1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

27 322 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Vấn Đề Lí Luận Cơ Bản Về Kế Toán Chi Phí Sản Xuất Và Tính Giá Thành Sản Phẩm Trong Doanh Nghiệp Sản Xuất
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế Toán
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 53,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự cần thiết của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình sản xuất.. Thực c

Trang 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

1.1 Sự cần thiết của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất

Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình sản xuất Nềnsản xuất xã hội của bất kì phương thức sản xuất nào cũng gắn liền với sự vận động và tiêuhao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất Nói cách khác, quá trình sản xuất hànghoá là quá trình kết hợp ba yếu tố: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động.Quá trình sản xuất hàng hoá cũng chính là quá trình tiêu hao của chính bản thân các yếu tốtrên Như vậy, để tiến hành sản xuất hàng hoá, người sản xuất phải bỏ chi phí về thù laolao động, về tư liệu lao động, đối tượng lao động Vì thế, sự hình thành nên các chi phí sảnxuất để tạo ra giá trị sản phẩm sản xuất là tất yếu khách quan, không phụ thuộc vào ý chíchủ quan của người sản xuất

1.1.1 Chi phí sản xuất

1.1.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất

Chi phí sản xuất - kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về laođộng sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp bỏ ra liên quan đến hoạt động sản xuất -kinh doanh trong một thời kì nhất định (tháng, quý, năm)

Thực chất, chi phí là sự dịch chuyển vốn - chuyển dịch giá trị của các yếu tố sảnxuất vào các đối tượng tính giá (sản phẩm, lao vụ, dịch vụ), là biểu hiện bằng tiền của toàn

bộ hao phí mà doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một kì để thực hiện quá trình sản xuất vàtiêu thụ sản phẩm Để hiểu rõ hơn về chi phí cần phân biệt chi phí và chi tiêu:

Chi phí là sự biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao độngvật hoá cần thiết cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp phải chi ratrong một kì kinh doanh Như vậy, chỉ được tính là chi phí của một kì hạch toán những haophí về tài sản liên quan đến khối lượng sản phẩm sản xuất trong kì chứ không phải mọikhoản chi ra trong kì hạch toán

Trang 2

Chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các loại vật tư, tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp,bất kể nó được dùng vào mục đích gì Tổng số chi tiêu trong kì của doanh nghiệp bao gồmchi tiêu cho quá trình cung cấp (mua sắm vật tư, hàng hoá…), chi tiêu cho quá trình sảnxuất kinh doanh (chi cho sản xuất, chế tạo sản phẩm…) và chi cho quá trình tiêu thụ (chivận chuyển, bốc dỡ, quảng cáo).

Như vậy chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, không có chi tiêu thì không có chiphí Tổng số chi phí phát sinh trong kì của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ giá trị tài sảnhao phí hoặc tiêu dùng hết cho quá trình sản xuất kinh doanh tính vào kì này Chi phí vàchi tiêu còn khác nhau về thời gian, có những khoản chi tiêu kì này nhưng chưa được tínhvào chi phí (chi mua nguyên vật liệu về nhập kho nhưng chưa được sử dụng…) và cónhững khoản tính vào chi phí kì này nhưng thực tế chưa chi tiêu (chi phí trích trước) Sở dĩ

có sự khác biệt giữa chi tiêu và chi phí như vậy là do đặc điểm, tính chất vận động vàphương thức dịch chuyển giá trị của từng loại tài sản vào quá trình sản xuất và yêu cầu kĩthuật hạch toán chúng

Khác với khái niệm chi phí sản xuất của kế toán Việt Nam, đối với kế toán Mỹ, chiphí sản xuất được hiểu là khoản hao phí bỏ ra để thu được một số của cải vật chất hay dịch

vụ Khoản hao phí này có thể là tiền mặt chi ra, tài sản chuyển nhượng hay dịch vụ hoànthành…được đánh giá trên căn cứ tiền mặt Còn theo quan điểm của kế toán Pháp, chi phísản xuất là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp bỏ ra để phục vụ cho quá trình sản xuất Chiphí bao gồm: chi phí mua nguyên vật liệu, hàng hoá và các khoản dự trữ khác

1.1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất

Chi phí sản xuất kinh doanh có rất nhiều loại, nhiều khoản khác nhau cả về nộidung, tính chất, công dụng, vai trò, vị trí…đối với quá trình kinh doanh Để thuận lợi chocông tác quản lí và hạch toán, cần phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất Hiện nay Công

ty Việt Hà đang áp dụng cách phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong giá thành sảnphẩm

Trang 3

Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho việctính giá thành toàn bộ, chi phí được phân chia theo khoản mục Theo quy định hiện hành,giá thành sản phẩm ở Việt Nam bao gồm 5 khoản mục chi phí:

- Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp: phản ánh toàn bộ chi phí nguyên vật liệu chính,phụ, nhiên liệu… tham gia trực tiếp vào việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao

- Chi phí sản xuất chung biến đổi: là chi phí sản xuất gián tiếp thay đổi trực tiếp hoặcgần như trực tiếp theo số lượng sản phẩm dở dang Ví dụ như: Chi phí ngyên vật liệu trựctiếp, Chi phí nhân công trực tiếp, chi phí dịch vụ mua ngoài

Ngoài cách phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm Chiphí còn có thể được phân loại theo những cách sau:

- Phân loại theo yếu tố chi phí

Trang 4

- Phân loại theo quan hệ giữa chi phí sản xuất và khối lượng công việc sản phẩm hoànthành.

- Phân loại theo lĩnh vực hoạt động kinh doanh

1.1.2 Giá thành sản phẩm

1.1.2.1 Khái niệm giá thành sản phẩm

Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về laođộng sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm lao vụ đãhoàn thành

Chỉ tiêu giá thành phải gắn liền với từng loại sản phẩm, được tính đối với số lượngsản phẩm đã hoàn thành khi kết thúc toàn bộ quy trình sản xuất, hay một giai đoạn sản xuất(bán thành phẩm) chứ không tính cho thành phẩm còn nằm trên dây chuyền sản xuất

Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hoá, phản ánh lượng giá trịcủa những hao phí lao động sống và lao động vật hoá đã thực sự chi ra cho sản xuất và tiêuthụ sản phẩm Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí tham gia trực tiếphoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, tiêu thụ phải được bồi hoàn để tái sản xuất ở doanhnghiệp mà không bao gồm những chi phí phát sinh trong kì kinh doanh của doanh nghiệp.Những chi phí đưa vào giá thành sản phẩm phải phản ánh được giá trị thực của các tư liệusản xuất tiêu dùng cho sản xuất, tiêu thụ và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bùđắp giản đơn hao phí lao động sống Mọi cách tính toán chủ quan, không phản ánh đúngcác yếu tố giá trị trong giá thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ các quan hệ hàng - tiền tệ,không xác định được hiệu quả kinh doanh và không thực hiện được tái sản xuất giản đơn

và tái sản xuất mở rộng

1.1.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm

Để đáp ứng yêu cầu của quản lí, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành cũng như yêucầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều phạm vitính toán khác nhau Theo phạm vi phát sinh chi phí, giá thành được phân loại như sau:

Trang 5

- Giá thành sản xuất (còn gọi là giá thành công xưởng) là chỉ tiêu phản ánh tất cảnhững chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phânxưởng sản xuất.

- Giá thành tiêu thụ (còn gọi là giá thành toàn bộ hay giá thành đầy đủ) là chỉ tiêuphản ánh toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Giáthành tiêu thụ được tính theo công thức:

Giá thành toàn bộ

của sản phẩm =

Giá thành sản xuấtcủa sản phẩm +

Chi phí quản lídoanh nghiệp +

Chi phíbán hàngCách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lí biết được kết quả kinh doanh(lãi, lỗ) của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh Ngoài ra, giáthành còn có thể được phân loại theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính

1.1.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Quá trình sản xuất là một quá trình thống nhất bao gồm hai mặt: Mặt hao phí sảnxuất và mặt kết quả sản xuất Tất cả những khoản chi phí (phát sinh trong kì, kì trướcchuyển sang) và các chi phí trích trước liên quan đến khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ,

đã hoàn thành trong kì sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm Nói cách khác, giá thành sảnphẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra bất kì ở

kì nào nhưng có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kì

Có thể phản ánh mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thông qua

sơ đồ sau:

Chi phí sản xuất dở dang

đầu kì CHI PHÍ SẢN XUẤT PHÁT SINH TRONG KÌ

Qua sơ đồ ta thấy: AC = AB + BD – CD

Tổng giá thành = Chi phí sản + Chi phí sản - Chi phí sản

A C

C C

B D

Trang 6

sản phẩm hoàn

thành

xuất dở dangđầu kì

xuất phát sinhtrong kì

xuất dở dangcuối kìKhi giá trị sản phẩm dở dang (chi phí sản xuất dở dang) đầu kì và cuối kì bằngnhau, hoặc các ngành sản xuất không có sản phẩm dở dang thì tổng giá thành sản phẩmbằng tổng chi phí phát sinh trong kì Trong mối quan hệ chặt chẽ đó, chi phí sản xuất và giáthành sản phẩm cũng có những điểm khác nhau cơ bản sau:

Về thời gian: giá thành sản phẩm chỉ gắn với một thời kì nhất định còn chi phí sảnxuất thì liên quan đến nhiều kì như chi phí kì trước chuyển sang, chi phí kì này phát sinhkhông bao gồm các chi phí chuyển sang kì sau

Về sản phẩm: chi phí sản xuất không gắn trực tiếp với số lượng sản phẩm hoànthành trong kì, còn giá thành được tính trên số lượng bán thành phẩm hay sản phẩm hoànthành

Về giá trị: Tổng giá thành sản phẩm không bao gồm những chi phí sản xuất đã chi

ra trong kì (chi phí chờ phân bổ ở kì sau) song giá thành sản phẩm lại tính cả chi phí đã chi

ở kì trước được phân bổ cho kì này Tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kì khác với tổnggiá thành sản phẩm của các sản phẩm hoàn thành trong kì

1.1.4 Ý nghĩa và nhiệm vụ của kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp

Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu kinh tế cơ bản phản ánh chấtlượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Quản lí tốt chi phí sản xuất và giáthành sản phẩm là yêu cầu quan trọng đối với các doanh nghiệp trong môi trường kinh tếcạnh tranh hiện nay Việc tính đúng, đủ giá thành giúp cho phản ánh đúng tình hình thựchiện và kết quả thực hiện giá thành của doanh nghiệp, xác định đúng đắn kết quả kinhdoanh trong kì

Trong một phạm vi nhất định giá thành vừa mang tính khách quan vừa mang tínhchủ quan Cần phải xem xét giá thành trên nhiều góc độ khác nhau để sử dụng chỉ tiêu giáthành một cách hiệu quả nhất.Tính khách quan của giá thành chính là tính tất yếu của sự di

Trang 7

chuyển và kết tinh giá trị tư liệu sản xuất và sức lao động trong sản phẩm Nhưng giá thànhlại là một đại lượng được tính toán trên cơ sở chi phí sản xuất chi ra trong kì nên nó mangnhững yếu tố chủ quan nhất định Từ đó cho thấy, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu chấtlượng tổng hợp phản ánh những tiêu hao trong quá trình sản xuất sản phẩm nhưng cũngđồng thời là thước đo năng lực và trình độ quản lí kinh tế của doanh nghiệp

Từ những ý nghĩa đó, nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sảnphẩm là phải ghi chép và phản ánh một cách đầy đủ, trung thực về mặt lượng chi phí sảnxuất đồng thời phải tính toán chi phí theo đúng nguyên tắc, xác định đúng đối tượng tậphợp chi phí, phản ánh chi phí theo đúng thời điểm, địa điểm phát sinh Để tính đúng và tính

đủ giá thành, kế toán phải dựa trên cơ sở của việc tính chính xác chi phí sản xuất và tính đủmọi hao phí bỏ ra theo đúng chế độ quy định Tính đủ giá thành cũng đồng nghĩa với việcloại bỏ những chi phí không liên quan đến giá thành sản phẩm

1.2 Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất

1.2.1 Kế toán chi phí sản xuất

1.2.1.1 Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất

Tổ chức hạch toán quá trình sản xuất bao gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau Đó là giaiđoạn hạch toán chi tiết chi phí sản xuất phát sinh theo từng sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơnđặt hàng, giai đoạn công nghệ, phân xưởng… và giai đoạn tính giá thành sản phẩm, chi tiếtsản phẩm, sản phẩm theo đơn đặt hàng đã hoàn thành…theo đơn vị tính giá thành quyđịnh Việc phân chia này xuất phát từ yêu cầu quản lí, kiểm tra và phân tích chi phí, yêucầu hạch toán kinh doanh nội bộ, theo đặc điểm quy trình công nghệ của từng doanhnghiệp và yêu cầu tính giá thành sản phẩm theo đơn vị tính giá thành quy định Có thể nói,việc phân chia quá trình hạch toán thành hai giai đoạn là do sự khác nhau cơ bản về giớihạn tập hợp chi phí trong hạch toán chi phí sản xuất - tức là đối tượng hạch toán chi phí sảnxuất - và sản phẩm hoàn thành cần phải tính giá thành một đơn vị - tức là đối tượng tính

Trang 8

giá thành Như vậy, xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất chính là việc xác địnhgiới hạn tập hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí.

Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ thống cácphương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản xuất trong phạm vi giớihạn của đối tượng hạch toán chi phí Về cơ bản, phương pháp hạch toán chi phí bao gồmcác phương pháp hạch toán chi phí theo sản phẩm, theo đơn đặt hàng, theo giai đoạn côngnghệ, theo phân xưởng, theo nhóm sản phẩm v.v Nội dung chủ yếu là kế toán mở thẻ(hoặc sổ) chi tiết hạch toán chi phí sản xuất theo từng đối tượng đã xác định, phản ánh cácđối tượng liên quan đến từng đối tượng, hàng tháng tổng hợp chi phí theo từng đối tượng

Tuỳ theo phương pháp hạch toán hàng tồn kho áp dụng trong doanh nghiệp mà côngtác hạch toán chi phí sản xuất được thực hiện theo một trong hai phương pháp sau: Hạchtoán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên (KKTX) và hạch toán chiphí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kì (KKĐK)

1.2.1.2 Chứng từ kế toán

Các loại chứng từ sử dụng để kế toán chi phí sản xuất bao gồm:

- Chứng từ phản ánh chi phí lao động: Bảng phân bổ tiền lương và các khoản tríchtheo lương: BHYT, BHXH, KPCĐ

- Chứng từ phản ánh chi phí vật tư: Bảng phân bổ vật liệu, công cụ, dụng cụ Bảng

kê, hoá đơn chứng từ mua vật liệu công cụ, dụng cụ không nhập kho mà sử dụng ngay chokinh doanh

- Chứng từ phản ánh chi phí khấu hao TSCĐ: Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ

- Chứng từ phản ánh dịch vụ mua ngoài như hoá đơn mua hàng, chứng từ chi tiềnmặt

- Chứng từ phản ánh thuế, phí và lệ phí doanh nghiệp phải nộp, đã nộp

- Chứng từ phản ánh các khoản chi bằng tiền khác

Việc tập hợp chi phí sản xuất phải được tiến hành theo một trình tự hợp lí, khoa họcthì mới có thể tính giá thành sản phẩm một cách chính xác, kịp thời Trình tự này phụ

Trang 9

thuộc vào đặc điểm sản xuất của từng ngành, từng doanh nghiệp, mối quan hệ của hoạtđộng sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp và trình độ công tác quản lí Thông thườngtrình tự hạch toán chi phí sản xuất như sau:

Bước 1: Tập hợp các chi phí cơ bản liên quan đến đối tượng sử dụng

Bước 2: Tính toán và phân bổ chi phí cho từng đối tượng sử dụng

Bước 3: Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kì

Bước 4: Tính tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm hoàn thành

1.2.1.3 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệuphụ, nhiên liệu…được xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm

Đối với những vật liệu khi xuất dùng có liên quan đến từng đối tượng tập hợp chiphí riêng biệt (phân xưởng, bộ phận sản xuất, hoặc sản phẩm, loại sản phẩm, lao vụ…) thìhạch toán trực tiếp cho đối tượng đó Trường hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đếnnhiều đối tượng tập hợp chi phí, không thể tổ chức hạch toán riêng được thì phải áp dụnggián tiếp để phân bổ chi phí cho các đối tượng có liên quan Tiêu thức phân bổ thườngđược sử dụng là phân bổ theo định mức tiêu hao, theo hệ số, theo trọng lượng, số lượngsản phẩm…

Để theo dõi các khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo phương pháp kê khaithường xuyên, kế toán sử dụng TK 621 “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” Tài khoản nàyđược mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất) vớikết cấu như sau:

Bên Nợ: Tập hợp chi phí nguyên vật liệu xuất dùng trực tiếp cho chế tạo sản phẩmhay thực hiện các lao vụ, dịch vụ

Bên Có:

- Giá trị vật liệu xuất dùng không hết

- Kết chuyển chi phí vật liệu trực tiếp

Tài khoản 621 cuối kì không có số dư

Trang 10

TK 151,152, 331, 111, 112 TK 621

Vật liệu xuất dùng trực tiếp chế tạo sản phẩm, tiến hành lao vụ, dịch vụ

Kết chuyển chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp

Vật liệu dùng khônghết nhập lại kho

TK 152

TK 154

Sơ đồ 1: Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

1.2.1.4 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp

Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản thù lao phải trả cho nhân công trực tiếpsản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ như tiền lương chính, lương phụ

và các khoản phụ cấp có tính chất lương (phụ cấp khu vực, độc hại, phụ cấp làm đêm,thêm giờ…) Ngoài ra, chi phí nhân công trực tiếp còn bao gồm các khoản đóng góp chocác quỹ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Kinh phí công đoàn do doanh nghiệp chịu vàđược tính vào chi phí kinh doanh theo một tỉ lệ nhất định với số tiền lương phát sinh củacông nhân trực tiếp sản xuất

Để theo dõi chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng TK 622 “Chi phí nhâncông trực tiếp” Tài khoản này được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí giốngnhư TK 621

Bên Nợ: Tập hợp chi phí nhân công trực tiếp sản xuất sản phẩm thực hiện lao vụ,dịch vụ

Bên Có: Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào tài khoản tính giá thành

Trang 11

TK 622 TK 154

Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp

Lương và phụ cấp phải trả cho nhân công trực tiếp

Các khoản đóng góp theo tỉ lệ với tiền lương thực tế của công nhân trực tiếp sản xuất phát sinh

TK 334

TK 338

TK 335

Trích trước tiền lương phép, lương ngừng việc của công nhân trực tiếp sản xuất

Tài khoản 622 không có số dư cuối kì

Sơ đồ 2: Sơ đồ kế toán chi phí nhân công trực tiếp

1.2.1.5 Kế toán chi phí trả trước

Chi phí trả trước (còn gọi là chi phí chờ phân bổ) là các khoản chi phí thực tế đãphát sinh nhưng chưa tính hết vào chi phí sản xuất - kinh doanh của kì này mà được tínhcho hai hay nhiều kì hạch toán sau đó Đây là những khoản chi phí phát một lần quá lớnhoặc do bản thân chi phí phát sinh có tác dụng tới kết quả hoạt động của nhiều kì hạchtoán Kế toán sử dụng TK 142 để phản ánh các khoản chi phí trả trước phân bổ hết cho cácđối tượng chịu chi phí trong năm tài chính Nội dung phản ánh của tài khoản này như sau:

Bên Nợ: Tập hợp các khoản chi phí trả trước thực tế phát sinh

Trang 12

Bên Có: Các khoản chi phí trả trước đã phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh.

Dư Nợ: Các khoản chi phí trả trước thực tế đã phát sinh nhưng chưa phân bổ vàochi phí sản xuất kinh doanh

Tài khoản 142 chi tiết thành hai tiểu khoản:

- 1421: Chi phí trả trước

- 1422: Chi phí chờ kết chuyển

Chi phí trả trước thuộc đối tượng chịu chi phí trong năm tài chính bao gồm:

- Giá trị công cụ, dụng cụ nhỏ xuất dùng thuộc loại phân bổ nhiều lần (từ 2 lần trởlên)

- Giá trị sữa chữa lớn TSCĐ ngoài kế hoạch

- Tiền thuê TSCĐ, phương tiện kinh doanh… trả trước

- Giá trị bao bì luân chuyển, đồ dùng cho thuê

- Dịch vụ mua ngoài trả trước (điện, điện thoại, vệ sinh, nước…)

- Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp (với doanh nghiệp có chu kỳ kinhdoanh dài)

- Chi phí mua bảo hiểm tài sản, bảo hiểm kinh doanh, lệ phí giao thông, bến bãi…

- Chi phí nghiên cứu, thí nghiệm, phát minh, sáng chế… (giá trị chưa tính vào TSCĐ

vô hình)

Theo thông tư số 89/2002/TT-BTC ngày 9/10/2002, các chi phí thực tế đã phát sinhnhưng có liên quan đến kết quả hoạt động SXKD của nhiều niên độ kế toán và việc kếtchuyển các khoản chi phí này vào chi phí SXKD của các niên độ kế toán sau được phảnánh vào TK 242 Tương tự như TK 142 kết cấu của TK 242 như sau:

Bên Nợ: Chi phí trả trước dài hạn phát sinh trong kì

Bên Có: Các khoản chi phí trả trước dài hạn phân bổ vào chi phí hoạt động sản xuấtkinh doanh trong kì

Dư Nợ: Các khoản chi phí trả trước dài hạn chưa tính vào chi phí hoạt động sảnxuất kinh doanh của năm tài chính

Trang 13

Chi phí trả trước dài hạn bao gồm:

- Chi phí trả trước về thuê hoạt động TSCĐ (quyền sử dụng đất, nhà xưởng, kho tàng,văn phòng làm việc, cửa hàng và TSCĐ khác) phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanhnhiều năm tài chính

- Tiền thuê cơ sở hạ tầng cho nhiều năm và phục vụ cho kinh doanh nhiều kì

- Chi phí trả trước phục vụ cho hoạt động kinh doanh của nhiều năm tài chính

- Chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí quảng cáo phát sinh trong giai đoạn trướckhi hoạt động

- Chi phí nghiên cứu có giá trị lớn

- Chi phí cho giai đoạn triển khai không đủ tiêu chuẩn ghi nhận là TSCĐ vô hình

- Chi phí đào tạo cán bộ quản lí và công nhân kĩ thuật

- Chi phí di chuyển địa điểm kinh doanh, hoặc tổ chức lại doanh nghiệp

- Lợi thế thương mại trong trường hợp mua lại doanh nghiệp, sáp nhập doanh nghiệp

có tính chất mua lại

- Chi phí mua các loại bảo hiểm (bảo hiểm cháy, nổ, bảo hiểm tài sản…) và các loại

lệ phí mà doanh nghiệp mua và trả một lần cho nhiều niên độ kế toán

- Công cụ, dụng cụ xuất dùng một lần với giá trị lớn và bản thân công cụ, dụng cụtham gia vào hoạt động kinh doanh trên một năm tài chính phải phân bổ dần vào đối tượngchịu chi phí trong nhiều năm

- Các khoản khác

Ngày đăng: 06/11/2013, 09:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ sau: - NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
Sơ đồ sau (Trang 5)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w