1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình giáo dục quốc phòng tập 1, một số nội dung cơ bản về đường lối quân sự của đảng

117 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 7,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế nghiên cứu chiến tranh nhằm vạch ra một cách đúng đắn nguồn gốc, bản chất, tính chất xã hội của chiến tranh, lý giải khoa học mối quan hệ giữa chiến tranh với chính trị trong thời

Trang 2

ĐẠI HỌ C Q U Ố C GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG

Trang 3

CHỦ BIÊN:

Đại tá, Lê ngọc Cường

THAM GIA BIÊN SOẠN:

Đ ại tá, H oàng Minh Việt - Đại tá, Nguyễn Đình Nhiệm Thượng tá, Bùi Xuân Khoa - Thượng tá, Chu Văn Huy

Trung tá, Nguyễn Tiến Hải.

Trang 4

LÒI NÓI ĐẨU

^ p ế h à m thực hiện thảng lợi sự nghiệp Jxây (lựng và báo vệ T ố quốc Việt Nam Xã hội chù nghĩa, Đán,1» và Nhà nước la dặc biệt quan

râm đểu còng tác Giáo dục quốc pliòng toàn dân /rong đó có Giáo dục quốc phòng cho liọc sinh, sinh viên Giáo dục quác phòng là m ột bộ phận của nền giáo dục quốc dán, m ột trong những nhiệm vụ quan trọng thực hiện m ục tiêu giáo dục toàn diện th ế hệ trẻ trong các nhà trường, góp phần giáo dục, dào tạo nguồn lực con người có tri thức, lìhân cách và phẩm chất chính trị, đạo đức tất thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây (lựng tlìànlì công chít nghĩa x ã hội và báo vệ vững chắc T ổ quốc Việt Nam Xã hội chú nghĩa.

D o vị tri và tầm quan trọng của môn học Giáo dục quốc phòng, ngày 12 tháng 02 năm 2001, Bộ Chínlì trị đã có chí thị s ổ Ổ2/CTỈTW vế 'Tăng cường công tác giáo dục quốc phòng toàn dân trong rình hình mới", ngày 01 tháng 05 năm 2001, Chính Phủ nước Cộng hoà x ã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Nghị định s ổ I5/200I/N Đ -C P về giáo dục quốc phòng, ngày 09/05/2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo bơn hành quyết định s ố 12/20001 QĐ-BGD&ĐT về việc thống nhất chương trình môn học Giáo dục quốc phỏng trong các trường Đọi liọc, Cao đẳng

Quán triệt sâu sắc chù trương, chinh sách của Đ ảng và N hà nước, thực hiện chương trình dổi mới, không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo của Giám dốc Đại học Quốc gia - Hờ Nội và Nghị quyết Đại hội C hi bộ Trung tâm giáo dục quốc phòng lấn thứ nhất, nhằm đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu giáo dục quốc phòng trong tình hình mới, Khoa Chinh trị - Trung tâm giáo dục quốc phòng - Đại học Quốc gia Hà Nội đã kết hợp với Khoa Nghệ thuật Quân sự, Học viện Chính trị - Quân sự nghiên cứu, b ổ sung và pliát triển nội dung trong tập giáo trình "Một sỏ'nội dung cơ bán vê dường lôi quàn sự của Đ áng" Dùng cho sinh

Trang 5

viên Đại học Quốc giơ Hủ Nội trên cơ sờ chương trình quy định của bộ GD &

£ fĩ nhưng có cập nhật thêm những vấn đế mới đ ể giúp giáo viên, sinh viên sứ dụng trong nghiên cứu và học tập Giáo dục quốc pliòng.

Mặc dù đ ã có nhiều c ố gắng, nhưng do thời gian hạn chế nên nội dung giáo trình khó tránh khỏi những thiếu sót, cliúng tôi rất mong nhận (lược những

ý kiến dóng góp quý báu cùa các đồng nghiệp và các bạn sinh viên đ ể nội dung giáo trình ngày càng hoàn thiện, phục vụ tốt hơn nhu cáu bạn đọc.

Xin chân thành cám ơn!

BAN BIÊN TẬP

Trang 6

B À I 1

M Ộ T SỐ Q U A N Đ IỂM CỦA C H Ủ N G H ĨA M Á C - LÊNIN,

T ư T Ư Ở N G H Ổ C H Í M INH V Ể CH IÊN T R A N H , Q U Â N ĐỘ I

V À BẢO V Ệ TỔ Q U Ố C

I MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, T ư TƯỞNG

H ổ CHÍ MINH VỂ CHIẾN TRANH.

1- Q uan điểm của chủ nghĩa Mác - Lẻnin về chiên tranh.

Trong hơn 5000 năm lịch sử, xã hội loài người có giai cấp, cùng với những bước tiến vĩ đại trong cõng cuộc chinh phục tự nhiên và cải tạo xã hội, loài người đã từng chứng kiến gần 14.700 cuộc chiến tranh với những hậu quả vô cùng thảm khốc Kể từ sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, nguy

cơ của cuộc chiến tranh thế giới đã được đẩy lùi, nhưng các cuộc chiến tranh khu vực, chiến tranh cục bộ, xung đột dân tộc, tỏn giáo, khủng bố lại có tần suất ngày càng lớn Các cuộc chiến tranh đó không chí đe doạ trực tiếp độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia dãn tộc mà còn

là m ột hiểm hoạ khôn lường đe doạ sự tồn vong của toàn nhàn loại Vì thế nghiên cứu chiến tranh nhằm vạch ra một cách đúng đắn nguồn gốc, bản chất, tính chất xã hội của chiến tranh, lý giải khoa học mối quan hệ giữa chiến tranh với chính trị trong thời đại ngày nay có m ột ý nghĩa hết sức quan trọng về lý luận và thực tiễn phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Chủ nghĩa Mác, triết học Mác nói chung và những tư tưởng của Mác

và Ph.Ảngghen về chiến tranh nói riêng không phải là một trào lưu biệt phái, nó không tách khỏi văn minh chung của nhân loại Quá trình hình thành và phát triển những quan điếm về chiến tranh là q u á trình k ế thừa có chọn lọc những tư tưởng của nhân loại Đó là quá trình mà C.Mác và Ph.Ãngghen không ngừng đấu tranh chống lại những quan điểm duy tâm, tôn giáo, siêu hình, những quan điểm phản khoa học, phi giai cấp của các học giả tư sản về chiến tranh Các ông kiên quyết chống lại các quan điếm duy tâm c ủ a Platôn thời cổ đại, vạch rõ chiến tranh không phải là tất yếu, vốn có m à có nguyên nhân xuất hiện của nó C.Mác và Ph.Ãngghen cũng kiên quyết chống lại các quan điểm của tôn giáo cho chiến tranh là định mệnh, do Thượng đ ế hay một đấng siêu nhiên nào đó gây nên Đặc biệt C.Mác và Ph.Ảngghen kịch liệt phê phán quan điểm duy tâm của Hêghen

Trang 7

và cả của Claudovit theo trường phái quân sự Tư sản, từ lập trường tư sản

cho rằng chiến tranh là công cụ của chính trị nhưng là chính trị chung

chung, trừu tượng, phi giai cấp

C.Mác và Ph.Ảngghen đã đấu tranh không khoan nhượng với các

quan điểm phản động, phản khoa học đó, đổng thời C.Mác và Ph.Ảngghen

đã xem xét nghiên cứu các cuộc chiến tranh dưới góc độ triết học - xã hội

học, chính trị - giai cấp và khẳng định:

- Chiến tranh là hiện tượng chính trị - xã hội mang tính lịch sử, đó là cuộc đấu tranh vũ trang có tổ chức giữa các giai cấp Nhà nước nhàm thực

hiện mục đích chính trị nhất định

Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của

Nhà nước” , C.Mác và Plì.Ảngghen đã chứng minh: quá trình phát triển xã

hội loài người đã có giai đoạn chưa từng biết đến chiến tranh Đứng vững

trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, dựa trên

các luận cứ khoa học cùa thực tiễn, C.Mác và Ph.Ảngghen đã đi sâu phân

tích chế độ công xã nguyên thuỷ và chi ra rằng thời kỳ công xã nguyên thuý

kéo dài hàng vạn năm không hề có chiến tranh Đặc trưng của chế độ này là

trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hết sức thấp kém, tổ chức xã hội

còn sơ khai, cuộc sống vô cùng tối tãm, mông muội, con người tổn tại hoàn

toàn phụ thuộc vào tự nhiên Động lực cơ bán của sự phát triển xã hội cóng

xã nguyên thuỷ là cuộc đấu tranh giữa con người với tự nhiên Trong xã hội

đó, các mâu thuẫn và xung đột giữa các bộ tộc, bộ lạc, kế cả xung đột vũ

trang chỉ là thứ yếu, không mang tính xã hội Những cuộc tranh giành đất

đai, các khu vực săn bắn, hái lượm, các bãi chăn thả, các hang động chi là

đấu tranh để sinh tồn Vì vậy, C.Mác, Ảngghen coi đây như là một hình

thức lao đổng nguyên thuỷ Các xung đột ở xã hội công xã nguyên thuỷ

không phải là chiến tranh, mà là những cuộc xung đột mang tính tự phát

ngẫu nhiên

V.I.Lênin (1870 - 1924), nhà lý luận thiên tài, lãnh tụ vĩ đại của giai

cấp vô sản và toàn thể nhân dàn lao động thế giới, đã bảo vệ và phát triển

thành công chủ nghĩa Mác nói chung và những tư tường về chiến tranh,

quân đội của C.Mác và Ảngghen nói riêng, v ề chiến tranh, Lênin đã không

ngừng đấu tranh chống lại các quan điểm duy tâm, tôn giáo, các quan điểm

siêu hình Lê-nin tiếp tục khẳng định những quan điểm của C.Mác và

Ph.Ảngghen: chiến tranh là một hiện tượng xã hội, là một phạm trù lịch sử;

Trang 8

chiến tranh ra đời, tổn tại gắn vói chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và đối

kháng giai cấp; có thế loại bỏ chiến tranh ra khỏi đời sống xã hội khi mà

c h ế độ tư hữu và đối kháng giai cấp không còn nữa

Bất chấp thực tế đó, các học giả tư sản cho rằng, chiến tranh đã có

ngay từ đầu khi xuất hiện xã hội loài người và không thể nào loại trừ được, họ

luôn khẳng định tính tất yếu của chiến tranh, coi chiến tranh là động lực chú

yếu của lịch sử, hoài nghi khả nãng hoà bình vĩnh viễn và bền vững Mục

đích của họ là che đậy cho chiến tranh xâm lược do giai cấp tư sản phát động

- Chiến tranh bắt nguồn từ sự xuất hiện chế độ tư hữu, giai cấp và Nhà nước: Với thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng, cùng

với sự kết hợp sáng tạo phương pháp lôgic và phương pháp lịch sử, C.Mác,

Ph.Ảngghen lần đầu tiên trong lịch sứ đã luận giải một cách đúng đắn về

nguồn gốc xuất hiện của chiến tranh Chủ nghĩa Mác - Lcnin khắng định:

sự xuất hiện và tổn tại của chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là

nguồn gốc kinh tế, nguồn gốc sâu xa, suy đến cùng đã xuất hiện, tồn tại

chiến tranh Đồng thời, sự xuất hiện và tồn tại của các giai cấp đối kháng là

nguồn gốc xã hội trực tiếp dẫn đến sự xuất hiện tổn tại của chiến tranh

Ph.Ãngghen chỉ rõ: xã hội đã trải qua hàng vạn năm trong c h ế độ

cộng sản nguyên thuỷ, khi chưa có chế độ tư hữu, chưa có giai cấp đối

kháng thì chiến tranh với tính cách là một hiện tượng chính trị - xã hội cũng

chưa xuất hiện M ặc dù ở thời kỳ này đã xuất hiện những cuộc xung đột vũ

trang m à hậu quả của nó có thể làm mất đi một bộ lạc, một bộ tộc, nhưng đó

không phải là một cuộc chiến tranh mà chỉ là một dạng “ lao động thời cổ”

Bởi về mặt kỹ thụât quân sự, trong các cuộc xung đột này, tất cả các bên

xung đột đều không có lực lượng vũ trang chuyên nghiệp, không có vũ khí

chuyên dùng Tất cả các thành viên của bộ lạc với mọi loại công cụ lao động

thường ngày đều tham gia xung đột v ề mặt xã hội, các cuộc xung đột này

chí nhằm giành, giữ quyền sử dụng một bãi chăn thả, hái lượm săn bắn, chứ

tuyệt nhiên chưa xuất hiện một ý niệm chính trị, ý niệm nô dịch hoặc thống

trị các bộ tộc, bộ lạc khác Tù binh trong các cuộc xung đột này chỉ có thể

hoặc là bị ăn thịt, hoặc trở thành thành viên của bộ tộc bộ lạc chiến thắng

Do đó, các cuộc xung đột vũ trang này hoàn toàn mang tính tự phát, ngẫu

nhiên Theo đó, Ảngghen chỉ rõ, khi chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu

sản xuất xuất hiện và cùng với nó là sự ra đời của giai cấp, tầng lớp áp bức

bóc lột thì chiến tranh ra đời và tồn tại như một tất yếu khách quan

Tiếp tục phát triển những luận điểm của C.Mác Ph.Ảngghen về chiến

tranh trong điều kiện lịch sử mới, Lê-nin chí rõ: trong thời đại đ ế quốc chủ

Trang 9

nghĩa, chiến tranh bắt nguồn từ chính bản chất của chú nghĩa tư bản, chú nghĩa đ ế quốc Chiến tranh là bạn đường của chú nghĩa đ ế quốc, còn chú nghĩa đ ế quốc thì còn chiến tranh, muốn xoá bỏ chiến Iranh phái tiêu diệt chủ nghĩa đ ế quốc và “ không thè xoá hỏ được chiến tranh, nếu không xoá

hò các giai cấp và không thiết lập chủ nghĩa xã hội”

Như vậy, chiến tranh có nguồn gốc từ c h ế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, có đối kháng giai cấp và có áp bức bóc lột Chiến tranh không phải bắt nguồn từ bản năng sinh vật của con người, không phải là định mệnh

và cũng không phải là hiện tượng tồn tại vĩnh viễn Muốn xoá bỏ chiến tranh phải xoá bố nguồn gốc sinh ra nó

Thực tiễn lịch sử vừa qua đã chứng minh tính đúng đắn của nhận định trên Sau khi Liên Xô tan rã, các nước xã hội chú nghĩa Đông Âu sụp

đổ tình hình thế giới và khu vực tiếp tục xuất hiện những diễn biến phức tạp Cuộc chiến tranh xâm lược Nam Tư, Iraq, và k ế hoạch "Đông tiến" của Khối quân sự NA TO và Mỹ, làm cho nhân loại nhận rõ một chân lý mà bấy lâu nay bị cỗ m áy tuyên truyền khổng lổ của giai cấp tư sản cố tình xuyên tạc, bóp méo là: chủ nghĩa đế quốc càng thắng thế thì nguy cơ chiến tranh ngày càng gia tãng và ngược lại, chủ nghĩa xã hội suy yếu, phong trào cách mạng của các nước tiến bộ thoái trào thì nền hoà bình thế giới càng trớ nên mong manh, yếu ớt

- Bản chất chiến tranh là k ế tục chính trị bằng thủ đoạn bạo lực:

Một trong những vấn đé quan trọng nhất của học thuyết Mác - Lênin

về chiến tranh - quân đội là làm rõ bản chất chiến tranh Trước M ác đã có nhiều nhà triết học, nhà tư tường bàn tới vấn đề này Đáng chú ý nhất là tư tưởng của Claudơvit (1780 - 1831) trong tác phẩm “ Bàn về chiến tranh” Claudơvít cho rằng “Chiến tranh chí là sự k ế tục đơn thuần của chính trị bằng những biện pháp khác” Tuy nhiên với quan điểm duy tâm, siêu hình, phản khoa học, Claudovit cho rằng: chiến tranh chỉ là sự kế tục của chính trị đối ngoại, là sự thay đổi "ngòi bút bằng thanh kiếm" Claudơvit đã xem xét chính trị tách rời với các lợi ích kinh tế và đấu tranh giai cấp, coi chính trị chí là quan hệ đối ngoại của các Nhà nước, từ đó dẫn đến phủ nhận tính giai cấp của chính trị, phủ nhận những cuộc chiến tranh giữa các tập đoàn người, phủ nhận những cuộc chiến tranh do các giai cấp bị áp bức bóc lột đứng lên chống lại giai cấp thống trị, tự giải phóng mình Theo Claudovit niềm tin trong chiến tranh là yếu tô’ tinh thần mang tính chất tuyệt đối, ngoài lịch sử không có mối liên hệ với chế độ xã hội Như vậy, quan điếm của Claudơvit

Trang 10

không thè tiếp cận đúng đắn bản chất chiến tranh, đặc biệt chiến tranh trong thời đại ngày nay.

Khấc phục triệt để những sai lầm của Claudơvit, chú nghĩa Mác- Lênin khẳng định “chiến tranh chi là sự tiếp tục của chính trị bằng những biện pháp khác, (cụ thể bằng bạo lực)” Mác, Ảngghen đã chỉ ra, bản chất của chiến tranh là sự k ế tục chính trị của một giai cấp, một Nhà nước nhất định bằng thú đoạn bạo lực Chiến tranh là phương tiện, là thủ đoạn phục vụ cho mục đích chính trị của các giai cấp các Nhà nước nhất định Không có chính trị “ Siêu giai cấp” , các cuộc chiến tranh đều mang mục đích chính trị

và giai cấp Giữa chiến tranh và chính trị có quan hệ chặt chẽ, chiến tranh phục vụ ch o mục đích chính trị, chính trị chi phối toàn bộ tiến trình và kết cục chiến tranh, quyết định đường lối chiến lược, tổ chức lực lượng và củng

c ố hậu phương của chiến tranh

V.I.Lê-nin chí rõ “ Mọi cuộc chiến tranh đều gắn liền với chế độ chính trị sinh ra nó” , chính trị chi phối chiến tranh từ đầu đến cuối

Q u an điểm duy vật biện chứng về chiến tranh của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đem lại một cuộc cách mạng trong việc nhận thức bản chất chiến tranh Luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất chiến tranh đã chi rõ: Chiến tranh chỉ là một thủ đoạn, một bộ phận của chính trị, nó không làm gián đoạn chính trị, mà ngược lại mọi chức năng, nhiệm vụ của chính trị đều được thực hiện trong chiến tranh Đương nhiên, sự thực hiện đó chú yếu phái bằng bạo lực vũ trang

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, bản chất chiến tranh được cấu thành bởi hai mặt cơ bản: đường lối chính trị của một giai cấp, Nhà nước nhất định và sự tiếp tục chính trị ấy bầng bạo lực vũ trang Trong

đó đường lối chính trị là yếu tố cơ bản nhất, là mục đích của bạo lực vũ tran g đ ồ n g thời bạo lực vũ trang là phương tiện chủ yếu, một yếu tố không thê’ thiếu trong bản chất chiến tranh Mọi mục tiêu, nhiệm vụ của chính trị trong chiến tranh chủ yếu phải được thực hiện thông qua đấu tranh vũ trang

và sự thành bại trong đấu tranh vũ trang tác động sâu sắc đến đường lối chính trị, thậm chí làm thay đổi đường lối chính trị

Thực tiễn đã chứng minh: đường lối chính trị của các giai cấp bóc lột trong lịch sử và ngày nay của chủ nghĩa đ ế quốc đứng đầu là đ ế quốc Mỹ luôn là đường lối chứa đựng nguy cơ chiến tranh; khi tiến hành chiến tranh xâm lược, dù các lực lượng vũ trang cùa chúng có tiến hành nhiều thủ đoạn

Trang 11

tinh vi, xảo quyệt, có sứ dụng nhiểu vũ khí phương tiện chiến tranh và các phương thức tác chiến khác nhau, rút cuộc đều nhàm thực hiện đường lối chính trị xâm lược, với bản chất phản động hiếu chiến.

Ngược lại, với các giai cấp, dân tộc bị áp bức bóc lột m ột khi phải chấp nhận chiến tranh, chấp nhận thực hiện đường lối chính trị chống lại sự

áp bức, nô dịch bầng bạo lực vũ trang thì cũng nhất thiết phải tổ chức một quân đội cách mạng, có mục đích chiến đấu, có tổ chức, trang bị và một nền khoa học quân sự thể hiện tính cách mạng, tự vệ với khả năng cao nhất đế cuối cùng chiến thắng quân xâm lược

- Tính chất xã hội - chính trị của chiến tranh

Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định tính chất xã hội - chính trị của chiến tranh là một phạm trù chi sự đánh giá của một lực lượng xã hội đối với mỗi bên tham chiến, về vai trò của nó đối với tiến bộ x ã hội dựa trên một hệ thống tiêu chuẩn chính trị-xã hội đặc trưng để phân biệt đó là chiến tranh chính nghĩa hay phi nghĩa, tiến bộ hay phản động Như vậy, xác định tính chất xã hội của chiến tranh thực chất là phân biệt vai trò của mỗi bên tham chiến đối với tiến bộ xã hội Theo Lênin, nếu việc tham chiến đó “có ích cho sự phát triển của nhân loại bằng cách giúp ta tiêu diệt được những chế độ đặc biệt có hại và phán động” thì “theo ý nghĩa đó có thế được coi là cuộc chiến tranh chính đáng- chính nghĩa” Ngược lại, nếu tham chiến để củng cố sự áp bức thống trị cúa giai cấp bóc lột thì đó là những cuộc chiến tranh phi nghĩa, phản động và tội lỗi

Về mật hình thức, tính chất xã hội của chiến tranh tồn tại dưới sự đánh giá của một lực lượng xã hội Do lợi ích khác nhau, thậm chí đối lập nhau nên lập trường giai cấp và phương pháp đánh giá của các lực lượng xã hội rất khác nhau Vì thế líồiìg ihực tế, việc xác định tính chất xã hội của chiến tranh có thể đúng đắn, khoa học hoặc có thể sai lầm, giả dối

Xuất phát từ địa vị lịch sử của các giai cấp đối với sự phát triển của

xã hội, từ mục đích chính trị của chiến tranh, C.Mác, Ph.Ảngghen đã phân chia, chiến tranh tiến bỏ và chiến tranh phản động Chiến tranh tiến bộ bao gồm: những cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc, chống lại bọn thực dân xâm lược và những cuộc nội chiến của giai cấp bị áp bức, chống lại giai cấp thống trị phản động á p bức bóc lột Chiến tranh phản động là những cuộc chiến tranh đi xâm lược đấl đai, nô dịch các dân tộc khác Từ đó, các ông xác định thái độ ủng hộ những cuộc chiến tranh tiến bộ, chính nghĩa và phản đối những cuộc chiến tranh phản động, phi nghĩa

Trang 12

V.I.Lênin phàn loại chiến tranh trên cơ sớ dựa vào 4 mâu Ihuẫn cơ bán của thời đại mới, có chiến tranh cách mạng, chiến tranh phản cách mạng, chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh phi nghĩa Để xác định đúng dẩn tính chất xã hội của chiến tranh trong thời đại ngày nay, Lê-nin đòi hói những người cộng sản phải đứng vững trên lập trường cúa giai cấp vô sản, phái xuất phát từ lợi ích của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản Lênin chi rõ “ Chính đáng và chính nghĩa theo quan điểm nào? chi có q uan điểm cùa giai cấp vô sản xã hội chú nghĩa còn các quan điếm khác chúng ta không thừa nhận”

Việc xác định tính chất xã hội của chiến tranh của các bên tham chiến là m ộ t quá trình nhận thức phức tạp Để xác định đúng, trước hết cần phải xem xéi toàn diện các tiêu chuẩn trên cơ sở tiêu chuẩn chính trị, tránh xem xét m ộ t cách phiến diện hoặc áp đặt thiên kiến chú quan Mặt khác theo Lê-nin phải: “Thông hiểu cuộc đấu tranh giai cấp, những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội và ít nhiều lịch sử cách mạng", phải luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhàn, đấu tranh không khoan nhượng với những tư tướng phản diện, nhằm bảo vệ phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin nói chung và học thuyết Mác- Lênin về chiến tranh quân đội nói riêng trong điều kiện lịch sử mới

2- T ư tưởng H ồ C hí Minh về chiến tranh

Những tư tưởng cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nói riêng là sự vận dụng và phát triển sáng tạo những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lénin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII đã khẳng định “Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng, của nhân dân ta”

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh là sự k ế thừa và phát triển những tinh hoa văn hoá quân sự của lịch sử nhân loại cùng với truyền thống đánh giặc giữ nước của dàn tộc Lịch sử hào hùng chống ngoại xâm kiên cường bất khuất của tổ tiên đã tác động tích cực đến sự hình thành và phát triển tư tưởng của người vể chiến tranh, quân đội và bảo yệ Tổ quốc Trên lập trường duy vật biện chứng, Chủ tịch Hổ Chí Minh đã rất sớm đánh giá đúng bản chất của chủ nghĩa đ ế quốc như “con đỉa hai vòi” , một vòi hút máu giai cấp vô sản ở chính quốc, một vòi hút máu nhân dân các dân tộc thuộc địa Người đã phân tích rất sâu sắc tính chất chính trị - xã hội của sự xâm lược thuộc địa và chiến tranh cướp bóc của chủ nghĩa đ ế quốc Pháp

Trang 13

Được sự soi sáng trực tiếp từ các tác phẩm của Lênin về vấn đề dân

tộc và thuộc địa, về nguồn gốc xã hội của các cuộc chiến tranh trong thời

đại đế quốc, Chủ tịch Hổ Chí Minh đã dày công tích luỹ các tư liệu trực

quan mà người đã chứng kiến nhiều nơi trên thế giới, khái quát sâu sắc bản

chất của thực dân Pháp, chỉ rõ bản chất giai cấp và bộ mặt thật của chiến

tranh thuộc địa; dự đoán một cách thiên tài các âm mưu, thủ đoạn thâm độc

của chủ nghĩa đ ế quốc, tính chất khốc liệt của các cuộc chiến tranh thuộc

địa mà bọn đ ế quốc tiến hành ờ Việt Nam Trên cơ sở đó, Chủ tịch Hồ Chí

Minh đã giải quyết thành công một loạt vấn đề c ơ bản của cách mạng và

chiến tranh giải phóng ở Việt Nam

- Phân biệt rõ sự đối lập mục đích chính trị của chiến tranh xâm lược

và chiến tranh chống xâm lược: Bối cảnh xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ

IXX đầu thế kỷ XX, do hạn chế về lịch sử, do hậu quả hàng mấy thập kỷ

của chính sách ngu dân của chú nghĩa thực dân, trong thời gian đó một bộ

phận không nhỏ nhân dân đã nghe theo sự tuyên truyền phản động của chú

nghĩa đ ế quốc là đi “ khai hoá vãn minh” , đi “giúp đỡ” các nước lạc hậu Với

trí tuệ thiên tài cùng với sự phân tích sáng suốt của một bộ óc kiệt suất, sau

nhiều năm bôn ba tìm đường cứu nước, Hổ Chí Minh đã phân tích hoàn

cảnh lịch sử và tính chất của các cuộc chiến tranh xâm lược diễn ra trên đất

nước ta, người đã chỉ rõ các mục tiêu chính trị- giai cấp đối kháng của cuộc

chiến tranh do nhân dân ta tiến hành và cuộc chiến tranh do bọn cướp nước

và bán nước tiến hành

Từ quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về bản chất cùa chiến tranh

là sự k ế tục chính trị bàng thủ đoạn bạo lực, Chủ tịch Hổ Chí Minh đã phãn

biột rõ sự đối lập giữa mục đích chính trị của chiến tranh xâm lược là cướp

nước, thống trị các dân tộc với cuộc chiến tranh chống xâm lược và bảo vệ

độc lập dân tộc, bảo vê chủ quyền quốc gia Nói về mục đích cuộc kháng

chiến chống thực dản Pháp, trong lời kêu gọi nhân dịp 6 tháng kháng chiến,

Chủ tịch Hổ Chí Minh khẳng định: “ta chí gìn giữ non sông, đất nước ta, chí

chiến đấu cho quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc Còn thực dân phản

động Pháp chí mong ăn cướp nước ta, mong bắt dân ta làm nô lệ” Khi phân

tích âm mưu xâm lược đất nước ta của chủ nghĩa đ ế quốc, Hồ Chí Minh

thường xác định rõ mục đích chính trị cụ thể của chúng, mục đích đó quy

định tính chất, quy mô, trình độ và những dự báo các khả năng tiến triển của

các cuộc chiến tranh Xác định chính xác những vấn đề đó là cơ sở hết sức

quan trọng để định ra những chú trương chiến lược, tổ chức tốt lực lượng và

tiến hành kháng chiến toàn dân, toàn diện đến thắng lợi cuối cùng

Trang 14

Theo quan điếm của Chù tịch Hồ Chí Minh, các cuộc chiến tranh

chống xâm lược của dân tộc ta luòn phải phục tùng m ục tiêu chính trị cúa

cách mạng Việt Nam: Độc lập dân tộc và chu nghĩa xã hội Người khẳng

định: “ Mục tiêu bất di bất dịch của ta vẫn là hoà bình, độc lập, thống nhất,

dân chủ” Như vậy, Chù tịch Hổ Chí Minh đã chí rõ, cuộc chiến tranh do

thực dân Pháp tiến hành ở nước ta là cuộc chiến tranh xâm lược, cướp nước

ta, bắt dân ta làm nô lệ Ngược lại cuộc chiến tranh của nhân dân ta, chống

thực dân Pháp xâm lược là nhằm eiữ gìn non sông đất nước, báo vệ chú

quyển thống nhất và độc lập của Tổ quốc

- Xác định tính chất xã hội của chiến tranh, khẳng định phải dùng bạo lực cách mạng để giành chính quyền và giữ chính quyền

Trên cơ sở mục đích chính trị của chiến tranh, Chủ tịch Hổ Chí Minh

đã xác định tính chất xã hội cua chiến tranh, chiến tranh xâm lược là phi

nghĩa, chiến tranh chống xâm lược là chính nghĩa, nhằm giúp nhân dân ta

có thái độ ủng hộ chiến tranh chính nghĩa, phản đối chiến tranh phi nghĩa

Trong nhiều bài viết, bài nói của mình, Chù tịch Hồ Chí Minh đã làm

sâu sắc, nổi bật phương pháp luận của Lênin về tính chất chính trị- xã hội

của các cuộc chiến tranh xâm lược và các cuộc chiến tranh chống xâm lược

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã phát triển một cách sâu sắc những vấn đc

vể nguyên nhân, bản chất và tính chất chính trị - xã hội cua chiến tranh xâm

lược thuộc địa và chiến tranh chông xâm lược của các dân tộc thuộc địa Đó

là sự vận dụng và phát triển học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh Với

nhãn quan chính trị sâu rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đ ã có những dự báo kịp

thời và chính xác khả năng xuất hiện và phát triển của các cuộc chiến tranh

xâm lược và chống xâm lược diễn ra ờ một số nước, nhất là trên lãnh thổ

Việt Nam Trên cơ sở phân tích sâu sắc tình hình quốc tế, xác định kẻ thù,

phán đoán âm mưu và việc chuẩn bị về mặt quân sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã dự đoán được tính chất không tránh khỏi của cuộc chiến tranh giữa dân

tộc V iệt Nam mới giành được độc lập với thực dân Pháp N hờ vậy, trong

một thời gian rất ngắn sau cách mạng tháng Tám thành công, Đ ảng ta, đứng

đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi thảo kế hoạch lãnh đạo cuộc kháng

chiến chống thực dân Pháp và khẩn trương chuán bị mọi mặt cho cuộc chiến

tranh đó Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa M ác - Lênin về bạo lực

cách mạng, Chủ tịch Hổ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo vào thực tiễn chiến

tranh cách mạng Việt Nam Từ rất sớm, người đã nhận rõ bản chất bạo lực

từ đầu đến cuối của bọn thực dân phong kiến thống trị Người đã vạch rõ:

“Chủ nghĩa thực dân là ãn cướp và giết người" và “Lịch sử việc người

Trang 15

Châu Âu xâm chiếm Châu Phi, cũng như bất cứ lịch sử xâm lược thuộc địa nào thì từ đầu đến cuối được viết bằng máu những người bản xứ” Từ đó Người khái quát: “C hế độ thực dân, tự bản thân nó đ ã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi” Do đó, muốn lật đổ c h ế độ thống trị thực dân, nhất định phái sử dụng bạo lực cách mạng Bạo lực cách mạng theo tư tướng n ồ Chí Minh được tạo thành bới sức mạnh của toàn dân, bằng

cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang Người xác định bạo lực cách mạng trước hết là bạo lực quần chúng Do đó, phái kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang

- Tiến hành chiến tranh nhàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng

Chiến tranh nhàn dân trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dãn tộc Việt Nam là loại hình chiến tranh do nhân dân tiên hành nhằm thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, bảo vệ Tố quốc Tư tưởng chiến tranh nhân dân ớ Việt Nam đã xuất hiộn từ thời lập quốc được nhủn dân ta nuôi dưỡng trong hơn một ngàn năm “ Bắc thuộc” Theo quan điếm của Chủ tịch Hổ Chí Minh, các cuộc chiến tranh chống xâm lược của dân tộc ta luôn phải phục tùng mục tiêu chính trị của cách mạng Khảng định cách mạng là sự nghiệp cúa quần chúng, Hồ Chí Minh luôn coi con người là nhân tố quyết định đối với thắng lợi của chiến tranh Người chú trương phái dựa vào dân coi “dân là gốc" đế

“xây lầu thắng lợi” Từ đó, Người đã chứng minh tính tất yếu của tháng lợi thuộc về dân tộc Việt Nam và phương thức giành thắng lợi là: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” Người đã dựa vào sức mạnh của quần chúng và sự phát triển cao của chiến tranh nhân dân, tạo lập một Ihế mới, một lực mứi bát buộc quân xủm lược nước ngoài phải thất bại, phải cút về nước và quân đội bù nhìn phải đầu hàng khi còn lực lượng Vì vậy, nét đặc sắc và nối bật trong tư tướng Hồ Chí Minh về chiến tranh là, tiến hành chiến tranh nhản dân dưới sự lãnh đạo cùa Đảng, “ Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dãn cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dàn”

Khi bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp (19/12/1946) Chủ tịch Hổ Chí Minh kêu gọi: “ Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dàn tộc, hề là người Việt Nam thì phái đứng lên đánh thực dàn Pháp đổ cứu Tổ quốc” Trong kháng chiến chống đê quốc

Mỹ xâm lược, người tiếp lục khẳng định “ Ba mươi mốt triệu đồng bào ta ở

ca hai miền, bất kỳ già, tré, gái, trai phải là ba mươi mốt triệu chiến sỹ anh dũng diệt Mỹ cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng”

Tư tưởng chiến tranh nhàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng được thê hiện một cách giản dị nhưng sâu sắc Đó chính là sự khái quát về tính đặc

Trang 16

sắc của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại mới và là một sự phát triển đến đinh cao tư tưởng vũ trang toàn dàn của chú nghĩa Mác - Lénin.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đánh giặc phải bằng sức mạnh của toàn dân, trong đó phải có lực lượng vũ trang làm nòng cốt Lực lượng vũ trang được tổ chức, hướng dẫn, làm chỗ dựa về mặt quân sự đế nhân dân sát cánh cùng lực lượng vũ trang đánh giặc, do đó phái hết sức coi trọng xây dựng lực lượng vũ trang hùng mạnh

Kháng chiến toàn dân phải đi đôi với kháng chiến toàn diện, phát huy sức m ạnh tổng hợp của toàn dân, đánh địch trên tất cả các mặt trận: đó

là thực hiện đấu tranh quân sự kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị, kinh

tế, văn hoá, ngoại giao là tiến hành chiến tranh “bằng mọi hình thức và vũ khí có trong tay” ; đó là phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân của cả nước, trong đó đấu tranh quân sự là hình thức chủ yếu của chiến tranh, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “quân sự là việc chủ chốt trong kháng chiến” , nhưng phải phối hợp chặt chẽ với các hình thức khác “ thắng lợi quân

sự đem lại thắng lợi cho chính trị, thắng lợi chính trị sẽ làm cho thắng lợi quân sự to lớn hơn” Đấu tranh ngoại giao là mặt trận có ý nghĩa chiến lược trong chiến tranh, Người chủ trương vừa “đánh” vừa “đàm ” để giành thắng lợi đổng thời chú trọng tuyên truyền đối ngoại làm sáng ngời chính nghĩa của la, vạch trần tính chất phi nghĩa, phi đạo đức của kẻ thù, nhằm cô lập ké thù, trên cơ sở ấy xảy dựng cho được mặt trận rộng rãi của nhân dân thế giới đoàn kết, ủng hộ Việt Nam Kinh tế là mặt trận quan trọng trong chiến tranh, là

cơ sở tạo nên sức mạnh vật chất đế đảm bảo cuộc chiến đấu trên mặt trận quàn

sự và ngoại giao giành thắng Lợi Vì vậy, phải động viên toàn dân tham gia sản xuất, giáo dục tinh thần chịu đựng khó khăn gian khổ, nêu cao tinh thần hy sinh, ý chí tự lực tự cường “vừa sản xuất, vừa chiến đấu” Chủ tịch Hổ Chí Minh chi rõ “Ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sỹ” , “tay cày tay súng, tay búa tay súng”, ra sức phát triển sản xuất để phục vụ kháng chiến với khẩu hiệu “tất cả cho chiến thắng”

Chủ tịch Hổ Chí Minh không muốn chiến tranh, chí muốn Tổ quốc được độc lập và thống nhất, muốn hoà bình để tránh cho nhân dân khỏi đau khổ và xây dựng lại đất nước Việt Nam thoát khỏi nghèo nàn vì gần một thê'

kỷ dưới ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân Pháp Do đó, với Hồ Chí Minh ngăn chặn được chiến tranh là thượng sách, Người cố gắng dùng các phương thức ít phải đổ m áu để giành chính quyền, kể cả thậm chí phải nhân nhượng

ký Hiộp định ngày 6 -3 thừa nhận những quyền lợi kinh tế và văn hoá của Pháp ở Việt Nam Khi đã phải chấp nhận dùng chiến tranh thì sự hy sinh

Trang 17

mất mát là không tránh khỏi, do đó, người thường xuyên nhắc nhở các cấp

các ngành, toàn dân phải luôn ghi ơn những người đã ngã xuống cho độc lập

- tự do cùa Tổ quốc, chàm sóc gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có công

với cách mạng và đối xử khoan hồng với tù, hàng binh địch Tính nhân văn

trong tư tướng quân sự Hổ Chí Minh được kết tinh trong truyền thống “Đại

- Nghĩa - Trí - N hân” , “ Mở đường hiếu sinh” cho kẻ thù đó là truyền

thống, đạo lý “ hoà hiếu" Việt Nam, nó đối lập hoàn toàn với tư tưởng hiếu

chiến, tàn ác, vô nhân đạo của thực dãn, đ ế quốc

Trong lĩnh vực nghệ thuật quân sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn lấy tư

tường chiến lược tiến công, giành thế chù động, đánh địch bàng sức mạnh

tổng hợp của nhiều lực lượng, hình thức, quy mô và mọi lúc, mọi nơi Khéo

léo kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố: Thiên thời - Địa lợi- Nhân hoà, để

đánh và thắng địch một cách có lợi nhất, lón Ihất lì nhất Dưới sự lãnh đạo

của Đãng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nghệ thuật chiến tranh nhân dân toàn

dàn, toàn diện của Việt Nam đã phát triển đến đính cao

- Kháng chiến lâu dài dựa vào sức mình là chính: Chiến tranh là thử

thách toàn diện về mọi mặt đối với đời sống xã hô; nói chung, đời sống xã

hội - chính trị nói riêng Xuất phát từ hoàn cảnh nuơc ta là một nước nghèo,

kinh tế kém phát triển, khoa học kỹ thuật lạc hậu, trong khi đó kẻ thù xâm

lược thường là những cường quốc có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh,

cho nôn ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp Chủ tịch Hổ Chí Minh

đã đề ra chủ trương “vừa kháng chiến vừa kiến quốc” để xây dựng và phát

triển lực lượng ta, càng đánh càng trưởng thành Hồ Chí Minh đã viết:

“ Muốn giữ vững độc lập thì chúng ta phải đem hết lòng hăng hái đó vào con

đường kiến quốc Kháng chiến phải đi đổi với kiến quốc Kháng chiến có

thắng lợi thì kiến quốc mới thành công, kiến quốc có chắc thành công

kháng chiến mới mau thắng lợi” Người chí đạo: Phải trường kỳ kháng

chiến, tự lực cánh sinh, “trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”

Trường kỳ là đánh lâu dài, lấy thời gian làm lực lượng để chuyển hoá so

sánh dần dần thế và lực của ta, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành

thắng lợi hoàn toàn Tự lực cánh sinh là dựa vào sức mình, không ỷ nại,

“Phải đem sức ta mà giải phóng cho ta”, đồng thời phải hết sức tranh thủ sự

đổng tình giúp đỡ của quốc tế, tạo nén sức mạnh tổng hợp lớn hơn địch đê

đánh và thắng chúng

Tư tưởng cơ bán của Chù tịch Hồ Chí Minh về chiến tranh đ ã trở thành

tư tướng chí đạo xuyên suốt và là nguồn gốc thắng lợi trong hai cuộc kháng

Trang 18

chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhàn dân ta Ngày nay những tư tưởng

đó còn nguyên giá trị, định hướng cho Đảng ta trong việc đề ra những quan điểm cơ b ản tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

II QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG H ổ CHÍ MINH VỀ QUÂN ĐỘI.

1- Quan đ iểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin.

Từ khi quân đội xuất hiện đến nay, đã có không ít nhà lý luận đề cập đến nguồn gốc, bản chất, chức nãng của quân đội trên các khía cạnh khác nhau Nhưng chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin mới đề cập đúng đắn, khoa học

về vấn đề đó Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồn gốc, bản chất, chức nãng của quân đội là cơ sở phương pháp luận để chúng ta nhận thức, làm rõ

cơ sở lý luận của sự nghiệp báo vệ Tổ quốc và xây dựng quân đội ta theo yêu cầu cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

- Khái niệm vể quân đội: Theo Ph.Ảngghen: “Q uân đội là một tập đoàn người vũ trang có tổ chức, do Nhà nước xây dựng nên và dùng vào cuộc chiến tranh tấn công hoặc chiến tranh phòng ngự”

Từ điển Bách Khoa quân sự Việt Nam viết: “Q uân đội, tổ chức vũ trang chuyên nghiệp (tập trung, thường trực) do một tập đoàn Nhà nước, tập đoàn chính trị hoặc phong trào chính trị làm chức nãng N hà nước xây dựng đê’ tiến hành đấu tranh vũ trang nhằm thực hiện mục đích chính trị của Nhà nước, tập đoàn hay phong trào đó”

Như vậy, về thực chất, đặc trưng cơ bản của quân đội với tính cách là một hiện tượng xã hội: quân đội là một tổ chức của Nhà nước, do Nhà nước xây dựng nên, bản chất giai cấp của quân đội chính là bản chất giai cấp của Nhà nước đã tổ chức nuôi dưỡng xây dựng nó Cùng với việc nghiên cứu về chiến tranh, Các Mác, Ảngghen đã vạch rõ: Quân đội là công cụ chủ yếu để tiến hành chiến tranh và nó sẽ mất đi cùng với sự tiêu vong của Nhà nước, khi loài người đã loại trừ được chiến tranh ra khỏi đời sống xã hội

- Nguồn gốc ra đời của quân đội: Khi bàn về nguồn gốc ra đời của quân đội, các quan điểm trước Mác, do ảnh hừởng của thế giới quan duy tâm, phương pháp siêu hình và lợi ích giai cấp chi phối nên họ đã giải thích thiếu toàn diện hoặc sai lệch hoặc cố tình lẩn tránh nguồn gốc kinh tế - xã hội của quân đội, cho rằng quân đội là một sản phẩm tất yếu, tự nhiên thuần tùý trong lịch sử loài người HọLphiđỊottíiíDh lisỊvsử của quân đội và khẳng

Trang 19

định cho sự tổn tại vĩnh viễn của quàn đội, coi quân đội ra đời là sự bảo đám

các hoạt động “ bình thường” của mọi xã hội

Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chứng minh khoa học nguồn gốc ra đời

của quân đội từ sự phân tích cơ sở, kinh tế - xã hội và khẳng định: Quân đội

là một hiện tượng lịch sử, ra đời trong giai đoạn phát triển nhất định của xã

hội loài người, khi xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và sự đôi

kháng trong xã hội Chính chế độ tư hữu và đối kháng giai cấp đã làm náy

sinh N hà nước thống trị bóc lột Để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, để

đàn áp quần chúng nhân dân lao động, giai cấp thống trị đã tổ chức ra quân

đội thường trực làm cồng cụ Nhà nước Lịch sử phát triển của xã hội loài

người đ ã chứng minh ràng, trong xã hội cộng sản nguyên thuý, do trình độ

sản xuất thấp kém, tư liệu sản xuất là của chung, giai cấp chưa xuất hiện,

chưa có N hà nước, không có chiến tranh nên quân đội khổng xuất hiện

Như vậy, c h ế độ tư hữu vể tư liệu sản xuất và sự phán chia giai cấp

đối kháng là nguồn gốc ra đời của quân đội Chừng nào còn c h ế độ tư hữu,

còn chế đ ộ áp bức bóc lột thì quân đội vẫn còn tồn tại Quàn đội chí mất đi

khi giai cấp, N hà nước và những điều kiện sinh ra nó tiêu vong Theo quy

luật phát triển tất yếu của lịch sử, sớm muộn xã hội loài người sẽ tiến lên

xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới, lúc đó

không còn c h ế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, không còn đối

kháng giai cấp, không còn Nhà nước, không có chiến tranh thì quân đội sẽ

m ất đi

- Bản chất giai cấp của quân đội: Các nhà tư tướng ngoài M ác - xít có nhiều quan điểm khác nhau về bản chất giai cấp của quân đội Ngay từ thời

cổ đại, Aritxtôt đ ã quan niệm quân đội là công cụ của Nhà nước Giai cấp

phong kiến ở thời kỳ trung đại lại cho rầng quản đội là công cụ của Thượng

đ ế để giành hoà bình và công bằng cho Cơ đốc giáo, để bảo vệ lợi ích cho

giai cấp phong kiến và nhà thò Quan điểm của các học giá tư sản trong thời

kỳ cận đại và hiện đại đã đưa ra những quan điểm phản động, phản khoa

học, họ ch o rằng quân đội là của toàn xã hội, quân đội là để báo vệ lợi ích

của toàn dân tộc, quân đội đứng ngoài giai cấp Thực chất các quan điểm

trên c ố tình xuyên tạc, che dấu bản chất quân dội là công cụ của chính sách

đối nội và đối ngoại của bọn bóc lột Họ cố chứng minh quàn đội là một

hiện tượng vĩnh viễn, “trung lập về chính trị” và phi giai cấp

C.M ác, Ph.Ảngghen đã đấu tranh không khoan nhượng chống lại

những quan điểm cho rằng quân đội là phi chính trị, phi giai cấp Các ông

đã lý giải sáu sắc bàn chất của quân đội, quân đội là công cụ bao lực vũ

Trang 20

trang của một giai cấp, một Nhà nước nhất định Bán chất giai cấp của quân

đội là bản chất giai cấp của Nhà nước đã tổ chức, nuôi dưỡng và sử dụng

quân đội Q uân đội do giai cấp, Nhà nước tổ chức, nuôi dưỡng và xây dựng

theo đường lối, quan điểm chính trị, quân sự của giai cấp mình Trong lịch

sử, chưa có một quân đội nào chiến đấu vì lợi ích chung c ủ a m ọi giai cấp

Bản chất giai cấp của quàn đội tương đối ổn định, song không phải

cố định, đứng im, bất biến, mà có sự vận động, biến đổi tuỳ thuộc vào nhiều

yếu tố Sự tác động đến bán chất giai cấp của quân đội m ạnh mẽ nhất, quyết

định nhất là giai cấp, Đ ảng chính trị, Nhà nước tổ chức ra quân đội Vì vậy,

tăng cường bản chất giai cấp cho quân đội để quãn đội trung thành với lợi

ích của giai cấp, Nhà nước là một nguyên tắc bất di, bất dịch m à bất cứ một

giai cấp, Nhà nước nào khi tổ chức ra quân đội đều phải q uan tâm hàng đầu

Bài học xương máu của Liên x ỏ và các nước xã hội chủ nghĩa Đ ông Au:

khi Đ ảng Cộng sản và N hà nước bị thoái hoá về chính trị, mất vai trò lãnh

đạo và quản lý đối với quân đội, tiến hành “ Phi chính trị hoá quân đội” đã

làm cho quản đội mất phương hướng chính trị, dẫn đến h ậu q u ả Đ ảng, chế

độ xã hội chủ nghĩa, N hà nước xã hội chủ nghĩa bị sụp đổ, tan rã nhanh

chóng còn quân đội trở nên vô cảm, khoanh tay đứng nhìn

Trong những năm gần đây, các học giả tư sản thường rêu rao quan

điểm “ Phi Chính trị hoá quân đội” , cho rằng quân đội phải đứng ngoài chính

trị, quân đội là công cụ chung của toàn xã hội, quân đội không m ang bản

chất giai cấp Thực chất quan điểm này của các học giả tư sản nhằm làm suy

yếu sự lãnh đ ạo của Đ ảng Cộng sản, tiến tới tước bỏ vai trò lãnh đạo của

Đảng Công sản đối với quân đội Đồng thời, làm giảm sức m ạnh chiến đấu,

từng bước làm thoái hoá về chính trị tư tưởng, phai nhạt b ản chất cách mạng

của quân đội Cuối cùng để biến quân đội trở thành công cụ sai khiến của

chủ nghĩa đ ế quốc Đ ó là một mục tiêu quan trọng trong chiến lược “diễn

biến hoà bình” , bạo loạn lật đổ và chuẩn bị gây chiến tranh xâm lược Thực

tê' đó đang chứng minh tính đúng đắn quan điểm của Lênin: “ H iện nay cũng

như trước kia và sau này quân đội sẽ không bao giờ có thể trung lập được”

Các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng yêu chuông hoà bình trên

thế giới, loài người tiến bộ phải luôn đề cao cảnh giác, chăm lo xây dựng

quân đội hùng mạnh để sẵn sàng chủ động đánh bại cuộc chiến tranh xâm

lược bằng vũ khí công nghệ cao của chủ nghĩa đế quốc (nếu xảy ra)

- Sức mạnh chiến đấu của quân đội: do sự-chi phối của lập trường giai cấp và phương pháp xem xét phiến diện, thiếu khoa học, các nhà lý luận

quân sự thuộc giai cấp bóc lột thường nhấn mạnh yếu tố vật chất, tuyệt đối

Trang 21

hoá yếu tô' vũ khí kỹ thuật và coi nhẹ các yếu tố khác trong sức mạnh

chiến đấu của quân đội Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, với sự xuất

hiện các loại vũ khí công nghệ cao, vũ khí giết người hàng loạt, thì các

quan điếm đó lại được phát triển cực đoan hơn Hoặc, ngược lại cũng có

quan điểm đã tuyệt đối hoá yếu tố tinh thần, coi nhẹ các yếu tố khác Chủ

nghĩa Mác - Lênin đã khái quát tính quy luật của quá trình nâng cao sức

mạnh chiến đấu của quân đội, từ đó khẳng định sức mạnh chiến đấu của

quân đội là tổng thể các nhân tố vật chất và tinh thần quy định trạng thái

và năng lực thực hiện nhiệm vụ chiến đấu của quân đội Chủ nghĩa Mác -

Lênin với cách nhìn biện chứng, khoa học không tuyệt đối hoá yếu tố vật

chất hay tinh thần mà khẳng định sức mạnh chiến đấu của quân đội là kết

quá tổng hợp c ủ a nhiều yếu tố tạo nên Sức mạnh chiến đấu của quân đội

không phải là phép cộng giản đơn của các yếu tố, mà là sự thống nhất biện

chứng giữa các yếu tố tạo thành

Bảo vộ và phát triển lý luận của C.Mác, Ph.Ảngghen về quân đội,

Lênin đã chỉ rõ sức mạnh chiến đấu của quân đội phụ thuộc vào nhiều yếu

tố, trong đó khẳng định vai trò quyết định của nhân tố chính trị tinh thần

trong chiến tranh Người nói: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng

lợi đều tuỳ thuộc vào trạng thái chính trị, tinh thần của quần chúng đang đổ

máu trên chiến trường quyết định”

- Nguyôn tắc xây dựng quân đội kiêu mới của Lê-nin: sau cách mạng tháng Mười thành công, nước Nga Xô viết phải đương đầu với sự phản

kháng điên cuồng của giai cấp tư sản, địa chủ ở trong nước đã bị lật đổ, để

bảo vệ thành q u ả cách mạng V.I.Lẽnin yêu cầu phải giải tán ngay quân đội

cũ và nhanh chóng thành lập quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản Hổng

quân và V.I.Lênin đã trực tiếp lãnh đạo, chí đạo xây dựng Hổng quân công

nông Những nguyên tấc xây dựng quân dội kiểu mới mà Lênin khẳng định

đã được Đại hội VIII của Đảng Bôn xêvích Nga thồng qua: Nguyên lắc giai

cấp trong xây dựng quân đội; Quân đội phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng

Cộng sản; N guyên tắc tiến hành công tác chính trị; Đoàn kết thống nhất

quân đội với nhân dân; Sự trung thành với chủ nghĩa quốc tế vô sản; Nguyên

tắc tập trung trong lãnh đạo, chỉ huy quân đội; Xây dựng kỷ luật quân đội

nghiêm minh, tự giác cao; Coi trọng sử dụng các thành tựu khoa học, kỹ

thuật hiên đại trong xây dựng quân đội; không ngừng nâng cao sức chiến

đấu của quân đội

Ngày nay, những nguyên tắc về xây dựng quân đội kiểu mới của Lê-

nin vẫn còn nguyên giá trị, là cơ sở lý luận cho các Đảng cộng sản đề ra

phương hướng tổ chức xây dựng quân đội của mình

Trang 22

2- Tư tường H ổ C hí Minh vẻ quân đội.

Trước hốt Chủ tịch Hổ Chí Minh khảng định về mật lý luận cho rằng

sự ra đời của quân đội là một tất yếu, có tính quy luật của đấu tranh giai

cấp, đấu tranh dân tộc ờ Việt Nam Người viết: “ Dãn tộc Việt Nam nhất

định phải được giải phóng Muốn đánh chúng phải có lực lượng quân sự

Muốn có lực lượng quân sự phái có tổ chức” Điệu đó chứng tỏ sự ra đời của

quản đội liên hệ mật thiết với sự nghiệp giái phóng giai cấp và giải phóng

dân tộc Chủ tịch Hổ Chí Minh xác định phải “tổ chức quản đội công nông”

chuẩn bị lực lượng cho tổng khới nghĩa

- Quân đội nhân dân Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, tính nỉ)ân dân và tính dân tộc sâu sắc Một trong những cống hiến của Hồ Chí

Minh trong phát triến lý luận quân đội là sự lập luận tính nhân dân của quân

đội ta, sự thống nhất bản chất giai cấp công nhân và tính nhãn dân của quân

đội ta Người nhấn mạnh quán đội ta phải được xây dựng thành một quân đội

cách m ạng mang bản chất giai cấp công nhân, có tính nhân dân, tính dân tộc

sâu sắc, một quân đội của nhân dân, do nhân dân xây dựng, vì nhân dân mà

chiến đấu Bản chất giai cấp công nhân của quân đội biểu hiện trong các mối

qũan hệ với Đảng, chính quyền Nhà nước, nhãn dân, trong nội bộ quân đội và

bạn bè quốc tế Bản chấl đó được khái quát trong lời tuyên dương: “Quân đội

ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì độc lập, tự do

của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn

nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”

Sinh ra và trưởng thành trong cao trào cách mạng của toàn dân, dưới

sự lãnh đạo của Đảng, quân đội ta bao gồm những con em của nhân dân lao

động các dân tộc Việt Nam Quan hệ mật thiết giữa quân đội với nhân dân

đã trở thành bản chất, truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội cụ Hồ” Hổ Chí

Minh thường xuyên quan tâm xây dựng mối quan hệ máu thịt giữa quân đội

với nhân dân, coi đó là nguồn gốc tạo nên sức mạnh của quân đội, Ngưòi ví:

“quân với dân như cá với nước” , “dân như nước, quân như c á ” , nếu quân đội

tách rời nhân dân thì không thể lập công Chính mối quan hộ máu thịt giữa

nhân dân và quân đội đã bảo đảm cho quân đội trung với nước, hiếu với dân,

một lòng một dạ phục vụ, sẵn sàng chiến đấu đến giọt máu cuối cùng vì độc

lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân Lúc sinh thời Người

thường càn dặn quân đội, phái đoàn kết cán bộ, chiến sĩ từ trên xuống dưới,

phải “đồng cam cộng khổ” Quân đội phải có tinh thần yêu nước chân chính

và tinh thần quốc tế cao cả Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc Việt Nam

một thành quả vô giá đó là một quân đội cách mạng với hình ảnh “ Bộ đội cụ

Hổ” ngời sáng, một quân đội bách chiến bách thắng

Trang 23

Đối với Q uân đội nhàn dãn Việt Nam, bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc là một thể thống nhất không thể tách rời.

- Tổ chức lực lượng vũ trang nhân dàn Việt Nam gồm 3 thứ quản: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ Bộ đội chú lực, bộ đội địa phương hợp thành Q uân đội nhân dân Việt Nam

Xây dựng Lực lượng vũ trang, theo chủ tịch Hổ Chí Minh phải trẽn cơ

sở xây dựng lực lượng chính trị rộng khắp của quần chúng, trên cơ sở đó mà xây dựng các Lực lượng vũ trang nhân dân từ thấp đến cao v ề tổ chức, trên

cơ sở các đội du kích, các đội tự vệ, lựa chọn cán bộ, chiến sĩ xây dựng quân đội chính quy và trong khi xây dựng quân đội chính quy vẫn duy trì các lực lượng vũ trang địa phương, v ề thực chất, đây là quan điểm xây dựng lực lượng vũ trang 3 thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ

Bộ đội chủ lực bộ đội địa phương hợp thành Quân đội nhân dân Việt Nam

- Sức mạnh của Quán đội nhân dân Việt Nam là sức mạnh tổng hợp trong đó yếu tố con người, yếu tố chính trị tinh thần giữ vai trò quyết định Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sức mạnh của quân đội ta là sức mạnh tống hợp của nhiều yếu tố: Chính trị tinh thần, kỷ luật, tổ chức chỉ huy, vũ khí trang bị trong đó yếu tố con người với trình độ chính trị cao giữ vai trò quyết định Trong mối quan hệ quân sự - chính trị, Người luôn nhấn mạnh nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị Đó là vấn dề có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho quản đội ta mang bản chất của giai cấp công nhân, một quân đội từ nhàn dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu Cùng với xây dựng

về chính trị, Hồ Chí Minh đồng thời nhấn mạnh chăm lo xây dựng quân đội

về mọi mặt, để quân đội có đủ sức mạnh chiến thắng mọi kẻ thù, hoàn thành mọi nhiệm vụ

Để phát huy nhân tô' con người, Hồ Chí Minh thường xuyên chăm lo đến đời sống vật chất tinh thần của bộ đội, khuyên răn, động viên và biểu dương kịp thời những gương “người tốt, việc tốt” Xác định “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” Do đó, phải chăm lo xây dựng cán bộ có đủ đức, đú tài, Người đòi hỏi mỗi cán bộ phải có đủ tư cách: trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung Nhờ vậy, quân đội đã tạo ra những tiền đé cho việc hình thành, phát triển các phẩm chất nhân cách con người mới cho đất nước

- Chức năng cơ bản của quân dội là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân sản xuất: quân đội ta là công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu của Đ ảng và Nhà nước, chức năng cơ bản là sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam, bào vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân Hồ Chí Minh luôn nhắc nhờ, phải xây dựng quân đội

Trang 24

ngày c à n g hùng m ạnh và sẵn sàng chiến đấu để giữ gìn hoà bình, báo vệ đất nước.

Q uân đội ta là quân đội nhân dân cách mạng, quân đội của dân, do dán, vì dàn Đó là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đ áng, Nhà nước và nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh chi rõ: “ tên Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, nghĩa là chính trị trọng hưn quân sự”, do dó chức năng quân đội ta “là đội quân tuyên truyền” , đội quân công tác, tích cực vận động quần chúng nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham gia thực hiện các nhiệm vụ khác Quân đội ta còn có chức năng là đội quân lao động sản xuất Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuvén nhắc nhở bộ đội phái tích cực sản xuất, tự túc một phần và thực hành tiết kiệm Sau khi miền Bắc dược giải phóng, Chủ Tịch Hổ Chí Minh xác định “ hiện nay quàn đội

Những quan điểm, tư tưởng cơ bản của c Mác, Ph.Ảngghen, Lê-nin,

Hồ Chí Minh về nguồn gốc, bản chất, về tính quy luật chi phối sự vận động, phát triển của quân đội, về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, quân đội cách m ạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản hợp thành nội dung cơ bản của học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quân đội Là cơ sở lý luận để chúng ta đấu tranh, phê phán các luận điểm phản khoa học, phi giai cấp của giai cấp tư sản cả trên phương diện lý luận

và thực tiễn, đồng thời là cẩm nang soi sáng chủ trương xây dựng quân đội của Đ ảng ta hiện nay

III QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG H ổ CHÍ MINH VỂ BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.

1- Q uan điểm chủ nghĩa M ác lênin.

c Mác, Ph Ả ngghen sống trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, các nước tư bản lớn nhất lúc này phát triển tương đối đồng đều, mâu thuần giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản trong các nước đó có độ

Trang 25

chín muồi ở trình độ không chênh lệch nhau Từ thực tiễn trên, về mặt lý luận, C.Mác, Ph.Ảngghen cho rằng: “Cách mạng vô sán không những có tính chất dân tộc mà sẽ còn dồng thời xày ra ở tất cả các nước vãn minh nhất, như Anh, Pháp, Mỹ, Đức cách mạng vò sản là một cuộc cách mạng

có tính chất toàn thế giới” Trong điều kiện lịch sử cụ the C.Mác, Ph.Ảngghen không đặt vấn đề bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa một cách trực tiếp Q ua kinh nghiệm công xã Pari năm 1871, C.Mác, Ph.Ăngghen cho rằng, sau khi giành được chính quyền, giai cấp vô sản phải nhanh chóng củng cố nền chuyên chính vô sản, xây dựng chế độ mới, kiên quyết tiến cổng đập tan mọi hành động phản kháng của giai cấp tư sản Đó là những tư tưởng ban đầu về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

V.I.Lênin phát hiện quy lụàt phát triển không đểu về kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và đi đến kết luận hết sức sáng tạo: trong điều kiện lịch sử mới, giai cấp vô sản có thê giành được chính quyền ở mắt xích yếu nhất của chủ nghĩa tư bán, tức là cách mạng vô sản có thể thành công ớ một số nước, thậm chí ớ một nước tư bán

có trình độ phái triển chưa cao

Học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một cống hiến mới của Lênin vào kho tàng chủ nghĩa Mác, đáp ứng trực tiếp nhiệm vụ bảo vệ

TỔ quốc xã hội chủ nghĩa ở nước Nga.

1.1- B ả o vệ T ổ quốc x ã hội chủ nghĩa là m ột tát yếu, kh á ch quan.

Với thắng lợi của cách mạng tháng Mười vĩ đại, nước cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô Viết được thành lập Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân lao động có Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa, một Tổ quốc thực sự của mình, nhưng đồng thời chủ nghĩa tư bản quốc tế và các thê' lực phản động trong nước cũng ngay lập tức quyết dùng lực lượng quân sự và bao vây kinh tế đê bóp chết chế độ xã hội chủ nghĩa, với mưu đồ xoá bỏ chủ nghĩa xã hội, khôi phục lại chủ nghĩa tư bản của giai cấp vô sản Lênin đã chứng minh tính chất tất yếu khách quan phải bảo vệ thành quả của cách mạng vô sản chống lại sự tấn công vũ trang cùa các Nhà nước tư bản, đế quốc Người cho ràng, phải bảo vộ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngay từ khi cách mạng vừa thành công, đồng thời nhấn mạnh: “Chúng ta chủ trương bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngay từ 25-10-1917 Công cuộc bảo vệ ấy phái được tiến hành một cách kiên quyết cho đến khi nào giai cấp tư sản không còn có thể phản kháng lại nữa Cống hiến quan trọng của Lênin ở chỗ lần đầu tiên làm sáng

tỏ mục tiêu bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, mục tiêu đó khẳng định báo

vệ Tổ quốc bao giờ cũng gắn với bảo vê chế độ Bảo vệ Xã hội chủ nghĩa

Trang 26

với tính cách là Tổ quốc Do đó cần phái xác định đúng đắn mục tiêu bảo

vệ Tổ quốc xã hội chù nghĩa, luôn néu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nhận thức đúng kẻ thù, đánh giá đúng tình hình, tương quan so sánh lực

’ lượng địch- ta, luôn là những nội dung quan trọng hàng đầu làm sáng tỏ

trong sự nghiệp hảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

1.2- S ự n g h iệp bảo vệ T ổ quốc X ã hội ch ủ n g h ĩa là nghĩa vụ, trách

n h iệ m củ a toàn dàn tộc, toàn thè giai cấp công n h ả n , n ô n g dân và nhàn dán lao động.

Xuất phát từ nội dung chính trị giai cấp, từ bản chất, tính chất, đặc điểm của chiến tranh báo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và dựa trên tính ưu việt của chế độ xã hội chú nghĩa, một khi chiến tranh không thể tránh khỏi thì phải dốc toàn lực đế chiến thắng Trong sắc lệnh “T ổ quốc xã hội chú nghĩa lâm nguy” , Lênin đề cập đến "nhiệm vụ thiêng liêng” và là “nghĩa vụ tuyệt đối của quần chúng, của mọi công dân x ỏ - Viết” là phải sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc, Người chí rõ: “Bảo vệ Tổ quốc.xã hội chủ nghĩa là nghĩa vụ, là trách nhiệm của toàn Đãng, toàn dân của giai cấp vô sản trong nước, nhân dân lao động và giai cấp vô sản thế giới có nghĩa vụ ủng hộ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” Người nhắc nhớ mọi người phải cảnh giác, đánh giá đúng kẻ thù, tuyệt đối không được chủ quan, “phải có thái độ nghiêm túc đối với quốc phòng” Người luôn lạc quan tin tưởng ở sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Người nói “ Không bao giờ người ta có thể chiến thắng được một dân tộc mà

đa số công nhân và nông dân đã biết, đã cảm và trông thấy rầng họ bảo vộ chính quyền của mình, chính quyền Xô Viết, chính quyền của những người lao động, rằng họ bảo vệ sự nghiệp mà một khi thắng lợi sẽ đảm bảo cho họ cũng như cho con cái họ, có khả năng hưởng thụ mọi thành quả văn hoá, mọi thành quả lao động của con người

1.3- B ảo vệ T ổ qu ố c X ã hội chủ nghĩa phải th ư ờ n g xu y ên tăng

cư ờ ng tiềm lực qu ố c p h ò n g gắn với phát triển kin h t ế - x ã hội.

Học thuyết bảo vộ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của Lê-nin đã khẳng định: bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp thiêng liêng, cao cả,

m ang tính cách m ạng, chính nghĩa và có ý nghĩa quốc tế sâu sắc, sự nghiệp

đó phải được quan tâm, chuẩn bị chu đáo và kiên quyết Để bảo vệ Tổ quốc

xã hội chủ nghĩa, theo Lênin cần hết sức tranh thú Ihời gian hoà bình, tận dụng mọi điều kiện thuận lợi, ra sức xây dựng các tiềm lực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, tinh thần, khoa học - kỹ thuật, tiềm lực quân sự; chuẩn

bị đất nước sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, bằng cách khẩn trương biến các tiềm

Trang 27

lực trên thành sức mạnh hiện thực bảo vệ Tổ quốc xã hội chú nghĩa và khi

có nhiệm vụ bảo vô Tổ quốc được đặt ra, nhanh chóng động viên đất nước,

biến sức mạnh hiện thực bảo vệ Tổ quốc thành những nhân tô tháng lợi

nhàm đánh thắng kẻ thù Quá trình đó phải được thực hiện một cách nghiêm

túc, khẩn trương, thực sự, thực tế, tinh thần, tự lực tự cường cao

1.4- Đ ảng cộ n g san lãnh đạo mọi m ặt s ự nghiệp bảo vệ T ổ quốc X ã hội ch ủ nghĩa.

Lênin chi ra rằng: sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa phải

đặt dưới sự lãnh đ ạo của Đảng Cộng sản và sự tổ chức, quản lý của Nhà

nước xã hội chú nghĩa Quan điểm trên của Lênin được đặt ra xuất phái từ

sứ mệnh lịch sử có tính chất quốc tế của cách mạng vô sán: Đảng Cộng

sản phải lãnh đạo mọi mặt sự nghiệp báo vệ Tổ quốc Đáng phái để ra

đường lối, chủ trương, chính sách phù hợp với tình hình, có sáng kiến để

lôi kéo quần chúng và phải có đội ngũ đảng viên gương mẫu, hi sinh

Trong quân đội, c h ế độ chính uỷ được thực hiện, cán bộ chính trị dược lấy

từ những đại biểu ưu tú của công - nông, thực chất đó là người đại diện của

Đảng, để thực hiện sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội Sự lãnh đạo cúa

Đảng Cộng sản là nguyên tắc cao nhất, là nguồn gốc sức mạnh bảo vệ

vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

2- Tư tưửng H ồ C hí Minh

Trong điều kiện lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam, Chù tịch Hồ

Chí Minh đã vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lénin về báo vô Tổ quốc

xã hội chủ nghĩa, k ế thừa tinh hoa truyền thống tổ tiên, nắm vững quy luật

tồn tại và phát triển của dãn tộc Việt Nam “ Dựng nước đi đôi với giữ nước”

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã đưa ra một hệ thống các

quan điểm, tư tưởng hết sức phong phú, làm cơ sờ cho đường lối của Đáng

trong lĩnh vực bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

2.1- B ảo vệ T ổ quốc Việt N am X ã hội chủ nghĩa là tất yế u khách quan, th ể hiện ý c h í quyết tàm của nhân dàn ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của dàn tộc Việt Nam, tiêu biểu

cho ý chí, quyết tâm giải phóng dân tộc, quyết tâm bảo vệ đất nước, quyếl

tủm bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta Điéu đó đã dược thể

hiện đậm nét trong nhiều hài nói, bài viết, trong chính các hoạt động thực

tiễn của Người, những điểu Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh đã trở

thành chân lý, thôi thúc ý chí, quyết tâm giữ nước của cả dân tộc Tính tất

yếu khách quan của nhiệm vụ háo vệ Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa được Hồ

Trang 28

Chí M inh chi rõ: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải

cùng nhau giữ lấy nước” , ý chí quyết tâm giữ nước của Người rất sãu sắc,

kiên quyết: “Chúng la thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước,

nhất định không chịu làm nỏ lệ”, “ Dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả

dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho dược độc lập” , “hễ còn một

tên xâm lược trên đất nước ta thì chúng ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét

sạch nó đi” điều kiện lịch sứ nước ta sau khi cách mạng tháng Tám năm

1945 thành công, chính quyền cách mạng non trẻ, tài chính kiệt quệ, nạn

đói khủng khiếp còn đe doạ, bọn thực dân đ ế quốc cùng các thế lực phản

động trong nước xúm lại quyết đè bẹp Nhà nước công nông đầu tiên ờ Đông

Nam Ẩ Tinh thế đất nước hết sức hiểm nghèo, vận mệnh Tổ quốc như

“ngàn cân treo sợi tóc” Vận dụng học thuyết Mác - Lênin về bào vệ Tổ

quốc x ã hội chú nghĩa, Chu tịch Hồ Chí Minh đã cùng Đ ảng ta chủ trương

kiên quyết bảo vệ chính quyền nhân dân và chủ quyền dân tộc, thực hiện

nguyên tắc “d ĩ bất biến ứng vạn biến” hết sức tranh thú thời gian hoà hoãn

để xây dựng lực lượng về mọi mặt cho sự nghiệp bảo vệ T ổ quốc, Người đưa

ra hàng loạt các biện pháp thiết thực, cụ thể đê giữ vũng chính quyền nhân

dân, chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài

Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí

M inh đư a ra chân lý sáng ngời “Không có gì quý hơn độc lập tự do”

Trong bản di chúc thiông liêng, Người cãn dặn: “ cuộc kháng chiến chống

Mỹ cứ u nước có thể còn kéo dài Đổng bào ta có thể phải hy sinh nhiều

của nh.iều người Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh thắng giặc M ĩ đến

thắng lợi hoàn toàn”

Ý chí quyết tâm giãi phóng dân tộc, bảo vộ Tổ quốc là tư tưởng

xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động của Chú tịch Hổ Chí Minh

2.2- M ụ c tiêu bảo vệ T ổ quốc là bảo vệ độc lập dân tộc và chủ nghĩa x ã hội, là n g h ĩa vụ trách nhiệm của m ọi công dán.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là sự gắn

bó không tách rời giữa mục tiêu bảo vệ nền độc lập dân tộc với bảo vệ chế

độ xã hội chủ nghĩa, là sự Ihống nhất giữa nội dung dân tộc, nội dung giai

cấp, nội dung thời đại trong bảo vệ Tổ quốc Bảo vệ T ổ quốc xã hội chủ

nghĩa là nghĩa vụ thiông liêng, là trách nhiệm giữ nước của mổi người dân

Việt Nam Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp, đó là sức mạnh

của toàn dân, của cả nước Trong bản Tuyên ngôn độc lập Chủ tịch Hổ Chí

Minh đ ã tuyên bố: “ toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và

lực lưọmg, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy” Khi

Trang 29

thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta, Người kêu gọi “ Hễ là người Viột Nam thì phái đứng lên đánh thực dàn Pháp cứu Tố q uốc” Trong cuộc kháng chiến chông Mĩ cứu nước Người kêu gọi nhân dân cà nước quyết tám chiến đấu đến ihắng lợi hoàn toàn để giái phóng miền Nam, bảo vệ miền Bác tiến tới thống nhất nước nhà.

2.3- Sứ c m ạ n h bảo vệ T ổ quốc là sức m ạ n h tông hợp c ủ a cá dán tộc, cả nước, k ế t hợp với sức m ạnh thời đại.

Chủ tịch Hổ Chí Minh luôn nhất quán quan điếm: phát huy sức mạnh tổng hợp trong nhiệm vụ báo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đó là sức mạnh của toàn dân tộc, toàn dân, cúa từng người dán, của các cấp, các ngành, từ trung ương đến cơ sở, là sức mạnh của các nhàn tố chính trị, quân sự, kinh

tế, vãn hoá xã hội, sức mạnh truyền thống với hiện tại, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Khi nói về sức mạnh báo vệ Tổ quốc của dân tộc, Người khắng định: “ Sự đồng tâm của dồng bào ta đúc thành bức tường đồng xung quanh Tổ quốc, dù địch hung hãn, xảo quyệt đến mức nào đụng đầu vào bức tường đó, chúng đều thất bại” Để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Chú tịch Hồ Chí Minh chù trương xây dựng nền quốc phòng toàn dàn, xây dựng Lực lượng vũ trang nhân dân, kết hợp xây dựng chủ nghĩa xã hội và báo vệ

Tố quốc xã hội chú nghĩa So sánh về sức mạnh giữa chúng ta với quân xâm lược, trong cuộc kháng chiến chổng Mỹ Người phân tích: chúng ta có chính nghĩa, có sức mạnh đoàn kết toàn dàn từ Bắc đến Nam, có truyền thống đấu tranh bất khuất, lại có sự đổng tình ủng hộ rộng lớn của các nước xã hội chú nghĩa anh em và nhân dân tiến bộ trên thế giới, chúng ta nhất định thắng Tư tưởng Hổ Chí Minh về sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợ p đã được thực tiỗn xây dựng và bảo vệ miền Bấc xã hội chủ nghĩa, thực tiễn thắng lợi trong đánh thắng chiến tranh phá hoại của đ ế quốc M ỹ đối với miền Bắc, thực hiện chi viện mạnh mẽ cho miền Nam và kết thúc thắng lợi

sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước chứng minh hùng hồn sự đúng đắn, sáng tạo trong tư tường của Người

2.4- Đ ảng C ộng sản Việt N am lănh đạo sự ng h iệp bảo vệ T ổ quốc Việt N a m X ã hội ch ủ nghĩa.

Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lv và điều hành của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Chú tịch Hồ Chí Minh nói “Đ ản g và Chính phủ phải lãnh đ ạo toàn dân, ra sức củng cố và xây dựng miền Bắc tiến dần lên chú nghĩa xã hội, đồng thời tiếp tục đấu tranh để thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chú bằng phương pháp hoà bình, góp phẩn bảo

Trang 30

vệ công cuộc hoà bình ớ Á Đỏng và trên thế giới” và Người khảng định

“ Với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Chính phú, với sự đoàn kết nhất trí, lòng tin tưởng vững chắc và tinh thần tự lực cánh sinh c ủ a mình, với

sự giúp đ ỡ vô tư của các nước anh em, với sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới nhất là nhân dàn các nước Á - Phi, nhàn dân ta rihất định khắc phục được mọi khó khăn, làm tròn được nhiệm vụ

vẻ vang m à Đảng và Chính phủ đã đề ra"

Q u án triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc, ngày nay toàn Đ ảng, toàn dân ta đang quyết tâm thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt N am xã hội chủ nghĩa

*

Học thuyết M ác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí M inh về chiến tranh, quản đội và bảo vệ Tổ q uốc xã hội chủ nghĩa m ang tính cách m ạng và khoa h ọ c sâu sắc Đ ó là cơ sở lý luận để Đ ảng C ộng sản đề ra chủ trương, đường lối chiến lược xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh n hân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và nhiệm vụ bảo

vệ T ổ q uốc xã hội chủ nghĩa

Những nguyên lý c ơ bản của chủ nghĩa M ác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí M inh về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa vẫn c ò n nguyên giá trị, chúng ta cần nắm vững những nội dung cơ bản

đó, vận dụng sáng tạo chỉ đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ T ổ quốc Việt Nam x ã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới Đ ởng thời kiên quyết đấu tranh chống lại mọi sự xuyên tạc, bôi nhọ của kẻ thù, bảo vệ và phát triển sáng tạo những nội dung đó trong điều kiện lịch sử mới

Sinh viên là lớp trí thức trẻ, cần nghiên cứu nhận thức đúng đắn các nội dung trên, xây dựng niềm tin có ý thức trách nhiệm góp phần tích cực b ảo vộ, phát triển những nội dung đó trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Viột N am xã hội chủ nghĩa

Trang 31

1- Khái niệm về quốc phòng.

Quốc phòng là công cuộc giữ nước của một quốc gia gồm tổng thê’ các hoạt động đối nội và đối ngoại về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa h ọ c của Nhà nước và nhân dân để phòng thủ đất nước, tạo nên sức mạnh toàn diện, cân đối, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, nhàm giữ vững hoà bình, đẩy lùi, ngăn chặn các hoạt động gây chiến của kẻ thù và sẩn sàng đánh tháng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức và qui mô

2- M ục đích xây dựng nền quốc phòng toàn dàn.

Xây dựng nền Quốc phòng toàn dân nhằm mục đích: bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vộ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia dân tộc; đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lạt đổ của chủ nghĩa đ ế quốc và các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam; chủ động ngăn chặn, đẩy lùi các hoạt động gây chiến của kẻ thù, giữ vững hoà bình, tạo môi trường thuận lợi để xây dựng đất nước, phát triển kinh tế xã hội- cải thiện đời sống nhân dân, đổng thời góp phần bảo vẽ hoà bình và ổn định ờ khu vực và trên thế giới

3-Tính chát của nền quốc phòng toàn dàn.

Bất cứ quốc gia nào cũng phải xây dựng nển quốc phòng, nhưng, do chế độ xã hội khác nhau nên bản chất nền quốc phòng cũng khác nhau Bản chất nền quốc phòng toàn dân của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta đ ược biểu hiộn các tính chất: Toàn dan, toàn diện và hiện đại

3.1- T oàn dân:

Đó là nển quốc phòng của dân, do dân, vì dân với ý nghĩa đầy đủ nhất Tính chất toàn dân của nển quốc phòng một mặt phản ánh quy fluật lịch sử về vai trò quần chúng nhân dân đối với sự phát triển của xã hội, imặt

Trang 32

khác phán ánh truyền thống dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Từ khi ra đời và quá trình lãnh đạo cách m ạng, Đ ảng Cộng sản Việt nam đã chí ra hai bài học lớn: Quán triệt tư tưởng “ dân là gốc” và phát huy quyền làm chú của nhân dân lao động : Mọi chủ Irương chính sách của Đ áng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khá năng của nhãn dán lao động, phải khơi dậy được sự đồng tình, ủng hộ của quần chúng Thực hiện “ toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ q uốc” , “ toàn dân hảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước”

Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và báo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang đặt ra những yêu cầu mới cao hơn Vì vậy, việc tổ chức và động viên toàn dân tham gia xây dựng và cúng cô' quốc phòng là vấn đề chiến lược Đại hội IX của Đ ảng khảng định: “Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân” Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là c ơ sở vững chắc để nhân dàn ta được sống trong độc lập tự do, hoà bình, xây dựng và phát triển đất nước

3.2- Toàn d iện:

Gắn với toàn dân là tính chất toàn diện, toàn dân phải đi đôi với toàn diện, phát huy được sức mạnh toàn dân tất yếu sẽ phát huy được sức mạnh toàn diện của các nhân tố, các lực lượng trên mọi lĩnh vực trong nhân dân, trong cả nước và chế độ để xây dựng và củng cố quốc phòng Đó là nền quốc phòng được tạo lập và phát triển bằng sức mạnh mọi mật: chính trị, tinh thần, kinh tế, văn hoá, khoa học công nghệ, quân sự, an ninh, ngoại giao cả tiềm lực quốc phòng và thế trận quốc phòng của đất nước

Đ ây là đặc trưng phản ánh nội dung, phương pháp xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở nước ta Xây dựng quốc phòng trên cơ sớ xây dựng mọi m ặt của đất nước

Q uán triệt tính chất toàn diện của nền quốc phòng, các cấp, các ngành từ trung ương đến c ơ sở, mỏi tổ chức và từng c á nhân phải ý thức đầy đủ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chủ động tích cực vận dụng ngay vào lĩnh vực hoạt động cụ thể của mình, góp phần xây dựng nền quốc phòng vừng m ạnh toàn diện

Trang 33

3.3- H iệ n đại:

Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ

đang phát triển m ạnh mẽ, kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong

quá trình phát triển của lực lượng sản xuất Hiện nay, tùy theo khá năng

kinh tế và khoa học cổng nghệ của mình, các nước trên thế giới đều xây

dựng quốc phòng, quân sự theo hướng ngày càng hiện đại Từ khi có chủ

nghla đ ế quốc đến nay và sau này, các cuộc chiến tranh đều mang tính chất

hiện đại Xây dựng nền quốc phòng toàn dân hiện đại là vừa phù hợp với xu

thế phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghê, vừa đáp ứng yêu

cầu của chiến tranh nhân dàn bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong điều

kiện kẻ thù sử dụng vũ khí công nghệ cao

Tính chất hiện đại của nền quốc phòng toàn dân ở nước ta đòi hỏi

phải: xây dựng quân đội nhân dân từng bước hiện đại, chú trọng phát triển

công nghịêp quốc phòng, kết hợp kinh tế với quốc phòng và từng bước hiộn

đại hóa vũ khí, trang bị quân sự phù hợp với cơ cấu, tổ chức lực lượng vũ

trang, gắn xây dựng quốc phòng hiện đại với quá trình công nghiệp hóa

hiện đại hóa đất nước Tính chất hiện đại của nền quốc phòng còn là sự kết

hợp giữa con người có giác ngộ chính trị, bán lĩnh, trí tuệ, trình độ tác chiến,

kỹ thuật chuyên m ôn cao với trình độ hiện đại hóa vũ khí, phương tiện chiến

tranh và nghê thuật quân sự Việt Nam

Quá trình hiện đại hóa nền quốc phòng toàn dân của ta không thể

tách rời khả năng hiện đại hóa nền kinh tế và tiềm lực khoa học công nghệ

của nước nhà V ì vậy, Đảng và Nhà nước phải căn cứ vào tình hình thực

tiễn, có giải pháp và bước đi phù hợp, bào đảm cho nền quốc phòng ngày

càng hiện đại

4- Những quan điểm cơ bản xây dựng nền quốc phòng toàn dân

4.1- X â y d ự n g C hủ nghĩa X ã hội phải kết hợp ch ặ t c h ẽ với hào vệ

T ổ qu ố c X ã hội c h ủ nghĩa.

Đây là quan điểm cơ hản của Đảng trong xây dựng và củng cố nền

quốc phòng toàn dân, quan điểm này phản ánh qui luật tồn tại và phát triển

của dân tộc Việt Nam qua hàng ngàn năm lịch sử, “ dựng nước đi đôi với giữ

nước” , đó cũng là qui luật phổ biến của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong

thời đại ngày nay

Trong tình hình quốc tế, khu vực có những biến đổi to lớn, sự nghiệp

xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta, bên cạnh thời

Trang 34

cơ, vận hội, chúng ta đang phải dương đầu với nhiều thách thức, nguy cơ

Đáng chú ý là chủ nghĩa đ ế quốc và các thế lực thù địch vẫn tiếp tục chống

phá cách m ạng nưóc ta Kết hợp chặt chõ xâv dựng chủ nghĩa xã hội với bảo

vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là vấn đề tất yếu, phù hợp với quy luật, phản

ánh yêu cầu khách quan của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp

trong giai đoạn hiện nay Đại hội Đảng lần thứ VIII xác định: “trong khi đạt

trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội chúng ta không một chút

lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc”

Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc X ã hội chủ nghĩa là

hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ hữu cơ mật thiết, là cơ sớ và điều kiện

của nhau Hiện nay, xây dựng và bảo vệ phải gắn kết khãng khít, xây dựng

là gốc của bảo vệ và bảo vệ là bộ phận hợp thành của xây dựng Xây dựng

đất nước vững mạnh tự nó đã có sức mạnh bảo vệ, bảo vệ Tổ quốc ngày nay

khổng chí đơn thuần là ngăn ngừa, chống lại kẻ thù, m à xây dựng đạt kết

quả tốt cũng chính là một phương thức tích cực, chủ động để tự bảo vệ Kết

hợp chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ sẽ tạo thành sức m ạnh tổng hợp, bảo

đảm cho Tổ quốc và chế độ ngày càng bền vững và phát triển, cần khấc

phục những nhận thức và hành động không đúng như: xem nhẹ một trong

hai nhiệm vụ, tách rời hoặc đối lập hai nhiệm vụ đó

4 2 - Đ ộc lập,tự ch ủ , tự lực tự cường trong x â y d ự n g và củ n g cô nền quốc p h ò n g toàn dán.

Q uốc phòng, chiến tranh là hai việc hệ trọng của một quốc gia, liên

quan đến an nguy, thịnh suy của đất nước, vinh nhục c ủ a một dân tộc Việc

xây dựng và củng cố quốc phòng không thể trông chờ vào sự viện trợ, giúp

đỡ từ bên ngoài Vì vậy, phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường

của cả dân tộc trong xây dựng và cùng cố quốc phòng có ý nghĩa đặc biệt

quan trọng Thực tiễn lịch sử đã chứng minh: “Độc lập tự chủ, tự lực tự

cường” đã trở thành quan điếm, tư tưởng của Đ ảng và Chủ tịch Hồ Chí

Minh trong việc đề ra chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng

và bảo vệ TỔ quốc, đồng thời đó cũng là truyền thống dân tộc Việt Nam

Trong tình hình mới đòi hỏi toàn Đảng, loàn dân, toàn quân phát huy

truyén thống yêu nước, đoàn kết, cần cù, sáng tạo, khắc phục khó khăn, khai

thác và sử dụng có hiệu quả tiềm năng mọi mặt của đất nước, đồng thời tăng

cường m ở rộng hợp tác quốc tế, chủ động hội nhập, tranh thủ tối đa nguồn

lực bên ngoài, từng bước tạo ra sức mạnh thực sự nền Q uốc phòng toàn dân;

Phải thực hiện tiết kiệm, kiên quyết đấu tranh chống tham ô, lãng phí, làm

giảm sức mạnh quốc phòng

Trang 35

4.3- P h á t h u y sức m ạnh tổng hợp trong x â y dựng và c ủ n g l ố n én quốc p h ò n g toàn dân.

Phát huy sức mạnh tổng hợp là quan điểm cơ bản của Đ ảng troag đấu

tranh cách mạng trước đây cũng như trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc ngày

nay Đó là sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cíp, các

ngành, của cả hệ thống chính trị, từ trung ương đến cơ sở, trên từig địa

phương và trong cả nước Đó cũng là sức mạnh của các yếu tố, trên CÌC lĩnh

vực: chính trị tinh thần, kinh tế, quân sự, văn hoá xã hội cả lực lương và

thế trận, cả sức mạnh truyền thống và hiện tại, cả phát huy nội lực vì tranh

thủ ngoại lực, tạo thành nguổn lực tổng hợp để xây dựng và cùng cố nền

Quốc phòng toàn dân vững mạnh, đủ sức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam <ã hội

chủ nghĩa trong mọi hoàn cảnh

I I NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP CHỦ YẾU XÂY DỤNG NỂN q u ố c

PHÒNG TOÀN DÂN

1- Nội dung xây dựng nền Quốc phòng toàn dán.

Trong thời kỳ mới, nền quốc phòng toàn dân phải được xâ> dựng

toàn diện, nội dung gồm xây dựng tiềm lực quốc phòng và xây dựng tlế trận

quốc phòng

1.1- X â y dựng tiêm lực quốc phòng.

Tiềm lực quốc phòng là khả nâng vật chất và tinh thầii cúi một

quốc gia có thể huy động để bảo vệ Tổ quốc Đó là sức mạnh tổ n g hơp của

quốc gia và c h ế độ Trong thời bình, tiềm lực quốc phòng được thì hiện

m ột phần ở lực lượng thường trực, trực tiếp và thường xuyẽn làm nhiệm vụ

quân sự; còn m ột phần cực kỳ to lớn ở dạng tiềm tàng, nằm trong m?i mặt

của đời sống xà hội, sẩn sàng được động viôn theo yêu cầu của ninh lUổng

chiến lược

Mọi hoạt động của đất nước để xây dựng tiềm lực quốc phònỉ được

tao ra trên các lĩnh vực:

- Xảy dựng tiềm lực chính trị - tinh thần

Tiềm lực chính trị - tinh thần của nền Quốc phòng toàn dân là khả

năng về chính trị-tinh thần có thể huy động nhàm tạo thành sức minh đế

thực hiện nhiệm vụ quốc phòng Tiềm lực chính trị - tinh thần dược thê’ hiện

ở: Hệ tư tường - chính trị, chế độ xã hội, hệ thống các chính sách đ)i nội

Trang 36

đối ngoại, trình độ nhặn thức, niềm tin, ý chí quyết tâm, trạng thái tám lý của các thành viên trong xã hội đối với nhiệm vụ quốc phòng.

Tiềm lực chính trị - tinh thần là nhân tố cơ bán tạo nên sức mạnh của quốc phòng, có tác động to lớn đến hiệu quả sứ dụng các tiềm lực khác, phản ánh thái độ của nhàn dân đối với quốc gia, dân tộc và c h ế độ Đó chính

là sức mạnh tiềm tàng của “trận địa lòng dân” , là kết quả tích lũy trong nhiều nãm, nhiều thế hệ mà có

Xây dựng lực lượng chính trị - tinh thần cần tập trung: xây dựng tình cảm yêu Tổ quốc, đất nước, quẻ hương và lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, thắng lợi cùa sự nghiệp đổi mới đất nước, cũng như tiền đổ tương lai của dân tộc Trên cơ sớ đó, nâng cao giác ngộ chính trị, xây dựng ý chí quyết tàm vững vàng, kièn định trước mọi khó khăn thử thách, nâng cao tinh thần cảnh giác trước mọi âm mưu và hành dộng của ké thù; Thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế, chấp hành và thực hiện tốt chính sách xã hội, từng bước cái thiện và nâng cao đòi sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; Xây dựng và củng cố các tổ chức: tổ chức Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị xã hội vững mạnh về mọi mặt; Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dãn, chống mọi thủ đoạn chia rẽ của

kẻ thù; Kiên quyết chống tham nhũng, quan liêu và các tệ nạn xã hội khác, chú trọng giáo dục quốc phòng cho các tầng lớp nhân dân

- Xây dựng tiềm lực kinh tế.

Tiềm lực kinh tế của nền Quốc phòng toàn dân là khả năng về kinh tế

có thể khai thác, huy động nhẳm phục vụ cho quốc phòng Kinh tế là một trong những nhân tô' quyết định tạo nên sức mạnh của đất nước, là nguồn bảo đảm cơ sở vật chất cho quốc phòng Kinh tế mạnh, là điều kiện cơ bản

để xây dựng nền Q uốc phòng toàn dân vững mạnh

Xây dựng tiềm lực kinh tế của nền quốc phòng phải trên cơ sở “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa đất nước ta trở thành một nước công nghiệp” Kết hợp phát triển kinh tế

xã hội với tãng cường quốc phòng an ninh, sự kết hợp này phải được thể hiện trong kế hoạch qui hoạch tổng thể của cả nước, từng vùng, địa phương, từng ngành, từng c ấ p mỗi bước phát triển kinh tế phải là một bước tãng cường củng cố quốc phòng và ngược lại, quốc phòng ngày càng vững chắc lại tạo thêm điều kiện thuận lợi cho kinh tế xã hội phát triển

Trang 37

Phải gắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và phát triển khoa học quân sự của nền quốc phòng toàn dân Chú trọng kinh tế quân sự cũng như xây dựng nén công nghiộp quốc phòng hiện đại đế vừa giải quyết vũ khí trang bị kỹ thuât cho lực lượng vũ trang, đáp ứng yêu cầu chiến tranh trong điều kiện hiện đại, vừa phục vụ nhu cầu xây dựng kinh tế đất nước Phải gắn xây dựng cơ sở hạ tầng nển kinh tế với xây dựng cơ sở hạ tầng quốc phòng Có kế hoạch chủ động chuyển sản xuất thời hình sang thời chiến và động viên nền kinh tế phục vụ quốc phòng khi tình hình đòi hòi.

- Xúy dirng tiềm lực khoa học - công nghệ

Xây dựng và phát triển khoa học - công nghệ ở nước ta hiện nay là quốc sách hàng đầu, là nền tảng, động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tãng trướng kinh tế và củng cố quốc phòng an ninh, đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hảu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới

Xây dựng tiềm lực Khoa học - Công nghệ của nền Quốc phòng toàn dân hiện nay cần “ tập trung đầu tư phát triển tiềm lực Khoa học - Công nghệ trên m ột sô' lĩnh vực chủ yếu, chú trọng đào tạo, bổi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học, nhất là cán bộ trẻ, cán bộ đầu ngành; đổi mới và từng bước hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, phòng thí nghiệm tạo tiềm lực K hoa học - C ông nghệ đủ mạnh làm nòng cốt cùng với khoa học công nghệ của đất nước giái quyết các nhiêm vụ khoa học công nghệ và mồi trường trong lĩnh vực quân sự”

Có k ế hoạch phối hợp giữa các ngành Khoa học - Công nghệ trong

và ngoài quân đội để nghiên cứu các vấn đề về: chiến lưực quốc phòng - quân sự, chiến lược báo vê Tổ quốc, xây dựng Lực lượng vũ trang nhân dân, phát triển công nghiệp quốc phòng, phát triển khoa học quân sự Viột Nam trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao; ứng dụng, cải tiến bảo quản, thiết k ế c h ế tạo các vũ khí phương tiện kỹ thuật quân sự theo hướng ngày càng hiện đại phù hợp với đối tượng tác chiến, địa hình, thời tiết và cách đánh của ch iến tranh nhân dản Việt Nam, đồng thời nghiên cứu chống lại các thủ đoạn dùng khoa học công nghệ của địch phá hoại ta

- Xây dựng tiềm lực quân sự

Tiềm lực quân sự là khả nãng về vật chất, tinh thần có thể huy đông

để tạo thành sức mạnh phục vụ cho nhiệm vụ quân sự, cho chiến tranh

Trang 38

Tiềm lực quân sự được xây dựng trên cơ sở tiềm lực chính trị - tinh thần, tiềm lực kinh tế và tiềm lực khoa học - cóng nghệ, là nhãn tố cơ bản của tiểm lực quốc phòng, biểu hiện tập trung của sức mạnh quốc phòng, tiềm lực quân sự thể hiện ở sức mạnh quân sự của Nhà nước đ ể bảo vệ Tổ quốc trong thời bình và sẩn sàng chuyến thành sức mạnh chiến tranh nhân dãn đánh thắng chiến tranh xâm lược của kẻ thù Sức mạnh tiềm lực quân sự được thế hiện ở khả năng duy trì, hoàn thiện nãng lực chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang, ở cơ sở vật chát bảo đảm, khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự, nguồn dự trữ sức người, sức của đội ngũ, phục vụ cho nhiệm vụ quân sự để giành thắng lợi trong mọi tình huống

cả thời bình và thời chiến

Xâv dipĩg tiềm lực quán sự của nền quốc phồng toàn dân cần tập trung:

Nâng cao chất lượng tống hợp, sức mạnh chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân, lấy chất lượng chính trị làm cơ sở Xây dựng quân đội nhân dân theo hướng: cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; xây dựng dân quân tự vệ vững mạnh, lấy chất lượng là chính Phái triển công nghiệp quốc phòng, xây dựng cơ sở vật chất,

kỹ thuật, bảo đảm vũ khí, trang bị cho lực lượng vũ trang hoạt động trong thời hình và thời chiến Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trong lực lượng vũ trang có phẩm chất, năng lực tốt Kết hợp chặt chẽ xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân Xây dựng hậu phương chiến lược, chuẩn bị đất nước về mọi mặt sẩn sàng động viên thời chiến, đối phó và giành thắng lợi trong thời cơ tốt nhất Tăng cường giáo dục quốc phòng phù hợp với từng đối tượng và chấp hành nghiêm chỉnh luật nghĩa vụ quân sự

1.2- X á y d ự n g th ẻ trận quốc p h ò n g

Xây dựng tiềm lực quốc phòng phải gắn với xây dựng thế trận quốc phòng, kết hợp lực” với “thế” Thế trận quốc phòng là tổ chức, bô' trí lực lượng mọi mạt của đất nước và toàn dân, trên toàn bộ lãnh thổ, theo ý định chiến lược bảo vệ Tổ quốc

Ngày nay, xây dựng thế trận quốc phòng, trước hết phải xây dựng

“thế trận lòng dân” , toàn dãn giữ nước, toàn dân đấu tranh, nhằm giữ vững hoà hình, ổn định, tạo môi trường thuận lợi cho công cuộc đổi mới, xây dựng Tổ quốc giàu mạnh Thế trận đó sẽ được chuyển hóa, kết hợp chặt chẽ với “ Lực” , nhằm tạo nên sức mạnh lớn nhất, chủ động đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra

Trang 39

Xây dựng th ế trận quốc phòng cần tập trung vào một số mật:

- Phân vùng chiến lược gắn với xây dựng hậu phương chiến lược.

Thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ phân vùng chiến lược quốc phòng - an ninh với phân vùng kinh tế - xã hội và xây dựng hậu phương chiến lược vững chắc, theo một ý định, xây dựng phại đi đôi với bảo vệ Trong các qui hoạch, kế hoạch, phải căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội, nhiệm vụ quốc phòng an ninh cùng đặc điểm, điều kiện hoàn cảnh của từng địa phương để phân bố lao động, dân

cư, phát triển ngành nghề hợp lý Kết hợp xây dựng kinh tế với xây dựng cơ

sở chính trị, xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, hậu phương chiến lược và hậu cần tại chỗ, nhất là các địa bàn đặc biệt quan trọng Có như vậy mới phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả nước và từng địa phương đối phó thắng lợi với mọi tình huống Thời bình đủ sức đánh bại chiến lược “ Diễn biến hoà bình” , bạo loạn lật đổ, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Thời chiến, với thế trận quốc phòng -

an ninh và hậu phương tại chỗ của từng vùng chiến lược, đảm bảo cho quân

và dân ta đối phó kịp thời, đánh trả, kìm giữ quân địch, tự lực, độc lập, tác chiến trong từng địa bàn, kể cả trong hoàn cảnh bị bao vây, chia cất chiến lược, tạo điều kiện cho cả nước giành thắng lợi trong chiến tranh

- Xây dựng khu vực phồng thủ tỉnh (íhành phố) trong khu vực phòng

thủ chung của cả nước.

Xây dựng khu vực phòng thủ tính (thành phố), là một chủ trương chiến lược của Đ ảng và Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Khu vực phòng thú tỉnh (thành phố) là một tổ chức quốc phòng - an ninh địa phương theo địa bàn hành chính, là bộ phận hợp thành và là nền tảng của thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân Phải căn

cứ vào đặc điểm, vị trí, yêu cầu của tìmg tỉnh (thành phố) để xác định nội dung xây dựng cụ thể nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp về quốc phòng - an ninh trên từng địa phương, đối phó có hiệu quả với mọi tình huống cả thời bình và thời chiến, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) được xây dựng toàn diện “ Vững về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng - an ninh, văn minh về văn hoá, xã hội” đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cơ bản lảu dài trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

- T ổ chức phòng thù dân sự, bảo đảm toàn dân đánh giặc và phòng

tránh khắc phục hậu quà chiến tranh.

Trang 40

Phòng thủ dân sự là một bộ phận trong thế trận phòng thủ chung cùa

cà nước, là hệ thông các biện pháp nhằm bảo vệ tính mạng, tài sán cùa nhân dân và tiềm lực mọi mặt của đất nước, hạn chẻ đến mức thấp nhất những thiệt hại do vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch gây nên, được tiến hành trong thời bình và thời chiến, kế hoạch phòng thủ dân sự phải toàn diện, cụ thể, thiết thực phù hợp với yêu cầu kinh tế quốc phòng

Tổ chức phòng thủ dãn sự cần tập trung: Trước hết phải xây dựng có trọng điểm hệ thống công trình phòng thủ dân sự trong thời bình và hoàn thiện khi có chiến tranh Cần có qui hoạch tổng thể, ỡ đàu có dân là ở đó có công trình phòng thủ dân sự, chú trọng các khu vực đông người (chợ, trường học, xí nghiệp, c ơ q u a n ) và các mục tiêu trọng điểm Yêu cầu cơ bản là phải đảm bảo an toàn cho dân và cơ sở vật chất quan trọng

Cùng với xây dựng các công trình phòng thủ dàn sự phải có tổ chức

hệ thống chỉ đạo, điều hành từ trung ương đến cơ sở và thành lập các lực lượng chuyên trách, gắn liền với các cơ sở sản xuất, khu dân cư và đơn vị hành chính sự nghiệp Có k ế hoạch bồi dưỡng và luyện tập các nội dung cụ thể như: thông báo, báo động, sơ tán, phòng tránh khắc phục hậu quả, chống sập, chổng cháy nổ, cứu chữa người, cứu hộ cứu n ạn đồng thời thường xuyôn tuyên truyền giáo dục trong nhân dân để mọi người đều có kiến thức

cơ bản, cần thiết về phòng thủ dân sự

- Kết hợp th ế trận quốc phòng toàn dân với th ế trận an ninh nhân dán.

Đặc điểm nổi bật của quá trình đấu tranh cách m ạng ở nước ta là, kẻ thù bên ngoài và kẻ thù bên trong luôn luôn cấu kết với nhau, để tạo ra và phát huy sức mạnh tổng hợp trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân tất yếu phải kết hợp với thế trận an ninh nhân dân

Sự kết hợp này được biểu hiện trong các hoạt động xây dựng và đấu tranh quốc phòng - an ninh trên tất cả các lĩnh vực như: tổ chức triển khai, bô' trí sử dụng lực lượng, cả vũ trang và phi vũ trang; phối hợp hoạt động giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, vận động quần chúng, xây dựng

cơ sở vững mạnh, thực hiện nhiệm vụ phòng chống “diễn biến hoà bình” , bạo loạn lật đổ, nhất là chuẩn bị kế hoạch phối hợp đối phó với tình huống địch can thiệp vũ trang hoặc tiến hành chiến tranh xâm lược qui mô lớn

2- M ột sò biện pháp chủ yếu xây dựng nền quốc phòng toàn dàn

2.1- T á n g cư ờng giáo dục quốc phòng

Giáo dục quốc phòng là một biện pháp cơ bản đ ể thống nhất nhận thức, nâng cao trách nhiệm đối với nhiệm vụ xây dựng nền Quốc phòng

Ngày đăng: 02/03/2021, 21:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w