1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý thuế thu nhập cá nhân theo pháp luật việt nam qua thực tiễn thành phố bắc kạn, tỉnh bắc kạn

109 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau nhiều năm thực hiện và hai lần sửa đổi, bổ sung, Luật Thuế TNCN đã cho thấy vai trò quan trọng của mình; tuy nhiên, nhìn từ thực tiễn, có thể thấy được không ít những vướng mắc, hạn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ HƯƠNG LY

QU¶N Lý THUÕ THU NHËP C¸ NH¢N THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM QUA THùC TIÔN THµNH PHè B¾C K¹N, TØNH B¾C K¹N

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ HƯƠNG LY

QU¶N Lý THUÕ THU NHËP C¸ NH¢N THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM QUA THùC TIÔN THµNH PHè B¾C K¹N, TØNH B¾C K¹N

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 8380101.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS TRƯƠNG THỊ KIM DUNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Lê Hương Ly

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 8

1.1 Những vấn đề lý luận về quản lý thuế TNCN 8

1.1.1 Vài nét về thuế TNCN 8

1.1.2 Khái niệm quản lý thuế TNCN 13

1.1.3 Mục tiêu của hoạt động quản lý thuế TNCN 14

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý thuế TNCN 16

1.2 Những vấn đề lý luận pháp luật về quản lý thuế TNCN 19

1.2.1 Khái niệm pháp luật về quản lý thuế TNCN 19

1.2.2 Vai trò của pháp luật về quản lý thuế TNCN 20

1.2.3 Các bộ phận hợp thành pháp luật về quản lý thuế TNCN 21

1.2.4 Pháp luật về quản lý thuế TNCN của một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm với Việt Nam 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN 34

2.1 Thực trạng pháp luật về quản lý thuế TNCN ở Việt Nam 34

2.1.1 Về quản lý đối tượng nộp thuế TNCN 34

2.1.2 Về quản lý đăng ký thuế, mã số thuế TNCN 37

2.1.3 Về quản lý kê khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế TNCN 41

Trang 5

2.1.4 Về quản lý quyết toán thuế, hoàn thuế TNCN 45

2.1.5 Về quản lý miễn thuế, giảm thuế TNCN, giảm trừ gia cảnh 47

2.1.6 Về kiểm tra thuế, thanh tra thuế và xử lý vi phạm pháp luật về thuế TNCN 54

2.1.7 Về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế TNCN 61

2.1.8 Về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế TNCN 63

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về quản lý thuế TNCN tại Thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn 65

2.2.1 Khái quát về Thành phố Bắc Kạn và Chi cục thuế Thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn 65

2.2.2 Thực tiễn thực hiện công tác quản lý thuế TNCN tại Chi cục thuế Thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn 67

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 78

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM 79

3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế TNCN 79

3.1.1 Phát triển, bổ sung các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế năm 2019 theo hướng rõ ràng, cụ thể, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn 79

3.1.2 Xây dựng các quy định mới trong Luật thuế TNCN có sự thống nhất, đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan 80

3.1.3 Bổ sung quy định về quản lý thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản 82

3.1.4 Xây dựng cơ chế quản lý theo hướng thắt chặt kiểm soát, tăng cường giám sát về nguồn gốc, lượng thu nhập nhận được trên thực tế đối với các nguồn thu 83

3.1.5 Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính từ đó đưa ra chế tài xử phạt đủ sức răn đe đối với các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật thuế 83

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật quản lý thuế TNCN 84

3.2.1 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thuế TNCN đối với NNT và cán bộ quản lý thuế TNCN 84

Trang 6

3.2.2 Ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý thuế và hoàn

thiện các quy định của pháp luật về dịch vụ thuế điện tử 86

3.2.3 Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về thuế TNCN 87

3.2.4 Thúc đẩy hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho công chức quản lý thuế TNCN 89

3.2.5 Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong quản lý thuế TNCN 91

3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật quản lý thuế TNCN tại Chi cục thuế Thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn 92

3.3.1 Đối với UBND Thành phố Bắc Kạn 92

3.3.2 Đối với Chi cục thuế Thành phố Bắc Kạn 93

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 95

KẾT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 7

Cơ quan nhà nước

Cơ quan thuế

Mã số thuế Người nộp thuế Ngân sách nhà nước Thu nhập cá nhân

Ủy ban nhân dân

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thuế là công cụ quan trọng để tạo ra nguồn thu vào NSNN, đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho bộ máy nhà nước trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, khu vực hành chính công Trong đó, thuế TNCN là một trong những loại thuế trực thu có tác động lớn nhất, trực tiếp nhất đến đời sống xã hội Nó thể hiện rõ nét mối quan hệ trách nhiệm giữa nhà nước, công dân và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước

Luật Thuế TNCN được chính thức ban hành ngày 21/11/2007 thay thế Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã thực sự đánh dấu một bước ngoặt quan trọng, góp phần làm tăng nguồn thu cho NSNN Sau nhiều năm thực hiện và hai lần sửa đổi, bổ sung, Luật Thuế TNCN đã cho thấy vai trò quan trọng của mình; tuy nhiên, nhìn từ thực tiễn, có thể thấy được không ít những vướng mắc, hạn chế nhất định dẫn đến tình trạng gian lận, trốn thuế, không đảm bảo công bằng xã hội do cào bằng mức thu trong khi điều kiện sống ở mỗi vùng, mỗi địa phương là khác nhau… Hơn nữa, pháp luật về quản lý thuế khá phức tạp, có những nội dung quy định vẫn còn lỗ hổng nhưng có nội dung lại quy định quá chồng chéo dẫn tới khó thực hiện, quản lý, kiểm tra và giám sát

Để đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội ổn định, bền vững và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn hiện nay, việc hoàn thiện các chính sách tài chính trong đó có hệ thống chính sách thuế nói chung, thuế TNCN nói riêng là việc hết sức cần thiết, nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ phân bổ nguồn lực đồng thời giải quyết tốt các mối quan hệ giữa tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng, giữa tăng trưởng với công bằng xã hội và xóa đói giảm nghèo Bên cạnh đó, chính sách thuế phải phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế từng thời kỳ và phù hợp với thu nhập bình quân của mỗi người dân trong xã hội

Thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn có đặc điểm tự nhiên thuận lợi, lại là trung tâm hành chính – kinh tế của tỉnh nên ngày càng thu hút, tập trung đông dân

Trang 10

cư đổ về làm ăn, sinh sống Vì vậy, tỷ trọng nguồn thu từ thuế TNCN của Thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn là khá lớn so với tổng nguồn thu từ thuế TNCN của toàn tỉnh Bắc Kạn; cùng với sự phát triển nguồn thu đó thì việc thực hiện pháp luật

về quản lý thuế TNCN trên địa bàn này cũng phát sinh nhiều vấn đề trên thực tiễn hơn so với những đơn vị hành chính cấp huyện khác của tỉnh, do có nhiều hơn về số lượng và đa dạng nhóm đối tượng nộp thuế Trước thực tiễn đó, Chi Cục thuế Thành phố Bắc Kạn đã có biện pháp tích cực để tổ chức, triển khai thực hiện luật thuế TNCN; song một bộ phận NNT vẫn chưa có nhận thức đầy đủ, các văn bản hướng dẫn thi hành còn thiếu tính đồng bộ, bộ máy quản lý thuế còn có hạn chế nhất định… đã dẫn đến những bất cập trong công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn thành phố

Với mong muốn tìm hiểu cụ thể hơn về công tác quản lý thuế TNCN và hệ thống pháp luật điều chỉnh nó thông qua thực tiễn thi hành tại Chi Cục thuế Thành phố Bắc Kạn, góp phần nghiên cứu và tìm ra các giải pháp hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý thuế hiện đại trong quá trình hội nhập hiện nay Chính vì thế,

tôi đã chọn đề tài “Quản lý thuế thu nhập cá nhân theo pháp luật Việt Nam qua

thực tiễn Thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt

nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Qua khảo sát tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài nghiên cứu, thời gian qua lĩnh vực này đã được các tác giả quan tâm nghiên cứu trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở các cấp độ khác nhau, từ giáo trình, sách chuyên khảo, báo, tạp chí chuyên ngành, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Nhìn chung, nội dung được nghiên cứu trong các giáo trình như: Giáo trình

Quản lý thuế của TS Nguyễn Thị Bất – TS Vũ Huy Hào, Nhà xuất bản Thống kê

(2002); Giáo trình Quản lý thuế của Học viện Tài chính (2016); Giáo trình Luật

thuế Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân

(2018)… chủ yếu về những vấn đề lý luận bao gồm: khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, vai trò của quản lý thuế và pháp luật về quản lý thuế nói chung Khái niệm quản

Trang 11

lý thuế được phân tích theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp, từ đó các tác giả đưa ra những đặc điểm riêng của quản lý thuế so với các hoạt động quản lý hành chính khác của Nhà nước; bên cạnh đó làm rõ nguyên tắc, nội dung và vai trò của quản lý thuế làm cơ sở cho những nghiên cứu liên quan sau này Tuy nhiên, quản lý thuế TNCN và pháp luật về quản lý thuế TNCN mới chỉ là một phần nhỏ chưa được đi sâu nghiên cứu, trong số những nội dung được đề cập trong những giáo trình này

Ngoài ra, một số công trình cấp độ luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ cũng nghiên cứu về nội dung này Có thể chia thành hai nhóm như sau:

- Nhóm thứ nhất là những luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ đi sâu phân tích, làm rõ những quy định của pháp luật quản lý thuế cũng như luật thuế TNCN từ năm

2018 trở về trước, đây khoảng thời gian Luật Quản lý thuế năm 2019 chưa có hiệu lực thi hành và Luật thuế TNCN chưa được sửa đổi, bổ sung một số quy định mới như hiện nay Kể từ năm 2018 đến nay, cả pháp luật thực định và thực tiễn thi hành công tác quản lý thuế TNCN đã có nhiều điểm mới hơn so với trước kia Tuy nhiên, đây vẫn là những nguồn tài liệu hữu ích cung cấp cơ sở lý luận nền tảng cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về nội dung pháp luật quản lý thuế TNCN trong tương lai, đồng thời kiến nghị được nhiều giải pháp hiệu quả áp dụng trong xây dựng pháp luật và công tác quản lý thuế Nhóm công trình này bao gồm: Chung

Phương Anh (2014), So sánh pháp luật quản lý thuế TNCN ở Việt Nam với một số

nước trên thế giới, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà

Nội; Trần Thị Thu Huyền (2015), Pháp luật về quản lý thuế TNCN ở Việt Nam –

Thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội,

Hà Nội; Nguyễn Hải Ninh (2016), Kiểm soát thu nhập của NNT trong quá trình

thực hiện pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Đại học Luật Hà Nội,

Hà Nội; Nguyễn Thị Mai Dung (2018), Hoàn thiện pháp luật quản lý thuế TNCN ở

Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ, Học viện khoa học xã hội – Viện hàn lâm Khoa

học xã hội Việt Nam, Hà Nội

- Nhóm thứ hai là những luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ thu hẹp phạm vi nghiên cứu bằng cách nghiên cứu quy định của pháp luật gắn liền với thực tiễn thi

Trang 12

hành công tác quản lý thuế TNCN ở một địa phương, cụ thể ở cấp huyện hoặc cấp tỉnh Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu thông qua thực tiễn ở Thành phố

Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Cụ thể: Nguyễn Thị Hường (2015), Pháp luật về quản lý

thuế TNCN qua thực tiễn thi hành tại Chi cục thuế quận Kiến An, Thành phố Hải Phòng, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội; Nguyễn

Thị Thu (2016), Pháp luật về thuế TNCN từ thực tiễn tỉnh Thái Bình, Luận văn Thạc

sĩ, Học viện khoa học xã hội – Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội…

Ngoài ra, nhiều bài viết trên tạp chí khoa học chuyên ngành, báo điện tử cũng đề cập đến nội dung về pháp luật quản lý thuế TNCN với hệ thống các quy định liên quan; song các bài viết này chỉ đề cập đến từng khía cạnh nhỏ trong tổng thể của vấn đề, không còn mang tính cập nhật ở thời điểm hiện nay Có thể kể ra một số bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành và báo điện tử của cơ quan chuyên môn trong lĩnh vực thuế nói về thực tiễn thi hành pháp luật quản lý thuế TNCN và

đưa ra hướng cải cách, hoàn thiện như: Lê Thị Thu Thủy (2009), Những vấn đề đặt

ra khi thực hiện Luật Thuế TNCN ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 4; Nguyễn Thị

Mai Dung (2015), Kinh nghiệm quản lý thuế TNCN của một số nước trên thế giới

và bài học đối với Việt Nam, Tạp chí Thanh tra số 11/2015, trang 71-73; Trương Bá

Tuấn (2017), Cải cách chính sách thuế TNCN của Việt Nam hướng tới mục tiêu tái

cấu trúc ngân sách nhà nước, Cổng thông tin điện tử Viện Chiến lược và Chính

sách tài chính - Bộ Tài chính; Một vài bài viết đề cập đến hạn chế, vướng mắc về

giảm trừ gia cảnh trong thực tiễn như: Nguyễn Thị Mai Dung (2017), Một số vấn đề

giảm trừ gia cảnh và kê khai giảm trừ gia cảnh trong pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Tòa án nhân dân số 4/2017, trang 11-15; Việt Dũng (2019), Tổng cục Thuế thông tin về mức giảm trừ gia cảnh tính thuế TNCN, Tạp chí tài

chính – Bộ Tài chính

Nói chung, các công trình, bài báo nêu trên đều nghiên cứu về quản lý thuế TNCN ở các mức độ và phạm vi khác nhau Có công trình, bài báo nghiên cứu phân tích, bình luận một số khía cạnh pháp lý về quản lý thuế TNCN; cũng có những luận văn, luận án kết hợp đánh giá hệ thống pháp luật quản lý thuế TNCN trên cơ sở thực

Trang 13

tiễn thi hành tại địa phương; một số công trình khác nghiên cứu vấn đề này ở phạm vi rộng về chính sách thuế, trong đó có quản lý thuế TNCN Về cơ bản, các công trình nghiên cứu nêu trên phần nào đã chỉ ra tầm quan trọng của hệ thống pháp luật về quản lý thuế TNCN; tuy nhiên, nhiều nội dung không còn mang tính cập nhật, không phản ánh được những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn hiện nay Hệ thống pháp luật

về quản lý thuế nói chung và pháp luật về quản lý thuế TNCN nói riêng đã có những thay đổi để phù hợp với tình hình đất nước Cho đến nay chưa có luận văn thạc sĩ nào nghiên cứu hệ thống pháp luật về quản lý thuế TNCN trong bối cảnh Luật Quản lý thuế năm 2019 bắt đầu có hiệu lực thi hành, bên cạnh đó, cũng chưa có luận văn nào nghiên cứu về vấn đề này thông qua thực tiễn thi hành tại địa bàn Thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn

Chính vì thế, luận văn sẽ tiếp tục nghiên cứu làm mới thêm về hệ thống pháp luật quản lý thuế TNCN ở Việt Nam kết hợp đánh giá thông qua thực tiễn thi hành pháp luật trên địa bàn Thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn trên cơ sở kế thừa và phát huy những đóng góp của các công trình nghiên cứu trước đây liên quan đến pháp luật quản lý thuế TNCN

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu hệ thống pháp luật hiện hành về quản lý thuế TNCN và thực tiễn thực hiện pháp luật quản lý thuế TNCN ở Việt Nam, được minh chứng bởi một địa phương cụ thể là Thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Luận văn làm rõ được cơ sở lý luận của pháp luật quản lý thuế TNCN hiện nay; tìm hiểu, đánh giá thực trạng của các quy định và quá trình thực hiện pháp luật quản lý thuế TNCN trên địa bàn nghiên cứu; trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp giúp cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật quản lý thuế TNCN có hiệu quả hơn

Mục tiêu cụ thể

- Tìm đọc, tham khảo các tài liệu chuyên ngành về quản lý thuế TNCN để làm rõ cơ sở lý luận, những vấn đề liên quan đến công tác quản lý thuế TNCN nói chung và đặc biệt là về pháp luật về quản lý thuế TNCN suốt thời gian qua Trong

đó chú trọng đến các quy định của Luật thuế TNCN năm 2014 sửa đổi, bổ sung và

Trang 14

Luật quản lý thuế năm 2019 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành dưới luật được ban hành đã có hiệu lực pháp luật Ngoài ra cũng có sự so sánh các quy định mới và cũ nhằm thấy được sự tiến bộ của pháp luật, đánh giá sự ảnh hưởng của Luật quản lý thuế năm 2019 có hiệu lực từ ngày 01/07/2020

- Khảo sát, thu thập những dữ liệu, thông tin có liên quan đến nội dung nghiên cứu tại Chi Cục thuế Thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định về quản lý thuế TNCN đang có vướng mắc gì, ở khâu nào? Gắn với việc nghiên cứu pháp luật về quản lý thuế TNCN trên địa bàn Thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn là nghiên cứu khả năng thực hiện pháp luật ở mọi mặt để chỉ

ra ưu điểm, hạn chế và tìm ra nguyên nhân của những hạn chế đó

- Trên cơ sở những đánh giá trên, luận văn đề xuất, kiến nghị các giải pháp hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách, pháp luật về quản lý thuế TNCN, nâng cao trách nhiệm của CQT cũng như trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện pháp luật về quản lý thuế TNCN sao cho phù hợp với thực tế khách quan, nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực thi quản lý thuế TNCN

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các vấn đề về thuế và pháp luật

đối với quản lý thuế thu nhập cá nhân

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu pháp luật thuế về quản lý thuế thu

nhập cá nhân và thực tiễn thực hiện pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân tại thành phố Bắc Kạn

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Bên cạnh đó, luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: phương pháp thu thập thông tin, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp đánh giá, phương pháp thống kê Những phương pháp này sẽ được lồng ghép sử dụng sao cho phù hợp với từng nội dung nghiên cứu nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra, cụ thể như sau:

Trang 15

- Phương pháp thống kê, thu thập thông tin được sử dụng trong chương 1 và chương 2 để thu thập dữ liệu từ các tài liệu, công trình nghiên cứu, dự án khoa học, báo cáo tổng kết đã công bố nhằm đưa ra nhận định khách quan về nội dung nghiên cứu Những vấn đề đã được nghiên cứu trước đây được tác giả tiếp tục kế thừa; với các nội dung mới, vẫn còn bị bỏ ngỏ hay chưa được đào sâu sẽ được tác giả tiếp tục nghiên cứu thêm

- Phương pháp so sánh được sử dụng chủ yếu ở Chương 2 để đối chiếu các quy định cũ và mới của pháp luật về quản lý thuế TNCN nhằm tìm ra điểm bất cập, chưa thống nhất; sự tiến bộ trong hệ thống pháp luật về quản lý thuế TNCN sau khi được sửa đổi, bổ sung; điểm chưa phù hợp giữa quy định pháp luật với thực tiễn thực hiện; những vướng mắc khi đưa pháp luật áp dụng vào thực tế

- Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp được sử dụng chủ yếu trong chương 2 và chương 3 Phương pháp này giúp nghiên cứu thực trạng quy định của pháp luật về quản lý thuế TNCN và thực tiễn thực hiện công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn Thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn từ những dữ liệu, thông tin thu thập được trước đó Trên cơ sở đó, rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế TNCN

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được thiết kế thành 3 chương như sau:

• Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý thuế TNCN và pháp luật về

quản lý thuế TNCN

• Chương 2: Thực trạng pháp luật quản lý thuế TNCN ở Việt Nam và thực

tiễn thực hiện tại Thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn

• Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế TNCN nhằm

nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ở Việt Nam

Trang 16

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

1.1 Những vấn đề lý luận về quản lý thuế TNCN

1.1.1 Vài nét về thuế TNCN

1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm thuế TNCN

Khái niệm thuế thu nhập cá nhân

Thuế TNCN là sắc thuế có lịch sử lâu đời và được áp dụng phổ biến ở các quốc gia trên thế giới, mặc dù vậy chính sách thuế TNCN của mỗi quốc gia lại có

những điểm đặc thù riêng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội từng nước

Theo Từ điển Tiếng Việt do giáo sư Hoàng Phê chủ biên giải thích danh từ thu nhập là “các khoản thu nhập được trong một khoảng thời gian nhất định tính theo tháng năm”, khái niệm này được đưa ra khá chung chung, chưa đề cập đến các chi phí, khoản không tính vào thu nhập nhận được cuối cùng Bên cạnh đó, cũng trong cuốn Từ điển này động từ thu nhập có nghĩa là “nhận được tiền bạc, của cải vật chất từ một hoạt động nào đó” [38, tr.984], định nghĩa này tuy đã chỉ ra rõ hơn nhưng vẫn chưa thực sự bao quát được đầy đủ tất cả các trường hợp vì có những loại thu nhập phát sinh không phải do họ thực hiện “một hoạt động nào đó” mà được người khác biếu, tặng hoặc được thừa kế, trúng thưởng Những khoản thu nhập này tuy không mang tính chất thường xuyên nhưng cũng có ý nghĩa rất quan trọng

Theo Paul.A.Samuelson - Nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng: “Thu nhập là tổng số tiền kiếm được hoặc thu góp được trong một khoảng thời gian nhất định” Đây là những khoản thu dưới dạng tiền tệ hay hiện vật được tính thành tiền, nó bao gồm cả phần sản xuất để tự tiêu dùng, nhận được từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, từ lao động hoặc không từ lao động, từ quyền sở hữu về tài sản mà

có hoặc tiêu dùng các dịch vụ không phải thanh toán [11, tr.33]

Với cách tiếp cận của hai nhà kinh tế người Anh là R.M.Hais và H.C Simons đưa ra từ đầu thế kỷ XX thì: Thu nhập của một cá nhân được xem là sự gia

Trang 17

tăng về sức mua ròng của cá nhân đó trong một giai đoạn nhất định Nói cách khác,

đó là “tổng chi cho tiêu dùng” cộng với “sự gia tăng ròng về mức độ giàu có” của một cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định Ở đây TNCN được gọi là “thu nhập toàn diện” và thường bao quát tất cả các loại hình thu nhập mà một cá nhân nhận được dưới nhiều hình thức khác nhau Khái niệm này thể hiện được bản chất của thu nhập, đó là phần giá trị tăng thêm thực tế của từng cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định [50]

Từ những nhận định trên có thể thấy rằng, thu nhập của cá nhân có thể phát sinh từ rất nhiều nguồn khác nhau như: kinh doanh, tiền lương, đầu tư, chuyển nhượng, trúng thưởng, nhận quà biếu, nhận thừa kế Tuy nhiên, không phải tất cả thu nhập từ các nguồn của cá nhân đều là thu nhập tính thuế, thu nhập tính thuế được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế nhận được sau đó trừ đi những chi phí hợp lý và các khoản được giảm trừ Ngoài ra, do nguồn phát sinh của TNCN rất đa dạng nên chủ thể nhận được thu nhập cũng vô cùng phong phú bao gồm: cá nhân kinh doanh; người lao động; các nhà đầu tư; người được nhận thừa kế, quà tặng; cá nhân trúng thưởng…

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Liên và PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu thì thuế TNCN được hiểu là sắc thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của cá nhân phát sinh trong kỳ tính thuế [16, tr.221]

Trong cuốn Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt

Nam, tác giả Lê Văn Ái nhận định: Thuế TNCN là khoản thu bắt buộc đánh trên thu

nhập chịu thuế của cá nhân trong kỳ tính thuế theo quy định của pháp luật [17, tr.12]

Tác giả Huỳnh Văn Diện cho rằng thuế TNCN là một loại thuế đánh vào thu nhập của cá nhân do Nhà nước ban hành thành luật và được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh của Nhà nước” [11, tr 33-34]

Theo quan điểm của nhóm tác giả Giáo trình Luật thuế Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các cá nhân trong một năm, từng tháng hoặc

từng lần [34, tr.214]

Trang 18

Trong tất cả những quan điểm, nhận định nêu trên, tác giả đồng ý với quan điểm của các nhà khoa học pháp lý đưa ra trong Giáo trình Luật thuế Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, bởi nó chỉ rõ đặc điểm thuế TNCN là thuế trực thu, đối tượng nộp thuế TNCN là ai, đối tượng phải chịu loại thuế này là gì và trong những kì tính thuế nào Có thể thấy, nhận định về thuế TNCN này tương đối ngắn gọn, cụ thể nhưng vẫn có sự bao quát và đề cập đầy đủ các nội dung có liên quan

Tóm lại, thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực

nhận của các cá nhân trong một năm, từng tháng hoặc từng lần

Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân

- Thuế TNCN là loại thuế trực thu, vì có đối tượng nộp thuế đồng thời là đối tượng chịu thuế Tâm lý người dân ít bị tác động đối với khoản thuế mình phải chịu nếu đó là các loại thuế gián thu khác, bởi nó đã được tính sẵn trong giá thanh toán các loại hình sản phẩm, dịch vụ (như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt ) Còn thuế trực thu thường tạo ra phản ứng mạnh mẽ trong cộng đồng nếu có sự thay đổi về chính sách thuế suất, phạm vi đối tượng được miễn giảm; bởi thuế TNCN được trừ trực tiếp từ thu nhập từ tiền lương, tiền công theo tháng hoặc từng lần phát sinh thu nhập của mỗi cá nhân Phản ứng như thế nào phụ thuộc vào ý thức của các đối tượng nộp thuế và cơ cấu nền kinh tế

- Thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng, diện đánh thuế được xác định dựa trên căn cứ nguồn gốc phát sinh của khoản thu nhập và đặc điểm cư trú của cá nhân Thứ nhất, thu nhập chịu thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân thuộc diện đánh thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không bao gồm thu nhập miễn thuế Thứ hai, đối tượng phải kê khai nộp thuế TNCN là toàn bộ những người có thu nhập, bao gồm cả cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú

- Thuế TNCN thường là loại thuế có tính lũy tiến vì nó đóng vai trò trực tiếp đảm bảo công bằng xã hội Các quốc gia thường xây dựng một biểu thuế luỹ tiến có nhiều bậc, mỗi bậc ứng với mức thu nhập càng cao thì mức thuế suất biên càng cao Càng là những người có thu nhập cao thì càng phải đóng góp nhiều hơn so với những người có mức thu nhập thấp Điều này làm giảm dần mâu thuẫn và áp lực mất ổn định của đa số người nghèo, người có thu nhập thấp

Trang 19

- Thuế TNCN luôn gắn liền với chính sách xã hội của mỗi quốc gia [34, tr.214],

là công cụ điều tiết thu nhập dân cư Việc điều tiết thu nhập được tiến hành thông qua những quy định của pháp luật về mức thuế suất, các khoản thu nhập chịu thuế, bậc tính thuế Từ đó, có căn cứ xác định nghĩa vụ nộp thuế của mỗi cá nhân

1.1.1.2 Các yếu tố cấu thành thuế TNCN

Đối tượng nộp thuế TNCN

Yếu tố này là cơ sở để xác định rõ cá nhân nào có nghĩa vụ phải kê khai và nộp thuế TNCN theo quy định của pháp luật Đối tượng nộp thuế TNCN theo quy định là thể nhân hoặc pháp nhân có trách nhiệm nộp thuế TNCN cho Nhà nước Nhiều trường hợp người có trách nhiệm nộp thuế chính là người chịu thuế, nhưng cũng có trường hợp NNT không phải là người chịu thuế, ví dụ như trường hợp cá nhân, cơ quan chi trả thu nhập có trách nhiệm khấu trừ và nộp thay cho người chịu thuế khi được ủy quyền Gắn liền với yếu tố NNT là đặc điểm cư trú Cá nhân cư trú nộp thuế đối với thu nhập toàn cầu còn cá nhân không cư trú nộp thuế trên thu nhập có nguồn gốc phát sinh tại quốc gia, vùng lãnh thổ sở tại

Thu nhập chịu thuế TNCN

Thu nhập chịu thuế TNCN là tổng số các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công và các khoản thu nhập chịu thuế khác có tính chất tiền lương, tiền công mà cơ quan chi trả cho cá nhân (bao gồm cả các khoản tiền lương, tiền công nhận được do làm việc tại khu kinh tế) Không bao gồm: tiền ăn giữa ca, tiền ăn trưa; tiền phụ cấp điện thoại, phụ cấp trang phục; tiền công tác phí; thu nhập từ phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ

Các khoản giảm trừ đối với cá nhân cư trú

Giảm trừ gia cảnh bao gồm giảm trừ bản thân và giảm trừ người phụ thuộc, là

số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh

doanh, tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú [25, Điều 19]

Giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học đóng góp vào tổ chức, cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người tàn tật, người già không nơi nương tựa; đóng góp vào quỹ từ thiện, quỹ nhân đạo, quỹ khuyến học [36, Điều 20]

Trang 20

Giảm trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc bao gồm: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm

y tế, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc

Mức thuế suất TNCN

Đây là yếu tố quan trọng nhất của mỗi một sắc thuế, nó phản ánh chính sách điều chỉnh kinh tế - xã hội của Nhà nước, đồng thời cũng là mối quan tâm hàng đầu của mỗi NNT Việc xác định thuế suất trong một loại thuế vừa phải hướng đến coi trọng lợi ích quốc gia, vừa cần chú ý đến lợi ích chính đáng của NNT Thuế TNCN

có các loại mức thuế, thuế suất sau đây:

- Mức thuế cụ thể (tuyệt đối) được ấn định bằng một mức tuyệt đối dựa trên

cơ sở thuế

- Thuế suất nhất định là thuế suất được xác định bằng tỷ lệ phần trăm cụ thể trên thu nhập chịu thuế, không bị thay đổi theo quy mô của thu nhập chịu thuế Ví dụ, thuế suất thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh phân phối, cung cấp hàng hóa là 0,5% trên thu nhập chịu thuế; đối với cá nhân kinh doanh hoạt động cho thuê tài sản, đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, đại lý bán hàng đa cấp là 5% trên thu nhập chịu thuế…

- Biểu thuế suất lũy tiến là bảng tổng hợp các thuế suất hoặc mức thuế nhất định trong một sắc thuế Thuế suất lũy tiến là thuế suất tăng dần theo sự tăng lên của phần thu nhập tính thuế, gồm thuế suất lũy tiến từng phần và thuế suất lũy tiến toàn phần, cụ thể như sau:

+ Biểu thuế lũy tiến từng phần là biểu thuế gồm nhiều bậc, ứng với mỗi bậc

là một mức thuế suất tương ứng, thuế suất tăng dần theo từng bậc thuế Thuế được tính từng phần theo bậc thuế và mức thuế suất tương ứng của từng bậc, số thuế phải nộp là tổng số thuế tính cho từng bậc Theo Luật thuế TNCN năm 2014 sửa đổi, bổ sung, biểu thuế lũy tiến từng phần áp dụng đối với thu nhập tiền lương, tiền công

+ Biểu thuế lũy tiến toàn phần cũng là biểu thuế gồm nhiều bậc với mỗi mức tăng lên của thuế suất, nhưng toàn bộ cơ sở đánh thuế được áp dụng một mức thuế suất chung tương ứng Khác với biểu thuế lũy tiến từng phần, số thuế phải nộp được

Trang 21

tính bằng cách lấy toàn bộ thu nhập tính thuế để áp dụng vào mức thuế suất tương ứng Thuế suất luỹ tiến toàn phần cho phép xác định số thuế phải nộp khá đơn giản

và nhanh chóng

- Thuế suất luỹ thoái: là loại thuế suất có tính chất ngược lại với thuế suất luỹ tiến, tức là mức thuế suất giảm dần trong khi cơ sở đánh thuế lại tăng dần Đây là loại thuế suất không được áp dụng phổ biến

Chính sách miễn, giảm thuế TNCN

Miễn, giảm thuế được áp dụng với những trường hợp ngoại lệ nên thường được viết thành một chương hoặc những điều luật riêng biệt Trong đó quy định cụ thể những khoản thu nhập được loại trừ nghĩa vụ nộp thuế và các trường hợp đối tượng nộp thuế được giảm bớt số tiền thuế TNCN phải nộp so với thông thường (vì các lý do khách quan dẫn đến việc nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo) Ngoài ra còn bao gồm cả các quy định về điều kiện, thủ tục,

hồ sơ xét miễn, giảm thuế TNCN

1.1.2 Khái niệm quản lý thuế TNCN

Quản lý thuế là một nội dung của quản lý nhà nước về kinh tế và cũng là một nhánh quan trọng của quản lý tài chính công

Theo nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý trong Giáo trình

Quản lý thuế của Học viện Tài chính thì quản lý thuế là việc tổ chức thực thi pháp

luật thuế của nhà nước, tức là, quản lý thuế được hiểu là hoạt động tác động và điều hành của nhà nước đối với hoạt động thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT [17, tr.8]

Trong Giáo trình Quản lý chi tiêu công do tác giả Dương Thị Bình Minh chủ

biên thì quản lý thuế lại là những biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức năng thu NSNN thực hiện Đặt ra thuế là đặc quyền thuộc Nhà nước Lập kế hoạch thu, tổ chức thu thuế, kiểm tra, thanh tra và xử phạt thuế đương nhiên là những nghiệp vụ nội hàm đặc quyền đó [23, tr.139]

Theo cuốn tài liệu về Chiến lược Quản lý thuế của Tổng Cục thuế Latvia:

Quản lý thuế là một hệ thống những quá trình có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm mục tiêu đảm bảo thu thuế đúng, đủ và công bằng trên cơ sở quy định của pháp luật

Trang 22

thuế, bao gồm các hoạt động thu nhận hồ sơ khai thuế, tính toán số thuế phải nộp, đôn đốc thu nộp thuế và cung ứng dịch vụ tư vấn cho NNT [17, tr.8]

Tác giả Nguyễn Thị Mai Dung đưa ra nhận định quản lý thuế trong Luận án

Tiến sĩ Hoàn thiện pháp luật quản lý thuế TNCN ở Việt Nam hiện nay là quá trình

tác động của cơ quan quản lý thuế từ trung ương tới địa phương đến NNT nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật thuế, phát huy vai trò của thuế [12, tr.28]

Trên cơ sở những nghiên cứu, nhận định trên có thể nhận thấy rằng: Quản lý thuế là sự tác động có chủ đích của Nhà nước đến quá trình tổ chức quản lý thuế của

cơ quan thuế và thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế nhằm đảm bảo sự tuân

thủ pháp luật thuế và ổn định nguồn thu cho NSNN

Như vậy, quản lý thuế TNCN được hiểu là sự tác động có chủ đích đến quá

trình tổ chức quản lý thuế TNCN của CQT và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế TNCN của mỗi đối tượng nộp thuế nhằm đảm bảo tuân thủ pháp luật thuế TNCN, phát triển nguồn thu cho NSNN

1.1.3 Mục tiêu của hoạt động quản lý thuế TNCN

1.1.3.1 Hoạt động quản lý thuế TNCN góp phần tăng nguồn thu cho NSNN

để phát triển đất nước và đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững

Nền kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển, thu nhập bình quân đầu người dần tăng lên mà trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, nhu cầu chi tiêu ngân sách phục vụ các vấn đề an ninh – quốc phòng, an sinh xã hội, điều hành đất nước… ngày một nhiều hơn Bên cạnh đó là hàng loạt các loại thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu do yêu cầu tự do hóa thương mại dần được miễn giảm để thu hút nguồn lợi kinh tế từ nước ngoài, nên không thể phủ nhận rằng thuế TNCN là một nguồn thu quan trọng đối với NSNN ở thời điểm hiện tại và trong tương lai Vì thế, công tác quản lý thuế TNCN giúp Nhà nước ổn định nguồn thu, tránh thất thoát cho ngân sách và đảm bảo nền tài chính vững mạnh

1.1.3.2 Hoạt động quản lý thuế TNCN nhằm đảm bảo việc thực hiện thuế TNCN một cách nghiêm minh

Vì thuế TNCN là loại thuế trực thu, điều tiết vào thu nhập của các cá nhân

Trang 23

nên rất dễ tác động đến phản ứng của NNT hoặc làm phát sinh tình trạng trốn thuế, lậu thuế nếu mức thuế suất họ phải chịu quá cao Bên cạnh đó, thuế TNCN là sắc thuế có diện đánh thuế rộng và phân tán cho nên việc theo dõi, tính và thu thuế trong nhiều trường hợp là rất khó khăn Nếu không có biện pháp hiệu quả, phù hợp thì hoạt động quản lý thuế TNCN của Nhà nước không thể đảm bảo được tính nghiêm chỉnh, chính xác và đúng pháp luật

1.1.3.3 Hoạt động quản lý thuế TNCN góp phần tăng cường ý thức chấp hành pháp luật của người dân và tạo điều kiện cho NNT thực hiện tốt nghĩa vụ nộp thuế

Để nâng cao tính chủ động, tự giác của NNT trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế thì Luật Quản lý thuế đã được Nhà nước xây dựng và ban hành nhằm quy định

rõ thẩm quyền, trách nhiệm hỗ trợ cũng như giám sát, ngăn chặn hành vi vi phạm của CQT, song song với đó NNT có cần phải tự giác tuân thủ các quy định, phối hợp với cơ quan chức năng xuyên suốt quy trình quản lý Để hệ thống quy định trên đạt hiệu quả thì không thể không nhắc đến việc đưa pháp luật vào thực tiễn thông qua hoạt động quản lý thuế TNCN Nhờ có hoạt động quản lý thuế mà cơ quan thuế vừa có thể giúp đỡ NNT trong quá trình thực hiện thủ tục thuế, vừa có cơ chế giám sát, kiểm soát NNT nhằm giảm thiểu vi phạm; từ đó, nâng cao đáng kể ý thức chấp hành pháp luật của người dân, khuyến khích họ tự giác thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế với Nhà nước

1.1.3.4 Hoạt động quản lý thuế TNCN góp phần kiểm soát thu nhập của các

cá nhân và hạn chế tham nhũng

Hiện nay, tham nhũng là một “căn bệnh” của xã hội, không phân biệt khu vực công hay tư Hành vi tham nhũng ở khu vực ngoài nhà nước không khác gì khu vực công, thậm chí thủ đoạn ngày một tinh vi và kín kẽ hơn trước Đồng thời, do chưa kiểm soát được tài sản, thu nhập của các đối tượng khác trong xã hội nên việc dịch chuyển tài sản nhằm tránh sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền phòng, chống tham nhũng cũng gây khó khăn cho việc xác định tính trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập Bởi vì, trong thực tiễn những tài sản có giá trị lớn do tham nhũng mà có của người có chức vụ, quyền hạn thường được đứng tên người thân

Trang 24

thích hoặc những người khác có quan hệ thân thiết với họ [27] Vì vậy, việc tăng cường công tác quản lý thuế TNCN là biện pháp cần thiết nhằm bảo đảm kiểm soát được thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn kể cả trong khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân Bên cạnh đó, cần nghiên cứu ban hành pháp luật về thuế tài sản theo thông lệ quốc tế, đây là loại thuế sớm muộn nên được ban hành nhằm bổ sung cho thuế TNCN để hạn chế tham nhũng, vì thu nhập thì có thể dễ để che giấu nhưng tài sản thì không [24, tr.25]

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý thuế TNCN

1.1.4.1 Yếu tố cơ chế, chính sách pháp luật của nhà nước về quản lý thuế TNCN

Hoạt động quản lý thuế TNCN có đạt hiệu quả hay không phụ thuộc trực tiếp vào hệ thống cơ chế, chính sách pháp luật của Nhà nước về quản lý thuế TNCN Từ khi Luật Thuế TNCN số 04/2007/QH12 có hiệu lực, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện và kiện toàn hệ thống cơ chế, chính sách quản lý thuế TNCN sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn của Việt Nam và thông

lệ quốc tế tùy từng giai đoạn

Cơ chế, chính sách pháp luật là một hình thức thể hiện quan điểm của giai cấp thống trị Quan điểm của giai cấp này tác động trực tiếp đến việc xây dựng cơ chế, chính sách thuế; những cơ chế, chính sách đó lại tiếp tục không tạo ảnh hưởng đến quá trình thực hiện công tác quản lý thuế Mỗi chính sách ra đời ứng với quan điểm khác nhau sẽ tạo ra luồng tác động khác nhau đến các hoạt động quản lý hành chính Một hệ thống cơ chế, chính sách pháp luật hoàn chỉnh, chặt chẽ, có tính đồng

bộ cao, phù hợp, dễ thực hiện sẽ tăng tính hiệu quả của hoạt động quản lý thuế TNCN trong thực tiễn Vì nó là căn cứ để NNT thực hiện nghĩa vụ, bên cạnh đó, cũng là cơ sở để cơ quan thuế tiến hành quy trình quản lý, kiểm tra, xử phạt vi phạm trong trường hợp cần thiết Trái lại, hệ thống cơ chế, chính sách bao gồm những nội dung quá phức tạp, khó hiểu, khó áp dụng vào thực tiễn; đồng thời, quy định không

rõ ràng, nhất quán mà thủ tục hành chính lại rườm rà sẽ gây khó khăn cho cả cơ quan quản lý thuế và NNT sẽ làm tăng chi phí hành chính, lãng phí thời gian, giảm hiệu quả của công tác quản lý thuế TNCN

Trang 25

1.1.4.2 Yếu tố về ý thức chấp hành pháp luật của người nộp thuế TNCN

Thông qua công cụ pháp luật Nhà nước tạo ra tác động đến đời sống kinh tế -

xã hội của người dân cũng như các hoạt động quản lý hành chính của CQNN, cụ thể trong luận văn này là hoạt động quản lý thuế TNCN Ý thức chấp hành pháp luật thuế của NNT là một trong những yếu tố quan trọng có tác động phần nào tới hoạt động quản lý thuế TNCN của cơ quan chức năng, nó là hệ quả hành vi xuất phát từ trình độ hiểu biết của mỗi người Một xã hội có NNT với ý thức tuân thủ tốt là một

xã hội có cộng đồng dân cư có dân trí cao, nhận thức sâu sắc nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và trách nhiệm của bản thân đối với cộng đồng Thực tế, khi mỗi công dân nhận thức đúng đắn về quyền lợi an sinh xã hội và dịch vụ công cộng mà

họ được thụ hưởng là do nhà nước cung cấp, họ sẽ thấy rằng nghĩa vụ đóng thuế vào NSNN là điều nên làm Mỗi công dân có ý thức tự nguyện chấp hành pháp luật thuế TNCN sẽ khiến cho quy trình quản lý thu thuế được thực hiện hiệu quả, thuận lợi Từ đó, ngày càng giảm thiểu hành vi trốn thuế, đồng thời, quá trình làm việc cũng được giải quyết một cách nhanh gọn, chính xác, kịp thời Ngược lại, nếu ý thức chấp hành pháp luật của NNT kém sẽ dẫn đến tình trạng khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, thanh tra, kiểm tra thuế bị trì trệ, làm giảm hiệu suất giải quyết hồ

sơ của CQT, gây khó khăn cho CQT trong việc thực hiện công tác quản lý thuế TNCN Hậu quả khó tránh khỏi là nguồn thu thuế bị thất thoát, không đảm bảo công bằng giữa những NNT

Ý thức chấp hành pháp luật của NNT có thể từng bước cải thiện khi được cơ quan chức năng trong lĩnh vực quản lý thuế tiến hành tuyên truyền, giáo dục đầy đủ định kì Một khi người dân thực sự am hiểu pháp luật về thuế, có ý thức tự giác hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế của bản thân thì hiệu quả của công tác quản lý thuế không những sẽ rất cao, mà còn phát huy được tối đa chức năng của thuế TNCN

1.1.4.3 Yếu tố về trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý thuế TNCN và cơ sở vật chất của cơ quan quản lý thuế

Về trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý thuế TNCN

Trình độ, năng lực là một dạng khả năng chuyên biệt của cá nhân nhưng lại

Trang 26

có quan hệ mật thiết với quá trình thực hiện hành vi Việc thực thi pháp luật về quản

lý thuế TNCN chịu ảnh hưởng từ trình độ, năng lực quản lý của CQT, công chức thuế Bởi toàn bộ quy trình của hoạt động quản lý thuế đều do đội ngũ này vận hành, từ ban hành văn bản, tổ chức bộ máy quản lý, thực hiện quy định của pháp luật đến thanh tra, kiểm tra giám sát, xử lý vi phạm Các định hướng, chính sách muốn hoạt động hiệu quả, có tính thực tiễn cao, phù hợp với hoàn cảnh của đất nước thì cơ quan thuế, công chức thuế phải là tổ chức, cá nhân có năng lực, trình độ nhất định Cho nên mỗi cá thể trong đội ngũ công chức thuế ít nhất đều phải nắm chắc kiến thức nghiệp vụ cơ bản và không ngừng bồi dưỡng kỹ năng thực tế liên quan đến hoạt động quản lý thuế TNCN Đặc biệt đội ngũ lãnh đạo cần phải có kinh nghiệm dày dặn trong việc xử lý tình huống thực tế, có chuyên môn, nghiệp vụ sâu

và rộng trong mảng công việc do mình quản lý, để dẫn dắt cơ quan, đơn vị công tác thực hiện hiệu quả hoạt động quản lý thuế TNCN

Bên cạnh yếu tố về năng lực, trình độ thì phẩm chất đạo đức của mỗi cán bộ, công chức thuế cũng tác động mạnh mẽ đến công tác quản lý thuế TNCN Để có được một đội ngũ thực sự có chất lượng thì mỗi cán bộ, công chức phải là người có nhân cách tốt, luôn nhiệt huyết và có trách nhiệm với công việc được giao Ngoài ra, nên giải quyết công việc một cách mềm dẻo, linh hoạt, không cửa quyền, hách dịch nhưng cũng không được đi ngược lại với các quy định của chính sách pháp luật Có như vậy thì hoạt động quản lý thuế TNCN mới đạt được hiệu quả cao trên thực tế

Về cơ sở vật chất của cơ quan quản lý thuế

Quản lý thuế TNCN là một chuỗi công việc bao gồm tiếp nhận tờ khai đăng

kí MST, cấp MST; nhận, nhập, kiểm tra tờ khai thuế; liên hệ, trao đổi thông tin với các cơ quan, phòng, ban có liên quan; tuyên truyền, phổ biến pháp luật Những công việc này đòi hỏi sự tỉ mỉ, tính chính xác cao nhưng vẫn phải đảm bảo hoàn thành đầy đủ, kịp thời để tránh thất thoát nguồn thu Chính vì thế, muốn hoạt động quản lý thuế TNCN được diễn ra vừa nhanh chóng, hiệu quả vừa an toàn, tiết kiệm thời gian, công sức thì cơ sở vật chất của cơ quan quản lý thuế phải đáp ứng được đòi hỏi của công việc Đảm bảo cơ sở vật chất tốt phục vụ hoạt động của CQT là

Trang 27

điều hết sức cần thiết để công tác quản lý thuế TNCN trơn tru hơn; đồng thời, phải phát triển hơn nữa hệ thống cơ sở dữ liệu dành riêng cho ngành thuế, ứng dụng CNTT trong hoạt động quản lý thuế nhằm mục đích kiểm soát tốt thông tin và tra cứu nhanh khi có nhu cầu tìm kiếm

1.2 Những vấn đề lý luận pháp luật về quản lý thuế TNCN

1.2.1 Khái niệm pháp luật về quản lý thuế TNCN

Pháp luật quản lý thuế TNCN là công cụ hữu hiệu giúp điều tiết tất cả các khoản thu nhập thuộc sở hữu cá nhân, không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập vì vậy các quan hệ xã hội hình thành nên những khoản thu nhập này rất đa dạng: quan hệ kinh doanh, quan hệ lao động, quan hệ chuyển nhượng các quyền, quan hệ tín dụng Tùy theo đặc thù kinh tế - xã hội của từng nước mà việc xây dựng hệ thống pháp luật quản lý thuế TNCN là khác nhau Đây là hàng rào pháp lý được pháp luật quản lý thuế TNCN thiết lập để giúp các chủ thể tham gia vào quan

hệ này biết được đâu là giới hạn và khi vượt qua giới hạn đó họ sẽ phải gánh chịu những hậu quả như thế nào Hệ thống pháp luật quản lý thuế TNCN nói chung đều được cấu thành bởi hai bộ phận chính là các quy định về nội dung và các quy định

về hình thức Trong đó, pháp luật nội dung phản ánh chính sách thuế TNCN, còn pháp luật hình thức quy định các thủ tục hành chính liên quan đến vấn đề quản lý thuế TNCN Việt Nam xây dựng hệ thống pháp luật về quản lý thuế TNCN theo hướng ban hành Luật Thuế TNCN riêng biệt với Luật Quản lý thuế Khác với một

số nước quy định tất cả các sắc thuế chung trong bộ luật thuế vụ, bộ luật này vừa quy định về nội dung điều chỉnh của mỗi sắc thuế vừa quy định hồ sơ, thủ tục và cơ chế quản lý thuế [41]

Như vậy, pháp luật quản lý thuế TNCN là tổng thể các quy phạm pháp

luật do CQNN có thẩm quyền ban hành tạo cơ sở pháp lý cho sự tác động có chủ đích của Nhà nước, điều chỉnh quan hệ xã hội giữa Nhà nước với đối tượng nộp thuế và các chủ thể khác có liên quan phát sinh trong quá trình tổ chức quản lý thuế TNCN của CQT và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của NNT để đảm bảo tuân thủ pháp luật thuế TNCN, phát triển nguồn thu vào NSNN

Trang 28

1.2.2 Vai trò của pháp luật về quản lý thuế TNCN

1.2.2.1 Đối với Nhà nước

Thứ nhất, pháp luật về quản lý thuế TNCN tạo cơ sở pháp lý quan trọng

trong việc điều hành chính sách thuế và tổ chức thực hiện Luật thuế TNCN nhằm phát triển nguồn thu vào ngân sách, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Nói cách khác, Nhà nước sử dụng pháp luật về quản lý thuế TNCN như một công cụ hữu hiệu để thực hiện hoạt động quản lý thuế, thông qua việc quy định trình tự, thủ tục hành chính đối với nghiệp vụ quản lý thuế TNCN Hệ thống quy trình quản lý thuế nếu được quy định đầy đủ, thống nhất và minh bạch sẽ góp phần hạn chế tiêu cực trong công tác quản lý thuế; ngược lại, một quy trình quản lý không phù hợp khiến các mục tiêu mà chính sách thuế đặt ra khó có thể đạt được Có thể thấy, Luật Quản lý thuế có vai trò quan trọng, tạo ra tác động không nhỏ đến hiệu quả thực hiện luật thuế TNCN, bởi pháp luật về thuế TNCN là pháp luật nội dung còn pháp luật về quản lý thuế TNCN là pháp luật thủ tục

Thứ hai, pháp luật về quản lý thuế TNCN giúp nâng cao trách nhiệm của

CQNN, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động quản lý thuế TNCN Những cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm giám sát việc tuân thủ pháp luật thuế của tổ chức, cá nhân đúng theo quy trình, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật tùy từng trường hợp cụ thể Đối với một số cơ quan, tổ chức có liên quan, pháp luật quy định cụ thể trách nhiệm tích cực phối hợp với cơ quan quản

lý thuế trong trường hợp cần thiết như: cung cấp thông tin khi được yêu cầu, nộp báo cáo quyết toán thuế, hợp tác với cơ quan thuế trong việc xác định số thuế TNCN phải nộp (thông qua việc xác định nguồn phát sinh thu nhập, tập hợp các văn bản hợp pháp có liên quan…)

Thứ ba, pháp luật về quản lý thuế TNCN góp phần thực hiện kiểm soát thu

nhập của NNT Áp dụng luật thuế TNCN sẽ đảm bảo tính hợp lý, hiệu quả của hệ thống chính sách thuế trong việc hỗ trợ Nhà nước nắm được thông tin về thu nhập của mỗi cá nhân góp phần phòng, chống tham nhũng, lãng phí

Trang 29

1.2.2.2 Đối với xã hội

Thứ nhất, pháp luật về quản lý thuế TNCN là công cụ góp phần đảm bảo sự

bình đẳng và công bằng xã hội Luật thuế TNCN ra đời góp phần thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, nhờ các quy định về giảm trừ gia cảnh và biểu thuế lũy tiến đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công Người có thu nhập thấp hơn mức giảm trừ gia cảnh thì chưa phải nộp thuế, người có thu nhập cao hơn phải nộp thuế theo mức thuế suất tương ứng với khoản thu nhập kiếm được Bên cạnh

đó, những người có thu nhập tương đương nhưng hoàn cảnh sống khác nhau thì mức nộp thuế cũng có sự khác biệt Vì thế, nguyên tắc công bằng giữa các tầng lớp dân cư được đảm bảo và khoảng cách thu nhập được điều tiết hiệu quả

Thứ hai, pháp luật về quản lý thuế TNCN có vai trò quan trọng trong việc

đảm bảo ý thức tuân thủ pháp luật của NNT và cả lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật quản lý thuế TNCN Về cơ bản mặt bằng dân trí sẽ được nâng cao nếu được tuyên truyền, phổ biến đầy đủ, thường xuyên và đúng cách những nội dung cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của CQT cũng như quy định chi tiết về quyền và nghĩa vụ của NNT Khi mức độ hiểu biết của nhân dân đã được cải thiện thì Nhà nước cũng sẽ không tiêu tốn nhiều nguồn lực trong việc ổn định xã hội

Thứ ba, pháp luật về quản lý thuế TNCN nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập

quốc tế Để đảm bảo phát triển xã hội ổn định, bền vững và chủ động hội nhập kinh

tế quốc tế, việc tiếp tục hoàn thiện các chính sách tài chính trong đó hệ thống chính sách thuế là hết sức cần thiết, nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ phân bổ nguồn lực đồng thời giải quyết tốt các mối quan hệ giữa tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng, giữa tăng trưởng với công bằng xã hội và xóa đói giảm nghèo

1.2.3 Các bộ phận hợp thành pháp luật về quản lý thuế TNCN

Pháp luật về quản lý thuế TNCN được cấu thành bởi các bộ phận pháp luật chủ yếu sau đây:

- Pháp luật quản lý thuế đối với đối tượng nộp thuế TNCN;

- Pháp luật quản lý thuế đối với việc đăng ký thuế, cấp mã số thuế TNCN;

Trang 30

- Pháp luật quản lý thuế đối với việc kê khai, nộp thuế, ấn định thuế TNCN;

- Pháp luật quản lý thuế đối với công tác quyết toán thuế, hoàn thuế TNCN;

- Pháp luật quản lý thuế đối với việc miễn thuế, giảm thuế TNCN và giảm trừ gia cảnh;

- Pháp luật quản lý thuế đối với công tác kiểm tra, thanh tra thuế và xử lý vi phạm pháp luật về thuế TNCN

- Pháp luật quản lý thuế đối với cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế TNCN;

- Pháp luật quản lý thuế đối với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế TNCN

1.2.3.1 Pháp luật về quản lý thuế đối với đối tượng nộp thuế TNCN

Vì là thuế trực thu nên đối tượng chịu thuế TNCN đồng thời là đối tượng nộp thuế Việc xác định đối tượng nộp thuế dựa trên quy định tại Điều 2 Luật Thuế TNCN năm 2014 sửa đổi, bổ sung Việc quản lý đối tượng nộp thuế chủ yếu dựa trên thông tin NNT, bao gồm thông tin về NNT và thông tin liên quan đến nghĩa vụ của NNT Cơ quan thuế có trách nhiệm bảo mật thông tin NNT; đồng thời, NNT cũng có trách nhiệm cung cấp những thông tin có liên quan đến việc thực hiện nghĩa

vụ thuế của mình Quản lý đối tượng nộp thuế TNCN là cơ sở chủ đạo giúp CQT xác định nhân thân NNT, nguồn phát sinh thu nhập có thể có của NNT hoặc tình trạng thực hiện nghĩa vụ nộp thuế TNCN của NNT đối với Nhà nước

1.2.3.2 Pháp luật quản lý thuế đối với đăng ký thuế, cấp mã số thuế TNCN

Đăng ký thuế TNCN là việc NNT thực hiện các thủ tục cần thiết để được cơ quan quản lý thuế cấp một mã số, từ đó cá nhân bắt đầu thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước thông qua MST của mình Đây là bước đầu tiên giúp cơ quan quản lý xác định các đối tượng có nghĩa vụ phải nộp thuế nhưng cũng là bước đặc biệt quan trọng với hoạt động quản lý thuế TNCN, thông tin của NNT cung cấp trong tờ khai thuế giúp Nhà nước dễ dàng kiểm soát được thu nhập của người lao động góp phần tối đa hóa nguồn thu NSNN

Bên cạnh đó, Tổng cục Thuế đã ứng dụng giao dịch điện tử vào quy trình

Trang 31

quản lý thuế nhằm giảm thiểu tiêu cực, thời gian và chi phí thực hiện thủ tục hành chính Điều này đã và đang tạo ra những thay đổi tích cực đối với công tác quản lý trên toàn hệ thống cơ quan thuế, được Nhà nước khuyến khích áp dụng Hiện tại NNT có thể đăng ký thuế bằng hai phương pháp là đăng ký thuế trực tiếp và đăng

ký thuế điện tử trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế

1.2.3.3 Pháp luật quản lý thuế đối với kê khai, nộp thuế, ấn định thuế TNCN

Về kê khai thuế TNCN

Khi phát sinh nghĩa vụ thuế TNCN, NNT bắt buộc phải kê khai thuế theo quy định của pháp luật Kê khai thuế TNCN là việc NNT tự xác định số thuế phải nộp phát sinh trong kỳ kê khai thuế trừ trường hợp có quy định khác Bên cạnh đó,

họ phải tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu được khai trong hồ sơ, cũng như đảm bảo đã kê khai trung thực các nội dung của tờ khai và nộp đủ các loại chứng từ, tài liệu có liên quan cho cơ quan quản lý thuế Cơ quan quản lý thuế thông qua việc kê khai thuế mà thu thập được thông tin NNT, kiểm soát được thu nhập của các đối tượng nộp thuế theo chu kì nhất định Có thể coi đây là khâu có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình quyết toán thuế TNCN

Về nộp thuế TNCN

Nộp thuế TNCN là việc NNT đưa số tiền thuế TNCN phải nộp cho cơ quan quản lý thuế, sau đó các cơ quan kho bạc hoặc ngân hàng sẽ chuyển toàn bộ tiền thu được vào NSNN Thuế TNCN được nộp thông qua các hình thức: tiền mặt, chuyển khoản, bù trừ với số tiền thuế đã nộp thừa Đây là bước tiếp theo NNT phải thực hiện sau khi kê khai thuế nhằm hoàn thành nghĩa vụ thuế của mình với Nhà nước Nhằm mục đích giảm phiền hà, tạo điều kiện thuận lợi cho NNT khi thực hiện các thủ tục hành chính về thuế, khi xây dựng pháp luật các nhà làm luật đã gắn liền thời hạn nộp thuế với thời hạn nộp hồ sơ khai thuế với nhau Vì thế, nội dung quy định pháp luật về nộp thuế và kê khai thuế không tách rời mà luôn đi liền với nhau

Về ấn định thuế TNCN

Pháp luật quản lý thuế TNCN chỉ liệt kê các trường hợp bị ấn định thuế được quy định trong Chương V của Luật Quản lý thuế năm 2019 Nhưng có thể hiểu, ấn

Trang 32

định thuế là việc cá nhân phải thực hiện nghĩa vụ thuế theo một con số nhất định mà CQT đưa ra Khi NNT theo phương pháp kê khai vi phạm pháp luật thuế thì CQT

có quyền ấn định số thuế phải nộp hoặc xác định mức thuế đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán thuế Việc ấn định thuế TNCN được CQT thực hiện dựa trên cơ sở dữ liệu CQT thu thập được, tài liệu và kết quả thanh tra, kiểm tra còn hiệu lực và căn cứ vào những thông tin khác có liên quan Sau đó CQT mới ra thông báo nộp thuế theo nguyên tắc: khách quan, công bằng, đúng pháp luật

1.2.3.4 Pháp luật quản lý thuế đối với việc quyết toán thuế, hoàn thuế TNCN

Về quyết toán thuế TNCN

Sau khi kết thúc một năm dương lịch mỗi NNT phải thực hiện hoạt động quyết toán thuế để xác định nghĩa vụ thuế TNCN trong năm của mình, việc quyết toán thuế được xác định theo nơi nhận thu nhập và mức độ thường xuyên của thu nhập Theo quy định, các đối tượng phải thực hiện quyết toán thuế TNCN bao gồm:

Tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập (doanh nghiệp) và cá nhân có thu nhập (người lao động) Cá nhân có trách nhiệm tự quyết toán hoặc có thể ủy quyền cho doanh nghiệp quyết toán thuế thay cho mình nếu đủ điều kiện được ủy quyền theo quy định của pháp luật NNT có thể chọn 1 trong 2 cách quyết toán là trực tiếp trên website thuế điện tử hoặc sử dụng phần mềm HTKK

Về hoàn thuế TNCN

Căn cứ theo quy định của Luật thuế TNCN năm 2014 sửa đổi, bổ sung và các văn bản hướng dẫn thi hành, có thể hiểu: Hoàn thuế TNCN là việc cá nhân được Nhà nước hoàn lại phần tiền thuế đã nộp hoặc tạm nộp trong các trưởng hợp pháp luật quy định Hoàn thuế là phương thức quản lý thuế theo nguyên tắc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của NNT

1.2.3.5 Pháp luật quản lý thuế đối với việc miễn thuế, giảm thuế TNCN và giảm trừ gia cảnh

Về miễn thuế, giảm thuế TNCN

Bên cạnh việc quy định cụ thể các loại thu nhập chịu thuế, Luật thuế TNCN còn quy định các khoản thu nhập được miễn, giảm thuế TNCN trong những điều

Trang 33

luật riêng biệt nhằm mục đích nhân đạo, hướng tới hỗ trợ đời sống nhân dân, giảm bớt khó khăn cho NNT Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, việc miễn, giảm thuế là biện pháp ưu đãi, khuyến khích phát triển sản xuất trong nước khi các rào cản thuế quan bị bãi bỏ Tuy nhiên, thực hiện việc miễn, giảm thuế cũng có tính hai mặt, nó chứa đựng những yếu tố tích cực, tạo điều kiện thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước nhưng cũng chứa đựng các yếu tố tiêu cực, có thể làm méo mó những ý tưởng ban đầu khi thiết lập chính sách thuế, không phù hợp với những tiêu chuẩn của một hệ thống thuế hiện đại

Về giảm trừ gia cảnh

Hầu hết các nước đều có quy định về giảm trừ gia cảnh, biểu hiện rõ nét nhất của tính công bằng theo chiều ngang trong điều tiết thu nhập Cùng thu nhập như nhau nhưng người có hoàn cảnh khó khăn hơn (ví dụ có nhiều người phải nuôi dưỡng, bị tàn tật ) cần được giảm trừ nhiều hơn người có điều kiện thuận lợi Kinh nghiệm rút ra từ các nước trên thế giới có thể theo 2 cách: giảm trừ cá nhân và giảm trừ tiêu chuẩn Là một nước đang phát triển, Việt Nam lựa chọn áp dụng hình thức giảm trừ tiêu chuẩn để đảm bảo việc tính toán được đơn giản nhất căn cứ vào cơ cấu thu nhập và chi tiêu của dân cư Pháp luật quy định mức giảm trừ gia cảnh khoán bằng một số tiền nhất định với mỗi đối tượng nộp thuế và từng người phụ thuộc

1.2.3.6 Pháp luật quản lý thuế đối với việc kiểm tra thuế, thanh tra thuế và

xử lý vi phạm pháp luật về thuế TNCN

Về thanh tra, kiếm tra thuế TNCN

Pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế là bộ phận quan trọng của pháp luật quản lý thuế Trong tổng thể công tác quản lý thu thuế TNCN thì việc thanh tra, kiểm tra thuế TNCN là vô cùng quan trọng Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế TNCN được hiểu là hoạt động giám sát của CQT đối với các giao dịch liên quan đến nguồn gốc phát sinh nghĩa vụ thuế, tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của mỗi cá nhân Thanh tra, kiểm tra thuế TNCN nhằm mục đích đánh giá tính đầy đủ, chính xác, trung thực của các chứng từ, hồ sơ

mà NNT đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan quản lý thuế; đồng thời, đánh giá mức

Trang 34

độ tuân thủ pháp luật về thuế của NNT và cả của công chức thuế, phát hiện những hành vi vi phạm Từ đó, đảm bảo việc thực thi pháp luật thuế TNCN đạt hiệu quả, ngăn chặn hành vi trái pháp luật của các đối tượng nộp thuế TNCN

Về xử lý vi phạm pháp luật về thuế TNCN

Xử lý vi phạm về thuế là một khâu trong quy trình quản lý thuế nói chung và thuế TNCN nói riêng Xử lý vi phạm pháp luật thuế TNCN có thể được hiểu là việc chủ thể có thẩm quyền quyết định áp dụng các chế tài xử lý phù hợp với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật thuế TNCN căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành Mọi hành vi vi phạm pháp luật thuế đều phải được phát hiện và

xử lý nghiêm khắc Tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm mà mỗi NNT sẽ

bị áp dụng những cách thức xử phạt khác nhau để đảm bảo pháp luật thuế được thực hiện một cách triệt để, công bằng

1.2.3.7 Pháp luật quản lý thuế đối với việc cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế TNCN

Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính là khâu cuối cùng trong quy trình quản lý thuế nói chung và quy trình quản lý thuế TNCN nói riêng, thể hiện quyền lực của nhà nước qua cơ chế cưỡng chế thi hành và bắt buộc tuân thủ Các biện pháp cưỡng chế hành chính về thuế được áp dụng đối với những hành vi chưa đến mức bị xử lý bằng biện pháp hình sự, trong trường hợp đã bị truy tố về tội trốn thuế thì không bị áp dụng cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế nữa, việc truy thu số tiền trốn thuế sẽ do tòa án quyết định trong bản án Nếu cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế kịp thời và xử lý đúng đối tượng, sẽ giúp đảm bảo được nguồn thu ổn định vào NSNN

1.2.3.8 Pháp luật quản lý thuế về ứng dụng CNTT trong quản lý thuế TNCN

Trong khi số lượng NNT ngày càng nhiều, nguồn phát sinh thu nhập chịu thuế đa dạng mà đội ngũ nhân lực của ngành chỉ có hạn thì việc ứng dụng CNTT vào công tác quản lý thuế TNCN trong những năm gần đây đã thể hiện rõ ưu điểm của nó Nhờ việc ứng dụng rộng rãi dịch vụ điện tử trong tất cả các khâu nên thủ tục hành chính thuế đã được đơn giản hóa hơn trước rất nhiều, giảm thiểu chi phí

Trang 35

không cần thiết cho NNT, tối ưu hóa quy trình quản lý Hiện nay, NNT có thể truy cập vào Cổng dịch vụ công quốc gia để thực hiện thủ tục nộp thuế điện tử và tiến hành đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế Ngoài ra, ngành thuế cũng triển khai Hệ thống quản lý thuế tập trung (TMS) hỗ trợ 63 cục thuế và các chi cục thuế trong công tác quản lý Tuy nhiên, việc quản lý nguồn dữ liệu có dung lượng lớn cũng là thách thức đối với ngành thuế khi các chính sách pháp luật thay đổi liên tục mà việc nâng cấp ứng dụng tương đối mất thời gian

1.2.4 Pháp luật về quản lý thuế TNCN của một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm với Việt Nam

1.2.4.1 Pháp luật về quản lý thuế TNCN của một số quốc gia trên thế giới

Trên cơ sở điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà nội dung các quy định về pháp luật thuế nói chung và pháp luật quản lý thuế TNCN nói riêng ở mỗi quốc gia lại có

sự khác biệt thể hiện ở một số khía cạnh sau:

Về quản lý đối tượng nộp thuế TNCN

Thuế TNCN của hầu hết các nước trên thế giới hiện nay xác định đối tượng nộp thuế TNCN dựa trên hai nguyên tắc sau đây:

- Nguyên tắc đánh thuế theo cư trú (hay gọi tắt là nguyên tắc cư trú): Một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc quy định đối tượng cư trú là người có nhà ở hoặc có thời gian cư trú từ một năm trở lên, đối tượng không cư trú chỉ có mặt

ở nước sở tại dưới một năm Còn các nước như Malaysia, Thái Lan, Singapore, Indonesia… quy định chung đối tượng cư trú là những người có thời gian sinh sống ở nước sở tại từ 182 hoặc 183 ngày trở lên trong năm tính thuế hoặc 12 tháng liên tục, nếu không thỏa mãn điều kiện trên thì không được coi là cá nhân cư trú [20, tr.20]

- Nguyên tắc đánh thuế theo nguồn phát sinh thu nhập: Công dân cư trú phải chịu thuế với thu nhập phát sinh ở nước sở tại và thu nhập có nguồn gốc từ nước ngoài, trong khi đó cá nhân không cư trú chỉ phải nộp thuế TNCN đối với các khoản thu nhập phát sinh ở nước sở tại Riêng Hồng Kông quy định cả cá nhân cư trú và không cư trú đều chỉ phải chịu thuế với các khoản thu nhập phát sinh tại Hồng

Trang 36

Kông, do ở đây thu hút nhiều người nước ngoài đến làm việc, đầu tư trong khi công dân trong nước thường ít khi xuất ngoại để làm ăn, sinh sống [20, tr.21]

Về xác định thu nhập chịu thuế TNCN

Đa số các nước đều xác định thu nhập chịu thuế và phân loại chúng theo nguồn hình thành: Thu nhập từ lao động; từ sản xuất kinh doanh; thu nhập từ tài sản như cho thuê, chuyển nhượng tài sản, thừa kế, quà tặng, quà biếu; thu nhập từ đầu

tư gián tiếp như tiền lãi, cổ tức, thu nhập được chia từ các hoạt động góp vốn; thu nhập khác [1, tr.74]

Có hai cách xác định thu nhập chịu thuế gồm: thu nhập đã nhận (thu nhập gộp) hay thu nhập đã nhận được trừ một số khoản chi phí tạo ra thu nhập (thu nhập ròng)

- Xác định thu nhập chịu thuế trên thu nhập gộp: Trường hợp này thu nhập tính thuế là toàn bộ số tiền mà NNT đã nhận, không phân biệt đã bỏ ra ít hay nhiều chi phí để tạo ra thu nhập tính thuế Cách này đơn giản nhưng không đảm bảo được

sự công bằng Trước đây, nước ta đã áp dụng phương pháp xác định này trong Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao [20, tr.21]

- Xác định thu nhập chịu thuế trên thu nhập ròng: Hầu hết các nước hiện nay (Nhật Bản, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, ) đều xác định thu nhập chịu thuế là tổng thu nhập trừ đi tổng các khoản được giảm trừ của đối tượng đó trong kỳ tính thuế, không bao gồm các khoản được miễn thuế Tổng các khoản được giảm trừ là tổng chi phí phát sinh trong kỳ tính thuế và các khoản được phép trừ khác theo quy định như bảo hiểm bắt buộc, giảm trừ gia cảnh cho đối tượng nộp thuế [20, tr.22]

Về chính sách miễn, giảm thuế TNCN

Tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội, tình hình chính trị của từng quốc gia mà chính sách miễn, giảm thuế ở mỗi nước là khác nhau Chính sách này gắn liền với chế độ an sinh xã hội, thể hiện tính nhân đạo, giúp người dân giảm bớt gánh nặng về thuế Vì chính sách miễn giảm thuế ảnh hưởng trực tiếp đến số thu vào NSNN của mỗi quốc gia cho nên để xác đúng đối tượng được miễn, giảm các nước thường phải quy định chặt chẽ các điều kiện kèm theo và công khai đầy đủ quy trình, thủ tục xin xét miễn, giảm thuế thu nhập

Trang 37

Phạm vi các khoản thu nhập được miễn thuế cũng có sự khác biệt giữa các nước Ngoài việc cho phép miễn thuế đối với những khoản thu nhập cơ bản, Trung Quốc còn cho phép miễn thuế đối với trợ cấp thôi việc đối với người lao động hay trợ cấp xuất ngũ đối với quân nhân, trợ cấp định cư đối với cán bộ, công chức nhà nước… Ngoài ra, một số quốc gia còn có quy định thêm những khoản thu nhập được miễn thuế có tính chất đặc thù để thu hút đầu tư tùy thuộc vào định hướng chính sách của mỗi nước, ví dụ cho phép miễn thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn (Nam Phi, Argentina), thu nhập từ các chương trình tiết kiệm nhà ở dài hạn, thu nhập của hộ gia đình sản xuất nông nghiệp trong phạm vi nhất định được miễn thuế (Hàn Quốc) [45]

Về các khoản giảm trừ gia cảnh

- Giảm trừ cho cá nhân NNT: Đây là khoản được loại trừ ra khỏi thu nhập tính thuế, không xem xét đến “hành vi” sử dụng thu nhập của cá nhân NNT Lý do áp dụng khoản giảm trừ chung xuất phát từ lập luận cho rằng mỗi cá nhân cần phải có một mức thu nhập nhất định nhằm đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của cuộc sống

- Giảm trừ cho người phụ thuộc: Áp dụng cho những người mà đối tượng nộp thuế phải nuôi dưỡng; tuy nhiên, phạm vi người phụ thuộc của các nước có sự khác biệt và được xác định dựa trên các tiêu chí khác nhau Cụ thể, mức giảm trừ quy định cho người phụ thuộc ở một số nước thấp hơn so với mức giảm trừ cho cá nhân NNT giống với Việt Nam, trong khi đó Anh, Mỹ lại quy định mức giảm trừ cá nhân cho NNT tương đương với người phụ thuộc Ngoài ra, nhiều nước khống chế

số lượng người phụ thuộc được tính giảm trừ gồm Thái Lan, Indonesia, Malaysia nhưng có nước không khống chế như Mỹ, Anh Hay như Trung Quốc không quy định riêng mức giảm trừ cho người phụ thuộc và cho cá nhân NNT mà quy định một mức chung [1, tr.56]

- Các khoản giảm trừ có tính chất đặc thù: Đây là khoản giảm trừ mà đối tượng nộp thuế được hưởng khi đáp ứng được một số tiêu chí nhất định, ví dụ chi tiêu cho các khoản mục mà nhà nước khuyến khích như y tế, giáo dục… Khi xây dựng khoản giảm trừ đặc thù, các nước đều khống chế mức tối đa cho từng loại

Trang 38

giảm trừ và muốn được hưởng các khoản giảm trừ này NNT phải xuất trình được các chứng từ liên quan

Về đăng ký thuế TNCN

Nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Singapore, Thái Lan, Mỹ, Anh, Pháp đã thay đổi quan điểm về vị trí NNT trong hệ thống thuế để đảm bảo nguồn thu cho NSNN, tạo tâm lý tốt cho NNT thu nhập cá nhân Từ quan niệm NNT trong

hệ thống quản lý thuế là đối tượng bị quản lý sang vị trí khách hàng, đồng thời chuyển từ mô hình Nhà nước quản lý sang Nhà nước phục vụ [20, tr.55] Chiến lược này thực sự có hiệu quả, tạo động lực cho NNT hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ thuế của mình với Nhà nước cho nên Việt Nam đang từng bước học hỏi và áp dụng quan điểm này nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế TNCN

Về kê khai thuế TNCN

Hiện nay trên thế giới có hai cách quản lý kê khai thuế TNCN như sau:

- Kê khai toàn bộ được áp dụng ở Úc, Canada, Mỹ và Singapore… Theo đó,

cá nhân có thu nhập đạt tới một mức nào đó (mức tối thiểu – gọi là ngưỡng kê khai) mới phải nộp tờ khai thuế Nguyên tắc này dùng cho cả những cá nhân có thu nhập duy nhất từ tiền lương do người sử dụng lao động trả [32], [33]

- Kê khai hạn chế được áp dụng ở Đức, Nhật Bản, Hà Lan, Anh… Cụ thể, nhiều cá nhân không phải nộp tờ khai thuế mà bị đánh thuế từ việc khấu trừ tại nguồn thông qua hệ thống khấu trừ tiền lương nhằm làm giảm sức ép từ yêu cầu kê khai đối với các cá nhân có nhiều nguồn thu nhập [31]

Về kiểm tra, thanh tra NNT

Nhìn chung, Luật Quản lý thuế các quốc gia đều quy định: thẩm quyền của CQT; các nội dung về thanh tra, kiểm tra thuế; trách nhiệm cung cấp sổ sách, tài liệu có liên quan của NNT và bên thứ ba phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra thuế… để đảm bảo minh bạch, hiệu quả trong công tác quản lý

Bên cạnh các quy định của pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế thì một số nước sử dụng thêm tài liệu, công cụ hỗ trợ khác nhằm nâng cao chất lượng quản lý:

Sổ tay nghiệp vụ thanh tra thuế được phát hành và tái bản nhiều lần tại Hà

Trang 39

Lan, trở thành công cụ đắc lực cho CQT hoàn thành nhiệm vụ [13] Sổ tay hỗ trợ, hướng dẫn các đơn vị thuộc quyền quản lý của CQT xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm với một phương án khả thi nhất về cách thức, biện pháp, thời gian điều tra căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ hàng năm và năng lực của CQT Bên cạnh đó, Sổ tay đưa ra những quy định về tổ chức nhân sự và một số điều cấm; phải giữ lời hứa và các cam kết, không đánh mất sự tin tưởng của NNT

Tại Australia, pháp luật quy định hệ thống thuế được quản lý công khai và cân đối giữa chức năng giáo dục và cưỡng chế Các ngành có độ rủi ro cao khi sử dụng biện pháp thanh toán tiền mặt sẽ phải chịu nhiều đợt thanh tra, kiểm tra Đặc biệt là loại hình kinh doanh dịch vụ khách sạn, câu lạc bộ, xây dựng, bán lẻ phương tiện gắn máy, vải và dệt [32] Quy định kết hợp công tác hỗ trợ NNT tự giác khai nộp thuế, một số lĩnh vực cụ thể đã được CQT đặt trọng tâm kiểm tra theo từng phân khúc thị trường, mỗi nhóm NNT sẽ có các biện pháp, kỹ năng nghiệp vụ trọng tâm tương ứng Sử dụng chương trình tuân thủ đối với các doanh nghiệp lớn giúp CQT dự báo được số thu, xác định và xử lý những rủi ro lớn về thuế

1.2.4.2 Kinh nghiệm với Việt Nam

Mặc dù nền kinh tế đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng trình độ quản lý

ở nước ta chỉ mới đạt mức trung bình so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới Vì thế cần liên tục học hỏi tiếp thu tinh hoa từ kinh nghiệm quốc tế về quản lý thuế TNCN, trên cơ sở đó tiến hành chọn lọc những nội dung đơn giản, phù hợp, khả thi, dễ áp dụng với đại đa số NNT Mỗi quy định được ban hành đều có sự tác động nhất định đến công tác quản lý thuế cho nên các nhà làm luật vẫn cần phải cân nhắc cẩn thận, kỹ lưỡng nếu có ý định thay đổi theo xu thế chung

Nước ta nên học hỏi phương pháp quản lý thuế trực thu theo hướng ổn định, cảnh báo kịp thời biến động và gia tăng đều nguồn thu NSNN trong bối cảnh số thu

từ thuế gián thu đang được điều chỉnh giảm dần như hiện nay Đồng thời đẩy mạnh

áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro vào toàn bộ quy trình quản lý thuế TNCN để

có thể giám sát, kiểm soát hiệu quả những đối tượng có mức độ rủi ro cao

Tiếp cận xu hướng quan điểm coi NNT là khách hàng chứ không phải đối

Trang 40

tượng bị quản lý để khuyến khích NNT tự nguyện tuân thủ quy định về thực hiện nghĩa vụ thuế TNCN Cơ chế này hoạt động dựa trên tính tự giác, đề cao sự tự chủ,

tự chịu trách nhiệm của đối tượng nộp thuế giúp CQT giảm bớt gánh nặng trong công tác quản lý

Pháp luật Việt Nam hiện nay xác định mức giảm trừ căn cứ vào cơ cấu thu nhập, chi tiêu của dân cư, trên cơ sở đó khoán từng khoản giảm trừ phù hợp áp dụng với mỗi đối tượng Bài học từ kinh nghiệm quản lý thuế TNCN về giảm trừ gia cảnh

là muốn xác định chính xác người phụ thuộc thì phải có sự kết hợp, trao đổi thông tin thường xuyên với cơ quan có chức năng quản lý về hộ tịch, bảo hiểm xã hội

Việt Nam nên áp dụng phương pháp kê khai hạn chế để loại bỏ yêu cầu phải nộp tờ khai thuế đối với tất cả các đối tượng chịu thuế Thay vì phải xử lý số lượng lớn tờ khai thuế gây tốn kém nguồn lực thì kê khai hạn chế giúp CQT tập trung nguồn lực quản lý vào việc kiểm soát những đối tượng có rủi ro cao như các cơ sở kinh doanh nhỏ, cá nhân hành nghề tự do, đối tượng có nhiều nguồn thu nhập… nhờ đó giảm thiểu một phần chi phí tuân thủ với những đối tượng này

Trong giai đoạn hội nhập sâu rộng như hiện nay, việc nỗ lực điều chỉnh, hoàn thiện chính sách pháp luật theo các nguyên tắc, chuẩn mực của pháp luật quốc tế mà vẫn phù hợp với tình hình phát triển của đất nước là cần thiết để đảm bảo có đủ cơ sở pháp lý cho việc thực hiện các cam kết quốc tế đã kí kết Một hệ thống pháp luật thuế nói chung và pháp luật quản lý thuế TNCN nói riêng có chất lượng tốt sẽ tạo ra sức hút hấp dẫn nguồn vốn đầu tư và lao động có trình độ cao từ nước ngoài

Ngày đăng: 02/03/2021, 09:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chung Phương Anh (2014), So sánh pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới
Tác giả: Chung Phương Anh
Năm: 2014
2. Bộ Tài chính (2017), Tờ trình Đề nghị xây dựng Luật Quản lý thuế (sửa đổi), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tờ trình Đề nghị xây dựng Luật Quản lý thuế (sửa đổi)
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2017
3. Bộ Tài chính (2018), Dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi) ngày 27/7/2018 kèm theo Văn bản số 8991/BTC-TCT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi) ngày 27/7/2018 kèm theo Văn bản số 8991/BTC-TCT
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2018
4. Bộ Tài chính (2019), Quyết định 110/QĐ-BTC ngày 14/01/2019 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Chi cục thuế quận, huyện, thị xã, thành phố và Chi cục thuế khu vực trực thuộc Cục Thuế tỉnh, thành phố, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 110/QĐ-BTC ngày 14/01/2019 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Chi cục thuế quận, huyện, thị xã, thành phố và Chi cục thuế khu vực trực thuộc Cục Thuế tỉnh, thành phố
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2019
5. Chi cục thuế khu vực Bắc Kạn – Chợ Mới – Bạch Thông (2020), Báo cáo Tổng kết công tác thuế năm 2019; Nhiệm vụ và giải pháp công tác thuế năm 2020, Bắc Kạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết công tác thuế năm 2019; Nhiệm vụ và giải pháp công tác thuế năm 2020
Tác giả: Chi cục thuế khu vực Bắc Kạn – Chợ Mới – Bạch Thông
Năm: 2020
6. Chi cục thuế khu vực Bắc Kạn – Chợ Mới – Bạch Thông (2020), Báo cáo Sơ kết công tác thuế 6 tháng đầu năm 2020; Nhiệm vụ và giải pháp công tác thuế 6 tháng cuối năm 2020, Bắc Kạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Sơ kết công tác thuế 6 tháng đầu năm 2020; Nhiệm vụ và giải pháp công tác thuế 6 tháng cuối năm 2020
Tác giả: Chi cục thuế khu vực Bắc Kạn – Chợ Mới – Bạch Thông
Năm: 2020
7. Chi cục thuế Thành phố Bắc Kạn (2017), Báo cáo Tổng kết công tác thuế năm 2016; Nhiệm vụ và giải pháp công tác thuế năm 2017, Bắc Kạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết công tác thuế năm 2016; Nhiệm vụ và giải pháp công tác thuế năm 2017
Tác giả: Chi cục thuế Thành phố Bắc Kạn
Năm: 2017
8. Chi cục thuế Thành phố Bắc Kạn (2018), Báo cáo Tổng kết công tác thuế năm 2017; Nhiệm vụ và giải pháp công tác thuế năm 2018, Bắc Kạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết công tác thuế năm 2017; Nhiệm vụ và giải pháp công tác thuế năm 2018
Tác giả: Chi cục thuế Thành phố Bắc Kạn
Năm: 2018
9. Chi cục thuế Thành phố Bắc Kạn (2019), Báo cáo Tổng kết công tác thuế năm 2018; Nhiệm vụ và giải pháp công tác thuế năm 2019, Bắc Kạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết công tác thuế năm 2018; Nhiệm vụ và giải pháp công tác thuế năm 2019
Tác giả: Chi cục thuế Thành phố Bắc Kạn
Năm: 2019
10. Chính phủ (2013), Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
11. Huỳnh Văn Diện (2016), Pháp luật thuế thu nhập cá nhân từ thực tiễn Thành phố Cần Thơ, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật thuế thu nhập cá nhân từ thực tiễn Thành phố Cần Thơ
Tác giả: Huỳnh Văn Diện
Năm: 2016
12. Nguyễn Thị Mai Dung (2018), Hoàn thiện pháp luật quản lý thuế TNCN ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật quản lý thuế TNCN ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Dung
Năm: 2018
13. Nguyễn Thúc Hương Giang và Đào Thanh Bình (2014), “Đánh giá rủi ro trong thanh tra, kiểm tra thuế và bài học cho Việt Nam”, Tạp chí Tài chính (5), tr.20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá rủi ro trong thanh tra, kiểm tra thuế và bài học cho Việt Nam”, "Tạp chí Tài chính
Tác giả: Nguyễn Thúc Hương Giang và Đào Thanh Bình
Năm: 2014
14. Vũ Huy Hào và Nguyễn Thị Bất (2002), Giáo trình quản lý thuế, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý thuế
Tác giả: Vũ Huy Hào và Nguyễn Thị Bất
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2002
15. Hoàng Trần Hậu (2018), “Huy động nguồn lực vào ngân sách từ kinh tế hộ sản xuất kinh doanh”, Tạp chí Tài chính, (694), tr.13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động nguồn lực vào ngân sách từ kinh tế hộ sản xuất kinh doanh”, "Tạp chí Tài chính
Tác giả: Hoàng Trần Hậu
Năm: 2018
16. Học viện Tài chính (2009), Giáo trình Nghiệp vụ thuế, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nghiệp vụ thuế
Tác giả: Học viện Tài chính
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2009
17. Học viện Tài chính (2016), Giáo trình Quản lý thuế, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý thuế
Tác giả: Học viện Tài chính
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2016
19. Nguyễn Thị Hường (2015), Pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân qua thực tiễn thi hành tại Chi cục thuế quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân qua thực tiễn thi hành tại Chi cục thuế quận Kiến An, thành phố Hải Phòng
Tác giả: Nguyễn Thị Hường
Năm: 2015
20. Trần Thị Thu Huyền (2015), Pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Trần Thị Thu Huyền
Năm: 2015
51. UBND Thành phố Bắc Kạn (2012), Tổng quan Thành phố Bắc Kạn, Cổng Thông tin điện tử Thành phố Bắc Kạn, website:https://tpbackan.backan.gov.vn/, (truy cập lúc 20:56 ngày 11/09/2020) Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w