1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số vấn đề quan hệ quốc tế chính sách đối ngoại và ngoại giao của việt nam tập 1

436 375 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 436
Dung lượng 31,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm tư tưởng H ố Chí M inh Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh, lý ậiải, phân tích tư tưởng của Người về các lĩnh vực: nguồn gốc, quá trình hình thành, tư tưở

Trang 2

Phần I _

Tư TƯỞNG ĐỐI NGOẠI, PHƯƠNG PHÁP, PHONG CÁCH

Trang 3

MỘT SỐ VẤN ĐÊ QUAN HỆ QUỐC TẾ

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI

VÀ NGOẠI GIAO VIỆT NAM

Trang 5

Đôi điều về tác giả

PGS, TS Vũ Dương Huân sinh ngày 24-8-1949 tại thôn Trạch Xá, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, tốt nghiệp Khoa Lịch

sử, Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Vôrônhegiơ (Liên Xô), được Học viện Nhận

sự Ucráina công nhận là Viện sĩ năm 2003 Ông là nhà ngoại giao chuyên nghiệp, đồng thời là nhà giáo và nhà khoa học.

Tốt nghiệp bằng đỏ về nước nhận công tác tại Bộ Ngoại giao với tư cách là cán bộ nghiên cứu Vụ Nghiên cứu - Tư liệu năm 1973 Từ 1975, ông được điều động về làm cán bộ giảng dạy Bộ môn Quan hệ quốc tế và chính sách đôi ngoại Việt ' Nam, Trường Đại học Ngoại giao Tốt nghiệp nghiên cứu sinh ngành Quan

hệ quốc tể tại Bungari năm 1985, ừở lại nhận công tác tại Trường Đại học Ngoại giao (sau được đổi tên là Học viện Quan hệ quốc íế) với các chức trách khác nhau: Phó Chủ nhiệm Bộ môn, Chủ nhiệm Bộ môn Quan hệ quốc

' ' r

tê và chính sách đôi ngoại Việt Nam;' Trương phòng Đào tạo - Khoa học (1985-1992); Phó Vụ trường - Trợ lý Giám đốc; Phó Giám đốc (1993-1995); Quyền Giám đốc rồi Giám đốc Học viện Quan hệ quốc tế (1998-2002) ông

đã hai lần là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam tại Ba Lan (1995- 1998) và tại Ucraina, kiêm nhiệm Cộng hòa Mônđôva (2002-2006).'

PGS, TS Vũ Dương Huân tham gia đảo tạo nhiều thế hệ siiih'viên và thạc SI của Học viện Quan hệ quốc tế (nay là Học viện Ngoại giao), thỉnh giảng tại Học viện Chính tri - Hành chinh quốc gia Hồ Chí Minh.

PGS, TS Vũ Dương Huân là Trưởng ban Nghiên cứu Lịch sử Ngoại giao, Bộ Ngoại giao (2006-2008); nhiều năm làm Tổng biên tập, ủ y viên

Hội đồng biên tập tạp chí Nghiên cứu quỗc tế, ủ y viên Hội đồng biên tập

Trang 6

tạp chí Nghiên cứu châu Âu, Thông tin nghiên cứu quốc tế; chủ trì nhiều đề

tài nghiên cứu khoa học, trong đó có hai đề tài cấp Nhà nước; nhiều lần tham gia Hội đồng khoa học cấp Nhà nước xét duyệt, đánh giá, nghiệm thu

đề tài, dự án khoa học cấp Nhà nước về các vấn đề quốc tế, chính sách đối ngoại Việt Nam Ông cũng là tác giả của không ít công trình, khoa học, ừong đó có công trình đã công bố ở nước ngoài Trong số sách đã xuất bản

gần đây có Tư tưởng Hồ Chỉ Minh về ngoại giao (2005); Ngoại giaọ vậ

công tác ngoại giao (2009); chủ biên hơn chục đầu sách, nổi bật là Ngoại giao Việt Nam hiện đại - Vì sự nghiệp đỗi mới (2002); Phạm Văn Đồng và Ngoại giao Việt Nam (2006); Hiệp định Giơnevơ: 50 năm nhìn lại (2008); Biên niên ngoại giao Việt Nam 20 năm đổi mới (2008); Cuộc đàm phán lịch

sử (2009) V.V Trưởng ban biên soạn phần từ ngoại giao trong Từ điển Bách

khoa Việt Nam gồm bốn tập.

Lần này, PGS, TS Vũ Dương Huân cho ra mắt bạn đọc một bộ sách

mới, trước mắt gồm ba tập với tiêu đề Một số vẩn đề quan hệ quốc tế,

chính sách đổi ngoại và ngoại giao Việt Nam Bộ sách sẽ hữu ích đối-với

các nhà nghiên cứu, cán bộ giảng dạy, người làm công tác đối ngoại, sinh viên ngành Quan hệ quốc tế và bạn đọc quan tâm.

Xin được ừân ừọng giới thiệu cùng độc giả!

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHỈNH

Trang 7

Lời giới thiệu

Đây là tiỉyển tập các báo cáo, tham luận tại hội thảo khoa học trong nước và quốc tễ, cũng như các bài báo đăng trên một số tạp chí khoa học ở Việt Nam và nước ngoài, viết từ giữa nhữrig năm 1990 cùa thế kỷ trước đến nay Nội dung các bài viết về tình hình thế giới, cục diện, trật tự thế giới, chiến lược đối ngoại của một số nước lớn, tình hình Liên bang Nga, Ucraina, Ba Lan Một số vấn đề về chính sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam trước và sau đổi mới Quan hệ giữa Việt Nam với một số đổi tác như Nga, Mỹ, Lào, Inđônêxia, Thái Lan, Ucraina, Ba Lan Một chủ đề quan ừọng của bộ sách này là tư tường, phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh Ngoài ra, các vấn đề cơ bản của ngoại giao hiện đại như kỹ thuật đàm phán, phong cádh dân tộc trong đàm phán quốc tế, ngoại giao nghị viện, ngoại giao kinh tế cũng được đề cập đến Các công trình công bố ở nước ngoài là các bài viết đăng ừong tạp chí khoa học ở Ucraina về đổi mới ờ Việt Nam, quan hệ Việt - Mỹ, Việt Nam - Ucraina, phong cách đàm phán dân tộc Việt Nam với mục đích quảng bá đất nước

ta tại Ucraina, một đối tác truyền thống của Việt Nam.

Bộ sách có tên là Một sổ vẫn đề quan hệ quốc tế, chinh sách đối

ngoại và ngoại giao Việt Nam, chia làm ba tập

Tập I gồm 4 phần:

1 Tư tưởng đổi ngoại, phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao Hồ Ohí Minh.

2 Lý luận quan hệ quốc tế, trật tự và cục diện thế giới.

3 Chiến lược đối ngoậi các nước lớn.

4 Ngoại giao hịện đại.

Tập II cỏ 3 phần:

1 Chính sách đối ngoại Việt Nam trước đổi mới.

2 Chính sách đối ngoạị và ngoại giao Việt Nam thời kỳ đổi mơi và hội nhập quốc tế.

Trang 8

3 Công trình công bố ở nước ngoài và công trình bàng tiếng Anh.

Tập III gồm 3 phần:

1 Đối tác của chúng ta: Một số tình hình và triển vọng.

2 Quan hệ của Việt Nam vói các đối tác châu Á.

3 Quan hệ của Việt Nam với các đối tác châu Âu.

Do trình độ còn cổ hạn, thời gian lại eo hẹp, bộ sách khó tránh khỏi thiếu sót, hạn chế Chân thành mong nhận được góp ý, phê bình cùa độc giả

để có thể sửa chữa khi tái bản.

r r t r * • #

Tác giả

Trang 9

Danh mục từ viết tắt

AFPPD Diễn đàn nghị sĩ châu Á dân số và phát triển

APPCED Diễn đàn các nghị sĩ châu Á - Thái Bình Dương về môi trường

và phát triển

ASEP Hội nghị đối tác nghị viện các nước Á -Â u

EC 050C Hội đồng kinh tế và xã hội của Liên hợp quốc

EƯRASES Cộng đồng kinh tế Á - Âu

Trang 10

GATT Hiệp định chung về thương mại và thuế quan

Trang 12

T ư TƯỞNG NGOẠI GIAO H ồ CHÍ MINH ’

Ctủ tịch ^ ồ Chí Minh là vị anh hùng giải phóng:dân tộc kiệt xuất, nhà yêu ĩiuớc vĩ đại, danh nhân văn hóa lớn thế giới1, đã để lại “dấu ấn ừong quá trèữi phát triển nhân loại”2 Người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà mởc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ờ Đông Nam châu Á.

Chù tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nhà chính trị lỗi lạc, Người còn là nhà tu tường lớn Trong quá trình 60 năm hoạt động cách mạng, Người đã

để lại những di sàn quý báu, trong đó có tư tưởng về ngoại giao, chỉ đường, vạch lồi cho cách mạng Việt Nam.

1 Một số vấn đề chung về tư tưởng Hổ Chí Minh

a Khái niệm tư tưởng H ố Chí M inh

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh, lý ậiải, phân tích tư tưởng của Người về các lĩnh vực: nguồn gốc, quá trình hình thành, tư tưởng về độc lập dân tộc, về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về xậỵ dựng Đàng Cộng sản Việt Nam, về nhà nước của dân, do dân, vì tdân; về đại đQÉl Kết dân tộc; về quân sự; về kết họp sức mạnh dân tộc và thời đại; về văn hỏa, đạo đức, tư tưởng nhân văn và phương pháp cách mạng của Người.

Có hàng chục định nghĩa về tư tưởng Hồ Chí Minh3 Mỗi định nghĩa nhấn mạnh một khía cạnh khác nhau.

Vậy tư tưởng Hồ Chí Minh là gì?

Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu trong diễn văn tại lễ Kỷ niệm 110 năm ngày

I

* Hội thảo khoa học Tư tưởng ngoại g ia o H ồ C h í Minh nhân Kỷ niệm 110 năm ngày sinh Chủ

tịch HỒ Chí Minh tại Học viện Quan hệ quốc tế, ngày 19-5-2000 H ọ c viện Quan hệ quốc tế:

Chuyên khảo Các vấn đ ề quốc tế và ngoại g ia o Việt Nam, tập 1, Hà N ộ i, tháng 6-2000

l’2 H ội thảo quốc tế v ề Chủ tịch H ồ C hí Minhy N xb Khoa học xã hội, H 1990, ừ 5.

3 Xem Nguyễn Bá Linh: Tư tưởng H ồ C h ỉ Minh - M ột s ổ nội dung c ơ b à n , Nxb Chính trí quơc

Trang 13

sinh cùa Bác Hồ đã khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh là cả một hệ thống quan điểm toàn diện, nhất quán và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam Đó là đi từ cách mạng dân tộc dân chủ tiến lên chủ nghĩa

xã hội, không qua giai đoạn phát ừiển chế độ tư bản chủ nghĩa;'độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Đó là một cuộc cách mạng thuộc địa từ giải phóng dân tộc đến giải phóng xã hội, giải phóng con người tiến lên chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam Đầy là luận điểm trung tâm của tư tựcmg Hồ Chí Minh, là chiều sâu nhất trong tư duy lý luận của Người”1.

b Nguồn gốc tư tưởng Hồ C hỉ Minh

Có nhiều nhân tố hình thành nên tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh

Trước hết, đó là chủ nghĩa yêu nước, truyền thống lao động cần cù

trong xây dựng đất nước, anh dũng trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, truyền thống đoàn kết, nhân ái của dân tộc Việt Nam.

Thủ hai, là tinh hoa văn hóa Đông Tây, kim cổ của nhân loại như: Nho

giáo, Phật giáo, tư tưởng dân chủ, nhân văn của văn hổa Phục hưng, thế kỳ Ánh sáng, của cách mạng tư sản phương Tây, cách mạng Trung Quốc V.V

Thứ ba, là chủ nghĩa Mác-Lênin, đinh cao cùa trí tuệ\loài người, nguồn

gốc lý luận, tư tường chù yếu nhất hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngoài nhân tố khách quan trên, yếu tố chủ quan nguồn gốc tư tưởng

Hồ Chí Minh chính là tinh thần yêu nước, tư chất thông minh, tư duy độc lập sáng tạo, ham học, nhạy bén, được rèn luyện trong quá trình hoạt động cách mạng của Người.

Hêlen Tuốcmerơ có lý khi viết: “Hồ Chí Minh là hình ảnh hoàn chỉnh của sự kết hợp đức khôn ngoan của phật, lòng bác ái của Chúa, triết học của C.Mác, thiên tài cách mạng của V.I.Lênin và tình cảm của người chủ gia tộc Tất cả đều hòa hợp trong một dáng dấp tự nhiên”2.

c Quả trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí M inh

Tư tưởng Hồ Chí Minh phát triển dần dần từ thấp đến cao, từ chưa

Trang 14

hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, qua các giai đoạn:

- Từ tuổi niên thiếu đến lúc ra đi tìm đường cửu nước (1911);

- Thời kỳ tìm tòi và hình ttiành tư tưởng yêu nước theo quan điểm vô sàn (1911-1920);

- Thời kỳ hình thành những tư tưởng cơ bản (1920-1930);

- Kiên địọh tư tưởng quan điểm (1930-1941);

- v ề nước?, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam Cách mạng Tháng Tám thành công và thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh (1941-1969).

d Đặc thù và phương pháp nghiên cứu tư tưởng Hổ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống mở Vì vậy phải đặt nhiệm vụ phát triển hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh về các mặt như V.I.Lênin đã phát triển

■chủ nghĩa Mác trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa Hồ Chí Minh đã sáng tạo, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh nước ta.

Nghiên cửu tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết đòi hỏi phải nắm chắc đối tượng nghiên cứu, đồng thời phải có tư liệu, tài liệu Nghiên cứu tư tưởng

Hồ Chí Minh phải lấy thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng, đồng thời phải nắm vững phương pháp luận Đó là:

- Thống nhất biện chứng giữa lập trường giai cấp vậ lập trường dân tộc, giữa dân tộc và thời đại;

- Lý luận gắn với thực tiễn;

- Quan điểm phát triển và sáng tạo;

* Quan điểm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”;

- Quan điểm toàn diện, song cỏ ừọng tâm, cụ thể.

2 Tư tưởng ngoại giao Hổ Chí Minh

H Ổ Chí Minh

I

Việc nghiên cứu, tổng kết tư tường của Người trong lĩnh vực này khó ỉkhăn, phức ;ạp hơn vì:

- Tư liệu còn thiếu, có tư liệu lại chưa công khai Sở dĩ có tình trạng đó

là do tính chất bí mật và mặt tế nhị của quan hệ đối ngoại.

- Bác viết về công tác này không nhiều;

Trang 15

- Tình hình thế giới diễn ra nhanh chóng, sâu sắc, “do đó thật không đơn giản khi nhin nhận những sự kiện, chủ trương đổi ngoại trong thời gian Hồ Chủ tịch còn sổng và hoạt động bàng lăng lánh của những sự kiện gần đây”1.

Do hoạt động của Bác rất phong phú và đa dạng nên khi nghiên cứu tư tường của Người về ngoại giao, chúng ta cần đặc biệt chú ý đến hoạt động thực tiễn.

Hiện tại đã có nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh2 Tuy nhiên đó mới là những nghiên cứu bước đầu, hơn nữa các công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu lý giải vấn đề độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế, lịch sừ ngoại giao Việt Nam và quá trình hoạt động quốc

tế của Hồ Chủ tịch Bản chất, đặc điểm của nền ngoại giao mới, nghệ thuật

và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh chưa được đề cập đáng kể.

b Nội dung tư tưởng ngoại giao H ồ Chí Minh

Nội dung tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh đã được cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khằi quát: “Toàn bộ những tư tưởng cùa Hồ Chí Minh về hoạt động ngoại giao như: biết đánh giá, dự báo tình hình, nắm bắt thời cơ,

tổ chức lực lượng, nhận rõ bạn thù, tranh thủ đồng minh, cô lập kẻ thù chủ yếu, kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, biết ÌỊiắng từng bước

để tiến tới thắng lợi hoàn toàn, độc lập tự chù gắn liền với đoàn kết quốc tế

là di sản quý báu đối với chúng ta trong hoạt động ngoại giao để phục vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”3.

ủ y viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Mạnh cầm, phụ ứách công tác đối ngoại cũng nêu nhận xét khái quát về nội dung tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh như sau: “Không có gì quý hơn độc lập tự do; độc lập tự chủ tự lực tự cường; đem sức ta mà giải phóng cho ta, đồng

1 Vũ Khoan: Tư tưởng Hồ C h í Minh về hoạt động quốc tế và công íả c n g o ạ i giao, Tạp chí

Nghiên cứu quốc tể , số 3 (9-1994).

2 Xem Chủ tịch H ồ C hí Minh và côn g tác ngoại g ia o , N xb Sự thật H 1990; N guyền Phúc Luân: Chủ tịch H ồ C h í Minh - Trí tuệ lởn của nền ngoại giao Việt Nam hiện đợ i, N xb, Chính trị quốc gia, H 1999; Lê Văn Yên: Tìm hiậu tư tưởng H ồ C hỉ Mình về đ ạ i đoàn k ế t quốc tể, N xb Lao động, H 1999; Vũ Khoan: Tu tư ớng H ồ Chí Mình về h o ạ t động q u ố c tế và cô n g tả c n goại

giao, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế\ số 3 (9-1994).

3 Phạm Văn Đồng: Hồ C hỉ Minh - Quá khứ, hiện tại và tương lai, Nxb Sự thật, H 1 991, t 1, tr 55.

Trang 16

thời tranh thủ sự đồng tình ùng hộ và giúp đỡ của quốc tế kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thòi đại, luôn luôn giương cao ngọn cờ hòa bình và hữu nghị”1.

Như vậy tư tượng ngoại giao Hồ Chí Minh có lẽ gồm hai khía cạnh:

- Tư tưởng ngoại giao;

- Phương,pháp, nghệ thuật và phong cách ngoại giao.

*

* Tư tieởỉỉg ngoại giao

Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là những quan điểm, luận điểm Hồ Chí Minh về các vấn đề quốc tế, chính sách đối ngoại và ngoại giao, tạo nên

cơ sở lý luận chính sách đổi ngoại và ngoại giao Việt Nam Nội dung cụ thể như sau:

Thứ nhất, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là cốt lõi của tư tưởng

Hồ Chí Minh, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam, đồng thời, cũng là cơ sở của đường lối quốc tế, đường lối ngoại giao mới

Đó là con đường mà Đảng và Bác Hồ đã chọn.

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhắc nhở: “Xây dựng một

nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”2 là điều mong muốn cuối cùng của Người trước lúc đi xa Mong muốn của Người đã được thực hiện.

• Luận điểm trên hoàn toàn có lý, đúng quy luật vì chính sách đối ngoại, ngoại giao là tiếp tục của chính sách đối nội, phục vụ chính sách đối nội, phục vụ lợi ích dân tộc và giai cấp cầm quyền.

Thứ hai, một luận điểm chủ đạo khác cùa Chủ tịch Hồ Chí Minh về

ngoại giao là độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế Đây là vấn đề kết hợp sức mạnh 'dân tộc và sức mạnh thời đại, kết hợp giữa nội lực và sự giúp đỡ quốc

tế, nội lực là chính, là quyết định Độc lập tự chủ, tự lực cánh sinh, song không; cô lập, biệt lập, đóng cửa Độc lập tự chủ cũng là tự chủ ừong chọn

mô hưứi phát triển, vạch ra đường lối; đồng thời vẫn tham khảo kinh nghiệm của thế giới.

v ề tinh thần độc lập tự chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc

1 Bác H iồ trong trái tim các nhà ngoại giao, Nxb Chính trị quốc gia, H 1999, tr 18.

2 Hồ Chíí Minh: Toàn lộp, Nxb Chính trị quốc gia, H 1 9 9 6 ,1 12, tr 512.

Trang 17

nhở: hãy đứng dậy, mang sức ta mà tự giải phóng cho ta”! Nói chuyện với Hội nghị ngoại giao lần thứ 3 năm 1964, Bác căn dặn: “Các chú cũng cần nắm cái gốc, các điểm mấu chốt về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chính, ngoại giao của ta là tự lực cánh sinh Phải hiểu thấu đáo yấn đề này,

không thì sẽ xiêu vẹo đấy”2 Trong bài Cách mạng Thảng Mươi mở ra con

đường giải phóng cho các dân tộc năm 1967, Bác lại nhắc nhở: dựa vào sức mình là chính, đồng thời ứanh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ tích cực của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ”3.

Thứ ba, chính sách ngoại giao mới là chính sách ngoại giao rộng mở

thêm bạn, bớt thù Tư tường chính sách đối ngoại rộng mở đã được Chủ tịch

Hồ Chí Minh đề cập từ rất sớm Khi Đảng chưa nắm được chính quyền, Bác

đã chủ trương đoàn kết rộng rãi với giai cấp vô sàn, với các dân tộc thuộc địa Tháng 9-1947, ừả lời phỏng vấn nhà báo Mỹ Eli Mâysi, Người nói: Việt Nam muốn “làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây oán thù với bất cứ ai”4.

Tinh thần rộng mờ quan hệ đối ngoại lại được Bác, nhấn mạnh trong

Lời tuyên bỗ của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng chính phù các nước trên thế giới tháng 1-1950: “Căn cứ ưên quyền lợi chung,

Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt quaịi hệ ngoại giao với Chính phủ nước nào tôn trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hòa bình và xây đắp dân chủ thế giới”5.

Chính sách đối ngoại mở rộng còn thể hiện trong câu nói nổi tiếng của Bác: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” Theo Bác, đó là đoàn kết trong đảng, đoàn kết toàn dân và đoàn kết quốc tế, trước hết là giai cấp công nhân

và nhân dân lao động toàn thế giới.

Phương chần mở rộng quan hệ đổi ngoại được Đại hội VII của Đảng

1 Hồ Chí M inh: Toàn tập, N xb Chinh tri qụốc gia, H 1996, t 3, ừ 554.

2 B ác H ồ n ó i v ề n g o ạ i giao, H ọc viện Quan hệ quốc tế xuẩt bản, H 1994, tr 14.

3 Hồ Chí M inh: Toàn tập, N xb Chính ừị quốc gia, A 1 9 9 6 ,1 12, tr 308-309.

4 Hồ Chf M inh: Toàn tập, N xb Chính trị quốc gia, H 1996, t 5, tr 220.

5 Hồ Chí M inh; Toàn tập , N xb Chính trị quốc gia, H 1996, t 6, tr 8."

Trang 18

tiếp tục với tuyên bố: “Việt Nam muốn là bạn vói tất cả các nước trong cộng đcng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”1.

Thi tư, ngoại giao hòá bình là nét đặc trưng tư tưởng ngoại giao

Hồ Chí Minh Đó cũng là bản chất nền ngoại giao xã hội chủ nghĩa ít có

từ nào ẫuợc Người nhắc lại nhiều lần ừong các bài viết, bài nói của mình như ha: từ “hpa bình” Người thiết tha mong muốn hòa bình, luôn luôn sẵn sàng ứiươríg lượng, chủ động nắm bắt thời cơ đề xuất đàm phán, tránh chiến tranh.

Việc ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, Tạm ước 14-9-1946 chính là giải quyết tranh chấp bằng hòa bình Cuối năm 1946, khi xung đột, khiêu khích nổ

ra, Người kiên trì đề nghị chính phủ Pháp thi hành đúng tạm ước, đồng thời Ngưòi kêu gọi phía Pháp chấm dứt hành động khiêu khích, thành thật cộng tác với phía Việt Nam Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, chúng ta kiên quyết kháng chiến đến cùng, song Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn bày tỏ mong muốn sẵn sàng cùng phía Pháp đàm phán kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình.

Trong Thư gửi Chính phù, Quốc hội và nhăn dân Pháp ngày 7-1-1947,

Người nói rõ nguyện vọng của nhân dân Việt Nam là muốn có một nền hòa bình thực sự để kiến thiết đất nước, chỉ cần Pháp có một cử chi công nhận nền độc lập và thống nhất của Việt Nam2.

Mặc dù buộc phải tiến hành cuộc kháng chiến chống quân xâm lược

Mỹ, song Bác Hồ và Chính phủ ta luôn luôn sẵn sàng đàm phán để chấm

dứt chiến tanh, lập lại hòa bình Trong Thư trả lời Tổng thống Mỹ Giônxơn

ngày 16-2-1967, Người viết: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất thiết tha với độc lập, tự GO và hòa bình con đường đưa đến hòa bình ở Việt Nam là

Mỹ phài cìấm dứt xâm lược rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam”3.

* P hung pháp, nghệ thuật và phong cách ngoại giũo

Ngoại gao là khoa học và cũng là nghệ thuật Bác Hồ thật tài tình khi

1 Đảng Cộngsải Việt Nam: Văn kiện Đ ạ i hội đợi biểu toàn quốc lần thứ VII, N xb Sự thật, H

1991, ừ 147.

2 Xem Hồ Ch Níinh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H 1996, t 5, tr 11-12.

3 Hồ Chí Mim: roàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H 1 9 9 6 ,1 12, tr 231.

Trang 19

tiến hành các thủ thuật ngoại giao và đã “trớ thành những câu chuyện huyền thoại”1 - như nhận xét của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Trước hết là tư tưởng kiên định nguyên tắc, linh hoạt sách lược Trong

bài nói chuyện tại Hội nghị ngoại giao làn thứ 3 năm 1964, (Bác Hồ kể câu chuyện thuyết phục cụ Huỳnh Thúc Kháng thực hiện chính sách Câu Tiễn trong quan hệ với Tàu Tưởng để thực hiện cho được vấn đề nguyên tắc

là “giữ vững chính quyền, ữanh thủ thời gian củng cố chính quyền” Trước lúc lên đường sang Pháp, Người lại lưu ý cụ Huỳnh lấy “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Thỏa hiệp có nguyên tắc khi phải đàm phán với kẻ thù cũng là khía cạnh của vấn đề kiên trì nguyên tắc, linh hoạt sách lược.

Tinh thần trên đã được thể hiện suốt trong lịeh sử ngoại giao Việt Nam hiện đại, đặc biệt là trong đàm phán ký kết Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, Hiệp định Ọiơnevơ 1954 về Đông Dương, Hiệp định Pari 1973 V.V

Thứ hai, “thuật ngoại giao là làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều

bạn đồng minh hơn”2, bằng cách lợi dụng mâu thuẫn kẻ thù Đây là một nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, một vấn đề có ý nghĩa chiến lược của cách mạng vô sàn Đối với Việt Nam lại càng cần thiết hơrì bao giờ hết vì ta luôn phải đương đầu với kẻ thù mạnh hơn mình.

Chù tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo nguyên lý dó trong cách màng Việt Nam, nhất là giai đoạn 1945-1946 Người đã khôn khéo lợi dụng mâu thuẫn giữa Tưởng và Pháp, giữa lực lượng địa phương đo Lư Hán cầm đầu và lực lượng Trung ương của Tứởng Giới Thạch, mâu thuẫn giữa phái chủ chiến và phái chủ hòa trong thực dân Pháp Đánh giá về những chủ trương ưên, cố Tổng Bí thư Lê Duẩn nhấn mạnh: “Những biện pháp cực kỳ sáng suốt đó đã ghi vào lịch sử cách mạng nước ta như một mẫu mực tuyệt vòi của sách lược lêninnít về lợi dụng mâu thuẫn trong hàng, ngũ kẻ địch về

sự nhân nhượng coi nguyên tắc”3.

Thứ ba, “muốn ngoại giao thắng lợi phải biểu dương thực lực” Và

1 Phạm Văn Đồng: H ồ Chí Minh - Q uá khứ, h iện tạ i và tương lai, Nxb Sự thật, H 1 991, t 1, tr 55.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đ àn g Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H 2 0 0 0 , t 8, tr 27.

3 Lê Duấn: ‘D ư ới ngọn cờ vẻ va n g cù a Đ à n g vì độc lập tự do, vì chù nghĩa x ã h ộ i tiến lên g iàn h

những thắng lợi m ới, Nxb Sự thật, H 1976, tr 32.

Trang 20

Người nhắc nhở: “Nếu tự mình không có thực lực làm cơ sở thì không thể nói gì đến ngoại giao” Để có được “thực lực” vấn đề quan trọng là vận dụng sức mạnh tổng hợp, kết họp sức mạnh ừong nước và ngoài nước, kết hợp quân sự, chính trị, kinh tế và ngoại giao Ngay trong công tác ngoại giao cũng phải kết hợp ngoại giao Đảng, ngoại giao nhân dân, ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với ngoại giao của Mặt trận, Chính phủ Cách mạng lâm thờỉ^Cộng hòa miền Nam Việt Nam, ngoại giao song phương và ngoại giao đa phương V.V

Mầu mực CỊỎa sự kết họp quân sự chính trị và ngoại giao là đấu ừanh ngoại giao 1945-1946; cuộc kháng chiến chổng Pháp, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Đánh không phá vỡ đàm, đàm không hạn chế đánh.

Thứ tư, biết giành thắng lợi từng bước, trong khi kiên trì mục tiêu cuối

cùng Đây cũng là phương pháp cách mạng xuất phát từ đặc điểm cách mạng nước ta “lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh” Cho nên muốn giành thắng lợi phải biết giành thắng lợi từng bước Khi nói về hoàn cảnh đưa đến chủ trương “hòa để tiến” để có những thỏa hiệp giành thắng lợi từng bước (mới đạt được mức là nước tự do, chấp nhận tham gia Liên hiệp Pháp, chấp

nhận 15.000 quân Pháp thay quân Tường ) Người nói: “Chúng ta có hai kẻ

địch trực tiếp là đế quốc Nhật và thực dân Pháp và một kẻ thù gián tiếp là

phản động Quốc dân Đảng Trung Quốc Nghĩa là sức địch rất to lớn chủng ta chưa có chính quyền, chưa có quân đội chính quy, mặt ữận dân tộc còn nhỏ hẹp và bí mật Nghĩa là sức ta rất thiếu thốn”1.

Quá trình đấu tranh ngoại giao Việt Nam cũng như tiến trình cách mạng nước ta cũng là quá trinh giành thắng lợi từng bước theo tư tưởng Hồ Chí Minh Nếu như tại Hiệp định sơ bộ chúng ta mới đạt Việt Nam là nước tự do; đến Hiệp định Giơnevơ, các nước phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam; rồi năm 1954 chúng ta mới giải phóng được miền Bắc và năm

1975 chúng ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Thủ năm, dự đoán, dự báo các sự kiện quốc tế cũng như của nước ta là

thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh Người đã dự đoán đúng nhiều sự kiện

Năm 1924, ừong bài báo Đông Dương và Thái Bình Dương, Người đã dự

1 H ồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính ừị quốc gia, H 1996, t 6, tr 80.

Trang 21

đoán: “Thế nào rồi cũng có ngày nước Nga cách mạng phải đọ sức với chủ nghĩa tư bản ”1 Dự đoán hoàn toàn đúng, ngày 22-6-1941, phát xít Đức tấn công Liên Xô Đồng thời Người cũng tiên đoán ràng: “Thái Bình Dương, tương lai có thể trờ thành một lò lửa của chiến ữanh thế giới mới”2 Đúng 17 năm sau, phát xít Nhật đã phát động chiến tranh chống Mỹ, Anh

vào ngày 7-12-1941 Tiếp đến trong tập diễn ca Lịch sử nước ta, viết tháng

2-1941, Người đã nêu ra một dự báo thần kỳ: “1945 Việt Nam độc lập!”'.

v ề cuộc kháng chiến chống Mỹ, trong Di chúc, Người khẳng định:

“C«(5c kháng chiến chống Mỹ, có thể kéo dài mấy năm nữa nhân dân ta

nhất định sẽ thẳng lợi Tổ quốc ta nhất định thống nhất” Và đương nhiên

“đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta”4, theo phương châm: “Mỹ

-Vấn đề là ở chỗ tại sao Người có thể dự báo tài tình, chính xác đến như vậy Lý giải là ở chồ: Bác nắm chắc phương pháp luận biện chứng Mác- Lênin; có kiến thức sâu rộng uyên thâm về thế giới, về cách mạng nước ta Người nắm được quy luật vận động của sự vật, hiện tựợng và vì Người có nhạy bén chính trị.

Thứ sáu, một vấn đề nữa của nghệ thuật ngóại giao, mà Chủ tịch Hồ

Chí Minh đã để lại cho chúng ta là nắm bắt thời cơ.

Bài thơ Học đánh cờ trong tập thơ Nhật kỷ trong tù, Hồ.Chủ tịch dạy:

“Phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ, Kiên quyết, không ngừng thế tấn công;

Lạc nước, hai xe đành bỏ phí, Gặp thời, một tốt cũng thảnh công”5.

Gặp thời đây chính là thòi cơ Trong diễn ca Lịch sử nước ta, Người

cũng nêu ý tưởng thời cơ giành độc lập của nước ta đã đến Người viết:

“Bây giờ Pháp mất nựớc rồi, Không đủ sức, không đủ người trị ta.

Giặc Nhật Bản thì mới qua,

1,2 Hồ,Chí Minh: Toàn tập, N xb Chínỉi trị quốc gia, H Ĩ996, t 1, tr 2 4 3 ,2 4 4

5-5 Hồ Chí/Minh: Toàn tập, N xb Chính trị quốc gia, H 1996, t 3, tr 230, 287.

4 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H 1996, t 12 tr 498.

Trang 22

Cái nên thông trị chưa ra môi mành.

Lại cùng Tàu, Mỹ, Hà, Anh, Khắp nơi có cuộc chiến tranh rầy rà.

Ẩy là dịp tốt cho ta, Nổi lên khôi phục nước nhà tổ tông”1.

Thứ bảy, tư tưởng tiến công cách mạng Trong ngoại giao, Người cũng

nêu ra tư tường tiến công, tư tưởng chủ động, Người nói: kiên quyết không ngừng thế tiến công v.v

Thứ tám, vệ phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh Chúng ta hay nói

phong 'cách ngoại giao Hồ Chí Minh Vậy trước hết “phong cách” là gì?

Theo Từ điền tiếng Việt xuất bản năm 1995: phong cách là “những lối,

những cung cách sinh hoạt, làm việc, hoạt động, xử sự tạo nên cái riêng của một con người”.

Vậy phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh là gì? cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: “Sự ứng xử linh hoạt của Hồ Chí Minh ừong giao tiếp ngoại giao đã ừở thành những câu chuyện huyền thoại”2 Có lẽ phong cách của Bác là nội ngắn gọn, viết ngắn gọn, dễ hiểu; tiếp khách thì thân tình, thuyết phục, gây ấn tượng, khiến đối phương kính nể, kính phục V.V

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ vn (1991) đã nhấn mạnh yêu cầu:

“Nắm vững, vận dụng sáng tạo và góp phần phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin

vả tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, bản lĩnh chính trị

và năng lực tổ chức của mình để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra”3.

Với tinh thần trên, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao, một lĩnh vực còn chưa được nghiên cứu đầy đủ.

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, N xb Chinh trị quốc gia, H 1996, t 3 tr 228.

2 Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh - Quá khứ, hiện tại vò tưcmg lai, Nxb Sự thật, H 1 9 9 1 ,1 1, tr 55.

3 Đảng Cộng sàn Việt Nam: C tnm g lĩnh Xây dựng đ ấ t rtước trong thời kỳ qu á đ ộ lên chù nghĩa

x ã hội, N xb Sự thật, H 1991, tr 5.

Trang 23

CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI VỚI s ự NGHIỆP c ứ u • • t Nước

VÀ XÂY DựNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI THEO T ư TƯỞNG H ồ CHÍ MINH *

Chính sách đối ngoại là một bộ phận cấu thành của đường lối cách mạng của Đảng ta Khi Đảng chưa nắm được chính quyền đó là đường lối quốc tế Đảng và từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta Chính sách đối ngoại quy định mục tiêu, phương hướng hoạt động trên trường quốc tế, còn ngoại giaọ là biện pháp quan trọng nhất thực hiện chính sách đối ngoại.

Chính sách đối ngoại và đấu tranh ngoại giao có vai trò vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo chủ quyền và an ninh quốc gia trong phát triển đất nước cũng như phát huy ảnh hưởng của nước ta trên trường quốc tế1, nghĩa

là nó giữ vai ừò to lớn trong sự nghiệp cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Từ xưa, cha ông ta cũng đã đánh giá cao vai trò củạ chính sách đối ngoại vậ ngoại giao, đã kết hợp hết sức tài tình đẩu tranh quân sự, chính trị

và ngoậi giao, tiêu biểu là vua Lê Đại Hành trong kháng chiến chống quân Tống; nhà Trần trong ba lần kháng chiến chống quân Nguyên và đặc biệt Lê Lợi, Nguyễn Trãi trong cuộc đấu tranh lâu đài, gian khổ chống quân xâm lược nhà Minh.

Bác Hồ đã nêu những tư tưởng lớn về đối ngoại và ữong một giai đoạn dài Người đã thực hiện những tư tường đó và rất coi trọng vai trò của chính sách đối ngoại và ngoại giao trong sự nghiệp cách mạng Đảng tạ, trong Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 4-1969 đã nârig' ngoại giao thành “một mặt

* Học viện Quốc phòng: K ỳ yế u H ội th ả o khoa học Tư tượng H ồ C hi M inh về d ự n g nước và g iũ

n ư ớ c /tháng 4 -2 0 0 0 , Nxb Quân đội nhân dân, H 2000.

1 Vũ Khoan: An ninh, ph át triển và ảnh hưởng trong hoại độn g đ ố i ngoại, Tạp chí Nghiên cứ u

quốc tế, số 2 (tháng 12-1993).

Trang 24

trận quan ừọng có ý nghĩa chiến lược”1 và dưới sự lãnh đạo của Đảng “hoạt

động ngoại giao đã gắn liền với các giai đoạn phát triển của cách mạng

Ngoại giao luôn luôn thể hiện vai trò là vũ khí bảo vệ và phát huy thành quả, là một mặt trận đấu tranh góp phần tích cực giành và bào vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, xây dựng và phát triển đất nước”2.

1 Khái quát tư ^ưởng Hổ Chí Minh vế đối ngoại

Tư tường Hồ Chí Minh về đối ngoại là một bộ phận hữu cơ ừong tự tưởng của Người, có nguồn gốc là truyền thống yêu nước Việt Nam, kết hợp với tinh hoa của thế giới mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác-Lệnin và được hình thành từng bước trong quá trình Người đi tim đường cứu nước và đấu tranh cách mạng.

Việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung là không đơn giản Việc nghiên cửu tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại còn khó khăn hơn do tài liệu rất hạn chế, nhiều tài liệu trước kia do tính bí mật của hoạt động cách mạng, do tế nhị quan hệ đổi ngoại đã không còn, hoặc chưa được công

bố và Bác cũng viết về vấn đề này không nhiều.

Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu có đề cập đến tư tưởng

•Hồ Chí Minh về đối ngoại, song mới chi là những ỷ kiến ban đầu Các công trình chủ yếu tập trung vào phân tích quá trình hoạt động quốc tế, hoạt động ngoại giao của Người.

Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, có hai khía cạnh: trước hết đó là những ý kiến, những luận điểm cùa Người về nhằm xác định đường iối quổc tế của Đảng ta ừong thời kỳ Đảng chưa nắm được chính quyền và đường lối đối ngoại, đường lối ngoại giao của Đảng và Nhà nước

ta từ ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

ủ y viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Mạnh cầm,

đã khái quát tư tưởng cơ bản Hồ Chí Minh về đối ngoại như sau: “Không có

gì quý.hơn độc lập, tự do”, độc lập tự chủ, tự lực tự cường, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, đồng thòi tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ của quốc tế, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh thời đại, giương cao

1 B ộ N goại giao: K ỷ y ế u Hội thào khoa học 5 0 năm N goại giao VìệtNam , H 1 9 9 5 ,tr 10.

2 B ác HỒ trong trái tim các nhà ngoợi giao, N xb Chính trị quốc gia, H 1999, tr 11-12.

Trang 25

ngọn cờ hòa bình và hữu nghị”1 Một khía cạnh khác của tư tường Hồ Chí Minh về đối ngoại thể hiện ờ những ý kiến của Người về việc chỉ đạo chiến lược, sách lược ừong hoạt động quốc tế, trong hoạt động ngoại giao nhàm thực hiện đường lối đối ngoại.

v ề thời đại, Hồ Chí Minh khẳng định: “Cách mạng Tháng Mười Nga

mờ ra con đường giải phó.ng cho các dân tộc và cho loài người, mở ra một thời đại mới ừong lịch sử” Người cũng khẳng định nội dung của thời đại mới, đó là “thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội”2.

Qua hoạt động thực tiễn, vận dụng tư tưởng Mác-Lênin, Hồ Chí Minh khẳng định sức mạnh của thời đại là một nhân tổ quyết định sự phát triển của lịch sử Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng chỉ ra sức mạnh của thời đại chứng ta là sức mạnh của giai cấp công nhân Vì nó định hướng và là nòng cốt cho sự phát triển hợp quy luật Và cũng từ thực tỉễn, Hồ Chí Minh khẳng định, sự đoàn kết các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc cũng tạo cho thời đại thêm sức mạnh Sức mạnh của dân tộc thuộc địa, phụ thuộc được nhân lên gấp nhiều lần vì nó gắn liền với cách mạng, phong trào hòa bình dân chủ thế giới cùng thể hiện sức mạnh của thời đại.

Khi nhìn nhận thời đại, Hồ Chí Minh không chi nhấn mạnh khía cạnh chính trị - xã hội, mà còn lưu ý lực lượng sản xuất, cáeh mạng khoa học kỹ thuật Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ n (1951), Người nhấn mạnh: “Năm mươi năm vừa qua có những biến đổi mau chóng hơn và quan trọng hom nhiều thế kỷ trước cộng lại.

Trong 50 năm đó, đã có những phát minh như chiếu bóng, vô tuyến điện, vô tuyến truyền hình (television) cho đến sức nguyên từ Nghĩa là loài người đã tiến một bước dài ừong việc điều khiển sức thiên nhiên”3.

1 Bác H ồ trọn g trái tim các nhà n go ạ i giao, Nxb Chính trị quốc gia, H 1999, tr 18.

2 H ồ Chí Minh: Toàn tập, N xb Chính trị quốc gia, H 1996, t 12, tr 301.

3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H 1996, t 6, tr 153.

Trang 26

Từ nhận định trên về thời đại, Hồ Chí Minh đã gắn cách mạng riứởc ta với cách mạng thế giới, đưa cách mạng nước ta với cách mạng thế giới, đưa cách mạng nước ta theo con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, gắn độc lập

dân tộc với chủ nghĩa xã hội Người chỉ rõ: “Muốn cửu nước và giải phỏng

dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”1 Đây

là công lao to lớn của Hồ Chí Minh không chỉ đối với dân tộc Việt Nam, mà còn là công hiểp cho các dân tộc bị áp bức ừên thế giói.

Từ những nhận định trên, Người đặt vấn đề kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thòi đại, tạo thành sức mạnh tổng họp Việc kết hợp này là đòi hỏi khách quan ừong đấu tranh cách mạng của các dân tộc Nội dung chủ yếu của sự kết họp đó là: đặt cách mạng nước ta trong tình ừạng nhiệm

vụ cách mạng thế giới; xây dựng tinh hữu nghị, hợp tác, sự đoàn kết giữa các dân tộc và giai cấp vô sản các nước; và muốn đoàn kết họp sức mạnh dân tộc vỏri sức mạnh thời đại thì phải dựa vào sức mình là chính Người

viết: “Chính vì đã kểt họp phong trào cách mạng nước ta với phong trào

cách mạng cùa giai cấp công nhân quốc tế và cùa các dân tộc bị áp bức,

mằ Đảng ta đã vượt qua được mọi khó khăn, đưa giai cấp công nhân và nhân dân ta đến những thắng lợi vẻ vang ngày này”2.

Ngoại giao là phương tiện quan trọng nhất để kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.

v ề phương hướng đối ngoại, Hồ Chí Minh nhấn mạnh tăng cường quan

hệ với giai cấp vô sản, vói các nước xã hội chủ nghĩa, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc, các nước láng giềng ờ Đông Nam Á, đặc biệt là các nước Đông Dương, với Ẩn Độ, các nước dân tộc độc lập, với các nước lớn

b Cùng với việc xác định đường lối đối ngoại, Hồ Chí M inh cũng nêu ra những tư tưởng íớti vê chiến lược, sách lược trong cồng tác đối ngoại Đó là những tư tưởng chỉ đạo cho ttgoậi giao Việt N am hiện đại

Ậíột là, tư tưởng kiên trì nguyên tắc, song linh hoạt và sách lược.

Hai là, phải thêm bạn, bớt thù, phân hóa hàng ngũ địch, tránh một

mình phải đối phó với nhiều kẻ thù cùng một lúc.

1 Hồ Chí Minh: Toàn lập, N xb Chính trị quốc gia, H 1996, t 9, ừ 314.

2 Hồ Chí Minh: Toàn lập, Nxb Chính trị quốc gia, H 1 9 9 6 ,1 10, tr 19.

Trang 27

Ba là, ngoại giao phải có thực lực Người nói: “Ta có mạnh thì họ mói

chịu “đếm xia đến” Ta yếu thì ta chi là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu là kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”1.

Trong chi đạo chiến lược cách mạng nói chung và trong công tác ngoại giao nói riêng của Hồ Chí Minh đã nêu quan điểm biết giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn Trong Hiệp định sơ bộ 6-3-1946

ký với Pháp, chúng ta chưa giành được độc lập, nước Việt Nam mới là nựớc

tự do, song đến Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương, kẻ thù buộc phải tôn ừọng những quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, Lào và Campuchia.

Ngoại giao là một khoa học, song cũng là nghệ thuật Đó là nghệ thuật của những khả năng Hồ Chí Minh đã thiên tài trong dự đoán thời cơ, và quyết tâm chớp thời cơ Trong Hội nghị Trung ương tám họp tháng 5-1941

do Người chủ trì đã phân tích: “Liên Xô thắng trận, quân Tàu phản công, quân Nhật đang mắc sự phản công của Anh - Mỹ Cảch mạng Pháp và Cách mạng Nhật sôi nổi Tất cả các điều kiện ấy sẽ giúp cho các cuộc vận động của Đảng ta mau phát triển và rồi đây lực lượng sẽ lan rộng toàn quốc để gây một cuộc khởi nghĩa toàn quốc rộng lớn”2 và năm 1942, trong

tập diễn ca Lịch sử rncớc ta, Bác dự đoán “1945 Việt Nam độc lập”.

Những tư tường lớn của Hồ Chí Minh về ngoại giao đã được Đảng ía

Cách mạng Tháng Tám thành công Nước Việt Nam Dân chủ Cộng

hòa ra đời - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á Tuyên ngôn

Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại quảng trường B a Đình ngày

2-9-1945 là văn kiện chính thức đầu tiên của nước Việt Nam mới đã khẳng định với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc

1 Đảng Cộng sản V iệt Nam: Văn kiện Đ àn g Toàn tập, N xb Chính trị quốc g ia , H 2000, t 7 ,

Trang 28

lập và sự thật đã trờ thành một nước tự do và độc lập”1.

Nước cộng hòa non ừẻ vừa ra đòi đã phải đối phó với muôn vàn khó khăn và thử thách: đất nước bị kiệt quệ do chủ nghĩa thực dân, do chiến tranh, giặc đói, giặc dốt, nạn lụt, dịch bệnh ừàn lan, đặc biệt nguy kịch là thù ừong giặc ngoài: gần 20 vạn quân Tưởng cùng biè lũ tay sai với mưu đồ

“diệt Cộng, cặm Hồ”, cùng với quân Anh, tàn quân Nhật Nhất là thực dân Pháp với dã tẩm chiếm lại nước ta một lần nữa đã gây hấn ở Nam bộ ba tuần sau Cách mạng Tháng Tám.

Trên trường quốc tế, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa vẫn chưa được nước nào công nhận, chưa có sự giúp đỡ của quốc tế Tuy nhiên, bên cạnh tình thế cực kỳ khó khăn đó, chúng ta có khí thế sục sôi cách mạng, toàn dân đoàn kết xung quanh Chính phủ Hồ Chí Minh và Đảng, quyết tâm giữ vững nền độc lập, tự do vừa giành được sau hơn 80 năm nô lệ.

Trong bối cành cực kỳ khó khăn trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng

ta đã lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thác ghềnh, đã kết họp cực kỳ khéo léo sức mạnh quân sự và ngoại giao, tiến hành hàng loạt biện pháp hòa với Tưởng để tập trung sức chống Pháp, rồi chọn thời điểm ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 hòa vói Pháp để đuổi Tưởng.

Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn, khi viết về giai đoạn cách mạng này của nước ta đã nhấn mạnh: “Sau Cách mạng Tháng Tám, khi chính quyền cách mạng còn ứong trứng nước, đứng trước nguy cơ cực kỳ nghiêm trọng do cả một lũ thù trong giặc ngoài gây rạ, khi mà tình hình khác nào như “ngàn cân treo §ợi tóc”, Đảng ta, đứng đầu là Hồ Chủ tịch, với đường lối chính trị vô cùng sáng suốt vừa cứng rắn về nguyên tắc, vừa mềm dẻo về sách lược, đã đưa nước nhà vượt muôn vàn khó khăn tưởng như không sao vượt nổi Lúc thì tạm thời hòa hoãn với Tường để rảnh tay đối phó với thực dân Pháp, lúc thì tạm hoãn với thực dân Pháp để đuổi cổ quân Tưởng và quét sạch bọn phản động tay sai của Tưởng, cùng cố lực lượng, chuẩn bị cho toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, điều mà Đảng biết chắc chắn là không thể nào tránh khỏi Những biện pháp cực kỳ sáng suốt đó đã được ghi vào lịch sử cách mạng nước ta như một mẫu mực tuyệt vời của sách lược

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H 1 9 9 6 ,1 4, tr 4.

Trang 29

lêninnít về lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ địch và sự nhân nhượng

có nguyên tắc”'.

b M ặt trận ngoại giao trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chổng M ỹ

Ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ! Thực dân Pháp ra sức thực hiện chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh hòng tiêu diệt các lực lượng kháng chiến, lập chính phủ bù nhìn làm công cụ để lập lạỉ ách thống trị trên đất nước ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta một mặt, lãnh đạo nhân dân ta kiên quyết kháng chiến, một cuộc kháng chiến toàn quốc, toàn diện, mặt khác vẫn cố gắng kiên trì tìm kiếm khả năng vãn hồi hòa bình Từ ngày 19-12-

1946 đến tháng 3-1947, Hồ Chủ tịch đã 8 lần gửi thư chính thức ctio Chính phủ Pháp, Quốc hội và nhân dân Pháp, tố cáo thực dân Pháp phản động, tỏ

ý mong chiến tranh sớm chấm dứt Rất tiếc Chính phủ Pháp đã không đáp ứng đòi hỏi của ta Buộc nhân dân ta phải kháng chiến.

Nhiệm vụ của công tác ngoại giao lúc nàý là phối hợp với mặt.ừận chính tri, quân sự là phục vụ cho cuộc kháng chiến Trong bối cảnh nước ta

ở vào thế bị bao vây, Bác rất chú ữọng mở cửa ra thế giới tranh thủ sự ủng

hộ của bạn bè, “đặc biệt là các nước lân cận để củng cố công cuộc cách mạng của mình”2 Trước hết là “đoàn kết với hai dân tộc Miên, Lào và các dân tộc bị áp bức trong khối Liên hiệp Pháp Thân thiện với các dân tộc Trung Hoa, Xiêm, Ẩn Độ, Nam Dương và các dân tộc yêu chuộng dân chủ, hòa bình trên thế giới”3 Thực hiện chủ trương trên, Người đã gửi điện cho các vị lãnh đạo các nước châu Á, cừ đoàn đi dự Hội nghị Liên Á ở Ân Độ,

và lập được ba cơ quan đại diện ở Đông Nam Á.

Chiến thắng ừong Chiến dịch Biên giới 1950, với việc Trung Quốc, Liên

Xô và 7 nước dân chủ nhân dân cồng nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã gắn cuộc kháng chiến của ta với hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa, trước hết là Trung Quốc, Liên Xô Chiến thắng Điện Biên Phủ đã dẫn đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương, kết thúc thắng lợi cuộc

1 Lê Duẩn: D ưới ngọn c ờ vẻ vang cù a Đ ản g vì độc lậ p tự do vi chủ nghĩa x ã h ộ i tiến tên g ià n h

những thắng lợi m ới, Nxb Sự thật, H 1976, tr 32.

2‘3 Lịch sứ Đ àn g Cộng sản Việt N am , N xb Chính ừị quốc gia, H 1995, t 2 , tr 3 97.

Trang 30

kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta Hiệp định Giơnevơ là thắng lợi lớn của quân và dân ta trong công tác ngoại giao Miền Bắc được giải phóng đi lên chủ nghĩa xã hội, là hậu phương lớn cho cúộc đấu tranh thống nhất đất nước Thực dân Pháp và các nước đế quốc khác đã phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ta cũng như nhân dân Lào và Campuchia.

Trong cụộc kháng chiến chống Mỹ, ngoại giao đã thực sự thành một mặt trận quan trọng, phối hợp rất chặt chẽ với mặt trận quân sự và chính trị Hội nghị Trung ương 13 họp từ 23 đến 26-1-1967 đánh giá: “Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hiện nay, đấu ừanh quân sự và đấu ừanh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi ừên mặt trận ngoại giao Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta giành được trên chiến trường Tuy nhiên, đấu ừanh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh ừên chiến trường, mà ừong tình hình quốc tế hiện nay, với tính chất cuộc chiến quan trọng, tích cực và chủ động”1 Và Nghị quyết

Bộ Chính trị tháng 4-1969 còn nhấn mạnh “ngoại giao trở thành một mặt trận quan trọng, có ý nghĩa chiến lược”2.

Là một mặt trận, ngoại giao phải phối hợp chặt chẽ với đấu tranh quân

■ sự và chỉnh trị để giành thắng lợi cuối cùng và mặt ứận đó có hai nhiệm vụ như sau:

- Tàng cường hậu phương quốc tế của ta, làm rối loạn hậu phương quốc

tế của địch, góp phần làm thay đổi so sánh lực lượng ngày càng có lợi cho ta.

- Thông qua đàm phán, giải quyết vấn đề ta thắng địch thua.

Do công tác địch vận và thông tin tuyên truyền, về tính chất chính nghĩa, thiện chí hòa bình và quyết tâm chiến đấu của Việt Nam nên trên thực tế đã hình thành mặt ừận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống

Mỹ Mặt ừận đó gồm các nước xã hội chủ nghĩa, các nước dân tộc độc lập, phong ừào công nhân, nhân dân lao động các nước tư bản chủ nghĩa, kể cả nhân dân Mỹ, các lực lượng đấu tranh cho hòa bình và đặc biệt là mặt ừận đoàn kết các nước Đông Dương.

1 Lịch s ử Đàng Cộng sàn Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H 1995, t 2, tr 397.

2 B ộ N goại giao ■ K ỷ yếu H ội ihào khoa học 50 năm N goại g ia o V iệtN am ,H 1995, tr 10.

Trang 31

Ngoại giao nhà nước với ngoại giao nhân dân, ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã phối họp tốt các binh chủng ngoại giao và các hình thức đấu tranh ừong lĩnh vực đối ngoại, đàm phán công khai với gặp gỡ,bí mật Phối hợp giữa đánh và đàm Đánh không phá vỡ đàm, đàm không hạn chế đánh, phát huy cao độ tinh thần tự chủ trong đàm phán và kéo được địch xuống thang, buộc Hoa Kỳ ký kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ờ Việt Nam Việc ký kết Hiệp định là một mốc son chói lọi trong lịch sử cách mạng, lịch sừ ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta.

Tóm lại, ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã phối hợp chặt chẽ với đấu tranh quân sự và đấu tranh chinh trị, kết họp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, góp phần làm chuyển biến so sánh lực lượng

có lợi cho ta và tạo điều kiện giành thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

3 Đảng ta vận đụng tư tưởng Hổ Chí Minh vể chính sách đối ngoại và đấu tranh ngoại giao thời kỳ đổi mới

Thăng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiên chông Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước là nhân tố hết sức tó, lớn nâng cao uy tín của Việt Nam ứên trường quốc tế, đồng thời đã thúc đẩy hàng loạt nước, nhất là các nước tư bản chủ nghĩa công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Tiếp đó, ngoại giao đã phối hợp chặt chẽ với mặt trận quân sự, góp phần quan trọng vào thắng lợi ừong cuộc chiến tranh bảo vệ Tố quốc ở biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, trong đó có quan hệ đối ngoại Đại hội v n tiếp tục đường lối Đại hội VI và đề ra đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa và

đa phương hóa quan hệ đối ngoại, theo tinh thần: “Việt Nam muốn ỉà bạn

với tất cả các nước ừong cộng đồng thế giới, phẩn đấu vì hòa bình độc lập

và phát triển

v ề nhiệm vụ của đường, lối đối ngoại, Đảng ta cũng chỉ ra là: “Giữ

1 Đàng Cộng sàn V iệt Nam: Văn kiện Đ ạ i h ội đại biểu toàn qu ốc lần thứ VII\ N x b Sự thật, H

1991, tr 147.

Trang 32

vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và họp tác, tạo điều kiện quôc tê thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tồ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu ừanh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”1.

Tiếp tục đường lối đối ngoại do Đại hội v n đề ra, phân tích tĩnh hình thế giới, công cuộc đổi mới ở nước ta, Đại hội v m đã vạch ra nhiệm vụ to

lớn cho công tác đôi ngoại ừong giai đoạn mới: “Nhiệm vụ đôi ngoại ừong giai đoạn tới là củng cố môi trường hòa bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tích cực vào cuộc đấu ừanh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ Hợp tác nhiềụ mặt, song phương và đa phương vói các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tồn tại và các tranh chấp bằng thương lượng”2.

Thực hiện các nghị quyết của Đảng, theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoại giao trong thời kỳ đổi mới đã phát triển mạnh mẽ, toàn diện cùng với sự nghiệp đổi mới Ngoại giao nhà nước đã kết hợp chặt chẽ với hoạt động quốc tế của Đảng, với ngoại giao nhân dân; ngoại giao song phương cùng phát triển với ngoại giao đa phương; quan hệ đối ngoại phát triển rộng khắp ở tất cả các ngành, các địa phương; ngoại giao kết hợp chặt chẽ với quốc phòng an ninh, với kinh tế Và hoạt động đối ngoại, ngoại giao đã có những đóng góp quan ữọng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Nghiên cứu, đánh giá tình hình thế giới, tình hình khu vực phục vụ cho việc hoạch địch đường lối đổi mới.

- Phá vỡ sự bao vây cấm vận đối với nước ta, mở rộng quan hệ đối ngoại-tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ

Tổ qụốc Đã khôi phục và tăng cường quan hệ với Trung Quốc, tăng cường

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đ ọ i hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, N x b Sự thật, H

1991.tr 88.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Vân kiện Đ ại hội đại biều loàn quốc lần thứ VIII, N xb Chính trị

quốc gia , H 1996, tr 120-121.

Trang 33

và đổi mới quan hệ với Lào và Campuchia; gia nhập ASEAN, tăng cường quan hệ với Cuba, Ân Độ, Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên, với các nước bạn bè cũ, bình thường hóa và phát triển quan hệ với Hoa Kỳ và các nước phát triển; tăng cường quan hệ với các nước không liên kết, với các tổ chức quốc tế' V.V v ề quan hệ ngoai giao và đối ngoại của Đảng, duy trì và phát triển quan hệ với các đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng chính trị cánh tả, các phong trào độc lập dân tộc, thiết lập quan hệ với một số chính đảng cầm quyền2.

- Tham gia tích cực bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia Việc phá thế bao vây cô lập, mở rộng quan hệ đối ngoại, tạo môi trường hòa bình ổn định chính là đảm bào ap ninh quốc gia Đồng thời ngoại giao còn tích cực tham gia vào chống “diễn biến hòa bình”, vào việc đàm phán ký kết Hiệp ước biên giới với Trung Quốc, Hiệp định thỏa thuận giải quyết tranh chấp về lãnh thổ vùng chồng lấn, vùng đánh cá với các nước láng giềng cùng góp phần bấo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia.

- Thực hiện nhiệm vụ ngoại giao “làm kinh tế”, cổng tác đối ngoại đã góp phàn đáng kể vào việc đưa nước ta “ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội” tiến vào sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước qua việc tranh thủ ODA, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, tăng cường

' - Ngoại giao còn góp phần nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế, V.V Đánh giá thành tựu của công tác đối ngoại tròng thời kỳ đổi mới, Đại hội Đảng tọàn quổc lần thứ VIII khẳng định: “Thảnh tựu trên lĩnh vực đối ngoại Ịà một nhân tổ quan ừọng góp phần giữ vững hòa bình, phá thế bao vây, cấm vận, cải thiện và nâng cao vị thể của nước ta ừên thế giới, tạo môi trường thuận lợi cho công cuộc xây dựng vậ bảo vệ đất nước Đó cũng là đóng góp tích cực của nhân dân ta vào sự nghiệp chung của nhân

1 Trong giai đoạn 1975-1976, V iệt N am mới có quan hệ ngoại giao với 98 nư ớc và đến nay có quan hệ chính thức với 168 nước, ừ on g đỏ cổ tất cả các nước lớn.

2 Đàng ta cổ quan hệ với hơn 180 chính đảng, tộ chức chính ừ ị, cách mạng v à tiến bộ trên thế

giới Xem Nguyễn Văn Son: P h o n g trào cộng sản v à công nhân quốc tế hiện n a y về quan hệ đ ó i

ngoại cùa Đ ản g ta, Báo Nhân D ân , ngày 1-2-2000.

3 Từ năm 1993 đến năm 2000, chúng ta đẵ tranh thủ được 13 tỉ U SD O D A , khoảng 35,5 ti U S D là đầu tư nước ngoài vào Việt Nam từ khi có Luật Đầu tư và xuất khẩu năm 1999 đạt 11,3 ti U S D

Trang 34

dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ vả tiến bộ xã hội”1.

- về nhiệm vụ trong thế kỷ tới, ừong đó có nhiệm vụ của ngoại giao, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu khẳng định: “Thế kỷ XXI là thế kỷ bảo vệ vững chắc Tồ quốc ta và xây dựng đất nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội thắng lợi; tiếp tục thực hiện Cương lĩnh 1930 và 1991: sau khi giải phóng dân tộc thì tiếp tục làm cách mạng giải phóng con người”2.

Chính sách đối ngoại của chúng ta ừong thời gian tới phải phục vụ nhiệm vụ ừọng đại ừên Đó là chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở theo tình thần: “Dân tộc là dân tộc hòa hiếu, muốn tắt muôn đời chiến tranh Việt Nam muốn làm bạn của tất cả các quốc gia vì hòa bình, độc lập

và phát triển”3.

Trong 70 năm tồn tại và phát triển của Đảng Cộng sàn Việt Nam, 55 năm Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác đối ngoại, ngoại giao, phối họp chặt chẽ với đấu tranh chính trị, quân sự, kinh tế , đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, lập nên một nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á , vào cuộc đấu ửanh gay go chống thù ứong giặc ngoài, bảo vệ chính quyền non ừẻ, vào thắng lợi huy hoàng của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vào sự nghiệp đổi mới nhàm xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, văn minh” theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Nguồn gốc thành tựu của công tác đối ngoại, chính là tư tưởng Hồ Chí Minh - đó là trí tuệ lớn của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại Toàn bộ tư tưởng của Người về đổi ngoại và ngoại giao như: kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế, nắm chắc nguyên tắc, mềm dẻo sách lược, lợi dụng mâu thuẫn kẻ thù, thêm bạn bớt thù, phương pháp dự đoán dự báo tình hình, nắm bắt thời cơ, biết giành thắng lợi từng bước tiến tới thắng lợi hoàn toàn, cùng với phong cách ngoại giao của Người là di sản quý báu cho chúng ta Đảng ta đã kế thừa và vận dụng’1 sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác-Lênin trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đ ại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chĩnh trị

quốc gia, H 1996, tr 63.

1,3 Tạp chí Cộng sản, số 4 (2-2000), tr 7, 9.

Trang 35

T ư TƯỞNG VÀ PHONG CÁCH NGOẠI GIAO H ồ CHÍ MINH *

i

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà chính trị lỗi lạc, một danh nhân văn hóa, một nhà tư tưởng lớn trong thời đại chúng ta Trong quá trình gần 60 năm hoạt động cách mạng, Hồ Chủ tịch đã để lại những di sản quý báu về nhiều lĩnh vực, trong đó có tư tưởng về ngoại giao Chính vì vậy mà Đại hội Đảng toàn quốc làn thứ VII năm 1991 đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tường Hồ Chí Minh làm nền tàng tư tưởng, kim chi nam cho hành động”1 Đồng thời Đảng ta cũng nhấn mạnh yêu cầu “nắm vững, vận dụng sáng tạo và góp phần phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, bản lĩnh chính trị và năng lực

tổ chức của mình để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra”2.

1 Nội dung tư tưởng ngoại giao Hổ Chí Minh

Tư tường ngoại giao Hồ Chí Minh là một bộ phận hữu cơ trong tư tưởng chung Hồ Chí Minh 1 ong Bí thư Lê Khả Phiêu, trong diễn văn tại lễ

Kỷ niệm 110 năm ngày sinh của Bác Hồ đã khái quát tư tường Hồ Chí Minh là cả một hệ thống quan điểm toàn diện, nhất quán và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam Đó là đi từ cách mạng dân tộc dân chủ tiến lên chủ nghĩa xã hội, không qua giai đoạn phát triển chế độ

tư bản chu nghĩa; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Đó là một cuộc cách mạng thuộc địa từ giải phóng dân tộc đến giải phóng xã hội, giải phóng con người tiên lên chủ nghĩa cộng sản ờ Việt Nam Đây là luận điểm trung tâm của tư tường Hồ Chí Minh, là chiều sầu nhất trong tư duy lý luận

* B ộ Ngoại giao: N g o ạ i giao Việt Nam trong íh ố iẠ ạ ỉ H ằ C h ỉ Minh, N xb Chính trị quốc gia

H 2000.

l’2 Đàng Cọng sàn V iệt Nam: C ư ơ n g tĩnh xây dựng đắt nước trong thời kỳ quả đ ộ lên chủ nghĩa

x ã hội, N xb Sự thật, H 1991, tr 2 1 , 5.

Trang 36

của N giời”1 ở đây tư tưởng Hồ Chí Minh còn bao hàm cả đạo đức và tác phong của Người.

Nci về tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là nói ngắn gọn Đúng ra là tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc tế, chính sách đối ngoại và ngoại giao Song đây lă t»a mặt của một vấn đề gắn bó chặt chẽ với nhau, không thể tách rời

Đồng chí Vũ Khoan trong bài viết Tư tưởng Hồ Chỉ Minh về hoạt động

quốc itế và côrỉg tác ngoại giao2 trên tạp chí Nghiên cửu quốc tế dùng khái

niệm '“ư tưởng đối ngoại”.

Hièn tại đã có một số công trình nghiên cứu về tư tường ngoại giao Hồ Chí Minh Tuy nhiên, đó mới là những nghiên cứu bước đầu, hơn nữa các công trnh nghiên cứu tập trung chủ yếu lý giải vấn đề độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế, tư tường của Bác về một số vấn đề quốc tế, lịch sử ngoại giao Việt Nam và quả trình hoạt động quốc tế cùa Hồ Chủ tịch Bàn chất, đặc điểm, của nền ngoại giao mới, nghệ thuật và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh chưa được đề cập đáng kể.

Vấn đề rất quan trọng là xác định nội dung tư tường ngoại giao Hồ Chí Minh Trong các công tìn h nghiên cứu của mình, các tác giả đã nhấn mạnh các kÈiía cạnh khác nhau của tư tưởng của Hồ Chí Minh về ngoại giao Đồng chí Vũ Khoan ừong bài viết của mình đã nhấn mạnh bốn khía cạnh:

- v ề thời đại;

- Nhất quán mục tiêu, linh hoạt ừong lựa chọn ưu tiên;

- Sắp xếp lực lượng;

- Miững tư tường chỉ đạo chiến lược.

Trong công trmh nghiên cứu về Bác Hồ với công tác ngoại giao của Học viện Quan hệ quốc tế nhân Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Bác Hồ cũng đưa ra khái quát nội dung tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh như sau: phương pháp đánh giá, dự báo tình hình, nắm bắt thời cơ, tổ chức Ịực lượng, phân rõ bạn thù, củng cố đồng minh, phân hóa đổi phương, tranh thủ trung gian, cô lập kẻ thù chủ yếu và nguy hiểm nhất, quán triệt tư tưởng tiến công, vững chắc về nguyên tắc, linh hoạt vế sách

1 Lê Khả Phiêu: Tư tirởng HÒ C hí Minh so i sá n g con đường Đàng ta và nhân dân ta tiến vậo thế

kỳ XXI, N xb Chtnh trị quốc gia, H 2000, tr 23-24.

2 Xem Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 3 (9-1994).

Trang 37

lược, biết thắng từng bước để đi đến thắng lợi hoàn toàn, độc lập tự chủ, đoàn kết quốc tế ”1 Các tác giả cũng có đề cập phong cách ngoại giao

Hồ Chí Minh, song còn tương đối sơ lược.

Trong cuốn sách Tim hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh với thời đại do giáo

sư Phan Ngọc Liên chủ biên, khi nói về tư tưởng của Hồ Chí Mịnh vói thế giới đã liệt kê năm tư tường lớn của Người Đó là:

- về vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc;

- về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội;

- về hòa bình, hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc trong đấu tranh giữ độc lập cũng như xây dựng xã hội mới;

- Tư tường nhân văn;

- Tư tường với thời đại góp phần giải quyết các vấn đề chung, vấn đề toàn cầu (chiến tranh và hòa bình, bảo vệ môi trường, dân số, bệnh tật '.)- Nội dung tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh đã được cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khái quát: “Toàn bộ những tư tường của Hồ Chí Minh về hoạt động ngoại giao, như biết đánh giá, dự báo tình hình, nắm bắt thời cơ,

tổ chức lực lượng, nhận rõ bạn thù, tranh thủ đồng minh, ,cô lập kẻ thù chủ yểu, kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, biết thắng từng bước

để tiến tới thắng lợi hoàn toàn, độc lập tự chủ gắn liền với đoàn kết quốc tế,

là di sản quý báu đối với chúng ta trong hoạt động ngoại giao để phục vụ nhiệm vụ xây đựng và bảo vệ Tổ quốc”2.

Như vậy tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh gồm ba khía canh Những quan điểm và luận điểm của Hồ Chí Minh - cơ sở của đưòrrig lối quốc tế, đường lối đối ngoại và ngoại giao mới; phương pháp và nghệ thuật ngoại giao; phong cách ngoại giao.

a T ư tưởng ngoại giao H ồ C híM inh,gồm cácnội dungsau đây:

Thứ nhất, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là cổt lõi của tu tưởng

Hồ Chí Minh, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam,

1 H ọc viện Quan hệ quốc tế: Chù tịch H ồ C hí ỈAình với côn g tác n goại g ia o , Nxb S ự thật,

H 1990, Ịr 262.

aPhạm Vắn Đồng: H ồ Chi Minh - Quá khứ, hiện tại và lương lai, Nxb Sự thật, H 1 9 9 1 ,1 1 ừ 55.

Trang 38

đồng thời cũng là cơ sở của đường lối quốc tế, đường lối ngoại giao mớỉ của Đảng và Nhà nước ta.

Luận điểm trên hoàn toàn có lý, đúng quy luật về chính sách đối ngoại, ngoại giao là tiếp tục của chính sách đổi nội, phục vụ chính sách đối nội, phục vụ lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia.

Thứ hai, là độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế Đây là vấn đề kết hợp

sức mạnh dân fộc và sức mạnh thời đại, kết họp giữa nội lực và sự giúp đỡ quốc tế, nội lực lậ chính, lậ quyết định - độc lập tự chủ, tự lực cánh sinh song không cô lập, biệt lập đóng cừa Độc lập tự chủ cũng là tự chủ ừong chọn mô hình phát triển, vạch ra đường lối, đồng thời tham khảo kinh nghiệm thế giới.

v ề tinh thần độc lập tự chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhắc nhở:

“Hãy đứng dậy, đem sức ta mà giải phóng cho ta”1 Nói chuyện với Hội nghị ngoại giao lần thứ ba năm 1964, Bác căn dặn: “Các nhà ngoại giao nước ta càn nắm cái gốc, các điểm mấu chốt về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chính, ngoại giao của ta là tự lực cánh sinh Phải hiểu thấu đáo vấn đề

này, không thì sẽ xiêu vẹo đấy”2 Trong bài Cách mạng Tháng Mười mở ra

con đường giải phỏng cho các dân tộc, Bác lại nhắc nhở cần phải: dựa vào sức mình là chính, đồng thòi ừanh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ tích cực của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ”3.

Thứ ba, chính sách ngoại giao mới là chính sách ngoại giao rộng mở

hòa hiếu với các dân tộc Tư tường chính sách đối ngoại rộng mở đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập từ rất sớm Khi Đảng chưa nắm được chính quyền, Bác đã chủ trưomg đoàn kết rộng rãi vói giai cấp vô sản, với các dân

tộc thuộc địa Tháng 9-1947, trả lời phỏng vấn của hãng tin International

News Service (Mỹ), Người nói: Việt Nam muốn “làm bạn với tất cà-các

nước dân chủ và không gây oán thù với bất cứ một ai”4.

Tinh thần mở rộng quan hệ đối ngoại lại được Bác nhấn mạnh trong

1 HỒ Chí Minh: Toàn lập, N xb Chính trị quốc gia, H 1996, t.3, tr 554.

2 Bác H ồ n ó i vể ngoại giao, H ọc viện Quan hệ quốc té xuất bản, H 1994, tr 14.

3 Hồ Chí Minh: Toàn lộp, Nxb Chính trị quốc gia, H 1 9 9 6 ,1 12, tr 308-309.

4 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính ừị quốc gia, H 1996, t 5, tr 220.

Trang 39

Lời tuyên bổ của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng chỉnh phủ các nước trên thế giới vào tháng 1-1950: “Căn cứ ừên quyền lợi chung,

Chính phù Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước nào tôn ứọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hòa bình và xây đắp dân chủ thế giói”1.

Chính sách đối ngoại rộng mở còri thể hiện trong câu nói nổi tiếng của Bác: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” Theo Bác đó là đoàn kết ttong Đảng, đoàn kết toàn dân và đoàn kết quốc tế, trước hết là giai cấp công nhân

và nhân dân ỉao động toàn thế giới.

Phương châm mở rộng quan hệ đối ngoại đã được Đại hội làn thứ v n i của Đảng tiếp tục với tuyên bố: “Việt Nam muốn ỉà bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”2.

Thứ tư, ngoại giao hòa bình chống chiến tranh là nét đặc trưng của tư

tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh Đó cũng là bản chất nền ngoại giao xã hội chủ nghĩa ít có từ nào được Người nhắc lại nhiều lần trong các bài viết bài nói của mình như từ “hòa bình” Người thiết tha mong muốn hòa bình, luôn luôn sẵn sàng thương lượng, chủ động nắm thời cơ đề xuật đàm phán, ừánh chiến ừanh, chống chiến ừanh.

Việc ký Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 và Tạm ước, ngày 14-9-1946 chính là giải quyết ừanh chấp bằng hòa bình Cuối năm 1946, khi xung đột, khiêu khích nổ ra, Người kiên trì đề nghị chính phủ Pháp thi hành đúng tặm ước, đồng thời kêu gọi phía Pháp chấm dứt hành động khiêu khích, thành thật cộng tác với phía Việt Nam Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Việt Nam

ta kiên quyết kháng chiến đến cùng, song Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn bày tỏ mong muọn sẵn sàng cùng phía Pháp đàm phản kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình.

Trong Thư gửi Chỉnh phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp ngày 7-1-

1947, Người nói rõ nguyện vọng của nhấn dân Việt Nam là muốn có một nền hòa bình thực sự để kiến thiết đất nước, chi cần Pháp có một cử chi

1 Hồ Chl Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia,''H 1996, t 6, tr 8.

2 Đảng Gộng sản V iệt Nam: Văn kiện Đ ạ i hội đại biếu toàn quọc lần thứ VÍU, N xb Chính trị

quốc gia, H 1996.tr 120.

Trang 40

công nhận nền độc lập và thống nhất cùa Việt Nam.

Mặc dù nhân dân ta buộc phải tiến hành cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mỹ, xong Bác Hồ và Chính phủ ta luôn luôn sẵn sàng đàm phán

để chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình Trong Thư trả lời Tổng thống Mỹ

Gỉônxơn ngày 16-12-1967, Người viết: 4CNhân dân Việt Nam chứng tôi rất thiết tha với độc lập, tự do và hòa bình con đường đưa đến hòa bình ở Việt Nam là Mỹ phầi chấm dứt xâm lược , rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam”1.

b M ộ t số phương pháp ngoại giao H ổ ChíMinh

Một di sản quý báu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho hậu thế, cho ngoại giao Việt Nam là những phương pháp, cách thức làm ngoại giao.

Thứ nhất, kiên trì nguyên tắc, linh hoạt sách lược, nhân nhượng có

nguyên tắc Đó chính là tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” mà Bác dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng trước lúc lên đường sang Pháp ngày 31-5-1946 Đây là phương pháp cách mạng, phương pháp và nghệ thuật của Hồ Chí Minh được quán triệt ữong suốt quá trình hoạt động cách mạng, hoạt động ngoại giao của Người.

Cái bất biến, cái nguyên tắc của Hồ Chí Minh, ữong đàm phán với kẻ thù, ừong các giai đoạn cách mạng chính là: độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, tự do và hạnh phúc của nhân dân Đó là thứ không thể mua bán, đổi chác.

Trong đàm phán với thực dân Pháp về Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946, Người đã kiên quyết đòi thực dân Pháp công nhận nền độc lập và thống nhất của Việt Nam Mặc dù tương quan lực lượng không cho phép, chúng ta chưa ghi được từ “độc lập”, song Pháp đã phải công nhận Việt Nam là nước

“tự do”, có nghị viện, có quân đội và tài chính riêng, việc thống nhất Việt Nam do trưng cầu ý dân.

ơái bất biến, cái nguyên tắc khác ờ đây còn là giữ cho được chính quyền cách mạng non ừẻ, thêm “thời gian để chuẩn bị lực lượng của mình”

mà ta đã nhân nhượng các vẩn đề thứ yếu như: chấp nhận Liên bang Đông

1 H ồ Chi Minh: Toàn lập, Nxb Chính trị quốc gia, H 1 9 9 6 ,1 12, ừ 231.

Ngày đăng: 02/03/2021, 21:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w