm toán viên sẽ đưa ra ý kiến chấp nhận toànphần trong báo cáo kiểm toán Ngược lại, nếu kiểm toán viên xác định rằng vấn
đề “doanh nghiệp đang hoạt động” không được thực hiện thì cần phải có sự thểhiện thích hợp trong Báo cáo tài chính về những tình tiết gây nên sự nghi ngờ
về khả năng tiếp tục hoạt động của doanh nghiệp Việc thể hiện trong Báo cáotài chính cần đảm bảo các yêu cầu sau:
Mô tả các tình tiết chủ yếu đã gây nên nghi ngờ về khả năng tiếp tục tồntại trong tương lai có thể biết trước của doanh nghiệp
Xác định những nghi vấn về khả năng tiếp tục hoạt động của doanhnghiệp
Xác định rằng Báo cáo tài chính không có những điều chỉnh liên quan tớiviệc thu hồi và phân loại giá trị các tài sản đã được ghi chép hoặc liên quan tớitổng số nợ và việc phân loại công nợ
Nếu các thông tin được cung cấp một cách thoả đáng trong thuyết minh thìkiểm toán viên có thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần Ngược lại, trongtrường hợp sự thể hiện không thoã mãn các yêu cầu nói trên thì kiểm toán viên
sẽ đưa ra ý kiến “chấp nhận từng phần” hoặc ý kiến “không chấp nhận” trongbáo cáo kiểm toán
2 Thẩm tra các khoản nợ ngoài dự kiến:
2.1 Khái niệm về khoản nợ ngoài dự kiến:
Nợ ngoài dự kiến (hay còn gọi nợ ngoài ý muốn) là một khoản nợ tiềm ẩntrong tương lai đối với thành phần ở bên ngoài về một số tiền chưa biết sinh ra
từ các hoạt động đã xảy ra
Để một khoản nợ ngoài ý muốn tồn tại phải hội tụ đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, phải có một khoản thanh toán tiềm ẩn trong tương lai đối với một
thành phần bên ngoài mà là kết quả của một điều kiện hiện có
Thứ hai, số tiền của khoản thanh toán trong tương lai này có sự không
chắc chắn
Trang 10Thứ ba, khoản nợ ngoài ý muốn này sẽ được giải quyết bởi một sự kiện
hoặc một vài sự kiện trong tương lai
Nếu chắc chắn có một khoản nợ tiềm ẩn trong tương lai với số tiền có thểđược ước tính hợp lý thì khoản nợ này sẽ là khoản tính dồn và được chỉ rõtrong nội dung của các Báo cáo tài chính Nếu số tiền của khoản lỗ tiềm ẩnkhông được ước tính hợp lý, hoặc nếu khoản lỗ chỉ có thể xảy ra thì sẽ khôngphải tính dồn nhưng vẫn được công khai trong phần ghi chú Khi mà khả năngxảy ra các sự kiện giải quyết khoản lỗ trong tương lai là rất ít thì các khoản nàykhông cần tính dồn cũng không cần công khai trên Báo cáo tài chính Do đó đểquyết định về cách xử lý thích hợp đối với các khoản nợ ngoài ý muốn đòi hỏinhững phán xét chuyên môn đáng kể hay nói cách khác đòi hỏi kiểm toán viênphải có trình độ chuyên môn cao
Khi công khai các khoản nợ ngoài ý muốn trên Báo cáo tài chính thông quaphần ghi chú, phần ghi chú phải mô tả bản chất của nhà cố vấn pháp luật hoặcban quản trị về kết quả ước tính
Một số khoản nợ ngoài ý muốn mà kiểm toán viên nhất định phải quan tâmnhiều bao gồm:
Vụ kiện do vi phạm đặc quyền, trách nhiệm sản phẩm hoặc các hành vikhác đang chờ đợi xét xử
Tranh cãi về thuế lợi tức
Bảo hành sản phẩm
Phiếu nợ phải thu đã chiết khấu
Bảo đảm nợ của người khác
Số dư chưa sử dụng trong các thư tín dụng còn hiệu lực
Một số các khoản nợ tiềm ẩn này thường được kiểm tra như một phần nộidung của các bộ phận khác nhau trong giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toánhơn là một hoạt động riêng rẽ gần cuối cuộc kiểm toán Thí dụ như các số dưchưa sử dụng trong các thư tín dụng còn hiệu lực có thể được khảo sát như mộtphần của quá trình xác nhận số dư tài khoản tiền gửi ngân hàng và các khoản
nợ ngân hàng Tương tự, tranh cãi về thuế lợi tức có thể được kiểm tra tách biệtthì các khảo sát cũng thường được thực hiện trước ngày cuối cùng của giaiđoạn hoàn thành hợp đồng để đảm bảo việc kiểm tra đúng đắn của chúng Khảosát các khoản nợ ngoài ý muốn gần ngày cuối của giai đoạn kết thúc kiểm toánmang tính chất xem xét lại nhiều hơn là một cuộc nghiên cứu ban đầu
2.2 Các thủ tục kiểm toán chung đối với các khoản nợ ngoài dự kiến:
Các thủ tục kiểm toán thích hợp để khảo sát các khoản nợ ngoài dự kiếnthường không được xác định rõ ràng như các thủ tục đã được đề cập đến trongcác lĩnh vực kiểm toán khác cũng như trong giai đoạn thực hiện kiểm toán bởi
vì mục tiêu chủ yếu ở giai đoạn đầu của các khảo sát này là xác định sự hiện
Trang 11diện của các khoản ngoài ý muốn để từ đó có thể đánh giá tính trọng yếu củachúng và sự công khai qui định một cách thoả đáng.
Dưới đây là một số thủ tục kiểm toán thường được sử dụng để tìm cáckhoản nợ ngoài ý muốn:
Thẩm vấn Ban quản trị doanh nghiệp về khả năng tồn tại các
khoản ngoài ý muốn chưa ghi sổ Khi phỏng vấn kiểm toán viên phải tập trung
mô tả các loại khoản nợ ngoài ý muốn cần công khai
Việc phỏng vấn Ban quản trị sẽ không có tác dụng trong việc phát hiện sự cố ýkhông công khai các khoản ngoài ý muốn hiện có Tuy nhiên, nếu ban quản trị
đã bỏ qua một loại khoản nợ ngoài ý muốn cá biệt nào đó hoặc chưa hiểu hếtyêu cầu công khai các khoản nợ này thì sự phỏng vấn đã mang lại tác dụng tốt.Vào giai đoạn hoàn thành cuộc kiểm toán, Ban quản trị phải viết một bản báocáo như là một phần của thư kiến nghị xác nhận là không có khoản nợ ngoài ýmuốn nào chưa được công khai
Xem xét loại báo cáo năm hiện hành và báo cáo năm trước của cơ quan thuế nội địa Các báo cáo này có thể cho thấy những biến động bất
thường giữa các năm
Xem xét lại các biên bản họp hội đồng quản trị và của cổ đông để
tìm dấu hiệu của các vụ kiện hoặc các khoản nợ ngoài ý muốn khác
Phân tích phí tổn pháp lý của kỳ được kiểm toán và xem xét lại các hoá đơn và các bảng kê để tìm các dấu hiệu của các khoản nợ ngoài ý
muốn, đặc biệt là các vụ kiện và mức thuế đang chờ quyết định
Thu thập xác nhận của những luật sư đã cung cấp dịch vụ pháp
lý cho đơn vị khách hàng về các vụ kiện đang chờ xét xử hoặc các khoản nợ
tiềm ẩn khác
Đây là một trong những thủ tục chính được các kiểm toán viên áp dụng đểphát hiện các khoản nợ ngoài ý muốn Từ sự xác nhận người cố vấn pháp luậtcủa khách hàng kiểm toán viên có thể có được các thông tin về vụ kiện đangchờ xét xử hoặc bất kỳ một thông tin nào khác có liên quan Nếu đã xác địnhđược có tồn tại khoản nợ ngoài ý muốn, kiểm toán viên còn phải thu thập quanđiểm nghề nghiệp của luật sư về kết quả dự kiến của vụ kiện và số tiền khả dĩcủa khoản nợ, kể cả chi phí toà án
Có rất nhiều công ty kiểm toán độc lập thường phân tích phí tổn pháp lýcủa cả năm và đề nghị đơn vị khách hàng gửi một mẫu thư cho tất cả các luật
sư mà công ty khách hàng có quan hệ trong năm hiện hành hoặc năm trước, kể
cả các luật sư mà khách hàng thỉnh thoảng có thuê mướn Như vậy, thường cómột số lượng lớn các luật sư được thẩm vấn kể cả những người chỉ chuyên vềcác khía cạnh của luật lệ mà không liên quan đến các vụ kiện tiềm ẩn
Trang 12Hiện nay, các luật sư thường miễn cưỡng phải cung cấp một số thông tinnhất định cho kiểm toán viên vì sự cung cấp thông tin này gắn họ với tráchnhiệm pháp lý khi thông tin cung cấp là không chính xác hoặc thông tin bảomật Khi luật sư của khách hàng từ chối cung cấp thông tin đầy đủ cho kiểmtoán viên về các khoản nợ ngoài ý muốn có thể là do họ thiếu hiểu biết về cácvấn đề liên quan với các khoản nợ ngoài ý muốn hoặc do họ cho rằng nhữngthông tin đó có tính bảo mật.
Khi bản chất công việc pháp lý của luật sư không liên quan với các khoản
nợ ngoài ý muốn, sự từ chối đáp ứng của luật sư không ảnh hưởng tới cuộckiểm toán
Nếu các khoản nợ ngoài ý muốn không liên quan đến các vụ kiện hay cácvấn đề tuân thủ luật lệ dù có ảnh hưởng trực tiếp đến các Báo cáo tài chính thìviệc luật sư từ chối trả lời về chúng là điều tất yếu Tuy nhiên, khi luật sư từchối cung cấp thông tin nằm trong phạm vi quyền hạn của anh ta mà có thể ảnhhưởng trực tiếp đến việc trình bày trung thực của các báo cáo tài chính thì kiểmtoán viên phải điều chỉnh lại kết luận của mình để phản ánh việc thiếu bằngchứng đó Văn bản số 12 về chuẩn mực kiểm toán (SAS 12) quy định Ban quảntrị cho phép các luật sư cung cấp thông tin về khoản nợ ngoài ý muốn cho cáckiểm toán viên, yêu cầu các luật sư hỗ trợ kiểm toán viên trong việc thu thậpthông tin về các khoản ngoài ý muốn Để có được sự xác nhận từ luật sư củakhách hàng, ban quản trị đơn vị khách hàng sẽ thảo ra thư thẩm vấn và gửi choluật sư trong đó thường gồm các phần sau:
Mô tả nội dung các vụ kiện đang chờ xét xử hoặc bất đồng về thuế
Đánh giá hậu quả và khả năng thiệt hại
Yêu cầu luật sư nhận dạng các vụ kiện đang chờ xét xử chưa được liệt
kê hoặc xác nhận danh sách kê khai các vụ kiện quan trọng là đầy đủ
Yêu cầu luật sư đưa ra lí do giải thích cho việc từ chối cung cấp thôngtin
Ngoài ra, kiểm toán viên còn xem xét các biên bản họp Hội đồng quản trị
để biết được các hợp đồng, các vụ kiện quan trọng v.v
Sau cùng, kiểm toán viên cần đánh giá tầm quan trọng của các khoản công
nợ ngoài dự kiến và nội dung cần thiết khai báo trên Báo cáo tài chính Nếu khảnăng xảy ra của các khoản công nợ này đã rõ, và sai số tiền thiệt hại có thể ướctính được, nó cần được ghi nhận vào sổ kế toán như một khoản công nợ thực
sự Nếu khả năng xảy ra của các khoản công nợ này là hiếm, hoặc khoản công
nợ không trọng yếu, lúc đó việc khai báo trên Báo cáo tài chính sẽ là không cầnthiết Việc đánh giá của kiểm toán viên phải được tiến hành một cách độc lậpchứ không phải dựa vào ý kiến của đơn vị
3 Xem xét lại các sự kiện tiếp sau:
Trang 133.1 Khái niệm và các loại sự kiện tiếp sau:
Sự kiện tiếp sau là cách gọi tắt cho các sự kiện xảy ra sau ngày khóa sổ kếtoán Đoạn 04 trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 560 - “Các sự kiện phátsinh sau ngày khoá sổ kế toán lập Báo cáo tài chính”định nghĩa sự kiện tiếp sau
“là những sự kiện có ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính đã phát sinh trongkhoảng thời gian từ sau ngày khoá sổ kế toán lập Báo cáo tài chính để kiểmtoán đến ngày ký báo cáo kiểm toán; và những sự kiện được phát hiện sau ngày
ký báo cáo kiểm toán” [3, 30] Kiểm toán viên có trách nhiệm xem xét lại các
sự kiện này tự chứng minh rằng mọi sự kiện xảy ra tiếp theo đến ngày ký báocáo kiểm toán có ảnh hưởng đến các đánh giá hoặc sự công khai của các báocáo đang được kiểm toán hay không?
Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với việc xem xét lại các sự kiện tiếpsau thường bị giới hạn bắt đầu là ngày lập Bảng cân đối tài sản và kết thúc vàongày viết báo cáo của kiểm toán viên liên quan với việc hoàn thành các thủ tụckiểm toán quan trọng tại đơn vị khách hàng, do đó, sự xem xét lại các sự kiệntiếp sau phải được hoàn thành gần ngày cuối của hợp đồng kiểm toán
Thông thường, các sự kiện tiếp sau cần sự xem xét của kiểm toán viên vàcủa ban quản trị được phân làm hai loại:
a Sự kiện ảnh hưởng trực tiếp đến Báo cáo tài chính và cần được điều chỉnh:
Sau ngày lập Bảng cân đối tài sản thường phát sinh một số sự kiện mà nếu
số tiền liên quan đến các sự kiện này là lớn thì cần điều chỉnh lại số dư của cáctài khoản tương ứng trên Báo cáo tài chính của năm hiện hành Ví dụ như:
Có một khoản phải thu chưa thanh toán nhưng người mua tuyên bố phásản
Số tiền thực tế giải quyết một vụ kiện không khớp với số tiền ghi sổ
Bán các khoản đầu tư với giá thấp hơn giá ghi sổ
Khi kiểm toán viên xem xét lại các sự kiện tiếp sau cần phải thận trọng đểphân biệt giữa các điều kiện đã có vào ngày lập bảng cân đối tài sản và các điềukiện mới phát sinh sau ngày cuối năm để cân nhắc việc điều chỉnh số tiền ghitrên các báo cáo Nếu các điều kiện gây ra sự thay đổi xảy ra sau ngày cuốinăm thì không cần điều chỉnh
b Những sự kiện không ảnh hưởng trực tiếp đến Báo cáo tài chính nhưng cần công khai:
Khi các điều kiện gây ra sự thay đổi về cách đánh giá các số dư tài khoảntrong bảng cân đối tài sản chỉ tồn tại sau ngày lập Bảng cân đối tài sản thìkhông cần phải điều chỉnh trên Báo cáo tài chính, tuy nhiên có một số sự kiệnmang ý nghĩa quan trọng và cần được công khai trong phần ghi chú hoặc thuyếtminh trong Báo cáo tài chính Ví dụ như:
Trang 14 Mệnh giá chứng khoán đầu tư tạm thời bị sụt giảm.
Sự phát hành trái phiếu
Giá trị hàng tồn kho sụt giảm do Nhà nước không khuyến khích việckinh doanh sản phẩm này
Hàng tồn kho bị mất mát do hoả hoạn mà không được bảo hiểm
3.2 Các khảo sát kiểm toán đối với các sự kiện tiếp sau:
Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 560 (ISA 560) - “Các sự kiện phátsinh sau ngày lập Báo cáo tài chính”, các kiểm toán viên cần thực hiện các thủtục nhằm thu nhập các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp để chứngminh rằng mọi sự kiện tính đến ngày lập báo cáo kiểm toán có thể dẫn đến điềuchỉnh hoặc cần thuyết minh trong Báo cáo tài chính đã được xác định; Chuẩnmực kiểm toán Việt nam số 560 - “Các sự kiện phát sinh sau ngày khoá sổ kếtoán lập Báo cáo tài chính” cũng quy định: “Kiểm toán viên phải xây dựng vàthực hiện các thủ tục kiểm toán nhằm thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toánthích hợp để xác định tất cả các sự kiện đã phát sinh đến ngày ký báo cáo kiểmtoán xét thấy có thể ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính, và phải yêu cầu đơn vịđiều chỉnh hoặc thuyết minh trong Báo cáo tài chính” [3, 31] Tuy nhiên, cáckiểm toán viên không bắt buộc phải xem xét tất cả các vấn đề mà những thủ tục
áp dụng trước đây đã đưa ra được những kết luận thoả đáng
Những thủ tục kiểm toán để xem xét lại các sự kiện tiếp sau có thể dẫn đếnnhững điều chỉnh hoặc cần được thuyết minh trong Báo cáo tài chính cần đượcthực hiện càng gần ngày lập báo cáo kiểm toán càng tốt và thông thường đượcchia làm hai nhóm như sau:
Nhóm thứ nhất bao gồm các thủ tục được thực hiện như một phần của các
khảo sát chi tiết số dư, ví dụ như khảo sát khả năng thu của các khoản phải thubằng cách xem xét lại các khoản thu tiền mặt của các kỳ tiếp sau Các thủ tụcnày thực hiện tương tự như ở giai đoạn thực hiện kiểm toán đã được đề cập đếnphần trước
Nhóm thứ hai gồm các thủ tục, biện pháp nhằm bổ sung thêm cho các thủ
tục thông thường ở nhóm thứ nhất áp dụng cho các nghiệp vụ giao dịch đặc biệtxảy ra sau ngày thành lập Bảng cân đối kế toán để thu nhập bằng chứng kiểmtoán về số dư của các tài khoản vào ngày khoá sổ hoặc về các sự kiện đượccông khai trong phần ghi chú Các khảo sát đối với các sự kiện tiếp sau thuộcnhóm này thường bao gồm:
Một là, thẩm vấn Ban quản trị Đối với các khách hàng kiểm toán khác
nhau nội dung cuộc thẩm vấn có thể thay đổi, nhưng theo quy định của cácchuẩn mực kiểm toán Việt nam và quốc tế số thường là về những vấn đề cụ thểnhư sau:
Trang 15+ Hiện trạng của các khoản mục đã được hạch toán trên cơ sở số liệu tạmtính, sơ bộ hay số chưa xác định
+ Những cam kết, khoản vay hay bảo lãnh mới kí kết
+ Bán hay dự kiến bán tài sản hoặc một bộ phận doanh nghiệp
+ Cổ phiếu hoặc trái phiếu mới phát hành; thoả thuận sát nhập hoặc thanh
lí đã kí hay dự kiến
+ Các tài sản bị Chính phủ lấy hay bị phá huỷ, ví dụ như do cháy hay dolụt lội
+ Tiến triển của các rủi ro hay các sự kiện có thể xảy ra
+ Những điều chỉnh kế toán bất thường đã ghi hay dự kiến
+ Có những sự kiện nào đã xảy ra hoặc có khả năng xảy ra có thể đảongược lại tính hợp lý của các chính sách kế toán đã được sử dụng trong các Báocáo tài chính Chẳng hạn trường hợp những sự kiện này gây ảnh hưởng đến giảthiết về tính liên tục của hoạt động kinh doanh
Việc thẩm vấn Ban quản trị về các sự kiện tiếp sau phải được tiến hànhđúng đối tượng để thu thập được những thông tin trả lời có ý nghĩa Phần lớncác cuộc phỏng vấn phải được thực hiện với Kế toán trưởng, Giám đốc, Phógiám đốc, tuỳ theo thông tin mong muốn
Hai là, gửi thư xác nhận cho luật sư của đơn vị khách hàng Sự liên lạc
với luật sư, như đã được trình bày ở phần trên, được thực hiện nhằm tìm kiếmcác khoản nợ ngoài ý muốn Trong phần này, khi thu thập thư xác nhận từ luật
sư, kiểm toán viên phải ghi nhớ mục đích là khảo sát các sự kiện tiếp sau chođến ngày viết báo cáo kiểm toán, do đó kiểm toán viên thường yêu cầu các luật
sư ghi ngày và gửi thư xác nhận vào ngày dự kiến hoàn thành công việc nghiệpvụ
Ba là, xem xét lại các biên bản đại hội cổ đông, biên bản họp Ban giám
đốc, các biên bản hoặc báo cáo nội bộ được lập sau ngày lập Bảng cân đối tàisản như biên bản hợp đồng quản trị và thẩm tra những vấn đề đã được thảo luậntại các cuộc họp đó mà chưa ghi trong các biên bản Quá trình xem xét lại nàytập trung vào việc xem xét các biến động trong kinh doanh liên quan với cáckết quả của cùng kỳ trong năm được kiểm toán, đặc biệt là các biến động lớntrong kinh doanh hoặc môi trường mà doanh nghiệp hoạt động Các báo cáo nội
bộ đó phải được đưa ra tranh luận với ban lãnh đạo khách hàng để xem xétchúng có được lập trên cùng một cơ sở như các báo cáo của kì hiện hành haykhông, đồng thời kiểm toán viên phải thực hiện các cuộc thẩm vấn về nhữngthay đổi lớn về kết quả của quá trình hoạt động
Bốn là, xem xét lại các sổ sách được lập sau ngày lập Bảng cân đối tài sản.
Kiểm toán viên cần kiểm tra lại các sổ nhật kí và Sổ cái để xác định sự hiệndiện và bản chất của bất kì nghiệp vụ nào liên quan với năm hiện hành Nếu các