Triết lý ngoại giao truyền thống Với nhận thức về triết lý như trên, có thể cho rằng triết lý ngoại giao là những nhận thức, tư tường ngoại giao sâu sắc nhất, được ông cha ta đúc kết, h
Trang 2M ỘT SỐ VẤN ĐỂ QUAN HỆ Q U Ố C TẾ,
C H ÍN H SÁCH ĐỐI NGOẠI
V À N G O Ạ I GIAO VIỆT NAM
Trang 4Lời giới thiệu
Đây là tuyển tập các báo cáo, tham luận tại hội thào khoa học ừong
nước và quôc tể* cũng như các bài báo đăng ừên một sô tạp chí khoa học ở Việt Nam và nước ngoài, viết từ giữa những năm 1990 của thế kỷ trước đến nay Nội dung các bài viết về tình hình thế giói, cục diện, trật tự thế giói, chiến lược đối ngoại của một số nước lớn, tình hình Liên bang Nga, Ucraina, Ba Lan Một số vấn đề về chính sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam trước và sau đổi mới Quan hệ giữa Việt Nam với một số đối tác như Nga, Mỹ, Lào, Inđônêxia, Thái Lan, Ucraina, Ba Lan Một chủ đề quan trọng của bộ sách này là tư tường, phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh Ngoài ra, các vấn đề cơ bản của ngoại giao hiện đại như kỹ thuật đàm phán, phong cách dân tộc trong đàm phán quốc tế, ngoại giao nghị viện, ngoại giao kinh tế cũng được đề cập đến Các công trình công bố ờ nước ngoài là các bài viết đăng trong tạp chí khoa học ở Ucraina về đổi mới ở Việt Nam, quan hệ Việt - Mỹ, Việt Nam - Ucraina, phong cách đàm phán dân tộc Việt Nam vói mục đích quảng bá đất nước
ta tại Ucraina, một đổi tác truyền thống của Việt Nam
Bộ sách có tên là M ột số vẩn đề quan hệ quốc -tế, chính sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam, chia làm ba tập.
Tập I gồm 4 phần:
1 Tư tưởng đối ngoại, phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh
2 Lý luận quan hệ quốc tế, trật tự và cục diện thế giới
3 Chiến lược đối ngoại các nước lớn
4 Ngoại giao hiện đại
Tạp II có 3 phần:
1 Chính sách đối ngoại Việt Nam trước đổi mói
2 Chính sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
3 Công trình công bố ở nước ngoài và công trình bằng tiếng Anh
Trang 5Tập III gồm 3 phần:
1 Đối tác của chúng ta: Một số tình hình và triển vọng
2 Quan hệ của Việt Nam vói các đối tác châu Á
3 Quan hệ của Việt Nam với các đối tác châu Âu
Do trình độ còn có hạn, thời gian lại eo hẹp, bộ sách khó tránh khỏi thiếu sót, hạn chế Chân thành mong nhận được góp ý, phê bình của độc giả
để có thể sửa chữa khi tái bàn
rp f _ • »
Tác già
Trang 6D anh m ục từ viết tắt
APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
ADB iSígân hàng phát triển châu Á
ECOSOC Hội đồng kinh tế và xã hội của Liên họp quốc
ODP Chương trình ra đi có trật tự
PNTR Quy chế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn
UNDP Chương trình phát triển của Liên hợp quốc
Trang 7Phần I
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM
TRƯỚC ĐỔI MỚI
Trang 8VÀI SUY NGHỈ VÊ TRIẾT LỴ NGOẠI GIAO TRƯYỂN THỐNG CỦA VIỆT NAM *
t
•A
Chúng ta đã nghiên cứu khá nhiều về ngoại giao truyền thống của cha ông ta Tuy nhiên, vấn đề triết lý ngoại giao truyền thống vẫn là một chủ đề nghiên cứu mới mẻ Triết lý ngoại giao truyền thống là gì? Nội dung của
triết lý ngoại giao truyền thống Việt Nam là gì? Đâu là cội nguồn của triết lý
ngoại giao truyền thống Việt Nam? Đây là một đề tài hấp dẫn, song cũng rất khó và cần được nghiên cứu nghiêm túc Trong bài viết này, chì xin trinh bày một số nhận thức ban đầu
1 Một số nhận thức chung về triết lý
Triết lý lá gì? Câu trả lời không đom giản chút nào Từ điển Tiếng Việt
giải thích: 1) Triết lý là lý luận triết học; 2) Quan niệm chung của con người
về những vấn đề nhân sinh và xã hội Ví dụ: Bài thơ chứa đựng một triết lý
bi quan; anh ta có một triết lý riêng về cuộc sống1
Đại từ điển Tiếng Việt cũng đưa ra hai giải thích, về cơ bản cũng như
Từ điển tiếng Việt Tuy nhiên, nghĩa thứ hai được làm rõ hơn: Quan niệm
chung và sâu sắc nhất của con người về những vấn đề nhân sinh và xã hội Các tác giả nêu ví dụ: Bài thơ hàm chứa những triết lý về nhân sinh và xã hội2
Khái niệm triết lý cũng được nhiều nhà nghiên cửu đề cập, song khái
niệm triết lý được trinh bày toàn diện hơn cả ừong công trinh do Phạm
* Tạp chí Nghiên cừu quốc tế, số 2 (73), 6-2008.
1 Viện N gôn ngữ: Từ điền tiếng Việt, N xb Đ à N ăng - Trung tâm Từ điển h ọ c , Hà N ội - Đà
Năng, 2001, tr 1035.
2 Trung tâm Văn hóa và Ngôn ngữ Việt Nam: Đ ại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin,
H 1999, tr 1707.
Trang 9ngẫm, chiêm nghiệm và đúc kết thành những quan điềm, luận điểm, phương châm cơ bản và cốt lõi nhất về cuộc sống cũng như về hoạt động thực tiễn rất đa dạng của con người trong xã hội Chúng có vai trò định hướng trực tiếp ngược ừở lại đối với cuộc sống và những hoạt động thực tiễn rất đa dạng ấy Do đó, ta thấy không chi có những triết lý của các triết thuyết khác nhau mà còn có triết lý nhân sinh, triết lý lịch sử, triết lý kinh tế, triết lý chính trị, triết lý đạo đức, triết lý pháp luật, triết lý ngoại giao và cả triết lý đời thường' nữa”1 Mặt khác, không phải chi là triết lý chung mà còn có triết
lý riêng, có triết lý đúng và triết lý sai, triết lý của giai cấp thống trị và triết
lý của giai cấp bị trị, triết lý của kẻ bóc lột vả triết lý của người bị bóc lột, triết lý của kẻ đi xâm lược và triết lý của người bị xâm lược Triết lý có tính giai cấp vừa có tính lịch sử Còn Nguyễn Văn Huyên bổ sung: “ Triết lý có thể thể hiện bằng một mệnh đề hàm súc những ý nghĩa về nhân tình thế thái;
về tự nhiên, về xã hội; nó cũng có thể là một hệ mệnh đề tạo thành một quan niệm, một luận thuyết Triết lý đúng và khoa học thì nó trở thành cơ sở lý luận khoa học cho một hệ thống quan điểm, học thuyết; nó' làm công cụ lý thuyết cho hành động hiệu quả của con người”2
Qua các định nghĩa trên về triết lý có thế nêu vài nhận xét sau:
- Triết lý là nhận thức, quan điểm hoặc là tư tường sâu sắc nhất, khái quát nhất về một vấn đề hay sự vật hoặc hiện tượng;
- Triết lý eó thể được biểu hiện là một mệnh đề hoặc hệ mệnh đề;
- Triết lý là lý luận khoa học, có tính hệ thống;
- Có triết lý khoa học, phản ánh đúng thực tiễn khách quan; song cũng
có triết lý không đúng, thiếu khoa học
- Triết lý có vai trò định hướng hoạt động thực tiễn;
- Triết lý có tính giai cấp và tính lịch sử
Bên cạnh khái niệm triết lý cũng cần làm rõ sự giống nhau và khác nhau giữa triết lý và triết học, giữa triết lý và tư tưởng
Triết học và triết lý: Ở phương Tây, triết học và triết lý là một, không
1 Phạm Xuần Nam (Chù biên): Triết lý p h á i triền ờ Việt Nam - M ấy vấn đề cốt y ế u , N xb Khoa
học xã hội, H 2002, tr 31-32.
2 Nguyễn Văn Huyên (Chủ biên): Triết lý phát triển C.Mác, Ph.Ẩngghen, V.I.Lẻnin và H ồ Chi Minh, Nxb Khoa học xã hội, H 2000, tr 9.
Trang 10có sự phân biệt Ở phương Đông, triết lý vừa là triết học vừa không phải là triết học Triết học là tư tưởng, nhưng còn nhiều tư tưởng không phải là triết học1.Tư tưởng triêt học đóng vai trò thế giới quan và phương pháp luận Triết lý và tư tưởng: Tư tưởng là quan điểm, ý nghĩ của con người đối với hiện thực khách quan và xã hội (nói tổng thể) Nhưng có tư tưởng không phải là ’Jý luận Không phải tất cả tư tưởng là triết lý Triết lý phải
có tính lý luận.
2 Triết lý ngoại giao truyền thống
Với nhận thức về triết lý như trên, có thể cho rằng triết lý ngoại giao là những nhận thức, tư tường ngoại giao sâu sắc nhất, được ông cha ta đúc kết,
hệ thống hóa trở thành lý luận, lý thuyết ngoại giao, cho phép xác định mục tiêu cơ bản hoạt động ngoại giao, quan điểm, nguyên tắc, phương châm chỉ đạo hoạt động ngoại giao, xác định phương hướng ưu tiên trong quan hệ đối ngoại của quốc gia Triết lý ngoại giao là hệ thống quan điểm hướng dẫn hoạt động ngoại giao của quốc gia.
Cũng như triết lý truyền thống Việt Nam, triết lý ngoại giao có nét đặc trưng là triết lý hành động Triết lý hành động rất phong phú, vô cùng phức tạp, thiếu tính hệ thống, thiên về trực quan, trực giác, độ tin cậy thuộc vào khả năng phân tích, so sánh, đổi chứng của nhà nghiên cứu, lập luận lôgíc nhiều khi không rõ ràng2 Triết lý ngoại giao của cha ông hình thành từng bước, được bổ sung, hoàn thiện trong quá trình hoạt động ngoại giao của nhà nước Việt Nam từ Văn Lang, Â u Lạc, trải qua Ngô, Đinh, I ê, Lý, Trần,
Lê đến triều đại nhà Nguyễn Triết lý ngoại giao truyền thống có tính chất khá bền vững, ổn định lâu dài.
Triết lý ngoại giao truyền thống, đồng thời là những bài học kinh nghiệm ngoại giao được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Chủ tịch
Hồ Clịí Minh và Đảng ta đã kế thừa và vận dụng thành công bài học ngoại giao của ông cha.
Triết lý ngoại giao truyền thống có những nội dung chủ yếu sau đây.
1 Trần Vãn Giàu: Sự phái triển của lu lường ở Việt Nam, lừ thế kỳ XIX đến Cách mạng Tháng
Tám, Nxb K hoa học xă hội, H.1973, t l , tr 10.
2 TS Huỳnh Công Bá: Lịch sử tư tướng Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, 2006, tr 9.
Trang 11Trong bài viêt này, tác già tập trung vào nghiên cứu quan hệ giữa các triều đại phong kiến Việt Nam và Trung Hoa trên phương diện là hoàn cảnh ra đời của triết lý ngoại giao truyền thống của Việt Nam.
Đ ây là tư tường lớn, cơ bản, có tính chất chủ đạo của ngoại giao truyền thống Việt Nam ứ n g xử với người láng giềng, vô cùng quan trọng trong chính sách đối ngoại của quốc gia Chỉ có thể thay đổi được bạn thù, spng không ai thay đổi được láng giềng N hà sử học Phan Huy Chú rất đúng khi nhận xét: “ Trong việc trị nước, hòa hiếu với láng giềng là việc lớn, mà những khi ứng thù lại rất quạn hệ, cho nên nghĩa tu hiếu (việc giao hiếu) chép ở Kinh Xuân Thu, đạo giao lân (giao thiệp với các nước láng giềng) chép ở Hiền truyện (sách Mạnh Từ), chính là đem lòrig tin thực m à kết giao, người có quyền trị nước phải nên cẩn thận” 1.
Đứng trước một láng giềng lớn mạnh gấp nhiều lần, lại luôn thường trực tư tưởng bành trướng, bá quyền, để có được quan hệ hòa hiếu, các triều đại phong kiến Việt Nam đã phải thực hiện chính sách ngoạỉ> giao “ thần phục thiên triều” , “ trong xưng đế, ngoài xưng vương” Đ ây là chính sách vô cùng khôn ngoan, sáng suốt, sự lựa chọn duy nhất đúng trong hoàn cảnh lịch sử bấy giờ Việc xin thần phục thiên triều được thể hiện qua việc các vua Đại Việt đều xin được thiên triều phong vương và triều cống Việc phong vương
cồ ý nghĩa rất quan trọng là khẳng định tính chính danh, tính họp pháp của triều đại đó đối với thiên triều Thiên triều có nghĩa vụ đảm bầo an ninh, toàn vẹn lãnh thổ cho quốc gia được phong vương Chi có vậy mới có quan
hệ hòa hiếu, ổn định để giữ vững độc lập, chủ quyền và x â y đựng, phát triển đất nước Cống là việc nước phiên thuộc dâng biếu thiên triều sản phẩm quý của địa phương, vàng bạc châu báu, voi, ngà voi, tê giác và sừng tê giác, chim tri v à lông chim trĩ, ừầm hương, vàng bạc, châu báu v à thợ lành nghề, hay cả thày tu, thày bói
Quan hệ thần phục được thiên triều đáp lại ở nhiều mức khác nhau từ chỗ được công nhận là người đứng đầu quận, huyện, đến được công nhận là phiên thuộc, rồi được đứng vào hàng chư hầu, triều hội nhà Minh Đường và
1 Phan Huy Chứ: Lịch triều hiến chuơng loại chi, Nxb Giáo dục, H 2007, t 2, tr 533.
Trang 12sau cùng là được chấp nhận đứng đầu một nước với tư cách là quốc vương Phan Huy Chú viết: “ Nước ta thời Hùng Vựơng mới bắt đầu thông hiếu với Trung Quốc nhưng danh hiệu còn nhỏ, không được dự vào hàng chư hầu triều hội ở nhà Minh Đường Rồi bị Triệu Đà kiêm tính, nhà Hán phong Đà làm Nam Việt vương, chỉ được sánh với chư hầu của Trung Quốc, chứ chưa được nêu là một nước, về sau nội thuộc nhà Hán, nhà Đường, bèn thành quận, huyện (của Trung Quốc) Đến khi Đinh Tiên Hoàng bình định các sứ quân, khôi phục, mở mang bờ cõi, bấy giờ điển lễ sách phong của Trung Quốc mới nhận cho đứng riêng là một nước” 1.
Việc phong vương không phải dễ dàng, mà là cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt, phức tạp Không phải vua Đại Việt nào cũng được phong vương ngay, nhất khi quyền lực của dòng họ này chuyển sang dòng họ khác hoặc sau những lần chiến thắng cuộc xâm lược, giết nhiều tướng lĩnh của thiên triều, làm thiên triều mất mặt Ví dụ: Hoàng đế Lê Hoàn lên ngôi cuối năm
980, do năm 981 đánh tan cuộc xâm lược của nhà Tống nên đến năm 986 vua Tống mới sai sứ sang phong cho Lê Hoàn chức Tiết độ sứ, rồi chức Kiểm hiệu Thái úy (năm 988), Đặc tiến (năm 990), Giao chi Quận vương (năm 993), Nam Bĩnh vương kiêm Thị trung (năm 997).
Tính từ khi Ngô Quyền giành lại độc lập (năm 938), đến tận năm 117 5 vụa-Tống Cao Tông mới phong vua L ý Anh Tông làm An Nam quốc vương Việc triều cống tưởng là đon giản, song cũng là cuộc đấu ừanh ngoại giao căng thẳng, không kém phần phức tạp Triều Trần đã không chấp nhận yêu sách của nhà Nguyên đòi cống thợ và thày thuốc giỏi Nhà M inh đã đòi vua Lê cống người vàng (từ năm 14 3 1) , trà nợ việc Liễu Thăng bị L ê Thái
Tổ chém chết Đến tận năm 17 18 sứ thần Nguyễn Công Hãng mới dùng lý
lẽ bác được việc phải cống người vàng.
Mặc dù, vuạ Đại Việt phải chấp nhận đứợc thiên triều phong vương, song bên trong thì các vua của ta đều xưng đế, coi mình ngang hàng các hoàng đế Trung Hoa, khẳng định Việt N am là quốc gia độc lập, chủ quyền, không cho thiên tử can thiệp vào công việc nội bộ của nước Nam Đó là tinh thần:
' Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, N xb Giáo dục, H 2007, t 2, tr 534-535.
Trang 13“ Nam quốc sơn hă Nam đế cư, Tiệt nhiín định phận tại thiín thư.
Như hă nghịch lỗ lai xđm phạm,
(Lý Thường Kiệt - Nam quốc scm hă)
“Như nướe Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đê lđu.
Núi sông bờ cõi đê chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khâc
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xđy nền độc lập,
Cùng Hân, Đường, Tống, Nguyín mỗi bín hùng cứ một phương”
(Nguyễn'Trêi - Bình Ngô đại câo) Thứ hai, đânh kết hợp chặt chẽ vói đăm, kiín quyết bảo vệ độc lập chủ
quyền đất nước khi bị vi phạm
Trong lịch sử phong kiến Trung Quốc, không triều đại năo lă không coi Việt Nam lă phiín thuộc, luôn tìm câch thôn tính, chinh, phục Đê xảy ra nhiều lần phong kiến Trung Quốc tiến hănh ,xđm chiếm, đô hộ Việt Nam Cuộc xđm lược đầu tiín lă của nhă Tần (năm 2 18 tr.CN), rồi đến câc cuộc xđm lăng của nhă Hân, Ngô, Tống, Tề, Lương, Trần, Tùy, Đường, Lương, Nam Hân, Tổng, Nguyín, Minh, Thanh Dưới triều L ý, văo năm 10 7 7 , sau khi chặn đứng quđn Tống ờ sông Như Nguyệt, L ý Thường K iệ t đê “ dùng biện sĩ để băn hòa, không nhọc tướng, khỏi tốn xương mâu, bảo an được tông miếu” Ông đê cử Kiều Vđn Ưng sang thương lượng với Quâch Quỳ
hạ chiếu rút đại binh vă nhă Lý lập tức sai sứ sang tạ tội vă triều cống Đề nghị của L ý Thường Kiệt đê mở lối thoât cho quđn Tống rút v ề nước trong danh dự Đđy lă lần đầu tiín trong lịch sử dđn tộc, cha ông ta đê kết hợp đânh đăm nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền Tiếp đó lă cuộc đấu tranh lđu dăi đòi sấ huyện, ba động vă cử sâu sứ bộ sang Trung Quốc trong 10 năm (1077-1088) để đòi lại hai động Vật Dương vă Vật  c bị nhă Tống chiếm năm 1077 Trong cuộc khâng chiến chống xđm lược Nguyín - Mông, nhă Trần đê kết hợp đấu tranh ngoậi giao với đấu tranh quđn sự nhằm giữ gìn hòa bình, tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng Cuộc đấu tranh ngoại giao cực kỳ gay go, phức tạp Vua Trần đê chủ động cử sứ bộ Chu B ắ c Lêm sang
Trang 14tận Thiểm Tây, Trung Quốc để gặp chúa Mông cổ là Mông Ke xin ba năm triều cống một lần nhằm giữ quan hệ Kết quà năm 1261, Hốt Tất Liệt đã chấp nhận đề nghị và cấm quân xâm phạm bờ cõi Đại Việt Nền hòa bình tạm thòi được giữ vững Xen giữa ba lần xâm lược, nhà Trần đã cử nhiều sứ
bộ sang triều cống, thương lượng bác bỏ các yêu sách vô lý của nhà Nguyên, giải quyết hậu quả chiến tranh Đánh giá về ngoại giao triều Trần,
tác giả Lịch triều hiến chương loại chí viết: “Trong khoảng hơn trăm năm
ngăn đứợc sự nhòm ngó của Trung Quốc mà tăng thêm thanh danh cho văn hiến nước nhà đó là nhờ sự gião tiếp đẳc nghị giúp sức vậy”1
Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh, Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã kết hợp khéo léo giữa ngoại giao và chiến trường Lê Lợi đã tiến hành thương lượng với quân Minh đầu năm 1423, để có được hai năm hòa hoãn củng cố lực lượng Tiếp đó đã kết hợp quân sự và ngoại giao, binh vận hạ thành Trà Long đầu năm 1425 mà không tốn một mũi tên hòn đạn nào Đặc biệt xuất sắc là kết hợp ngoại giao với quân sự buộc Tổng binh Vương Thông tham dự Hội thề Đông Quan (10-12-1427) cam kết rút quân
về nước theo điều kiện của nghĩa quân
Dưới thời Tây Son, ngoại giao là tiếp nối của quân sự, cực kỳ thành công trong việc giải quyết hậu quả chiến tranh, ngăn chặn âm mưu đánh báo thù của nhà Thanh Tại Tam Điệp khi chuẩn bị đem quân tấn công quân Thanh ở Thăng Long, Quang Trang nói với các tướng: “Chúng là nước lớn gấp mười nước mình, sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm thẹn mà lo mưu báo thù Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, không phải là phúc cho dân, , nỡ nào mà làm như vậy Đến lúc ấy, chỉ có người khéo lời lẽ mới dẹp nổi việc binh đao, không phải Ngô Thời Nhậm thì không ai làm được”2 Thực hiện chủ trứơng trên, sau khi đại phá quân Thanh, nhiều sứ bộ ngoại giao đã được cử sang nhà Thanh Yua quan nhà Thanh đã hoàn toàn chấp nhận đề nghị của ta về giảng hòa, rút quân, phong vương Hòa hiếu giữa hai nước rihanh chóng được khôi phục Chưa bao giờ vua Càn Long lại cho vẽ ừanh cảnh đón sứ bộ Nguyễn Quang Hiển, tự đề thơ vào tranh và đặc biệt là
1 Phan Huy Chú: Lịch triều hiển chicơng loại chí, Nxb Giáo dục, H 2007, t 2, tr 618.
2 Ngô Gia Văn Phái: Hoàng Lé nhất thống chi, Nxb Văn học, H 1970, tr 362-363.
Trang 15đón Quang Trung già vô cùng long trọng, tốn kém Thành viên sứ bộ Đoàn Nguyễn Tuấn phải thốt lên: “Từ trước đến giờ, người mình đi sứ Trung Quốc, chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như thế” 1.
Ngoại giao đã biết phát huy thắng lợi quân sự, phối hợp chặt chế với chiến trường, tận dụng thời cơ để giành thắng lợi lớn hơn.
Thứ ba, nêu cao chính nghĩa, ngoại giao tâm công - tư tưởng lớn cùa
ngoại giao truyền thống.
Trong bất kỳ một cuộc chiến tranh nào, mỗi bên đều tìm cách giành lấy
lẽ phải về mình, v ề phía ta, là người bị xâm lược, cuộc chiến tranh của chúng ta là chính nghĩa Để cho nhân dân hiểu và cũng nhằm chống lại luận điệu lừa bịp của kẻ địch, cho nên cha ông ta đều hết sức coi trọng đấu tranh giành ngọn cờ chính nghĩa Đào Tử K ỳ, sứ giả của Vua Trần thế kỷ X III, nói: “ Sự trực vi tráng, khúc vi lão” (Lý thẳng thì thắng, lý cong thì thua, không phải lấy lẽ yếu, mạnh mà bàn đửợc).
Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo viết:
Tính chất chính nghĩa là cơ sở tiến hành một phương phập ngoại giao tâm công Đó là cách đánh vào lòng người bằng chính nghĩa, bằng lẽ phải, bằng đạo lý, nhân tính Điển hình ngoại giao tâm công của Đại Việt là ngoại giao Nguyễn Trãi Ông tuyên hố: Ta mưu đánh vào lòng người, không chiến
mà cũng thắng Khi quân Minh bị bao vây trong thành Đông Quan, Nguyễn Trãi đã gừi hàng chục bức thư cho Vương Thông và các tướng lĩnh quân Minh vạch rõ tính chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa, tinh thần nhân đạo của quân dân ta, khẳng định sự thất bại tất yếu của kẻ xâm lược làm cho quân
1 Nguyền Thế Long: B ang giao Đ ại Việt, N xb Văn hỏa - Thông tin, H 2005, t 1, tr 29.
2 Nguyễn Trăi: Toàn tập - Tân biên, Nxb Văn học - Trung tâm Nghiên cứu q u ố c học, H 2001,
t.2, tr 39.
Trang 16Ịgiặc hoang mang Ông đã chỉ ra cho họ con đường duy nhất là hòa, rút quân ttrong danh dự Trong một lá thư gửi Vương Thông, Nguyễn Trãi phân tích Ihết sức thuyết phục những nguyên nhân tất yếu quân Minh phải thất bại:
“ V ậ y nay cùng bàn: các người có 6 điều thua: Nước đang lên, cọc lở, đất lở, lương thực, người ngựa thiếu, đó là một điều thua Xưa Thái Tôn bắt Kiến Đức, mà Thế Khắc phải ra hàng, nay các quan ải vừa voi vừ a quân đóng giữ đầy đủ, viện binh có tới thế nào cũng thua Viện binh đã thua thì lũ ngươi bị bắt, đó là"hai điều thua Quân khỏe, ngựa tốt nay ở cả phương Bắc
để phòng quân Nguyên không chuyển về Nam được, đó là ba điều thua Can qua luôn năm, ai nấy đều chán, chỉ còn kêu than, đó là bổn điều thua Gian thần giữ chính quyền, vua yếu trị vì, ừong tôn tộc giết nhau, ừong nhà sinh họa, đó là năm điều thua N ay ta hưng nghĩa binh, ừên dưới một lòng, anh hùng thi sức, sĩ tốt càng ngày càng thêm luyện, khí giới mỗi ngày một tinh sảo, vựa cày ruộng vừa chiến đấu, với bọn giữa thành không, bọn thiếu thốn dần dần tự đến chỗ tuyệt diệt, đó là sáu điều thua.
Giữ một thành không để chờ 6 điều thua, ta thật là tiếc cho các ngươi Người xưa có nói: Nước xa không cứu được lửa gần Như có viện binh tới thì có lợi gì cho sự thua đâu”
Nguyễn Trãi chi lối thoát duy nhất là rút quân về nước và Đại Việt cam kết sẽ tạo mọi điều kiện và đảm bảo an ninh cho việc rút quân Đ ồng thời, Nguyễn Trãi khẳng định Đại Việt giữ “ đầy đủ lễ nghĩa, cống vật không thiếu sót” 1.
Ngoại giao tâm công đã ứở thành bài học kinh nghiệm hay của ngoại giao của cha ông ta, được vận dụng rất thành công trong ngoại giao thời đại
1 Nguyễn Trâi: Toàn tập, Nxb Văn hóa - Thông tin, H 2001, tr 543-544.
Trang 17luôn có dã tâm xâm chiếm, đồng hóa nước Đại Việt Nói như Phan Huy Chú: “Xét lý thế thực phải như thế”1.
Để có thể chung sống với một nước như Trung Quốc phong kiến, giữ vững được độc lập chủ quyền, chống lại được đồng hóa, ông cha tạ đã thực hiện chính sách ngoại giao khôn khéo, thông minh là “thần phục thiên triều”, “ở ừong thì xưng đế, mà đối ngoài thì xưng vương” như đã nói ở trên Đồng thời, đi liền với đường lối ngoại giao đó là cách ứng xử mềm mỏng, linh hoạt, uyển chuyển Khúc Thừa Dụ nhận chức Tình hải quân Tiết
độ sứ Đồng bình chương sự của “thiên triều” Ông xây dựng cơ cấu chính quyền theo mô hình có sẵn của Trung Hoa nhưng thực chất là bãi bỏ các quan lại Trung Hoa mà thay vào là quan lại Việt Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn khi lên ngôi đều đã xưng đế, song lúc đầu cũng chỉ xin “thiên triều” phong chức Tiết độ sứ Trừ Ngô Quyền, còn tất cả các vua Việt đều nhận sắc phong của “thiên triều”
Việc ứng xừ mềm mỏng của cha ông còn thể hiện dù đánh thắng quân xâm lược, song đều nhận trách nhiệm về mình Lê Lợi, Quang Trung đều nhận lỗi về mình và do sự khiêu khích của quan lại địa phương ở biên giói nên mới xảy ra chiến tranh giữa Trung Quốc và Đại Việt Xirì, trích Biểu của Quang Trung gửi Hoàng đế nhà Thanh là Càn Long, do sứ bộ Hám Hổ Hầu chuyển ngay sau chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa Biểu viết: Mồngnăm tháng Giêng năm nay (1789) tôi tiến đến Lê thành những mong Tôn Sỹ Nghị lại, họa may có thể đem ngọc lụa thay đồ can qua, xoay binh xa làm hội xiêm áo Tôi nhũn nhặn xin yết kiến, nhưng Nghị không hề trả lời
Qua bữa sau: quân Nghị xông vào đánh trước, Vừa mới giao phong đã
đổ vỡ, chạy tan bốn ngả
Trộm nghĩ: binh đao là việc bất đẵc dĩ của thánh nhân Đại hoàng đế thâm nghiêm ngự nơi cửu trùng Những chuyện cương thường, Tôn Sỹ Nghị không hề tâu rõ từng việc một Hắn che lấp tai, mắt của nhà vua đến nỗi làm cho sự thể rối ren đến thế
Châu chấu đá xe, tôi thật không dám Song cửa nhà vua xa cách muôn dặm, hệ tôi nhúc nhích làm gì liền bị kẻ khốn thần hiếp đáp Không sao nhịn
1 Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chi, Nxb Giáo dục, H 2007, t 2, tr.533.
Trang 18nổi, nên hình tích mới dường như chống cự.
Thiết nghĩ nước tôi từ Đinh, Lê, Lý, Trần trở đi thế đại đồi thay, chẳng phải chi có một họ Nếu ai cổ thể làm rào giậu ở phương Nam thì thiên triều lượng rộng như biển, thường vẫn làm ngơ lỗi nhỏ
Nay lòng người đã chán nhà Lê, con cháu họ Lê đớn kém, hèn yếu, không được lểựig dân theo về
Tôn Sỹ Nghị vì cớ nông nổi; không thấu suốt sự tình và lý do Hắn gây mối binh ứanh khiến cho bọn sinh linh phải cay đắng, khốn khổ
Tôi đóng quân ở thành Long Biên, nghển cổ ngóng trông về cửa trời Tôi xin kính cẩn sai sứ sang cửa cung khuyết, xung phiên, sừa lễ cống Lại đem số người hiện còn của nhà vua dâng nộp để tỏ tấc dạ thật này ”1
Tờ biểu phân tích sâu sắc, lập luận vô cùng chặt chẽ, lời lẽ hết sức mềm dẻo, nhún nhường
Trong việc tiếp sứ thần Trung Quốc, hoàng đế Lê Hoàn cũng rất linh hoạt, uyển chuyển Đối với những sứ thần có thái độ ngạo mạn, có tâm địa xấu như Tống Cảo và Vương Thế Tắc, ông có đối sách mạnh, biểu dương sức mạnh quân sự, sự giầu có, thịnh vượng, uy hiếp tinh thần sứ Tống Còn đối với sứ thần có học thức, giỏi văn thơ như Lý Giác, ông đón tiếp vởi cách ứng xừ khác: rất văn hóa, nêu bật Đại Việt có nhiều nhân tài
- ứ ng xử của cha ông ta trong ngoại giao với Trung Quốc thì mềm dẻo, linh hoạt, uyển chuyển, song kiên quyết, không -nhân nhượng nguyên tắc
Có nhiều ví dụ để chứng minh Triều Lý đã kiên quyết, kiên trì đòi bằng được vùng đất bị nhà Tống chiếm, đặc biệt là hai động Vật Dương, Vật Ác Các vua Trần rất kiên quyết bác bỏ những yêu sách phi lý của nhà Nguyên như: đòi vua Trần sang chầu, đòi kê khai dân số và quần dịch vấ đặt quan Darugatri (cố vấn) và kiên quyết chống thái độ hống hách của các sứ thần Mông Cổ
Thứ năm, biết giành thắng lợi từng bước ừong đấu ừanh ngoại giao.
Nước nhỏ không dễ gì chiến thắng ngay đối thủ mạnh Trong cuộc đấu ừanh với đối thủ mạnh hơn mình gấp nhiều lần là phong kiến Trung Hoa; cha ông ta biết lấy yếu đánh mạnh, lấy ít địch nhiều, giành thắng lợi từng
1 Lưu Văn Lợi: N goại giao Đại Việt, Nxb Công an nhân dân, H 2000, tr 173-179.
Trang 19bước và rất kiên trì Phương sách này đã từng bước hình thành và trở thành một nguyên lý trong đấu tranh ngoại giao của Đại Việt.
Kể tò năm 905 Khúc Thừa Dụ giành được quyền tự trị, song phải đến
1175, nghĩa là gần 300 năm sau, Trung Quốc mới chịu công nhậrỊ nước ta
là một quốc gia cỏ chủ quyền, sắc phong vua Lý Anh Tông là An Nam quốc vương
Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế năm 980, song chỉ được phong chức Tiết
độ sứ, một chức quan đứng đầu quận, huyện mà thôi, đến năm 993 mới đấu tranh được chức Giao Chi Quận vương và đến tận năm 996 mới đấu được chức Nam Bình vương Nghĩa là 16 năm sau chiến thắng quân xâm lược Tống
Nhà Lý phải đấu tranh suốt 5 năm kể từ khi quân Tống bị đánh bại mới thu hồi được đất Quảng Nguyên Nhà Trần suốt 35 năm đấu tranh quân sự, ngoại giao từng bước đẩy lùi những hành động ngang ngược, yêu sách láọ xược và ba lần đập tan chiến tranh xâm lược mới buộc quân Nguyên bãi binh Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh do Lê Lợi - Nguyễn Trãi lãnh đạo phải mất 10 năm mới giành được thắng lợi Ngoài ra còn có vô vàn
3 Cội nguổn của triết lý ngoại giao truyền thóng
Có những cội nguồn hình thành nên ngoại giao truyền thống của cha
ông ta, song có thể kể ra hai cội nguồn chủ yếu: cốt cách văn hóa Đại Việt
và địa chính trị cùa ãât nước Đương nhiên nhân tố quyết định chính sách
ngoại giao của một nước là lợi ích quốc gia - dân tộc, mà lợi ích quốc gia - dân tộc lại đươc xác định bởi tổng thể các yếu tố như lịch sử, văn hóa, địa chính trị, kinh tế xã hội, yêu cầu đảm bảo chủ quyền, an ninh 1
v ề những đặc trưng của văn hóa Việt Nam Có hai loại hình văn hóa Văn hóa Việt Nam thuộc loại hình văn hóa nông nghiệp lúa nước với một số đặc trưng, liên quan chặt chẽ với nhau Trong cách ứng xử đối với thiên nhiên, do nông nghiệp lúa nước phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên đã
1 Vũ Dương Huân: Bàn về lợi ích dân tộc vờ lợi ích quắc g ia trong quan hệ q u ắ c tế, Tạp chí
Nghiên cửu quốc tế, số 2 (69), 6-2007.
Trang 20hình thành ý thức rất tôn trọng, sống hài hòa vói thiên nhiên, không dám ganh đua với thiên nhiên, về nhận thức, nghề nông nghiệp lúa nước cũng phụ thuộc vào không ít yếu tố như mưa, nắng, trời, đất và các yếu tố đó quan hệ khăng khít với nhau do vậy cách tư duy tổng hợp, biện chửng ra đời Tổ chức cộng đồng, thể hiện trên hai khía cạnh là nguyên tắc tổ chức và cách thức tổ chýc cộng đồng Do làm nông nghiệp, sống cố định, lâu dài vói nhau nên đã hình thành nguyên tắc sống trọng tình, trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ Từ lối tư duy tổng họp và biện chứng, luôn phải đắn đo, cân ' nhắc của người làm nông nghiệp, cộng với lối sống tình cảm nên đã dẫn đến cách tổ chức cộng đồng theo lối linh hoạt, luôn biến báo cho phù hợp vói hoàn cảnh cụ thể Chính nguyên tắc sống trọng tình cảm và sống hòa thuận, ứng xử linh hoạt, đắn đo được thể hiện trong quan hệ với các dân tộc khác, quốc gia khác.
Cội nguồn thứ hai của triết lý ngoại giao truyền thống Việt Nam là hoàn cảnh địa chính trị của nước ta như trên đã phân tích Láng giềng của chúng ta từ thời dựng nước đã là nước Trung Quốc phong kiến hùng mạnh, luôn có tư tưởng bành trướng, bá quyền đối với các nước láng giềng Chung sống với nước láng giềng như vậy đã dần tạo nên phong cách ngoại giao hòa hiếu, trong xưng đế, ngơài xưng vương của cha ông ta
- Trên đây là những suy nghĩ sơ bộ, ban đầu liên quan đến nhận thức về ừiết lý ngoại giao truyền thống của Việt Nam Những tư tưởng cơ bản của triết lý ngoại giao truyền thống của cha ông ta đã được hình thành và phát huy trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước cần được nghiên cứu kỹ trong giai đoạn cách mạng hiện nay
Trang 21PH O N G CÁCH NGOẠI GIAO CỦA HOÀNG ĐẾ LÊ HỌÀN
QUA QUAN HỆ VIỆT NAM - TRƯNG QUỐC - CHIÊM THÀNH *
Lê Hoàn sinh năm Tân Sửu 941 và mất tháng Ba năm Ắt Tỵ 1005, Hoàng đế đầu tiên của thời tiền Lê Ông sinh ở làng Bào Thái, xã Liêm cần, huyện Thanh Liêm, Hà Nam, sau về sống ở Xuân Lập, Thọ Xuân, Thanh Hóa Ông nội là Lê Lộc, thân phụ là Lê Mịch và mẹ là Đặng Thị Sen Cha
mẹ mất sớm, ông được mọt viên quan sát họ Lê nuôi nấng Lớn lên, ông theo giúp Đinh Liễn, lập nhiều công trạng và khi nhà Đinh được thành lập (năm 968), ông được phong chức Thập đạo tướng quân
Cuối năm 979, hoàng đế Đinh Tiên Hoàng cùng con trai cả Nam Việt vương Đinh Liễn bị tên quan hầu là Đỗ Thích giết hại Triều thần đưa Vệ vương Đinh Toàn mới 6 tuổi lên làm vua Thập đạo tướng quận Lê Hoàn làm phụ chính Các đại thần Nguyễn Bặc, Đinh Điền và Phạm Hạp, vốn là các tướng GŨ của Đinh Tiên Hoàng nghi ngờ Lê Hoàn có ý định cướp ngôi nên đã chống lại và đưa quân về kinh.để tìm cách tiêu diệt ông Cuộc chiến xẩy ra, cầc đại thần trên đều bị giết
Lợi dụng tình hình ữên, nhà Tống quyết định đem quân xâm lược nước
ta Trước nguy C ơ nạn ngoại xâm đang đến gần, Thái hậu Dương Vân Nga,
mẹ đẻ củávua Đinh Toàn đã cử Lê Hoàn làm Tổng chi huy quân đội chuẩn
bị kháng chiến Trong một buổi hội triều mùa thu năm 980 bàn việc chống giặc, đại tướng Phạm Cự Lạng cùng các tướng lĩnh đã kiến nghị Lê Hoàn lên làm vua và cũng vì lợi ích xã tắc nên Thái hậu Dương Vân Nga đã sẵn sàng hy lợi ích dòng tộc, tán thành đề xuất của tướng sĩ Lê Hoàn lên ngôi lấy niên hiệu là Thiên Phúc, giáng phong vua Đinh Toàn làm Vệ vương Ông ở ngôi được hơn 24 năm, vẫn giữ quốc hiệu là Đại c ồ Việt và kinh đô
* Tạp chí Nghiên cứu Đ ông N am Ả , số 11 (92) 2007.
Trang 22Hoa Lư; tiếp tục sự nghiệp của nhà Đinh xây dựng chế độ phong kiến tập quyền Hoàng đế Lê Hoàn không những có tài về quân sự, đánh đâu được đấy, giữ yên bờ cõi, giỏi nội trị mà còn là nhà ngoại giao xuất sắc, có phong cách riêng, ô n g đã để lại nhiều di sản quý góp phần làm phong phú kho tàng ngoại giao truyền thống của dân tộc.
Đã có những nghiên cứu về ngoại giao của vua Lê Hoàn Tuy nhiên, việc tiếp tục đi sâu tìm hiểu tư tường, phong cách, nghệ thuật ngoại _giao của hoàng đế Lê Hoàn đương nhiên là việc làm hết sức hữu ích
1 Không khuất phục trước sự đe dọa và sức ép của kẻ thù
Quyết định xâm lược Việt Nam, trong khi chuẩn bị tấn công nước ta, tháng 9-980 vua Tống Thần Tông sai sứ giả là Lư Đa Tốn mang tối hậu thư cho vua Lê Hoàn với giọng đầy hăm dọa, thô bạo và hống hách của kẻ xâm
nước, cơ nghiệp thái bình kể cũng đã thịnh Lễ phân phòng đã sắp đặt sẵn, còn đợi người đến chúc sức khoẻ của ta Người đừng ru rú trong bốn góc nhà khiến cho ta buồn phiền, phải chém cờ bổ so1 làm cỏ nước người, hối sáó kịp Người có theo về hay không? Chớ mau chuốc lấy tội N ay ta đang chỉnh đốn xe cộ quân lính, truyền hiệu lệnh chiêng trống N ấu chịu theo giáo hóa, ta sẽ tha tội cho, nếu trái mệnh ta sẽ sai quân đánh Theo hay không, lành hay dữ, tự người xét lấy ”2
Đứng trước sự đe dọa của nhà Tống, Lê Hoàn không hề nao núng, không đầu hàng, sẵn sàng đương đầu với quân xâm lược Tuy nhiên, để kéo đài thời gian hòa hoãn, ừanh thù thêm thời gian cho việc chuẩn bị chống ngoại xâm, hoàng đế Lê Hoàn đã lấy danh nghĩa Đinh Toàn viết thư cho vua Tống,, thỉnh cầu xin nối nghiệp cha và sai Giang Cự Vọng, Vương Thiệu Tộ
đi sứ in ang thư sang nhà Tống Nội dung thư rất nhún nhường, mềm mỏng
và rất sách lược, cũng chỉ xin làm Tiết độ sứ Thư viết: “Cha thần và anh
1 N guyên vãn: “tiệt phan đoạn tiết” Tiết là con so để làm tin, khi tướng ra trận thl bổ đôi giao
cho một nửa.
2 Đ ại Việt s ừ k ý toàn thu, Nxb Văn h ó a-T h ô n g tin, H 2000, t 1, tr 318-319.
Trang 23thân đêu đội ơn thượng quốc, lạm mang ừách nhiệm ở biên thuy giữ gìn bờ cõi, đâu dám phi vi Nhưng công đánh giặc chưa có mà vụt đã qua đời, thần đang lúc nhà cửa sắp hư, áo tang chưa bỏ, thì những quân dân thông lại, các dòng họ phiên tù cùng các kỳ lão trong nước, đến chỗ cử tang xin thần tạm
giữ việc quân, việc nước Thần đã cố từ ba, bốn lần nhưng họ cố nài ép
mãi nếu không theo ý, sợ sinh biến khác, cho nên thần đã tạm giữ chức Tiêt độ hành quân tư mã, kiêm lĩnh việc quân trong châu Cúi xin phong cho săc mệnh, được kề vào hàng phiên thần, để yên ủi tấm lòng tận trung của phúc đáp” 1 N hà Tống tỏ ra rất bực tức, quyết không nghe vì họ đã biết Lê Hoàn xưng đế, đổi niên hiệù, không có ý khuất phục M ặt khác, triều đình nhà Tông muốn nhân cơ hội tình hình nước Đại c ồ Việt rối ren, vua Đinh
và con cả Đinh Liễn bị giết, m âu thuẫn dòng tộc gay gắt, Lê Hoàn lên ngôi chưa được nội bộ hoàn toàn đồng tình, chưa được thiên triều chuẩn y, nhằm
“chiếm lấy nước Việt ta”2 V ua Tống đã sai Trương Quyền mang thư trả lời:
“Họ Đinh truyền nối ba đời, trâm muốn cho Toàn làm thống soái, khanh lâm phó Nếu Toàn tướng tài chẳng có, vẫn còn trẻ con, thì nên bảo cả mẹ con cùng thân thuộc sang quy phụ Đợi khi bọn họ vào chầu ắt sẽ có điển lễ ưu đãi và sẽ traọ cờ tiết cho khanh N ay có hai đường, khanh nên chọn một”3
Lê Hoàn bác tối hậu thư, q u y ết tâm lãnh đạo quân dân Đại Việt chống xâm lược Tháng 4-981, 10 vạn q u ân nhà Tống theo ba đường thủỵ bộ kéo sang nước ta Hoàng đế Lê Hoàn tự thân cầm quân ra trận Tại sông Bạch Đằng, một cánh quân thủy bị quân ta đánh tan, thiệt hại nặng riề phải ỉháo chạy về Quảng Châu Ở Chi Lăng, c á n h quân bộ do tướng Hầu Nhân Bảo chi huy bị phục binh của quân ta tiêu d iệ t Hầu Nhân Bào bị giết tại trận và tàn quân phải tháo chạy về nước M ộ t cánh quan thủy khác của địch tiến thắng về Hoa Lư định bất ngờ thọc sâ u vào nội địa, chặn viện binh của ta từ kinh đô tiếp ứng cho mặt trận Chi L ăn g , Bạch Đằng Tại Tây Kết (Khoái Châu, Hưng Yên), quân Tống bị c h ặ n đánh và thiệt hại nặng, âm m ưu thâm độc của quân xâm lược bị đập tan Sau chiến thắng ở Bạch Đằng, Chi Lăng, đại
1-2,3 Đại Việt s ù ký loàn thư, N xb V ăn h ó a - Thông tin, H 2000, t 1, tr 318-319, 3 2 0 ,3 2 0
Trang 24quân của ta kéo về Tây Kết bồi thêm cho thủy quân Tổng một đòn chí tử và quân sĩ chết đến quá nửa, thây chết đầy đồng, bắt được tướng giặc là Quách Quang Biện và Triệu Phụng Huân ”1 Với trận Tây Kết, cuộc kháng chiến chống Tống xâm lược lần thứ nhất của quân dân Đại cồ Việt đã nhanh chóng kết thúc toàn thắng.
Thứ nhất, chủ động khôi phục quan hệ ngoại giao và cứng rắn trong
việc giải quyết vấn đề trả tù binh, ông chưa ừả ngay tù binh bị bắt trong chiến tranh, trong đó có hai tướng Mãi 5 năm sau cuộc chiến, ông mới nhận giải quyết vấn đề này Tháng 10-986, vua Tống phái Lý Nhược Chuyết và
Lý Giác mang chế sách sang phong cho Lê Hoàn làm An Nam đô hộ lìn h hải quân Tiết độ sứ kinh triệu quận hầu và nhận tù binh Lê Hoàn đã traọ ừả hai tướng Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân và các binh sĩ bị bắt Lê Hoàn đâu có phải là tiết độ sứ của địa phương nào đó của Trung Quốc, ông
đã lên ngôi Hoàng đế, song việc phong tiết độ sứ cho Lê Hoàn chứng tồ triều đình nhà Tống đã thừa nhận Lê Hoàn là người nắm quyền thực sự ở
Đậ Cồ Việt và từ bỏ ý đồ đánh phục Mặt khác, ông muốn cho nhà Tống
1 Đại Yiệt sử k ý toàn thư, Nxb Văn hóa - Thông tin, H 2000, t 1, tr 323.
Trang 25biết: Đại c ồ Việt là nước giafu có và có văn hiến Ồng luôn tranh thủ cơ hội
để quảng bá đất nước Đại Việt Trong những buổi tiệc chiêu đãi hai sứ giả nhà Tống sang phong tiết độ sứ cho Lê Hoàn năm 986, ông đã tổ chức lễ thết đãi rất hậu, hàng ngày đem những thứ quý lạ bầy chật cả sâ n /’1 Có nhà nghiên cửu đã nhận xét: Đó chính là một cách giới thiệu sự giầu có, phồn vinh của đất nước2 Đồng thời, ông luôn tìm cách quảng bá với sứ giả Trung Hoa, rằng Đại c ồ Việt cũng như Trung Quốc còn là nước văn hiến Lịch! sử
đã ghi lại việc nhà vua đón tiếp Lý Giác, sứ giả của nhà Tống mùa Xúân năm 987 Lý Giác là văn thần, học thức rộng, yêu thích văn thơ và cũng rất giỏi văn thơ Lê Hoàn đã cử nhà sư Đỗ Thuận, người học rộng, văn thơ hay,
có tài đối đáp tham gia tiếp sứ, vói hàm ý cho nhà Tống biết nước ta là nước văn hiển, có nhiều nhân tài, trí thức Sư Đỗ Thuận giả làm người chèo thuyền lên đón sứ tại chùa Sách giang (hạ lưu sông Thương, thuộc huyện Nam Sách, Hải Dương) Lý Giác đứng ờ mạn thuyền, nhìn sông nước và hai con ngỗng bơi dưới sông liền ngâm hai câu thơ:
“Nga nga lưỡng nga nga,Ngưỡng diện hướng thiên nha”
Người lái đò liền họa tiếp:
“Bạch mao phô hồng thủy,Hồng trạo bãi thanh ba”
Dịch nghĩa:
“Ngỗng ngỗng, hai con ngỗng Ngửa mặt nhìn chân trời”
“Nước xanh phô lông trắng Chèo hồng đẩy sóng xanh”
Bốn câu thơ hợp thành bài thơ tuyệt hay Lý Giác vô cùng khâm phục
vĩ thấy một người lái đò bình thường mà cũng biết làm thơ, họa thơ và ứng đối cực kỷ nhanh, thông minh, ông lại càng khâm phục hơn bởi hai câu thơ
1 Đ ại Việt sừ kỷ loàn thư, Nxb Văn hóa - Thông tin, H 2000, t 1, tr 327.
Học viện Quan hệ quôc tế: Ngoại giao Việt Nam từ thuở dựng nước đến trư ớ c Cách mạng
Tháng Tám 1945, H 2001, tr 30.
Trang 26ông ngâm có sẵn trong bài thơ tứ tuyệt của nhà thơ nổi tiếng Lạc Tân Vưong thời Đường, ô n g thay đổi vài chữ cho hợp cành, hợp tình, thì người lái đò ngâm hai câu tiếp và cũng thay đổi vài chữ cho phù họp Qua người lái đò, Lý Giác khâm phục trình độ văn hiến, tài trí người Việt Nam Khi đến Hoa Lư, Lý Giác làm một bài thơ tặng người lái đò thi sĩ.
\ Hạnh ngộ minh thì tán thịnh du,Nhất thân nhị độ sứ Giao Châu
Đông Đô lưỡng biệt tâm lưu luyến,Nam Việt thiên trùng vọng vị hưu
Mã đạp yên vân xuyên lãng thạch,
Xa từ thanh chướng phiếm trường lưu
Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu,Khê đàm ba tĩnh kiến thiềm thu
Ngựa vượt đá mây xuyên đá chởm,
Xe qua rừng biếc vượt dòng sâu
Ngoài tròi lại có trời soi nữa,Sóng lặng khe đầm bóng nguyệt thâu1
Trong bài thơ của sứ giả Lý Giác có câu: “Thiên ngoại hữu thiên ừng viễn chiếu” Câu này có nghĩa là: Ngoài tròi lại có ừời soi nữa N hà sư chủ trì chùạ Phật Đà, Ngô Khuông Việt nhận xét: Thơ này tôn vua Lê Hoàn không khác gì vua Tọng Vua Lê Hoàn sai Khuông Việt làm bài khúc để tiễn
sứ thần Thòi Tống, thể khúc rất thịnh hành và là thể loại rất khó Việc hoảng đé Lê Hoàn sai nhà sư Khuông Việt làrrí bài khúc một mặt, tỏ trọng
1 Đ ậ Việt sử kỷ toàn thư, Nxb Văn hóa - Thông tin, H 2000, t 1, tr 329.
Trang 27thị, lòng mến khách, sự lịch thiệp của dân tộc Việt Nam; mặt khác, cũng để
tài giỏi Bài khúc như sau:
Dao vọng thần tiên phục đế hương
Vạn trùng sơn thủy thiệp thương lang,Cừu thiên quy lộ trường
Tình thảm thiết,Đối ly trường,Phan luyến sử tình lang
Nguyện tương thâm ý vị biên cượng,Phân minh tấu ngã hoàng
Dịch nghĩa:
Nắng tươi gió thuận cánh buồm giương,Thần tiên lại đế hương
Vượt sóng xanh muôn dặm trùng dương,
Tình thắm thiết,Chén lên đường
Thứ ba, phô trương sức mạnh quân sự của đất nước, thay đổi cách tiếp
đón sử thần nhằm đè bẹp thái độ hống'hách của sứ thiên triều Năm 990,
1,2 Đại Việt s ù kỷ toàn thư, N xb Văn hóa - Thông tin, H 2000, t 1, tr 330-331, 330.
Trang 28vua Tống cừ Tống Cảo làm chánh sứ và Vương Thế Tắc làm phó sứ mang chiếu thư sang phong cho Lê Hoàn thêm chức “Đặc tiến” Sứ giả có thái độ khá hống hách Lê Hoàn thay đổi cách ứng xử, điều chỉnh cách tiếp, đón sứ thần Lê Hoàn sai Đinh Thừa Chính mang chín chiến thuyền lớn và 300 quân sang tận Liêm Châu, Quảng Đông đón sứ thần theo đường biển đến sông Bạch ĐằÌỊg, theo yêu cầu của sứ giả Tiếp đến, Lê Hoàn cho thao diễn quân sự gồm cả thủy quân và bộ binh khi đón sứ ờ gần Kinh đô Hoa Lư Quân sĩ hò reo, khí giới rợp trời Tất cả những thứ đó thực sự là cuộc biểu dương lực lượng, uy hiếp tinh thần sứ giả Đặc biệt hơn, vua Lê Hoàn cho tổ chức yến tiệc chiêu đãi sứ thần rất long trọng, song không phải trong lâu đài tráng lệ mà ở bãi biển để chủ và khách vừa ăn, vừa ca hát và vừa lấy trò đâm, bắt cá làm vui theo tinh thần lễ hội của người Việt Vua và các quan đều cời đai, mũ, hia để nhẩy múa và đâm cá Nhiều lúc vua Lê Hoàn tự hát mời rượu sứ thần Sứ giả thiên triều thấy rất bất tiện, lúng túng, khó xừ, không dám làm theo Nếu cời mũ áo, hia, đai thì còn đâu là sự oai phong của sứ giả thiên ừiều Rồi Lê Hoàn cho mang con trăn lớn đến sứ quán hỏi thiên sứ nếu ăn được sẽ làm tiệc thết đãi Lần khác, vua Lê Hoàn lại đưa đến hai con hổ để sứ Tống ngoạn thường Cả hai lần sứ giả nhà Tống đều khiếp
sợ và từ chối Khi Tống Cảo và Vương Thế Tắc chào từ biệt về nước, hoàng
đế Lê Hoàn nói thẳng với sứ thần: “Sau này có quốc thư thì nên cho giao nhận ở đầu địa giới, khỏi phải phiền sứ thần đến tận đây nữa Cảo về tâu, Yllâ Tống bằng lòng” 1 Từ đấy, ừong m ột thời gian dài, nước ta không phải đón tiếp sứ thiên triều, tránh được hành động hống hách của sứ thần
Cách tiếp đón sứ thiên triều của hoảng đế Lê Hoẩn thật độc đáo Với sứ thần có thái độ tao nhã, lịch thiệp, thích văn thơ, ông đón lịch thiệp, phô tniomg văn hóa, nhân tài đất nước Còn đối với sứ thần hống hách, kiêu ngạo thì bằng nhiều cách, liên tục uy hiếp tinh thần thiên sứ
Thứ tư, tỏ thái độ cứng rắn với cả Vua Tống Khi đón Tống Cảo và
thần và bưng chế thư lên trên điện, song không lậy với lý do bị ngã ngựa ở
1 Dại Việt sừ kỳ toàn thư, Nxb Văn hóa - Thông tin, H 2000, t 1, tr 332.
Trang 29chiến trường Ba năm sau (năm 993) triều Tống lại cho sứ thần sang phong cho Lê Hoàn làm Giao chỉ Quận vương, cao hơn những lần phong trước và các đời trước Đó thực sự là chiến công ngoại giao của Hoàng đế Lê Hoàn
Và năm 997 vua Tống lại phong cho ông làm Nam Bình vương, cao hơn Giao chi Quận vương
Để gây sức ép với triều đình nhà Tống, Lê Hoàn cho quân địa phương đánh sang trấn Như Hồng, thuộc Khâm Châu và Ung Châu Quan qùân Tống ở Quảng Tây và Liêm Châu tâu với triều đình về những sự kiện trên, song Vua Tống biết vậy lờ đi vì sợ xảy ra đụng độ lớn với Đại Việt Năm
996, Vua Tống còn cử Lý Nhược Chuyết mang đai ngọc và chiếu thư gia phong cho Lê Hoàn, với mục đích mong Đại c ồ Việt tiếp tục giữ quan hệ láng giềng tốt với nhà Tống Lê Hoàn ra tận ngoài thành đón sứ giả, song cũng không lậy khi nhận chiếù thư và đai ngọc Khi Lý Nhược Chuyết hỏi
về việc đánh trấn Như Hồng, Lê Hoàn nói thẳng với giọng thách thức: Việc cướp trấn Như Hồng là do bọn giặc biển ở cõi ngoài, hòàng đế có biết đó không phải là quân Giao Châu không? Neu Giao Châu có'làm phản thì đầu tiên đánh vào Phiên Ngung, thứ đến Mân Việt, há chỉ dừng ở trấn Như Hồng mà thôi?1
Một câu trả lời đầy khí phách của vị hoàng đế một nước Đại c ồ Việt nhỏ bé so yớị một cường quốc thế giới lúc đó là Trung Quốc
3 Vừa củng cố bang giao với nhà Tống, ngăn chặn Tống đánh báo thù, vừa củng cố quan hệ với Chiêm Thành, tránh cùng một lúc bị ép từ hai mặt
Lê Hoàn là ông vua nhìn xa thấy rộng, có tầm nhìn chiến lược Nếu cùng một lúc bị cả đối thủ phương Bắc và cả kẻ thù phương Nam đe dọa thì
đó là điều cực kỳ nguy hiểm đối với Đại c ồ Việt Nhà Tống là đối thủ lớn, còn Chiêm Thành cũng ngang sức ngang tài, không kém nước Việt ta Năm 980, sau khi lên ngôi Hoàng đế, biết rằng, sớm muộn nhà Tống sẽ xâm lược nước ta, Vua Lê Hoàn đã cừ sứ giả là Từ Mục và Ngô T ừ Ganh sang Chămpa đặt quan hệ hòa hiếu nhằm giữ ỳên mặt Nam, tập trung sức đối phó
1 Đ ại Việt sử ký loàn thư, Nxb Văn hóa - Thông tin, H 2000, t 1, tr 337.
Trang 30với xâm lược từ phía Bắc Vua Chămpa cậy thế hùng mạnh đã bắt giữ các
sứ giả, khước tò việc xây dựng quan hệ láng giềng hòa hiếu với Đại c ồ Việt Chính vì vậy, cho nên sau khi đánh tan quân Tổng, vào năm 982 hoàng
đế Lê Hoàn đã đích thân mang quân xuống phương Nam, hỏi tội Chiêm Thành vói mục đích xây dựng quan hệ hòa hiếu lâu dài với nước láng giềng
phía Nam Quẩo Đại cồ Việt tiến thẳng đến kinh đô Chămpa Chămpa đầu
hàng Đại Việt sử kỷ toàn thư viết: Vua thân đi đánh Chiêm Thành Chiêm
Thành thua to, chém được Be Mi Thuế (có lẽ là vua Chiêm) tại trận, bắt
được quân sĩ nhiều vô kể và một năm thì trở về Hoa Lư1 Từ đấy Chiêm
Thành giữ quan hệ hòa hiếu với nước Việt ta Chúng ta có điều kiện tập trung lo m ặt Bắc
4 Cơ sở chính sách ngoại giao thế mạnh của Lê Hoàn
Phải có vị thế như thế nào, sức mạnh như thế nào vua Lê Hoàn mới có phong cách ngoại giao mạnh mẽ như vậy? Ngoại giao luôn luôn gắn với sức mạnh quốc gia, quốc gia yếu không thế có ngoại giao mạnh Bác Hồ nói:
“Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi Thực lựe là cái chiêng mà ngoại
giao là cái tiếng Chiêng có to tiếng mới lớn”2 Sức mạnh của Đại c ồ Việt
thể hiện như sau:
Thứ nhất, nhà Tống có khó khăn, luôn phải đối phó với các nước thù
địch Năm 960 Triệu Khuông Dần thay thế nhà Hậu Chu, lập ra nhà Bắc Tốag Với phương châm Nam trước Bắc sau, nhà Tống đã thu gọn các vùng đất phương Nam là Kinh Châu, Hồ Nam, Nam Hán (971), Bắc Hán (976) thống nhẩt Trung Quốc Tuy nhiên, Bắc Tống hai lần đánh nước Liêu đều
th ầ bại Năm 1004 phải giảng hòa và nộp phạt cho Liêu 20 vạn lạng bạc,.20 vạr tấm lụa Sau lại phải đối phó với Tây Hạ, mặc dù Tây H ạ chủ động giàig hồa, tự xưng là “thần”, song Bắc Tống cũng bị thiệt hại rất nặng Nhà
Bắc Tống là nước lớn, song luôn luôn phải đổi phó với các nước thù địch
chc nên nhiều khi ờ vào thế rất khó khăn, phức tạp, ở vào thế yếu
1 Đ ậ Việt sử ký toàn thư, Nxb Văn hóa - Thông tin, H 2 0 0 0 ,1 1, tr 325.
2 Hc Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H 2000, t 4, tr 126.
Trang 31Thứ hai, nhà nước Trung ương tập quyền Đại c ồ Việt đang trong quá
trinh phát triển mạnh Sau khi dẹp được loạn 12 sứ quân, Đinh Tiên Hoàng bắt đầu xây dựng nhà nước Trung ương tập quyền Khi Lê Hoàn lên ngôi, nhả nước phong kiến tập quyền đã tồn tại và phát triển được 14 năjm: kinh tế phát triển, quân đội khá vững mạnh và về mặt ngoại giao đã có vị thế mới, khác trước Nhà sử học Phan Huy Chú viết: “Nước ta từ thòi Hùng Vương mới bắt đầu thông hiếu với Trung Quốc, nhưng danh hiệu còn nhỏ, không được dự vào hàng chư hầu hội triều ở nhà Minh Đường Rồi bị Triệu Đà kiêm tính, nhà Hán phong Đà làm Nam Việt vương, chi được sánh với chư hầu của Trung Quốc, chứ chưa được nêu là một nước Đến sau nội thuộc vào nhà Hán, nhà Đường, bèn thành quận huyện Ẹ)ến khi Đinh Tiên Hoàng bình định các sứ quân, khôi phục, mở mang bờ cõi, bấy giờ điển lễ sách phong của Trung Quốc mới nhận cho đứng riêng là một nước” 1
Thứ ba, nhân tổ quan trọng nhất, cơ bản nhất là Lê Hoàn đã đập tan
cuộc xâm lược của triều đình nhà Tống, bắt sống nhiều tu binh và cả tướng giặc, làm cho nhà Tống khiếp đảm, trong một thời gian dại luôn luôn kiềng Đại Cồ Việt Ngoại giao của Đại Việt có thực lực, có chiến thắng quân sự làm cơ sở Nếu chúng ta không đập tan cuộc xâm lược của nhà Tống tháng4-981 thì không thể có thế và Ịchí phách ngoại giao như vậy
Thứ tư, Lê Hoàn đã xây dựng quan hệ láng giềng thân thiện với Chiêm
Thành, loại được sự đe dọa bị tấn công từ hai gọng kìm
Cuối cùng là tính cách của hoàng đế Lê Hoàn Ông vừa lậ nhà quân sự
lại là ông vua có bản lĩnh, có tính cách mạnh mẽ, kiên quyêt, song cũng rât khôn khéo, linh hoạt Tính cách ấy tạo dấu ân trong phong cách ngoại giao.Tóm lại, tư tưởng và phong cách ngoại gia của hoàng đế Lê Hoàn thật
là độc đáo Ông có tư duy ngoại giao chiến lược: dùng ngoại giao ngăn chặn nhà Tống báo thù, trừng trị Chiêm Thàrih với mục đích xây dựng quan hệ láng giềng thân thiện, tránh bị ép từ hai phía; phong cách rất cứng rắn, song cũng rất linh hoạt, uyển chuyển, không cứng nhác như nhún
1 Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục, H 2007, t 2, tr 534-535.
Trang 32nhường trong viết thư cho vua Tống, trong cách đón tiếp sứ thần Cứng rắn là nét chính trong phong cách ngoại giao của ông Ông đã khéo léo lợi dụng chiến thắng trên chiến trường trong đấu tranh ngoại giao, biết kết hợp biểu dương sức mạnh quân sự đối với ngoại giao, biết quảng bá văn hiến, sự giàu mạnh của nước mìnhv ông cũng biết sử dụng một cách khéo léo, linh hoạt 'tyiệc tiếp đón sứ giả thiên triều, sử dụng con bài tù binh Tất
cả cái đó đã làm phong phú thêm kho tàng kinh nghiệm ngoại giao truyền thống Việt Nam
Trang 33TH Ồ N G CÁO NGÀY3-10-1945 VỂ CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO
(Văn kiện ngoại giao đầu tiên của nước Việt N am Dân chủ Cộng hòa)*
Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ở Thủ đô Hà Nội,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á Sau đó một tháng, ngày 3-1Õ-1945, Chính phủ lâm thòi của nước Việt Nam mói đã công bố một văn kiện ngoại giao hết sức quan trọng, xác định những định hướng cơ bàn chính sách ngoại giao của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và góp phần đề cao địa vị pháp lý của chính quyền cách mạng Đồng thời, Thông cáo cũng đặt nền móng cho chính sách đối ngoại rộng mở đa
\
1 Bối cảnh ra đời của Thông cáo
Việt Nam vốn là thuộc địa của thực dân Pháp Tháng 9-1940 Nhật vào Đông Dương và tháng 3-1945, Nhật đảo chính Pháp Tháng 8-1945, Nhật đầu hàng Đồng minh Theo quyết định của của các cường quốc: Liên Xô,
Mỹ, Anh tại Hội nghị Pôxđam (7-1945), quân Anh - Án sẽ vào 'nam vĩ tuyến
16 và quân Tường Giới Thạch sẽ vào miền Bắc để giải giáp' quân Nhật Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trái với dự tính và dàn xếp của các cường quốc Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong bối cảnh quốc tế cũng như trong nước dù có những thuận lợi nhất định, song cũng gặp vô vàn khó khăn, như “nghìn cân treo sợi tóc”, v ề mặt quốc tế, thuận lợi lớn chính là chủ nghĩa phát xít Đức và quân phiệt Nhật bị tiêu điệt, trong
đó có vai trò quyết định thuộc về Liên Xô Liên bang Xôviết, thành trì của cách mạng thế giới đứng vững và uy tín lên cao, phong trào cách mạng chống phát xít và quân phiệt Nhật rất sôi động, nhất là ở Đông Nam Á Tuy
* Tạp chí L ịch s ử Đàng, số 3/2008.
Trang 34nhiên, mặt không thuận là các nước lớn, kể cả Liên Xô điều chinh chiến lược bất lợi cho Việt Nam Do lợi ích của mình, Liên Xô chỉ chú trọng châu
Âu, hết sức tranh thủ Pháp nhằm chống lại sức ép của Mỹ, chưa quan tâm đúng mức đến châu Á Mỹ với mục tiêu xác định vai trò lãnh đạo thế giới nên đã lôi kéo và nhân nhượng Pháp, Anh trong vấn đề thuộc địa Pháp và Anh có dã tâiíỊ khôi phục lại hệ thống thuộc địa rộng lớn của mình, ngăn chặn ảnh hường của các cường quốc khác Còn Tường Giới Thạch vảo Việt Nam với nhiệm vụ giải giáp quân Nhật, song có mưu đồ" “diệt cộng cầm Hồ” và sẵn sàng mua bán Đông Dương với Pháp Trên phương diện quốc tế, Việt Nam chỉ có một thuận lợi là đã giành được chính quyền trước khi quân Đồng minh vào giải -giáp quân Nhật, về tình hình ừong nước, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước vô vàn khó khăn, thách thức Chính quyềri vừa thành lập, lực lượng vũ trang nhỏ bé, trang bị thô sơ, nền kinh tể suy sụp, kho tàng ừống rỗng, thiên tai, nạn đói làm 2 triệu người chết vẫn đang hoành hành, về phương diện đối ngoại, vẫn chưa được nước nào công nhận Khó khăn to nhất, thách thức íớn nhất lại là thù ừong giặc ngoài Cùng một lúc chúng ta phải đối phó với nhiều thể lực quân sự lớn manh, đang có mặt trên đất nước ta và đều có thái độ thù địch chống cách mạng Việt Nam, có kẻ còn âm mưu chia lại đất nước ta, đưa Việt Nam trở lại chế
độ thuộc địa Trong Nam có 26.000 quân Anh - Ấn với nhiệm vụ giải giáp quân Nhật, nhưng thực sự là làm nhiệm vụ cho quân Pháp, giúp Pháp quay lại tái chiếm nước ta Anh và Pháp đã thỏa thuận giao lại cho Pháp quyền giải giáp quân Nhật và vừa thả vừa tái vũ trang 1.500 quân Pháp đang bị giam giữ và cùng đội quân mới do tướng Leclerc làm Tổng chi huy, ngày 23-9-1945, chúng gây hấn ở Nam bộ nhằrri tái chiếm Việt Nam Ngoài ra, còn có 60.000 quân Nhật đang chờ giải giáp cũng là nguy cơ không nhỏ đối vói nước ta Đặc biệt là gần 200.000 quân Tưởng kéo vào miền Bắc mang theo bè lũ tay tay sai là Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân Đảng) và Việt Cách (Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội) Như vậy, cùng một lúc trên đất nước ta có bốn thế lực thù địch vói 30 vạn quân là thách thức sống còn cho nuớc cộng hòa non trẻ
Bên cạnh khó khăn thách thức, tưởng như khó có thể vượt qua, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng có những thuận lợi to lớn và rất cơ bản
Trang 35Đó là cả dân tộc đoàn kết xung quanh Đàng và Hồ Chủ tịch, tuyệt đối tin tường vào Đảng và Bác Hồ, vói khí thế sục sôi cách mạng, với tinh thần sẵn sàng “đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững
Ngoài ra, có một sự kiện quan trọng liên quan đến việc soạn thảo và công bố Thông cáo về chính sách ngoại giao là chuyến thăm Việt Nam của phái bộ Đồng minh Đầu tháng 10-1945, phái bộ Đồng minh do Tổng Tham mưu trưởng quân đội Tưởng Giới Thạch, tướng Hà ứ n g Khâm đứng đầu đến Hà Nội Cùng đi có tướng Mỹ Mác Lure Đây là phái bộ cao cấp nhất của Đồng minh đến dự lễ giặi giáp quân đội Nhật
Văn kiện ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã xuất hiện trong hoàn cảnh như vậy
2 Nội dung và ý nghĩa
Thông cáo về chính sách ngoại giao gồm các nội dung chính sau đây Trước hết, Thông cáo khẳng định mục đích của đất nướq Việt Nam, mục tiêu của chính sách đối ngoại Việt Nam là “đưa nước nhà đến sự độc lập hoàn toàn và vĩnh viễn”; “Nước Việt Nam còn đương ở giai đoạn đấu tranh kịch liệt, tất cả chính sách ngoại giạo phải có chính sách cốt yếu là giúp cho
sự đấu tranh ấy thắng lợi bằng mọi phương pháp thích hợp”, “êm dịu hay cương quyết-, “dựa trên nguyên tắc Hiến chương Đại Tây Dương” Đồng thời, Thông cáo cũng khẳng định Việt Nam sẽ cùng các nước trong Đồng minh “xây đắp lại nền hòa bình thế giới” Thông cáo còn đề ra chính sách đối ngoại với bốn đối tượng:
- Đối với các nước Đồng minh, Việt Nam mong muốn duy trì hữu nghị
và thành thật hợp tác trên cơ sờ bình đẳng và tương trợ để xây dựng nền hòa bình thế giới lâu dài
- Đối với Pháp, chính sách là: bảo vệ tính mạng, tài sản kiều dân Pháp đúng theo luật quốc tế, miễn là họ yên ổn sinh sống và tôn trọng pháp luật, chủ quyền và nền độc lập của Việt Nam; nhưng kiên quyết chống bọn thực dân Pháp đang chuẩn bị và bắt đầu chiến tranh xâm lược; đối với nước Pháp
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H 2000, t 4, tr 4.
Trang 36Việt Nam muốn xây dmg quan hệ hữu nghị dựa ưên cơ sở bình đẳng và tôn trọ n g quyền lợi lẫ n nhíU.
- Việt Nam sẵn sàig thắt chặt mối thân thiện với các dân tộc nhược tiểu
và hợp tác ừên nguyêi tắc bình đẳng để giúp'đỡ và tương trợ lẫn nhau duy trì và củng cố độc lập dân tộc
- Đặc biệt^đối với nhân dân Khơme và Lào, Việt Nam đặt quan hệ dựa trên nguyên tắc’dân’ực tự quyết Đã từng chịu ách đô hộ của Pháp, nhân dân b a nước lẽ'dĩ nhiêi phải cùng nhau đấu tranh để cời ách đô hộ đó, giúp
đỡ lẫn nhau giành lại và duy trì nền độc lập của mình Hơn nữa Klicrme, Lào
và Việt Nam có quan ỉ.ệ kinh tế chặt chẽ, ba nước sẽ giúp đỡ lẫn nhau trong công cuộc kiến thiết về cùng nhau tiến lên trên con đường tiến bộ1
Thông cáo ngày 3-10 về chính sách ngoại giao là tiếp tục và phát triển chủ trương, chính sách đối ngoại đã được Đảng ta xác định tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (5-1941), Thông cáo của Trung ương Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và trách nhiệm cần kíp của Đảng (11-1945), Nghị quyết Hội nghị quân sự Bắc kỳ (4-1945) và đặc biệt là Hội nghị toàn quốc
của Đảng ờ Tân Trào (14 và 15-8-1945), Tuyên ngôn Độc lập Từ phẫn tích,
đánh giá tình hình trong nước, Đảng ta đã nhận diện đúng kè thù chính “Kè thù trước mắt của dân tộc ta là thực dân phản động Pháp Chúng đang uy hiếp chủ quyền của ta, tiến công ta, lấn bước ta, khiêu khích ta”2; “Mục đích đích của chúng ta lúc này là tự do, độc lập Ý chí của ta lúc này là dân chủ, hòa bỉnh Là bạn cùa ta trong giai đoạn này tất cả những nước nào, những dần tộc hay ỉực ỉượng nào ừên thế giói tán thành mục đích ấy, cùng chung một ỷ chí ấy”3 Nghĩa là “thân thiện với tẩt cả các nước coi trọng nền độc lập của Việt Nam” Chủ trương này GÙa chúng ta, trước đó đã được thể hiện trong Chương trình Việt Minh, với 4 nội dung:
Ị Hủy tất cả các hiệp ước mà Pháp đã ký với nước nào;
2i Tuyên bố các dân tộc bình đẳng và hết sức giữ hòa bình;
3í Kiên quyết chống tất cả các lực lượng xâm phạm đến quyền và lợi ích của nước Việt Nam;
1 Bộ N goại giao: Những rân bàn chính Cĩìa H ội nghị Giơnevơ, H 1955, tr 25-26.
2' 3 Đảnịg Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đ àng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H 2000, t 8,
tr 4 3 4 , 4 3 7
Trang 374 Mật thiết liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản toàn thế giới1.
Đó chính là nguyên tắc hàng đầu ừong chính sách đối ngoại của chính quyền cách mạng ừong tương lai Hội nghị của Đảng ở Tân Trào pũng định
ra phương hướng hoạt động đối ngoại: tìm mọi cách tránh “trường hợp một mình đối phó với nhiều lực lượng Đồng minh” và đồng thời, phải đề phòng
“sự mâu thuẫn giữa Anh, Pháp, Mỹ với Liên Xô có thể làm cho Anh, Mỹ nhân nhượng cho Pháp trở lại Đông Dương” Mặt khác, Hội nghị xác định đúng một chủ trương cực kỳ quan trọng: “mâu thuẫn giữa hai phe Đồng minh Anh - Pháp và Mỹ - Tàu về vấn đề Đông Dương là điều ta cần lợi dụng”2 Hội nghị đã vạch ra chính sách sơ bộ với đối tác, đối tượng, lực lượng chính như: “tranh thủ sự đồng tình của Liên Xô, Mỹ chống lại mưu
mô của Pháp”, “phải liên lạc và tranh thủ sự giúp đỡ của các nước nhược tiểu và dân chúng Trung Hoa và Pháp”; “tranh thủ đồng tình của Liên Xộ,
Mỹ chống lại mưu đồ của Pháp định khôi phục lại vị trí cũ ở Đông Dương
và mưu đồ của một số quân phiệt Trung Quốc định chiếm nước ta”; “đối với kiều dân người Pháp, người Hoa thì trừ bọn thân Nhật, cần phải bảo vệ sinh mệnh và tài sản của họ”3
Như vậy, đâv là một văn kiện neoại giao nhà nước khá hoàn chinh, khá toàn diện thể hiện tinh thần rộng mở, đã đề cập đến mục tiêu chính sách đối ngoậi, đến các hướng ưu tiên Ngoài ra, còn đề cập đến các sách lược ngoại giao như lợi dụng mâu thuẫn đối phương; kết hợp ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân Đó là một đường lối ngoại giao rất sáng sụốt, rất đúng,
Trang 38Dân tộc giải phóng đã chuyển thành Chính phủ lâm thời và danh sách Chính phủ được công bố Có nhiều nhân sĩ, trí thức thuộc các đàng phái khác nhau, lực lượng khác nhau tham gia Nhiều người vốn là Thượng thư Triều đình nhà Nguyễn, có người nguyên là Bộ trưởng trong Chính phủ Trần Trọng Kim (chính phủ thân Nhật) Thậm chí, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn mòi cả cựu hơậng đế Bảo Đại làm trưởng đoàn cố vấn của Chính phủ Đó thực sự là một chính phủ đoàn kết dân tộc rộng rãi Tiếp đó chúng ta đã khẩn trương tổ chức Lễ tuyên bố độc lập, trước khi quân Đồng minh (quân
Tường) đến Hà Nội Trong Tưyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
tuyên bố xóa bỏ chế độ thực dân: “Thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về Việt Nam, xóa bỏ đặc quyền của Pháp ừên đất nước Việt Nam”, khẳng định chủ quyền quốc gia và “trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do và độc lập”1
Ngay sau ngày ra mắt Chính phù, ngày 3-9-1945, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Hồ Chủ tịch nêu sáu nhiệm vụ cấp bách Một trong những nhiệm vụ cấp bách là “tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển
cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”2 Mặc dù tình hình miền Nam khá căng thẳng, do ngày 23-9-1945, Pháp đã gây hấn ở Sài Gòn và chiến ừanh đang lan rộng; ở miền Bắc lực lượng tay sai Tường chống phá Cách mạng quyết liệt, tài chính kiệt quệ, nạn đói còn chưa qua, song với quyết tâm cao của Chính phủ, ngày 6-1-1946, chúng ta đã tổ chức thành công cuộc tổng tuyển
cử đầu tiên và ngày 2-3-1946, Quốc hội khóa I đã khai mạc, hoàn chinh bộ máy nhà nước, thành lập chính phủ liên họp chính thức Tổng tuyển cử, đương nhiên có ý nghĩa to lớn về mặt đối nội Đồng thời cũng có ý nghĩa không nhỏ về mặt đối ngoại Với kết quả Tổng tuyển cử, Việt Nam đã có chính quyền hoàn toàn hợp pháp, hợp hiến, chính quyền dân cử, đại diện cho ý chí của toàn dân Cùng với việc khẳng định nước Việt Nam là nước độc lập, chủ quyền, có chính quyền nhà nước hoàn chỉnh họp pháp, có Chính phủ đoàn kết rộng rãi, không những thế mà nước Việt Nam mới còn
'■2 H ồ C ht Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H 2000, t 4 , tr 3-4, 8.
Trang 39có cả chính sách đối nội, đối ngoại nữa Như vậy, tất cà điều đó tạo tư thế hợp pháp nhằm ừanh thủ sự công nhận quốc tế.
Mục tiêu khác của Thông cáo về chính sách ngoại giao còn là hóạch định đường lối đối ngoại và ngoại giao của nước Việt Nam ;Dân chủ Cộng hòa Nội dung Thông cáo chính là những định hướng cơ bản về công tác ngoại giao của Việt Nam trong những năm 1945-1946 và cuộc kháng chiến chống Pháp, nhất là những năm 1945-1946, với hướng ưu tiên là tranh thủ và tạo thế với các lực lượng Đồng m inh đang có mặt trên đất nước ta
Tư tưởng chỉnh sách đối ngoại rộng mở, được Bác Hồ khẳng định lại trong cuộc kháng chiến chống Pháp Tháng 9-1947, khi tiếp nhà báo Mỹ Eli Mâysi, Người nói: Việt Nam “muốn lầm bạn với tất cả các nước dân chù và không gây thù oán với một ai” 1 Tinh thần chính sách đối ngoại rộng mờ của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện trong câu nói nổi tiếng của Người:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” Đó là đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân và đoàn kết quốc tế, trước hết là giai cấp công nhặn, nhân lao động
Như vậy trong giai đoạn 1945-1946, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Hồ Chủ tịch đã đánh giá đúng tình hình quốc tê, khu vực, tình hình nước ta đã hoạch định đường lối chính sách đối.ngoại đúng Đó là chính sách đối ngoại hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ, coi trọng quan hệ với nước Pháp, các nước lớn, láng giềng và khu vực có sách lược ngoại giao khôn khéo, vừa nguyên tắc vừa linh hoạt, lúc thì hòa hoãn với- Tưởng để tập trung sức chống Phảp, lúc thì hòa với Pháp
để đuổi Tưởng, góp phần quan trọng củng cố và bảo vệ nền lập dân tộc vừa mới giành được Rất tiếc, chính sách đối ngoại rộng mở của chúng ta chua'
có điều kiện thực tế để triển khai
Đánh giá về Thông cáo 3-10, có nhà nghiên cứu đã viết: “ Thông cáo thể hiện tính chất hoàn chỉnh của một nhà nước vững vàng”2
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H 2000, t 5 , tr 220.
2 Nguyễn Khắc Huỳnh: N goọi giao Việt Nam - Phương sách và n ghệ thuật đàm p h á n ,
Nxb Chính trị quốc gia, H 2006, tr 65-66.
Trang 403 Thông cáo đặt cơ sở cho việc hình thành chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ đói ngoại
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12-1986) khởi đầu sự nghiệp đổimới toàn diện đất nước ừong đó có đổi mới về đối ngoại, nhấn mạnh nhiệm
vụ hàng đầu về đối ngoại là tranh thủ điểu kiện quốc tế thuận lợi cho sự
nghiệp xây dựnế và bảo vệ Tô quôc Đường lôi, chính sách đôi ngoại thời
kỳ đổi mới từng bước định hình, hoàn chinh và triển khai Trước đó vớiNghị quyết 32/BCT (7-1986) chúng ta đã nhấn mạnh kết hợp sức mạnh dântộc và thời đại, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho cho công cuộc xâydựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, chủ động chuyển sang thời kỳcùng tồn tại hòa bình, góp phần xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòabình ổn định và họrp tác Nghị quyết 13/BCT (20-5-1988) xác định ngoạigiao phải ưu tiên giữ vững hòa bình để phát triển Nghị quyết nhận định:tình ừạng kinh tế yểu kém, tình thế bị bao vây, cô lập sẽ thành nguy cơ lớn
về an ninh và độc lập dân tộc Tự đó Hội nghị đề ra nhiệm vụ ra sức tranhthủ các nước anh em, bạn bè dư luận, phân hóa đối phương, làm thất bại âmmưu cô lập ta về kinh tế, chính trị, chủ động chuyển đấu ữanh từ trạng tháiđối đầu sang đấu tranh và họp tác trong cùng tồn tại hòa bình; ra sức lợidụng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và xu thế quốc tế hóakinH tế quốc tể, ừanh thủ vị trí tối ưu trong phân công lao động quốc tế Hộinghị cũng nhấn mạnh: Trong điều kiện mới chúng ta có cơ hội để có thể giữvững hòa bình và phát triển kinh tế Nếu bỏ lỡ cơ hội sẽ gặp thách thức Hộinghị xác định nhiệm vụ trước mắt là bình thường hóa quan hệ với TrungQuấc và giải quyết vấn đề Campụchia Nghị quyết 13/BCT thực sự là độtphỉ có ý nghĩa chiến lược về đối ngoại Tiếp đó, Đại hội VII (6-1991) đãxác định nhiệm vụ đổi ngoại bao trùm là giữ vững hòa bình, mở rộng quạn
hệ ìũrù nghị và họp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xâydụng vả bảo vệ Tổ quốc Đại hội tuyên bố: “Với chính sách đối ngoại rộng
mỏ, chúng ta tuyên bổ rằng: Việt Nam muốn là bạn vói tất cả các nướctrong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển”1
1 Đm g Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đ ại hội đợi biểu toàn quốc lần thứ Vỉ/, N xb Sự thật,
H 9 9 1 , ừ 147