1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN CHU TRÌNH HÀNG TỒN KHO TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

40 488 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Vấn Đề Cơ Bản Về Kiểm Toán Chu Trình Hàng Tồn Kho Trong Kiểm Toán Báo Cáo Tài Chính
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kiểm Toán
Thể loại bài viết
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 47,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những thông tin này đượckiểm toán viên thu thập qua tiếp xúc với ban Giám đốc của khách hàng như: giấyphép thành lập và điều lệ công ty; Các Báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, thanhtr

Trang 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN CHU TRÌNH HÀNG TỒN KHO TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH.

I KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH VỚI VẤN ĐỀ KIỂM TOÁN HÀNG TỒN KHO.

1 Khái niệm về kiểm toán tài chính và cách thức tiếp cận kiểm toán trong kiểm toán tài chính.

Thuật ngữ kiểm toán đầu tiên xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ III trước Côngnguyên, gắn liền với nền văn minh Ai cập và La mã cổ đại Hình thức sơ khai banđầu của kiểm toán cổ điển là việc kiểm tra được thực hiện bằng cách người soạnthảo các báo cáo và đọc cho một bên độc lập nghe Ngày nay, kiểm toán được hiểu

là hoạt động “xác minh và bầy tỏ ý kiến về thực trạng được kiểm toán bằng hệthống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứngthực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực” [6,49]

Kiểm toán tài chính là một trong các loại hình của kiểm toán, là hoạt động đặctrưng nhất của kiểm toán nó biểu hiện cụ thể và sinh động nhất các đặc trưng cơbản của kiểm toán Trong đó đối tượng của kiểm toán tài chính là các bảng khai tàichính Bảng khai tài chính là các bảng tổng hợp chứa đựng những thông tin tàichính được lập ra tại một thời điểm cụ thể trên cơ sở những tài liệu kế toán tổnghợp và chi tiết theo các quy tắc, các chuẩn mực hay các quy đinh pháp lý Việc xác minh và đưa ra các ý kiến nhận xét xác đáng về các bảng khai tàichính được kiểm toán luôn là cái đích mà kiểm toán viên và công ty kiểm toánhướng tới Để đạt được mục đích của mình, kiểm toán viên và công ty kiểm toán

sử dụng những cách tiếp cận khác nhau đối với đối tượng kiểm toán, và về cơ bản

có hai cách phân chia các bảng khai tài chính thành các phần hành như sau: phântheo khoản mục hoặc phân theo chu trình

Phân theo khoản mục “là cách phân chia máy móc từng khoản mục hoặcnhóm khoản mục theo thứ tự trong các Bảng khai tài chính vào một phầnhành”[7,10] Ưu điểm của cách phân chia này là thực hiện đơn giản, tuy nhiênkhông hiệu quả do mất đo sự liên hệ giữa các khoản mục do đó không gắn kếtđược kết quả và công việc kiểm toán

Trang 2

Phân theo chu trình là cách phân chia được “căn cứ vào mối liên hệ chặt chẽlẫn nhau giữa các khoản mục, các quá trình cấu thành, các yếu tố trong một chutrình chung của hoạt động tài chính” Cách phân chia này có ưu điểm hơn cáchphân chia theo khoản mục là gắn kết được mối liên hệ cũng như thấy được sự tácđộng qua lại giữa các khoản mục, do đó kết quả kiểm toán và công việc kiểm toán

có thể liên hệ với nhau đồng thời nâng cao được hiệu quả trong công tác kiểm toán.Với cách phân chia này, các chu trình thường bao gồm các phần hành cơ bản sau:kiểm toán chu trình bán hàng- thu tiền, kiểm toán tiền mặt, kiểm toán chu trìnhmua hàng và thanh toán, kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên, kiểm toánchu trình hàng tồn kho, kiểm toán huy động- hoàn trả vốn

2 Khái quát quy trình kiểm toán báo cáo tài chính.

Quy trình kiểm toán là trình tự tiến hành công việc kiểm toán của mỗi cuộckiểm toán, được sắp xếp theo thứ tự phù hợp với diễn biến khách quan của hoạtđộng kiểm toán, phù hợp với các quy định pháp lý hoặc những chuẩn mực đượcthừa nhận, nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả của các cuộc kiểm toán Trongkiểm toán báo cáo tài chính quy trình kiểm toán bao gồm ba giai đoạn sau: lập kếhoạch kiểm toán và thiết kế các trương trình kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểmtoán, hoàn thành cuộc kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán

2.1 Lập kế hoạch kiểm toán.

Lập kế hoạch kiểm toán là công việc đầu tiên mà các kiểm toán viên cần thựchiện trong mỗi cuộc kiểm toán Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 “Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải lập kế hoạch kiểm toán, trong đó mô tảphạm vi dự kiến và cách thức tiến hành công việc kiểm toán Kế hoạch kiểm toánphải đầy đủ, chi tiết làm cơ sở để lập chương trình kiểm toán”, lập kế hoạch kiểmtoán (bao gồm kế hoạch tổng quát và kế hoạch kiểm toán chi tiết) là công việcphức tạp, do đó công việc này thường được thực hiện bởi các giám đốc kiểm toán,chủ nhiệm kiểm toán hay các kiểm toán viên có kinh nghiệm và thường được thựchiện qua các bước sau:

a Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán.

Trang 3

Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán là giai đoạn công ty kiểm toán và kiểm toánviên thực hiện các các công việc: liên hệ với khách hàng thường xuyên cũng nhưkhách hàng tiềm năng, đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán, nhận diện các lý

do kiểm toán của khách hàng, lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán và

ký kết các hợp đồng kiểm toán

b Thu thập thông tin cơ sở.

Thu thập thông tin cơ sở là bước công việc tiếp theo giúp cho kiểm toán viên

có được cái nhìn tổng quan ban đầu về khách hàng và thông thường được tiến hànhqua các bước: tìm hiểu ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng, xemxét lại kết quả của cuộc kiểm toán trước và hồ sơ kiểm toán chung, tham quan nhàxưởng, nhận diện các bên hữu quan và dự kiến nhu cầu về chuyên gia bên ngoài

c Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng và thực hiện các thủ tục phân tích.

Thu thập các thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng giúp cho kiểmtoán viên và công ty kiểm toán hiểu biết được các quy trình mang tính pháp lý cóảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của khách hàng Những thông tin này đượckiểm toán viên thu thập qua tiếp xúc với ban Giám đốc của khách hàng như: giấyphép thành lập và điều lệ công ty; Các Báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, thanhtra hay kiểm tra của năm hiện hành hay trong vài năm trước; Biên bản các cuộchọp cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc; Các hợp đồng và cam kết quantrọng như: hợp đồng mua, bán hàng, mua bán tài sản…

Các thủ tục phân tích cũng được kiểm toán viên thực hiện đồng thời trongbước công việc này nhằm xác định nội dung cơ bản của cuộc kiểm toán Báo cáo tàichính

Thủ tục phân tích “là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quantrọng, qua đó tìm ta xu hướng biến động và tìm ra những mối liên hệ có mâu thuẫnvới các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị dự kiến”(Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 520)

Trang 4

Việc sử dụng nhiều hay ít, phạm vi rộng hay hẹp, thời gian dài hay ngắn cácthủ tục phân tích trong giai đoạn này tuỳ thuộc vào quy mô, đặc điểm, tính chấthoạt động kinh doanh của khách hàng Các thủ tục phân tích được các kiểm toánviên sử dụng có hai loại cơ bản sau: phân tích ngang (phân tích xu hướng) và phântích dọc (phân tích tỷ suất).

d Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro.

Trọng yếu là khái niệm về tầm cỡ (hay quy mô) và bản chất của các sai phạm(kể cả bỏ sót) của các thông tin tài chính hoặc đơn lẻ, hoặc là từng nhóm mà trongbối cảnh cụ thể nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán thì không thể chính xáchoặc là sẽ rút ra những kết luận sai lầm [7,111]

Trong giai đoạn lập kế hoạch, kiểm toán viên thực hiện việc đánh giá mức độtrọng yếu với mục đích để ước tính mức độ sai sót có thể chấp nhận được của Báocáo tài chính Sau đó kiểm toán viên thực hiện phân bổ mức đánh giá cho từngkhoản mục kiểm toán

Việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu được thực hiện nhằm lập kế hoạchphục vụ cho việc thu thập những bằng chứng kiểm toán thích hợp Kiểm toán viênthực hiện ước lượng (đánh giá ban đầu) về tính trọng yếu trên phạm vi toàn bộBáo cáo tài chính sau đó mức ước lượng này sẽ được phân bổ cho từng khoản mục

cụ thể dựa vào bản chất, rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát đối với khoản mục phân

bổ nhằm mục đích xác định số lượng các bằng chứng kiểm toán cần thu thập đốivới từng khoản mục

Trong quá trình thực hiện kiểm toán, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khácnhau, khả năng kiểm toán viên đưa ra nhận xét không xác đáng về báo cáo tàichính của doanh nghiệp là điều luôn có thể xảy ra, khả năng đó được gọi là rủi rokiểm toán Rủi ro cũng được đề cập tới rất nhiều lĩnh vực khác liên quan đến rủi rokiểm toán như: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện

Rủi ro tiềm tàng (rủi ro cố hữu) “là khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mụctrong Báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc hoặc tínhgộp, mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ” [7,115]

Trang 5

Rủi ro kiểm soát “là khả năng xảy ra các sai phạm trọng yếu do hệ thống kiểmsoát nội bộ của đơn vị khách hàng không hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả

do đó không phát hiện và ngăn chặn các sai phạm này” [7,117]

Rủi ro phát hiện “là khả năng xảy ra các sai sót hoặc gian lận trên Báo cáo tàichính mà không được ngăn chặn hay phát hiện bởi hệ thống kiểm soát nội bộ vàcũng không được kiểm toán viên phát hiện trong quá trình kiểm toán”[7,117].Việc xác định mức trọng yếu và rủi ro là thủ tục phức tạp, đòi hỏi trình độ,khả năng xét đoán, kinh nghiệm của kiểm toán viên cũng như những chỉ dẫn mangtính nghề nghiệp của các công ty kiểm toán

e Ngiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát.

Chuẩn mực kiểm toán Quốc tế IAS 400 quy định: "Kiểm toán viên cần phải

có sự hiểu biết phù hợp về hệ thống kiểm soát nội bộ để lập kế hoạch kiểm toán và

đề ra một số biện pháp kiểm toán có hiểu quả Kiểm toán viên cần phán đoán vềmặt nghề nghiệp để đánh giá các rủi ro kiểm toán và đề ra các quy trình kiểm toánnhằm hạn chế rủi ro một cách có thể chấp nhận được"

Khi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng kiểm toán viên quantâm đến hai mặt chủ yếu: sự hiện hữu của bộ máy kiểm soát và các quy chế kiểmsoát; tính hoạt động liên tục và có hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ Mụcđích của việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng là đánh giá khảnăng kiểm toán, nhận diện và đánh giá các sai phạm tiềm tàng….để có kế hoạchthiết kế các cuộc khảo sát thích hợp Việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ củakhách hàng được kiểm toán viện thực hiện thông qua thẩm vấn nhân viên và Bangiám đốc khách hàng, kiểm tra sổ sách và chứng từ đã hoàn tất, quan sát hoạt độngcủa khách hàng…để nắm bắt được những thay đổi trong hệ thống kiểm soát nội bộnhư các chế độ, thủ tục cũng như sự vận dụng thực tế của các chế độ, thủ tục tạicông ty khách hàng

Trong quá trình tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng, để đạtđược sự hiểu biết tốt nhất kiểm toán viên thường sử dụng các phương pháp vẽ các

Trang 6

lưu đồ, lập Bảng câu hỏi về kiểm soát nội bộ, lập Bảng tường thuật về kiểm soátnội bộ để thấy được ưu nhược điểm của hệ thống, mô tả và phân tích cơ cấu kiểmsoát cũng như nhận xét chính xác về các thủ tục kiểm soát áp dụng đối với các hoạtđộng cụ thể.

Những nghiên cứu ban đầu về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng làcăn cứ để kiểm toán viên đánh giá tính hiệu lực của hệ thống này trong việc ngănngừa, phát hiện và sửa chữa các sai phạm trong hoạt động tài chính Việc đánh giában đầu về rủi ro kiểm soát được kiểm toán viên thực hiện cho từng mục tiêu kiểmtoán chi tiết, và từng loại nghiệp vụ kinh tế trong từng chu trình theo các bước:nhận diện các mục tiêu kiểm soát mà theo đó quá trình đánh giá vận dụng, nhậndiện các quá trình kiểm soát đặc thù, nhận diện và đánh giá các nhược điểm của hệthống kiểm soát nội bộ, đánh giá rủi ro kiểm soát

f Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo chương trình kiểm toán.

Kiểm toán viên căn cứ vào các khoản mục của kiểm toán, nội dung và thờigian báo cáo cho khách hàng đã được dự kiến trong hợp đồng, các trọng điểm cần

đi sâu, độ tin cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ…để lập kế hoạch kiểm toán chitiết Kế hoạch chi tiết là việc kiểm toán viên xác định rõ việc sử dụng các thủ tụckiểm toán, các bước công việc cụ thể phải tiến hành trong thực hiện kiểm toán.Song song với việc lập kế hoạch chi tiết, kiểm toán viên cũng thực hiện thiết kế cácchương trình kiểm toán trên cơ sở kế hoạch chi tiết được duyệt

“Chương trình kiểm toán là những dự kiến chi tiết về các công việc kiểm toáncần thực hiện, thời gian hoàn thành và sự phân công lao động giữa các kiểm toánviên cũng như dự kiến về những tư liệu, thông tin liên quan cần sử dụng và thunhập Trọng tâm của chương trình kiểm toán là các thủ tục kiểm toán cần thực hiệnđối với từng khoản mục hay bộ phận được kiểm toán”[7,119]

Việc soạn thảo một chương trình kiểm toán đúng đắn và phù hợp sẽ giúp chokiểm toán viên có thể sắp xếp khoa học, không bỏ sót một khoản mục hay một thủtục kiểm toán nào trong quá trình thực hiện kiểm toán Đồng thời giúp cho cáckiểm toán viên có thể phối hợp một cách đồng bộ và hiệu quả cũng như dễ dàng

Trang 7

cho các chủ nhiệm kiểm toán hay kiểm toán viên trưởng giám sát nhân viên củamình

Tuy nhiên, chương trình kiểm toán chỉ là những dự định, do đó trong quátrình thực hiện công tác kiểm toán, nếu xuất hiện những sự kiện mới hoặc nhữngnhân tố mới kiểm toán viên phải linh động điều chỉnh cho phù hợp

2.2 Thực hiện kế hoạch kiểm toán

Thực hiện kế hoạch kiểm toán là bước công việc quan trọng tiếp theo của mộtcuộc kiểm toán, là quá trình các kiểm toán viên thực hiện đồng bộ các công việc đãthiết kế trong kế hoạch và chương trình kiểm toán, kết hợp với khả năng của kiểmtoán viên để thu thập, tích luỹ các bằng chứng kiểm toán đối với từng loại nghiệp

vụ, từng loại thông tin cấu thành Báo cáo tài chính Là giai đoạn kiểm toán viênthực hiện các thủ tục kiểm toán được hình thành từ các loại trắc nghiệm kiểm toán:trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm trực tiếp số dư và trắc nghiệm phân tích Thủtục kiểm toán được hình thành rất đa dạng và tuỳ thuộc vào kết quả đánh giá độ tincậy của hệ thống kiểm soát nội bộ khách hàng mà kiểm toán viên sẽ quyết định sửdụng các thủ tục kiểm toán khác nhau

Nếu có thể dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên phải xem xétmức độ tin cậy của hệ thống để sử dụng quy mô các loại trắc nghiệm công việc chophù hợp ( thủ tục kiểm soát) Đánh giá ban đầu (đánh giá ở phần trên) về hệ thốngkiểm soát nội bộ là có hiệu lực thì kiểm toán viên sẽ tiếp tục thực hiện trắc nghiệmđạt yêu cầu Với kết quả thu được là hệ thống kiểm soát này có hiệu lực thì kiểmtoán viên sẽ sử dụng một số ít các trắc nghiệm độ vững chãi để xác minh những saisót có thể có

Nếu kết quả cho thấy hệ thống kiểm soát nội bộ không có hiệu lực ngay từđánh giá ban đầu hoặc sau khi sử dụng các trắc nghiệm đạt yêu cầu thì kiểm toánviên sẽ áp dụng các trắc nghiệm độ vững chãi với quy mô lớn

Quy mô trình tự và các kết hợp cụ thể của các trắc nghiệm kiểm toán phụthuộc rất nhiều vào kinh nghiệm và khả năng phán đoán của kiểm toán viên

2.3 Kết thúc kiểm toán.

Trang 8

Đây là giai đoạn cuối cùng của một cuộc kiểm toán, là quá trình kiểm toánviên và công ty kiểm toán lập và phát hành báo cáo kiểm toán Báo cáo kiểm toán

là những nhận xét và đánh giá của kiểm toán viên và công ty kiểm toán về đốitượng được kiểm toán Báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính có ý nghĩa, vai tròquan trọng đối với những người sử dụng Báo cáo tài chính, do đó Báo cáo kiểmtoán phải được trình bầy theo những tiêu chuẩn cả về nội dung và hình thức

Nội dung của các báo cáo kiểm toán do các công ty kiểm toán khác nhau cóthể khác nhau, tuy nhiên Báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính thường gồm một

số yếu tố cơ bản sau: tên và địa chỉ Công ty kiểm toán, số hiệu báo cáo tài chính,tiêu đề báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính, người nhận báo cáo kiểm toán vềBáo cáo tài chính, mở đầu báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính, phạm vi và căn

cứ thực hiên cuộc kiểm toán, ý kiến của kiểm toán viên về Báo cáo kiểm toán đãđược kiểm toán, địa điểm và thời gian lập báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính,chữ ký và dấu hiệu (đóng dấu) của kiểm toán viên và người chịu trách nhiệm pháthành báo cáo kiểm toán

Trong báo cáo kiểm toán của về Báo cáo tài chính của khách hàng, có thể nói,các ý kiến của kiểm toán viên về đối tượng được kiểm toán là phần quan trọngnhất Đó có thể là ý kiến chấp nhận toàn phần, từng phần, từ chối hay ý kiến khôngchấp nhận, tuỳ thuộc vào các bằng chứng, các phát hiện kiểm toán trong quá trìnhthực hiện kiểm toán

3 Hàng tồn kho với vấn đề kiểm toán.

3.1 Khái niệm và đặc điểm hàng tồn kho.

 Khái niệm.

Hàng tồn kho là tài sản lưu động của doanh nghiệp biểu hiện dưới hình tháivật chất cụ thể Hàng tồn kho có thể được mua từ bên ngoài hoặc tự sản xuất đểdùng vào mục đích sản xuất kinh doanh Thông thường hàng tồn kho của doangnghiệp tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, tuỳ huộc vào đặc điểm hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp, và thường bao gồm: Nguyên vật liệu, công cụ dụng

cụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hoá Ngoài ra còn có một số vật tư hàng

Trang 9

hoá thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng vì những lý do khác nhau nênkhông nằm trong kho như: Hàng đang đi đường, hàng gửi bán…

 Đặc điểm của hàng tồn kho.

Khác với các loại tài sản khác của doanh nghiệp như tiền mặt, tiền gửi, tài sản

cố định vô hình, hữu hình… hàng tồn kho có những đặc điểm rất riêng Hàng tồnkho có thể có rất nhiều loại, có vai trò, công dụng cũng khác nhau trong quá trìnhsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó đòi hỏi công tác tổ chức quản lý,hạch toán kế toán cũng như công tác kiểm toán đối với khoản mục này cũng cónhững đặc thù riêng Xét trên góc độ hạch toán kế toán, hàng tồn kho của doanhnghiệp có những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, hàng tồn kho thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản củadoanh nghiệp Do đó dễ xảy ra gian lận và sai sót gây ảnh hưởng trọng yếu trênbáo cáo tài chính của doanh nghiệp Đòi hỏi kiểm toán viên khi tiến hành thực hiệnkiểm toán đối với khoản mục này phải có sự thận trọng thích đáng cũng như trình

Thứ ba, việc xác định chất lượng, tình trạng và giá trị hàng tồn kho luôn làcông việc khó khăn và phức tạp Có rất nhiều khoản mục hàng tồn kho rất khóphân loại và xác định giá trị như các tác phẩm nghệ thuật, các loại linh kiện điện

tử, các công trình xây dựng cơ bản, đồ cổ, kim khí quý….Điều này đòi hỏi khi thựchiện kiểm toán đối với những loại hàng tồn kho đặc bệt này, kiểm toán viên cầnphải có sự chuẩn bị chu đáo cả về phương tiện kỹ thuật cũng như con người

Thứ tư, trong công tác kế toán hàng tồn kho, có rất nhiều phương pháp khácnhau để đánh giá hàng tồn kho Ngoài ra, với mỗi loại hàng tồn kho, doanh nghiệp

Trang 10

có thể lựa chọn các phương pháp khác nhau Mỗi phương pháp tình giá hàng tồnkho khác nhau sẽ cho những kết quả khác nhau ảnh hưởng đến các chỉ tiêu khácnhư giá vốn hàng bán, lợi nhuận… do đó kiểm toán viên phải nắm bắt được cácphương pháp tính giá và việc sử dụng các phương pháp này đối với từng loại hàngtồn kho của khách hàng để thuận lợi trong việc sử dụng các thủ tục kiểm toán nhưtính toán lại hay thực nghiệm…để thu thập bằng chứng kiểm toán.

Thứ năm, hàng tồn kho thường được bảo quản, cất trữ ở nhiều địa điểm khácnhau, có điều kiện tự nhiên hay nhân tạo không đồng nhất, lại do nhiều người quản

lý Do dễ xảy ra mất mát, cũng như công việc kiểm soát vật chất, kiểm kê, quản lý

và bảo quản cũng như sử dụng hàng tồn kho gặp nhiều khó khăn Đòi hỏi trong quátrình thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải có kế hoạch cụthể nhằm hạn chế thấp nhất rủi ro cũng như chi phí kiểm toán

Ngoài ra, các nghiệp vụ về hàng tồn kho thường xảy ra thường xuyên với tầnxuất nhiều do vậy dễ gây ra việc phản ánh thiếu các nghiệp vụ hoặc lẫn lộn giữacác nghiệp vụ cũng như là điều kiện tốt cho việc xảy ra các sai phạm mang tínhchất chủ quan: biển thủ hàng hoá, làm thất thoát tài sản của doanh nghiệp…

3.2 Chức năng của chu trình hàng tồn kho.

Mua hàng, lưu kho, xuất kho cho sản xuất và tiêu thụ là các chức năng cơ bảncủa chu trình hàng tồn kho Tuỳ thuộc vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinhdoanh, mục tiêu quản lý của doanh nghiệp đối với hàng tồn kho mà đơn vị tổ chứccác phòng ban hay phân công trách nhiệm cho từng cá nhân để đảm bảo tính độclập của các bộ phận (hay cá nhân) trong việc kiểm tra, kiểm soát đối với các chutrình cơ bản của hàng tồn kho

 Đối với chức năng nhập vật tư, hàng hoá

Chức năng mua hàng của chu trình hàng tồn kho được bắt đầu khi có nhu cầu

về vật tư, hàng hoá trong doanh nghiệp Các bộ phận trong doanh nghiệp khi cónhu cầu mua hàng sẽ lập phiếu đề nghị mua hàng và chuyển đến các cấp có thẩmquyền xem xét và sau khi được phê chuẩn sẽ được chuyển đến phận cung ứng đểthảo đơn đặt hàng và gửi cho nhà cung cấp đã lựa chọn

Trang 11

Khi nhà cung cấp giao hàng bộ phận nhận hàng sẽ dựa trên đơn đặt hàng đểkiểm tra về mẫu mã, số lượng, chủng loại, quy cách, phẩm chất và thời gian giaohàng, lập biên bản kiểm nhận hàng Bộ phận nhận hàng được tổ chức độc lập với

bộ phận mua hàng, lưu hàng và bộ phận vận chuyển

Vật tư, hàng hoá sau khi được kiểm nhận sẽ được chuyển đến kho, tại khohàng sẽ được kiểm tra về chất lượng và số lượng sau đó nhập kho Thủ kho lậpphiếu nhập kho và sau đó thông báo cho phòng kế toán về số lượng hàng nhận vàcho nhập kho

Vật tư, hàng hoá nhập kho thuộc trách nhiệm quản lý của bộ phận kho, bộphận này chỉ xuất kho khi có phiếu yêu cầu sử dụng vật tư, hàng hoá được phêduyệt

 Chức năng xuất kho vật tư, hàng hoá.

Vật tư, hàng hoá của doanh nghiệp được xuất kho do hai lý do cơ bản sau:xuất kho cho nội bộ (cho nhu cầu sản xuất, cho quản lý doanh nghiệp, cho bánhàng) và xuất kho để bán

Việc xuất kho vật tư, hàng hoá cho nội bộ: bộ phận có yêu cầu về vật tư, hànghoá sẽ lập các phiếu yêu cầu xin lĩnh vật tư và trình lên các cấp có thẩm quyềntrong doanh nghiệp phê duyệt Khi được phê duyệt, thủ kho sẽ lập phiếu xuất kho,phiếu xuất kho và phiều yêu câu về vật tư hàng hoá thường được lập thành ba liên,

bộ phận yêu cầu giữ một liên, một liên thủ kho giữ để hạch toán kho, liên còn lại

sẽ chuyển đến cho phòng kế toán làm căn cứ để ghi sổ kế toán

Trong trường hợp xuất kho vật tư, hàng hoá để tiêu thụ: căn cứ vào các đơnđặt hàng đã được phê chuẩn, thủ kho lập các phiếu xuất kho: phiếu xuất kho đượclưu ở thủ kho để hạch toán kho, bộ phận tiêu thụ và phòng kế toán Bộ phận vậnchuyển lập phiếu vận chuyển hàng (vận đơn): phiếu vận chuyển hàng được lậpthành ba liên, một được lưu ở phòng vận chuyển, một được chuyển đến bộ phậntiêu thụ kèm theo đơn đặt hàng của khách để lập hoá đơn bán hàng, liên còn lạiđược đính kèm bên ngoài bao kiện hàng trong quá trình vận chuyển

 Chức năng sản xuất.

Trang 12

Sản xuất là giai đoạn quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp, đòi hỏi doanh nghiệp phải kiểm soát chặt chẽ bằng lịch trình và kếhoạch sản xuất để đảm bảo rằng doanh nghiệp sẽ sản xuất những hàng hoá đáp ứngđúng và đủ nhu cầu của khách hàng, thị trường Trong giai đoạn này, trách nhiệmquản lý đối với hàng hoá thuộc về những người giám sát quá trình sản xuất nhưđốc công, quản lý phân xưởng Những người có trách nhiệm giám sát quá trình sảnxuất có trách nhiệm kiểm soát và nắm bắt tất cả tình hình và quá trình sản xuất kể

từ khi nguyên vật liệu, vật tư được chuyển đến phân xưởng cho đến khi các sảnphẩm sản xuất hoàn thành Sản phẩm hoàn thành sẽ được kiểm tra chất lượng sau

đó sẽ được nhập kho hoặc chuyển đi tiêu thụ

3.3 Ý nghĩa của kiểm toán hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo tài chính

Khoản mục hàng tồn kho luôn luôn được đánh giá là trọng yếu trên báo cáotài chính của doanh nghiệp do đó việc kiểm toán khoản mục này có một ý nghĩanhất định trong kiểm toán báo cáo tài chính

Hàng tồn kho của doanh nghiệp liên quan mật thiết đến hầu hết với các phầnhành khác như mua hàng thanh toán, bán hàng thu tiền…do đó dối với kiểm toánviên và công ty kiểm toán, việc kiểm toán khoản mục hàng tồn kho của khách hànggiúp cho kiểm toán viên có thể liên hệ với kiểm toán các phần hành khác như giávốn hàng bán, doanh thu….để nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác kiểmtoán Đồng thời có những nhận xét, đánh giá về hệ thống kế toán, các thủ tục kiểmsoát đối với hàng tồn kho mà doanh nghiệp đang áp dụng nhằm hoàn thiện côngtác này cho khách hàng

Đối với khách hàng, việc kiểm toán khoản mục hàng tồn kho giúp cho kháchhàng phát hiện những biểu hiện của gian lận và sai sót có thể tồn tại đối với tài sảnquan trọng của mình Mặt khác, kiểm toán hàng tồn kho còn giúp cho khách hàngnhận thấy những ưu điểm cũng như hạn chế của các thủ tục kiểm soát, hệ thống kếtoán doanh nghiệp đang áp dụng đối với khoản mục này, từ đó cùng những ý kiếnnhận xét và đánh giá và tư vấn của kiểm toán viên để hoàn thiện công tác kế toán,công tác bảo quản, bảo vệ hàng tồn kho

Trang 13

3.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác kiểm toán hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo tài chính.

Các khoản mục khác nhau trên báo cáo tài chính có những đặc trưng, đặcđiểm khác nhau phản ánh những nội dung khác nhau về tình hình tài chính cũngnhư tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Những đặc điểm đó có nhữngảnh hưởng cũng như có sự chi phối nhất định đến công tác kiểm toán đối với khoảnmục đó

Đối với khoản mục hàng tồn kho, những đặc điểm của khoản mục này cũng

có những ảnh hưởng tới công tác kiểm toán khoản mục này Cụ thể:

Vì chiếm tỉ trọng lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp nên những sai sóttrong các khoản mục hàng tồn kho thường dẫn đến những sai sót trọng yếu về chiphí và kết quả kinh doanh Do đó trong quá trình thực hiện công tác kiểm toán, cáckiểm toán viên thường tốn nhiều thời gian và công sức và chi phí cho việc kiểmtoán khoản mục này

Hàng tồn kho trong doanh nghiệp thường được bảo quản, cất trữ ở nhiều địađiểm khác nhau và thậm chí còn do nhiều người nhiều bộ phận quản lý Do vậyviệc kiểm tra, kiểm soát nhằm thu thập các bằng chứng kiểm toán tin cậy luôn luôn

là vấn đề khó khăn đối với các kiểm toán viên

Việc đánh giá chất lượng cũng như giá trị của hàng tồn kho cũng là vấn đềđặc biệt khó khăn đối với các kiểm toán viên nhất là việc đánh giá chất lượng, giátrị của các loại hàng tồn kho đặc biệt như các loại hoá chất, kim khí, các tác phẩmnghệ thuật, phần mềm vi tính… Đôi khi việc đánh giá giá trị, chất lượng của cácloại hàng tồn kho phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của khách hàng, do đó gây khókhăn cho kiểm toán viên trong việc đưa ra ý kiến cho khoản mục này

Tính đa dạng về chủng loại và tính chất đặc thù của hàng tồn kho cũng gâykhó khăn nhất định trong quá trình quan sát, đánh giá và thực hiện những thủ tụckhảo sát cần thiết, nhiều trường hợp đòi hỏi phải cần đến chuyên gia (Ví dụ: Vàng,bạc, đá quý, hoá chất…)

Trang 14

II NỘI DUNG CHU TRÌNH KIỂM TOÁN HÀNG TỒN KHO TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH.

1 Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán.

1.1 Xác định mục tiêu và phạm vi kiểm toán hàng tồn kho.

Trong kiểm toán tài chính, tuỳ thuộc vào từng đối tượng cụ thể khác nhau màkiểm toán sử dụng các công nghệ kiểm toán khác nhau để tìm kiếm những bằngchứng sát thực nhằm đạt được mục tiêu kiểm toán của mình Đối với khoản mụchàng tồn kho, khi thực hiện công tác kiểm toán, kiểm toán viên thường hướng tớinhững mục tiêu đặc thù trên cả hai phương diện nghiệp vụ và số dư hàng tồn kho

Cụ thể:

Đối với mục tiêu hiện hữu và phát sinh: Kiểm toán viên quan tâm tới cácnghiệp vụ mua hàng đã ghi sổ có thể hiện số hàng hoá được mua trong kỳ haykhông, các nghiệp vụ kết chuyển hàng đã ghi sổ có thực sự biểu hiện cho số hàngtồn kho được chuyển từ nơi này sang nơi khác hoặc từ loại này hay loại khác haykhông hoặc các nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá đã ghi có thực sự là số hàng tồn kho

đã sản xuất trong kỳ hay không Trên phương diện số dư, kiểm toán viên quan tâmđên sự tồn tại thực sự của khoản mục hàng tồn kho được phản ánh trên Bảng cânđối kế toán

Đối với mục tiêu về tính trọn vẹn: Kiểm toán viên quan tâm đến vệc phản ánhcác nghiệp vụ mua hàng, xuất hàng cũng như kết chuyển trong kỳ kế toán có đượcphản ánh trên sổ sách kế toán hay không cũng như số dư hàng tồn kho trên Bảngcân đối kế toán có phản ánh đầy đủ tất cả các khoản nguyên vật liệu, công cụ dụng

cụ, sản phẩm, hàng hoá tại thời điểm lập hay không

Đối với mục tiêu quyền và nghĩa vụ: Kiểm toán viên quan tâm đến các loạihàng tồn kho hiện có trong kho của doanh nghiệp, hoặc hàng tồn kho doanh nghiệpkhẳng định là của doanh nghiệp nhưng đang gửi ở một đối tác khác thực sự là sởhữu của doanh nghiệp Và nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các khoản hàng tồnkho có trong kho của doanh nghiệp nhưng thuộc sở hữu của khách hàng khác

Trang 15

Đồng thời khẳng định quyền lợi của doanh nghiệp đối với số dư hàng tồn kho tạithời điểm lập Bảng cân đối kế toán.

Đối với mục tiêu đo lường và tính giá: Kiểm toán viên quan tâm đến cáckhoản chi phí về nguyên vật liệu, hàng hoá, giá thành sản phẩm, sản phẩm dởdang,…được đo lường và tính toán, ghi sổ, chuyển sổ, kế chuyển một cách hợp lý,hợp lệ phù hợp với quy định của chế độ kế toán và các chuẩn mực cũng như cácnguyên tác kế toán chung được thừa nhận rộng rãi Mặt khác kiểm toán viên khẳngđịnh rằng số dư hàng tồn kho được trình bầy trên Bảng cân đối kế toán đã phản ánhđúng giá trị thực hoặc giá trị thuần của hàng tồn kho và tuân theo các quy tắcchung được thừa nhận hay không

Đối với mục tiêu trình bầy và khai báo: kiểm toán viên quan tâm đến việctrình bầy, phân loại các nghiệp vụ liên quan đến hàng tồn kho được trình bầy trên

hệ thống báo cáo tài chính là đúng đắn, trung thực và khách quan cũng như số dưhàng tồn kho được trình bầy trên Bảng cân đối kế toán đã được xắp xếp và phânloại chính xác

Phạm vi kiểm toán.

Phạm vi kiểm toán được hiểu là sự giới hạn về không gian và thời gian củađối tượng kiểm toán Mỗi đối tượng kiểm toán cụ thể khác nhau, phạm vi kiểmtoán cũng khác nhau Đối với khoản mục hàng tồn kho, phạm vi kiểm được kiểmtoán viên xác định là các nghiệp vụ, số dư của khoản mục hàng tồn kho được trìnhbầy trên Báo cáo tài chính

Tuy nhiên, do bản chất của việc kiểm tra và các hạn chế vốn có của kiểm toán

mà trong mọi cuộc kiểm toán phạm vi kiểm toán thường bị giới hạn có thể dokhách hàng hay do những điều kiện khách quan hoặc chủ quan đối với công táckiểm toán của các kiểm toán viên và công ty kiểm toán Do đó, phạm vi kiểm toánđối với chu trình hàng tồn kho còn được kiểm toán viên giới hạn hẹp hơn, phạm vi

mà kiểm toán viên thực hiện kiểm toán đối với hàng tồn kho có thể chỉ là cácnghiệp vụ trọng yếu, các nghiệp vụ xảy ra trong một tháng, một quý hay mộtkhoảng thời gian nhất định Các thủ tục kiểm toán cũng được thực hiện với số

Trang 16

lượng thích hợp để kiểm toán chi tiết số dư các khoản mục này: kiểm toán viên chỉ

có thể thực hiện kiểm kê hàng tồn kho tại một xí nghiệp, một hay một số kho củakhách hàng, việc kiểm tra chứng từ, sổ sách cũng chỉ được áp dụng những mẫuchọn cụ thể…

1.2 Thu thập các thông tin ban đầu về hàng tồn kho.

Những thông tin ban đầu về hàng tồn kho sẽ cung cấp cho kiểm toán viên sựnhìn nhận khái quát nhất để có những chuẩn bị tích cực cho công tác kiểm toán.Thông thường khi tìm hiểu những thông tin ban đầu về hàng tồn kho, kiểm toánviên thường quan tâm tới những vấn đề sau:

Kiểm toán nhận diện đối tượng kiểm toán bằng cách tìm hiểu danh mục hàngtồn kho của khách hàng để biết được: doanh nghiệp có bao nhiêu loại hàng hoá vớidoanh ngiệp thương mại hoặc các loại nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm

dở dang hay các loại thành phẩm đối với doanh nghiệp sản xuất nhưng cũng có thể

là các loại hàng hoá đặc biệt như vàng bạc, phầm mền máy tính, tác phẩm nghệthuật… Từ đó giúp cho kiểm toán viên có thể nhận biết được các đặc tính, đặcđiểm hàng tồn kho của khách hàng

Kiểm toán viên tìm hiểu hàng tồn kho của doanh nghiệp được tổ chức bảoquản như thế nào: xem xét việc bảo quản hàng tồn kho của doanh nghiệp được tậpchung tại kho của doanh nghiệp hay còn được bảo bởi các đơn vị khác, có sự phâncông phân nhiệm cụ thể cho các cá nhân trong công tác quản lý và bảo quản, bảo

vệ hàng tồn kho hay không; việc tổ chức bảo quản hàng hoá tại kho tàng, bến bãi

có bảo đảm các điều kiện về khí hậu, an ninh, ….hay không Việc tìm hiểu đượckiểm toán viên thực hiện bằng cách tham quan nhà xưởng kho tàng của kháchhàng, quan sát trực tiếp quá trình luân chuyển nhập xuất

Ngoài ra kiểm toán viên còn tìm hiêu một số vấn đề khác như phương pháptính giá, phương pháp hạch toán, tìm hiểu về nhà cung cấp nguyên vật liệu, công

cụ dụng cụ cũng như khách hàng tiêu thụ các sản phẩm của doanh nghiệp, áp lựckinh doanh của loại hàng hoá, sản phẩm doanh nghiệp đang sản xuất…

1.3 Đánh giá tính trọng yếu đối với các khoản mục hàng tồn kho.

Trang 17

Trọng yếu là “khái niệm về quy mô và bản chất của các sai phạm (kể cả bỏsót) của các thông tin tài chính hoặc là đơn lẻ, hoặc là từng nhóm mà trong bốicảnh cụ thể nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán thì không thể chính xác hoặc

sẽ rút ra những kết luận sai lầm” [7,111]

Kiểm toán viên sau khi xác định nội dung, thời gian, phạm vi và các phươngpháp kiểm toán cũng như mức độ trung thực và hợp lý của các thông tin trong báocáo tài chính sẽ đưa ra ước lượng ban đầu về tính trọng yếu Thông thường cáccông ty kiểm toán chuyên nghiệp thường xây dựng cho mình một quy trình chung

để thực hiện việc đánh giá này Tuy nhiên việc xét đoán mức trọng yếu này phụthuộc vào khả năng nghề nghiệp cũng tính chủ quan của kiểm toán viên bởi đối vớimỗi khách hàng khác nhau, đối tượng kiểm toán khác nhau quy trình đánh giá cũngđược thực hiện khác nhau Mặt khác, các yếu tố về định lượng cũng như các yếu tốđịnh tính cũng có những ảnh hưởng tới việc đánh giá tính trọng yếu, vì cùng mộtmức độ sai phạm nhưng nó có thể là trọng yếu với quy mô này nhưng không trọngyếu với quy mô khác: Ví dụ như một sai phạm là 10.000 USD sẽ là trọng yếu vớiquy mô 200.000 USD nhưng có thể là không trọng yếu với quy mô 1.000.000USD; hoặc sai phạm lớn ở khoản mục này nhưng lại không trọng yếu so với mộtsai phạm nhỏ nhưng lại ở một khoản mục có tính chất quan trọng hơn: Ví dụ nhưmột sai phạm là 15.000 USD đối với các khoản phải thu khách hàng có thể làkhông trọng yếu, nhưng sẽ là trọng yếu nếu sai phạm đó xảy ra đối với khoản mụctiền mặt

Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu sẽ tiếp tục được các kiểm toán viên phân

bổ cho các bộ phận, khoản mục trên báo cáo tài chính và hình thành mức độ trọngyếu của từng khoản mục Khoản mục hàng tồn kho cũng được phân bổ ước lượngban đầu, ước lượng ban đầu này còn được kiểm toán viên phân bổ chi tiết cho từngloại hàng tồn kho

Ví dụ như một bảng cân đối kế toán được ước lượng quy mô sai phạm chophép là 200.000 USD trên quy mô tổng thể là tổng tài sản là 10.000.000 USD.Kiểm toán viên thực hiện phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho cáckhoản mục trên bảng cân đối kế toán, trong đó có tài khoản nguyên vật liệu trong

Trang 18

chu trình hàng tồn kho và mức phân bổ là 7.000 USD trên tổng số dư nguyên vậtliệu trên bảng cân đối kế toán là 217.000 USD.

Khi thực hiện kiểm toán với các khoản mục cụ thể, kiểm toán viên sẽ pháthiện các sai số thừa hoặc thiếu đối với các khoản mục này Từ đó kết hợp sai sótphát hiện được với quy mô tổng thể thực hiện kiểm tra để ước tính sai số Ước tínhsai số này sẽ được kiểm toán viên so sánh với quy mô tính trọng yếu đã phân bổcho các khoản mục và từ đó kết luận về mức độ trọng yếu của khoản mục đó Cũng

ví dụ trên, trong quá trình kiểm toán chu trình hàng tồn kho đối với tài khoảnnguyên vật liệu, kiểm toán viên phát hiện thấy sai số thừa một khoản là 450 USDtrong tổng thể kiểm toán 16.100 USD Như vậy kiểm toánviên có thể tính toán rasai số ước tính là: (450/16.100)*217.000=6.065,2 USD, với quy mô sai số ước tính

là 6.065,2 USD nhỏ hơn so với quy mô sai sót cho phép được phân bổ ở trên là7.000 USD thì có thể thấy đây không phải là khoản mục sai phạm trọng yếu

Trong quá trình thực hiện kiểm toán đối với chu trình hàng tồn kho, kiểm toánviên và công ty kiểm toán áp dụng những bước tương tự để đánh giá tính trọng yếucủa các khoản mục hàng tồn kho khác

1.4 Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng đối với hàng tồn kho.

Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng nói chung và cụ thể chotừng đối tượng cụ thể như hàng tồn kho nói chung luôn là vấn đề quan tâm củakiểm toán viên Công việc tìm hiểu hệ thồng kiểm soát nội bộ của khách hàng đốivới hàng tồn kho giúp cho kiểm toán viên định ra hướng kiểm toán thích hợp Khitìm hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng về hàng tồn kho kiểm toán viên tìmhiểu các vấn đề:

 Môi trường kiểm soát đối với hàng tồn kho: kiểm toán viên sẽ thu thậpcác thông tin cần thiết nhằm xem xét quan điểm của Ban giám đốc về việc quản lýhàng tồn kho: hàng tồn kho có quan trọng đối với doanh nghiệp không, việc quản

lý hàng tồn kho được thực hiện theo mô hình nào (tập trung hay phân tán)

Trang 19

Kiểm toán viên xem xét cơ cấu nhân sự của khách hàng có phù hợp với yêucầu thực tế quản lý hàng tồn kho hay không Việc tổ chức các bộ phận chức năng,các cá nhân trong bộ phân đó có đáp ứng được tiêu thức quản lý hàng tồn khokhông mất mát, hư hỏng, độ vỡ… Các bộ phận trực thuộc Ban giám đốc có đủchức năng để thực hiện công tác nhập - xuất - lưu kho và quản lý quá trình này trênchứng từ, sổ sách hay không.

Kiểm toán viên cũng thực hiện việc đánh giá tính trung thực, trình độ và tưcách của người bảo về hàng tồn kho và người ghi chép, người kiểm tra, kiểm soáthàng tồn kho trên sổ sách đồng thời xem xét sự phụ thuộc của khách hàng với cácđơn vị khác về cung cấp vật tư, hàng hoá và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá không

 Hệ thống kế toán

Đối với hệ thống kế toán, kiểm toán viên quan tâm đế hệ thống chứng từ gốc

sử dụng trong chu trình Hàng tồn kho có đầy đủ và chứng từ sổ sách về hàng tồnkho có được lưu trữ bảo quản đúng theo quy định không Cũng như việc phâncông, phân nhiệm các cá nhân thực hiện việc ghi chép phản ánh các nghiệp vụnhập -xuất kho vật tư, thành phẩm, hàng hoá có hợp lý không và các quy định củaphòng kế toán đối với hàng tồn kho có khả năng kiểm soát được các sai phạmkhông

 Các thủ tục kiểm soát

Kiểm toán viên xem xét sự tồn tại của hệ thống quy chế kiểm soát về hàng tồnkho không, mức độ phù hợp và đầy đủ của các quy chế đó Điều này được thể hiệncác thủ tục này được xây dựng có dựa trên các nguyên tắc của thủ tục kiểm soát:Nguyên tắc bất kiêm nghiệm, nguyên tắc phân công phân nhiệm, nguyên tắc uỷquyền và phê chuẩn

 Kiểm toán nội bộ

Kiểm toán viên xét đơn vị khách hàng có tổ chức bộ phận kiểm toán nội bộkhông, bộ phận này có nhiệm vụ như thế nào về kiểm soát hàng tồn kho và đánhgiá sự hoạt động của bộ phận này đối với hàng tồn kho: kiểm toán nội bộ cóthường xuyên tiến hành kiểm tra, kiểm soát đối với hàng tồn kho không

Trang 20

Sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với chu trình hàng tồn kho là cơ

sở để kiểm toán viên tiến hành đánh giá sơ bộ về rủi ro kiểm soát cho từng khoảnmục cụ thể trong chu trình Thông thường việc đánh giá ban đầu về rủi ro kiểmsoát đối với chu trình hàng tồn kho được tiến hành qua các bước sau: nhận diện cácmục tiêu kiểm soát trong chu trình hàng tồn kho, nhận diện các quá trình kiểm soátđặc thù, nhận diện và đánh giá các nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ vàthự hiện đánh giá rủi ro kiểm soát Rủi ro kiểm soát được đánh sẽ là cơ sở để kiểmtoán viên lập kế hoạch kiểm toán cho từng khoản mục trong chu trình

Tuy nhiên khi tiến hành một cuộc kiểm toán chu trình Hàng tồn kho trongkiểm toán Báo cáo tài chính thì kiểm toán viên phụ thuộc vào để thực hiện sao chocông tác kiểm toán là hiệu quả nhất

1.5.Thiết kế các thử nghiệm kiểm soát, thử nghiệm cơ bản và chuẩn bị các điều kiện vật chất, kỹ thuật và các điều kiện khác cho thực hiện kiểm toán.

Sau khi đã tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và dự kiến rủi

ro kiểm soát đối với hàng tồn kho, kiểm toán viên sẽ thiết kế các thử nghiệm kiểmsoát, thử nghiệm cơ bản và chuẩn bị các điều kiện cần thiết phục vụ cho thực hiệnkiểm toán Hay nói cách khác kiểm toán viên sẽ thiết kế chương trình kiểm toáncho chu trình hàng tồn kho

Chương trình kiểm toán của hầu hết các cuộc kiểm toán nói chung và riêngcho các chu trình hay khoản mục đề thiết kế thành 3 phần: trắc nghiệm công việc,trắc nghiệm phân tích và trắc nghiệm trực tiếp số dư

Thử nghiệm kiểm soát chính là các trắc nghiệm đạt yêu cầu công việc trongtrắc nghiệm công việc, được thiết kế nhằm thu thập các bằng chứng kiểm toán về

sự thiết kế phù hợp và hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với chu trìnhhàng tồn kho

Thiết kế các thử nghiệm cơ bản trong kiểm toán báo cáo tài chính là việckiểm toán viên thiết kế các trắc nghiệm phân tích và trắc nghiệm trực tiếp số dư.Trắc nghiệm phân tích được thiết kế để kiểm toán viên đánh giá tính hợp lý chung

Ngày đăng: 06/11/2013, 09:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w