1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp thúc đẩy ứng dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam thời hội nhập

121 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp thúc đẩy ứng dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam thời hội nhập Một số giải pháp thúc đẩy ứng dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam thời hội nhập luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 1

NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở

VIỆT NAM THỜI KỲ HỘI NHẬP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN VIỆT HÀ

Trang 2

1.1.1 Khái niệm, phương tiện kỹ thuật, hình thức, mô hình, lợi ích

1.3 Kinh nghiệm phát triển TMĐT ở một số quốc gia……… 29

1.3.1 Tình hình phát triển Thương mại điện tử ở một số quốc gia 29 1.3.2 Những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ việc phát triển

TMĐT ở các nước……… 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TMĐT TRONG CÁC

2.1 Đặc điểm nền kinh tế Việt Nam thời kỳ sau hội nhập và những

cơ hội thách thức đối với TMĐT Việt Nam 36

2.1.1 Những thành tựu đáng ghi nhận……… 36

2.1.2 Những hạn chế, bất cập……… 38

2.2 Cơ hội và thách thức của TMĐT Việt Nam sau thời kỳ hội nhập

WTO 39

2.2.1 Cơ hội của TMĐT Việt Nam 40

2.2.2 Thách thức của TMĐT Việt Nam 41

Trang 3

Thương mại điện tử ở Việt Nam ……… 42

2.3.1 Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng….……… 42

2.3.2 Tình hình phát triển Thương mại điện tử ở Việt Nam ……… 53

2.4 Thực trạng ứng dụng Thương mại điện tử trong các DNNVV ở Việt Nam……… 56

2.4.1 Tình hình chung về phát triển các yếu tố để ứng dụng TMĐT trong các DN 56

2.4.2 Mức độ ứng dụng TMĐT trong các DNNVV 64

2.4.3 Thực trạng phát triển các mô hình TMĐT trong các DNNVV 69 2.5 Một số đánh giá chung 77

2.5.1 Đánh giá rút ra từ phân tích thực trạng phát triển TM trong các DNNVV ở Việt Nam 77

2.5.2 Những thách thức đặt ra đối với việc phát triển TMĐT trong các DNNVV ở Việt Nam 82

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TMĐT TRONG CÁC DNNVV Ở VIỆT NAM 86

3.1 Xu hướng, mục tiêu và định hướng phát triển Thương mại điện tử trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam 86

3.1.1 Xu hướng phát triển 86

3.1.2 Quan điểm phát triển 88

3.1.3 Mục tiêu phát triển 92

3.1.4 Định hướng phát triển TMĐT Việt Nam đên năm 2010 97

3 2 Một số giải pháp phát triển TMĐT trong các DNNVV tại Việt Nam

98 3.2.1 Một số giải pháp phát triển TMĐT từ phía Chính phủ 98

3.2.2 Một số giải pháp phát triển TMĐT từ phía DN 111

KẾT LUẬN……… 117

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Thành tựu to lớn của công nghệ thông tin trong những thập kỷ qua đã tạo ra nhiều ứng dụng mới, là tiền đề “số hoá” cho các hoạt động kinh tế - xã hội của thế kỷ 21, một trong những ứng dụng được kỳ vọng mang lại lợi ích khổng lồ về kinh tế vào thập niên cuối thế kỷ 20 và phát triển mạnh mẽ hơn 8 năm trở lại đây là “Thương mại điện tử” Tuy mới chỉ hình thành vào thập niên cuối thế kỷ 20 và phát triển mạnh mẽ hơn 8 năm trở lại đây, nhưng thương mại điện tử đã có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến lĩnh vực kinh tế - xã hội, ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động của con người, và hơn nữa đây không phải là một hiện tượng kinh tế nhất thời, mà là xu thế tất yếu không thể đảo ngược

Thương mại điện tử đang đặt ra một cơ hội bình đẳng cho tất cả các nước phát triển Ứng dụng thương mại điện tử tiết kiệm thời gian, chi phí giao dịch, cho phép các doanh nghiệp có thể bán sản phẩm trên toàn thế giới mà không cần xuất khẩu trực tiếp hay xây dựng hệ thống kênh phân phối truyền thống ở nước ngoài Sự khác biệt duy nhất đặt ra đối với các nước phát triển và đang phát triển thương mại điện tử chính là vấn đề về cơ sở hạ tầng và tiềm năng thị trường Với cơ sở hạ tầng thông tin, thể chế phù hợp, sức mua lớn các nước phát triển sẽ có nhiều thuận lợi hơn so với các nước thế giới thứ ba trong việc khai thác và phát triển thương mại điện tử

Việt Nam là một nước đang phát triển Dù còn nhiều hạn chế về cơ sở

hạ tầng kỹ thuật, pháp lý, nhận thức của xã hội về bản chất và lợi ích của thương mại điện tử còn chưa cao, nhưng điều đó không có nghĩa là Việt Nam chưa có điều kiện phát triển thương mại điện tử, hay phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam trong hoàn cảnh hiện nay là chưa phù hợp Ngược lại, phát triển thương mại điện tử sẽ rút ngắn quá trình hội nhập của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế khu vực thế giới Phát triển thương mại điện tử giúp các doanh

Trang 5

nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận và tận dụng những thành tựu trên thế giới để phát triển

Chiếm hơn 90% tổng số doanh nghiệp, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam đóng vai trò to lớn trong phát triển nền kinh tế đất nước GDP do các doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo ra hàng năm chiếm tỷ trọng khá lớn, đảm bảo thực hiện những chỉ tiêu tăng trưởng của nền kinh tế Các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam hàng năm đóng góp khoảng 30 % GDP; 30 % giá trị sản phẩm công nghiệp, 78 % tổng mức bán lẻ; 64% tổng lượng vận chuyển hàng hoá, 100% tổng giá trị sản lượng hàng hoá ở một số ngành như: giày dép và hàng thủ công

mỹ nghệ Ngoài ra, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng góp phần không nhỏ trong việc giải quyết các vấn đề xã hội như tạo việc làm cho lao động, nâng cao đời sống nhân dân Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế đất nước đang hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế thế giới là việc làm cần được cả xã hội quan tâm

Vai trò của thương mại điện tử trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và đối với sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng đã được thừa nhận trên thế giới cũng như ở Việt Nam thời gian qua Tuy nhiên, khả năng ứng dụng cũng như khai thác những tiện ích mà thương mại điện tử mang lại của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện tại đến đâu, cần có những giải pháp gì để đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam là điều cần làm trong giai đoạn hiện nay

Vì vậy, tôi chọn thực hiện đề tài “Một số giải pháp thúc đẩy ứng dụng

Thương mại điện tử trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam thời kỳ hội nhập” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ cho mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

*Mục đích nghiên cứu:

Trang 6

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về ứng dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Đánh giá thực trạng phát triển thương mại điện tử trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam từ khi Việt Nam gia nhập WTO đến nay và đưa ra các giải pháp nhằm phát triển thương mại điện tử trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về thương mại điện tử và doanh nghiệp nhỏ và vừa để làm rõ cơ sở khoa học phát triển thương mại điện tử trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Khảo sát và đánh giá thực trạng phát triển thương mại điện tử trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển thương mại điện tử trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển thương

mại điện tử tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam

b Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung: Luận văn chủ yếu nghiên cứu vấn đề phát triển thương mại

điện tử của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam tập trung ở 3 thành phố lớn: Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng Ngoài ra, những vấn đề vĩ mô và kinh nghiệm của một số nước về phát triển thương mại điện tử cũng được luận văn

đề cập tới nhằm làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu của đề tài

- Về thời gian nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình

phát triển thương mại điện ở các doanh nghiêp nhỏ và vừa Việt Nam từ khi Việt Nam gia nhập WTO đến nay

Trang 7

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tôi đã thực hiện một cuộc khảo sát tình hình ứng dụng Thương mại điện tử ở các DNVVN qua phiếu điều tra tới 30 doanh nghiệp ở 3 thành phố lớn là Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng ở các ngành nghề khác nhau Sau khi có số liệu thống kê đó, cộng với các “Báo cáo thương mại điện tử” của Bộ Công thương tổng hợp hàng năm, Luận văn đã tổng hợp các phương pháp sau để giải quyết các vấn đề đặt ra của đề tài: Tổng hợp, thống

kê, So sánh đánh giá, Mô tả, phân tích

5 Bố cục của luận văn

Nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương:

- Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về ứng dụng thương mại điện tử

trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Chương II: Thực trạng phát triển thương mại điện tử trong các doanh

nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam thời kỳ hội nhập

- Chương III: Các giải pháp phát triển thương mại điện tử trong các doanh

nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam thời kỳ hội nhập

Trang 8

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ỨNG DỤNG TMĐT

TRONG CÁC DNNVV 1.1 Một số vấn đề lý luận chung về thương mại điện tử

1.1.1 Khái niệm, các phương tiện kỹ thuật, hình thức, mô hình, lợi ích và

hạn chế của TMĐT

1.1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử

Thương mại điện tử (TMĐT) là một lĩnh vực mới mẻ cả từ tên gọi và cách tiếp cận Xuất phát từ những quan điểm nhìn nhận khác nhau, hiện nay một số tên gọi hay được nhắc đến nhiều như: TMĐT trực tuyến (onlineTrade), thương mại điều khiển học (Cyber Trade), thương mại không giấy tờ (Paperless Commerce hoặc là Paperless Trade) Đặc biệt nổi bật nhất là: TMĐT (Electronic Commerce), kinh doanh điện tử (Electronic Business) Gần đây, tên gọi TMĐT được sử dụng nhiều rồi trở thành quy ước chung, đưa vào văn bản pháp luật quốc tế, dù với các tên gọi khác vẫn có thể được dùng và được hiểu cùng một nội dung

Về bản chất, TMĐT là việc sử dụng các phương pháp điện tử để thực hiện các hoạt động thương mại, nói chính xác hơn TMĐT là việc trao đổi

thông tin thương mại và mua bán hàng hoá, dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử, mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch

Hiện nay định nghĩa thương mại điện tử được rất nhiều tổ chức quốc tế đưa ra song chưa có một định nghĩa thống nhất về thương mại điện tử Nhìn một cách tổng quát, các định nghĩa thương mại điện tử được chia thành hai nhóm tuỳ thuộc vào quan điểm:

Trang 9

Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử chỉ đơn thuần bó hẹp thương mại điện tử trong việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử, nhất là qua Internet và các mạng liên thông khác

Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), "Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán

và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet"

Theo Uỷ ban Thương mại điện tử của Tổ chức hợp tác kinh tế châu Thái Bình Dương (APEC), "Thương mại điện tử là công việc kinh doanh được tiến hành thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số"

Á-Theo nghĩa rộng, Thương mại điện tử được hiểu là các giao dịch tài chính

và thương mại bằng phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện tử, chuyển tiền điện tử và các hoạt động như gửi/rút tiền bằng thẻ tín dụng

Theo quan điểm này, có hai định nghĩa khái quát được đầy đủ nhất phạm

vi hoạt động của Thương mại điện tử:

Luật mẫu về Thương mại điện tử của Uỷ ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa: "Thuật ngữ thương mại (commerce) cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh

từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng Các quan hệ mang tính thương mại (commercial) bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, uỷ thác hoa hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công trình;

tư vấn, kỹ thuật công trình (engineering); đầu tư; cấp vốn, ngân hàng; bảo hiểm; thoả thuận khai thác hoặc tô nhượng, liên doanh và các hình thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ"

Trang 10

Theo định nghĩa này, có thể thấy phạm vi hoạt động của thương mại điện

tử rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, trong đó hoạt động mua bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một phạm vi rất nhỏ trong thương mại điện

tử

Theo Uỷ ban châu Âu: "Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và hình ảnh"

Theo quan điểm thứ hai nêu trên, "thương mại" (commerce) trong

"thương mại điện tử" không chỉ là buôn bán hàng hoá và dịch vụ (trade) theo cách hiểu thông thường, mà bao quát một phạm vi rộng lớn hơn nhiều, do đó việc áp dụng thương mại điện tử sẽ làm thay đổi hình thái hoạt động của hầu hết nền kinh tế Theo ước tính đến nay, thương mại điện tử có tới trên 1.300 lĩnh vực ứng dụng, trong đó, buôn bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một lĩnh vực ứng dụng

Ngày nay người ta hiểu khái niệm thương mại điện tử thông thường là tất

cả các phương pháp tiến hành kinh doanh và các quy trình quản trị thông qua các kênh điện tử mà trong đó Internet hay ít nhất là các kỹ thuật và giao thức được sử dụng trong Internet đóng một vai trò cơ bản và công nghệ thông tin được coi là điều kiện tiên quyết

1.1.1.2 Các phương tiện kỹ thuật của TMĐT

Sự ra đời và phát triển của TMĐT dựa trên ba nền tảng cơ bản: công nghệ thông tin, cơ sở pháp luật thừa nhận giá trị của các giao dịch điện tử và sự hoàn chỉnh về hệ thống tiêu chuẩn hoá trong công nghiệp và thương mại TMĐT sử dụng các phương tiện kỹ thuật điện tử như: điện thoại, máy fax, các thiết bị thông tin tự động, mạng nội bộ, liên mạng nội bộ và mạng toàn cầu Internet

- Điện thoại là một phương tiện phổ thông dễ sử dụng và thường mở đầu cho các cuộc giao dịch thương mại Với sự phát triển của điện thoại di động,

Trang 11

liên lạc qua vệ tinh, ứng dụng của điện thoại đang và sẽ trở nên ngày càng rộng rãi hơn.Tuy nhiên, trên quan điểm kinh doanh, công cụ điện thoại chỉ truyền tải được âm thanh, mọi giao dịch cuối cùng vẫn phải thực hiện trên giấy tờ

- Máy fax có thể thay thế dịch vụ đưa thư và gửi công văn truyền thống Nhưng máy fax không thể truyền tải được âm thanh, hình ảnh động, hình ảnh ba chiều và chi phí sử dụng còn cao

- Truyền hình đóng vai trò quan trong trong thương mại, nhất là trong quảng cáo hàng hoá, ngày càng có nhiều người mua hàng nhờ xem quảng cáo

và đã có một số dịch vụ được cung cấp qua truyền hình

- Thiết bị kỹ thuật thanh toán điện tử: là công cụ không thể thiếu trong thương mại điện tử Thông qua các hệ thống thanh toán điện tử và chuyển tiền điện tử mà bản chất là các phương tiện tự động chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác, thanh toán điện tử sử dụng rộng rãi các máy rút tiền tự động, thẻ tín dụng, thẻ mua hàng, thẻ thông minh, thẻ từ

- Mạng nội bộ và liên mạng nội bộ: Theo nghĩa rộng, mạng nội bộ là toàn

bộ mạng thông tin và các hình thức liên lạc giữa các MTĐT trong một cơ quan,

xí nghiệp Theo nghĩa hẹp, đó là mạng kết nối nhiều máy tính ở gần nhau - gọi

là mạng cục bộ (LAN); hoặc nối kết máy tính trong một khu vực rộng lớn hơn - gọi là mạng miền rộng (WAN) Hai hay nhiều mạng nội bộ liên kết với nhau tạo thành liên mạng nội bộ - có thể gọi là “mạng ngoại bộ” (EXTRANET)

- Internet và Web: Khi nói đến Internet, là nói tới một phương tiện liên kết các mạng với nhau trên phạm vi toàn cầu trên cơ sở giao thức chuẩn quốc tế TCP/IP Internet tạo ra bước phát triển mới của ngành truyền thông, chuyển từ thế giới “một mạng, một dịch vụ” sang thế giới “một mạng, nhiều dịch vụ” và

đã trở thành công cụ quan trọng nhất của TMĐT Ngày nay nói tới TMĐT thường có nghĩa là nói tới Internet và Web như các phương tiện đã được quốc tế hoá cao độ và có hiệu quả sử dụng cao

Trang 12

1.1.1.3 Các hình thức thương mại điện tử

a Thư điện tử (Electronic mail: E-mail)

Email là phương thức dễ dàng nhất để doanh nghiệp làm quen và tiếp cận với thương mại điện tử Việc sử dụng email giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm chi phí trong khi vẫn đạt được mục tiêu truyền gửi thông tin một cách nhanh nhất Về mặt chức năng, email có thể thay thế hoàn toàn cho fax Một địa chỉ email tốt phải đáp ứng các yêu cầu càng ngắn càng tốt, gắn với địa chỉ website và thương hiệu của doanh nghiệp

b Thanh toán điện tử (Electronic Payment)

Thanh toán điện tử là quá trình thanh toán dựa trên hệ thống thanh toán tài chính tự động, mà ở đó diễn ra sự trao đổi các thông điệp điện tử với chức năng là tiền tệ, thể hiện giá trị của một cuộc giao dịch Việc trả lương bằng cách chuyển tiền trực tiếp vào tài khoản, trả tiền mua hàng bằng thẻ mua hàng, thẻ tín dụng v.v đã quen thuộc lâu nay thực chất đều là các dạng thanh toán điện

tử Một số hình thức chính của thanh toán điện tử bao gồm:

- Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính (Finanical Electronic Data Interchange, gọi tắt là FEDI) chuyên phục vụ cho thanh toán điện tử giữa các công ty giao dịch với nhau bằng điện tử

- Tiền mặt Internet (Internet Cash): tiền mặt được mua từ một nơi phát hành (Ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng), sau đó được chuyển đổi tự do sang các đồng tiền khác thông qua Internet, sử dụng trên phạm vi thế giới và tất cả đều được thực hiện bằng kỹ thuật số hoá Sử dụng tiền mặt số này (Digital Cash) có thể dùng để thanh toán những món hàng giá trị nhỏ, do chi phí giao dịch mua hàng và chi phí chuyển tiền rất thấp Hơn nữa, nó không đòi hỏi một quy chế được thoả thuận từ trước, có thể tiến hành giữa hai con người, hai công ty bất kỳ, hoặc là các thanh toán vô danh

Trang 13

- Thẻ thông minh (Smart Card) là một loại thẻ giống như thẻ tín dụng, tuy nhiên ở sau mặt thẻ, là một chip máy tính điện tử có bộ nhớ nhỏ để lưu trữ tiền số hoá, tiền ấy chỉ được chi trả khi người sử dụng và thông điệp được xác thực là đúng

- Giao dịch ngân hàng số hoá (Digital Banking), và giao dịch chứng khoán số hoá (Digital Securities Trading) Hệ thống thanh toán điện tử của ngân hàng là một đại hệ thống gồm nhiều tiểu hệ thống:

• Thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng (qua điện thoại, tại các điểm bán lẻ, các kios, giao dịch các nhân tại nhà, tại trụ sở khách hàng, qua Internet, chuyển tiền điện tử, thẻ tín dụng, vấn tin )

• Thanh toán giữa các ngân hàng với các đại lý thanh toán (nhà hàng siêu thị )

• Thanh toán trong nội bộ hệ thống ngân hàng

• Thanh toán giữa hệ thống ngân hàng này với hệ thống ngân hàng khác (thanh toán liên ngân hàng)

c Trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic Data Interchange: EDI)

Trao đổi dữ liệu điện tử là việc trao đổi dữ liệu dưới dạng có cấu trúc (Structured form) từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác, giữa công ty hay tổ chức đã thoả thuận buôn bán với nhau theo cách này một cách

tự động mà không cần có sự can thiệp của con người (gọi là dữ liệu có cấu trúc, vì các bên đối tác phải thoả thuận từ trước khuôn dạng cấu trúc của thông tin) Theo Uỷ ban Liên hiệp quốc về luật thương mại quốc tế

(UNCITRAL) định nghĩa pháp lý sau đây: Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) là

về việc chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máy khác bằng phương tiện điện tử sử dụng một tiêu chuẩn đã được thoả thuận để cấu trúc thông tin

EDI được áp dụng từ trước khi có Internet Khi ấy, người ta dùng “mạng giá trị gia tăng” (Value Added Network: VAN) để liên kết các đối tác EDI với

Trang 14

nhau; cốt lõi của VAN là một hệ thống thư tín điện tử cho phép các máy tính điện tử liên lạc được với nhau, và hoạt động như một phương tiện lưu trữ và tìm gọi Khi nối vào VAN, một doanh nghiệp có thể liên lạc được với hàng nghìn máy tính điện tử nằm ở nhiều trăm thành phố trên khắp thế giới Nay EDI chủ yếu được thực hiện thông qua Internet

Sử dụng EDI, doanh nghiệp sẽ giảm được lỗi sai sót do con người gây nên, giảm thời gian xử lý thông tin trong các giao dịch kinh doanh, tiết kiệm thời gian và chi phí trao đổi dữ liệu Hiện nay, sự xuất hiện của các ngôn ngữ lập trình hiện đại như XML làm cho EDI trở nên dễ thiết kế và dễ sử dụng hơn, do đó EDI được ứng dụng rất phổ biến trong nhiều ngành trên thế giới

d Giao gửi số hoặc các dung liệu (Digital Content Delivery)

Dung liệu (Content) là các hàng hoá mà cái người ta cần đến là nội dung của nó (hay nói cách khác chính nội dung hàng hoá mà không phải là bản thân vật mang nội dung đó) Ví dụ: tin tức sách báo, nhạc, phim, ảnh, các chương trình truyền hình, phát thanh, phần mềm, các dịch vụ tư vấn, vé máy bay, xem phim hợp đồng bảo hiểm Xuất bản điện tử (Electronic Publishing hay Web Publishing) là việc đưa các tờ báo, các tư liệu công ty, các catalogue hoặc những thông tin về sản phẩm hay những hình thức khác tương tự lên trên mạng Internet

Khác trước kia, dung liệu được giao dưới dạng hiện vật (Physical Form) bằng cách ghi vào đĩa từ, băng, in thành sách báo, văn bản thì ngày nay, dung liệu được số hoá và truyền gửi qua mạng gọi là giao gửi số hoá ở

Mỹ khoảng 90% dân chúng nhận tin tức và thông tin qua Internet/Web và khoảng 80,5% sử dụng Internet/Web là công cụ phục vụ cho nghiên cứu, học tập ứng dụng của giao gửi số hoá phát triển mạnh ở những lĩnh vực như: phát hành các ấn phẩm điện tử (sách báo điện tử, báo điện tử … ) hoặc thông qua thiết bị đa phương tiện (Multimedia) các sản phẩm phim ảnh, truyền hình, hội

Trang 15

nghị qua mạng, nghe nhạc, các thông tin về bảo hiểm, hoặc đầu tư chứng khoán … đã tạo cho Internet một môi trường thông tin khổng lồ, phong phú

e Bán lẻ hàng hoá hữu hình (E-Retail)

Bán lẻ hàng hoá trên mạng Internet là việc tiến hành bán tất cả các sản phẩm mà một công ty có thể thông qua mạng Internet Để làm được điều này cần phải xây dựng trên mạng các cửa hàng ảo (Virtual Shop), nhằm mục đích tạo một kênh bán hàng trực tiến đê có thể đáp ứng được nhu cầu khách hàng một cách tối ưu nhất Bên cạnh đó công ty cổ phần phải xây dựng cho bản thân mình một hạ tầng cơ sở đủ mạnh như: hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống đặt hàng trực tuyến, hệ thống hỗ trợ khách hàng trực tuyến, hệ thống bảo mật… Hàng hoá trên Internet phải được số hoá, nghĩa là những hàng hoá giúp cho người mua xác định kiểm tra được tính hiện hữu hàng hoá về chất lượng …

1.1.1.4 Một số mô hình thương mại điện tử cơ bản

a B2B (Business to Business): là thương mại điện tử giữa các doanh

nghiệp với nhau Đây là mô hình thương mại điện tử gắn với mối quan hệ

giữa các doanh nghiệp

Mô hình này chiếm tới trên 80% doanh số thương mại điện tử trên toàn cầu và ngày càng trở nên phổ biến Nó hỗ trợ rất nhiều cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc kinh doanh với các doanh nghiệp nước ngoài Một trong những điển hình trên thế giới thành công trong hoạt động theo mô hình B2B

là Alibaba.com của Trung Quốc

b B2C (Business to Consumer): là thương mại giữa các doanh nghiệp

và người tiêu dùng liên quan đến việc khách hàng thu thập thông tin, mua các hàng hoá hữu hình (như sách, các sản phẩm tiêu dùng ) sản phẩm thông tin hàng hoá về nguyên liệu điện tử hoặc nội dung số hoá như phần mềm, sách điện tử và các thông tin, nhận sản phẩm qua mạng điện tử Một trong những công ty kinh doanh thành công trên thế giới theo mô hình này là Amazon.com

Trang 16

với việc kinh doanh bán lẻ qua mạng các sản phẩm như sách, đồ chơi, đĩa nhạc, sản phẩm điện tử, phần mềm và các sản phẩm gia đình

c C2C (Consumer to Consumer): là thương mại điện tử giữa các cá nhân và người tiêu dùng với nhau Đây cũng được coi là mô hình kinh doanh

có tốc độ tăng trưởng nhanh chóng và ngày càng phổ biến Hình thái dễ nhận

ra nhất của mô hình này là các Website bán đấu giá trực tuyến, rao vặt trên mạng Một trong những thành công vang dội của mô hình này là trang Web

đấu giá eBay Được thành lập tháng 9.1995, hiện nay eBay là chợ đấu giá điện

tử lớn nhất thế giới dành cho việc mua bán các sản phẩm cho các khách hàng riêng lẻ và các doanh nghiệp nhỏ Trên eBay có tới 55 triệu sản phẩm nằm trong 50.000 danh mục ngành hàng với hơn 160 triệu thành viên trên toàn thế giới

d B2G (Business to Government): Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp và chính phủ được hiểu chung là thương mại giữa các doanh nghiệp và khối hành chính công Nó bao hàm việc sử dụng Internet cho mua bán công, thủ tục cấp phép và các hoạt động có liên quan tới chính phủ Hình thái này của thương mại có hai đặc tính: Thứ nhất, khu vực hành chính cũng có vai trò dẫn đầu trong việc thiết lập thương mại điện tử; Thứ hai, người ta cho rằng khu vực này có nhu cầu lớn nhất trong việc biến các hệ thống mua bán trở nên hiệu quả hơn Các chính sách mua bán trên mạng giúp tăng cường tính minh bạch của quá trình mua hàng Tuy nhiên, hiện nay kích cỡ của thị trường thương mại điện tử B2G như là một thành tố của tổng thương mại điện tử thì không đáng kể, khi mà hệ thống mua bán của chính phủ còn chưa phát triển

Dù là các mô hình đơn lẻ nhưng trên thực tế, một doanh nghiệp hoàn toàn có thể áp dụng cả hai mô hình B2B và B2C trong hoạt động kinh doanh Xét trên góc độ thương mại truyền thống một doanh nghiệp có thể vừa tiến hành bán buôn và bán lẻ thông qua các hệ thống phân phối hoặc các công ty con của mình Mặt khác cũng có doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh

Trang 17

doanh với các doanh nghiệp khác (như đặt hàng từ các đối tác để mua nguyên vật liệu ) để sản xuất hàng hoá và bán lẻ cho khách hàng

Hình 1.1 Một số mô hình giao dịch thương mại điện tử

NGƯỜI TIÊU DÙNG

Chính phủ với Chính phủ (G2G):Điều phối

DN với Chính phủ (B2G):

Đấu thầu

NTD với Chính phủ (C2G):

Đóng thuế

Chính phủ với NDT (G2C): Thông tin

NTD với DN (C2B): So sánh giá cả

DN với NTD (B2C) Thương mại điện tử

NTD với NTD (C2C) Đấu giá

(Nguồn: Diễn Đàn Doanh Nghiệp - Số 96 - 02/12/2005) 1.1.1.5 Lợi ích và hạn chế của thương mại điện tử

Công nghệ thông tin và truyền thông-nền tảng của TMĐT phát triển nhanh đã đang tác động mạnh tới hiệu quả của nền kinh tế, đặc biệt là nền kinh tế phát triển trên cơ sở công nghệ và tri thức TMĐT phát triển nhanh là

lý do cho phép giảm nhanh chi phí, rút ngắn chu kỳ mua bán, lưu kho, mở rộng các loại sản phẩm quan trọng như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm Sau đây là những lợi ích của TMĐT mang lại

1) Nắm bắt được thông tin phong phú

Trong thời đại ngày nay, thông tin được xem là tài sản quý giá đối với mỗi doanh nghiệp, có thông tin doang nghiệp sẽ có tất cả TMĐT dùng Internet làm nền cho các giao dịch mua bán hàng hoá dịch vụ hạ tầng của nó gồm các mạng máy tính từ đơn giản tới cực kỳ phức tạp được triển khai khắp

Trang 18

nơi Sử dụng Internet/Web trước hết giúp cho các doanh nghiệp nắm được thông tin phong phú về kinh tế - thương mại (có thể gọi chung là thông tin thị trường), nhờ đó có thể xây dựng được chiến lược sản xuất và kinh doanh thích hợp với xu thế xây dựng phát triển với thị trường trong nước, và quốc tế Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các DNNVV hiện nay và đang được nhiều nước quan tâm, coi đó là một trong những động lực phát triển chủ yếu của nền kinh tế

2) Giảm chi phí sản xuất

TMĐT giúp giảm chi phí sản xuất, trước hết là chi phí văn phòng Các văn phòng không giấy tờ (paperless office) chiếm diện tích nhỏ rất nhiều, chi phí tìm kiếm chuyển giao tài liệu giảm nhiều lần (trong đó khâu in ấn gần như được bỏ hẳn) Theo số liệu của hàng General Electricity của Mỹ, tiết kiệm trên hướng này đạt 30% Điều quan trọng hơn là các nhân viên có năng lực được giải phóng khỏi nhiều công đoạn sự vụ, có thể tập trung vào nghiên cứu phát triển, sẽ đưa đến những lợi ích to lớn lâu dài

3) Giảm chi phí bán hàng và tiếp thị

TMĐT giúp các DN giảm chi phí bán hàng và tiếp thị xuống mức thấp nhất có thể Ví dụ: chỉ cần một trang web DN có thể đưa thông tin quảng cáo

mà DN nhắm đến hàng trăm triệu người xem từ khắp nơi trên thế giới mà trong số đó là những khách hàng hiện tại hoặc tiềm năng Đây là điều mà chỉ

có Thương Mại Điện Tử làm được cho doanh nghiệp TMĐT giúp giảm thấp chi phí bán hàng và chi phí tiếp thị Bằng phương tiện Internet/Web một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được với rất nhiều khách hàng, catalogue điện

tử trên Web phong phú hơn nhiều và thường xuyên cập nhật so với catalogue

in ấn chỉ có khuôn khổ giới hạn và luôn luôn lỗi thời Các DNNVV thường dựng các trang Web với chi phí nhỏ, đơn giản nhưng hiệu quả đủ sức cho hàng triệu người trên khắp thế giới "vào" xem nội dung và tiến hành mua bán

Trang 19

4) Giảm chi phí giao dịch

TMĐT qua Internet/Web các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và

chi phí giao dịch (giao dịch được hiểu là quá trình từ quảng cáo, tiếp xúc ban

đầu, giao dịch đặt hàng, giao dịch giao hàng, giao dịch thanh toán) Thời gian

giao dịch qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax, và bằng

khoảng 0,05% thời gian giao dịch qua bưu điện Chi phí giao dịch qua

Internet chỉ bằng 5% chi phí giao dịch qua bưu điện chuyển phát nhanh Chi

phí thanh tán điện tử qua Internet chỉ bằng 10% tới 20% chi phí thanh toán

theo lối thông thường (xem Bảng 1.1)

Bảng 1.1: Tốc độ và chi phí truyền gửi

Tốc độ và chi phí truyền gửi (một bộ tài liệu 40 trang)

* Từ New York tới Tokyo Thời gian Chi phí (USD)

* Từ New York tới Los Angeles Thời gian Chi phí (USD)

Nguồn: ITU, “Challenges to network”, 1997, Geneva

Trong hai yếu tố cắt giảm này, yếu tố thời gian đáng kể hơn, vì việc

nhanh chóng làm cho thông tin hàng hoá tiếp cận người tiêu thụ (mà không

cần phải qua trung gian) có ý nghĩa sống còn với buôn bán và cạnh tranh buôn

Trang 20

bán Ngoài ra việc giao dịch nhanh chóng, sớm nắm bắt được nhu cầu còn giúp cắt giảm số lượng và thời gian hàng nằm lưu kho, cũng kịp thời thay đổi phương án sản phẩm bám sát được với nhu cầu của thị trường Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với việc kinh doanh hàng rau quả, hàng tươi sống, là thứ hàng có tính thời vụ và đòi hỏi phải có thời gian tính trong giao dịch

5) Lợi thế cạnh tranh trước đối thủ

Việc kinh doanh trên mạng là một “sân chơi” cho sự sáng tạo, nơi đây,

DN có thể áp dụng những ý tưởng hay nhất, mới nhất về dịch vụ hỗ trợ, chiến lược tiếp thị v.v… Và một khi tất cả các đối thủ cạnh tranh của bạn đều áp dụng Thương Mại Điện Tử, thì phần thắng sẽ thuộc về ai sáng tạo hay nhất để tạo ra nét đặc trưng cho doanh nghiệp, sản phẩm, dịch vụ của mình để có thể thu hút và giữ được khách hàng

6) Giúp thiết lập và củng cố quan hệ đối tác

TMĐT tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các thành tố tham gia vào quá trình thương mại: Thông qua mạng (nhất là dùng Internet /Web) các thành tố tham gia (người tiêu thụ, doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ) có thể giao tiếp trực tiếp và liên tục với nhau (liên lạc trực tuyến) gần như không còn khoảng cách địa lý và thời gian nữa; nhờ đó cả sự hợp tác đều được tiến hành nhanh chóng và liên tục các bạn hàng mới, các cơ hội kinh doanh mới được phát hiện nhanh chóng trên bình diện toàn quốc, toàn khu vực toàn thế giới và có nhiều cơ hội hơn nữa để lựa chọn

7) Tạo điều kiện sớm tiếp cận kinh tế số hoá

Đối với quốc gia, TMĐT sẽ kích thích sự phát triển của ngành công nghệ thông tin là ngành có lợi nhuận cao nhất và đóng vai trò ngày càng lớn trong nền kinh tế Nhìn rộng hơn, TMĐT tạo điều kiện cho việc sớm tiếp cận với nền kinh tế số hoá (Digital economy) mà xu thế và tầm quan trọng đã được đề cập đến Lợi ích có một ý nghĩa đặc biệt đối với các nước đang phát

Trang 21

triển nếu không tiếp cận vào nền kinh tế số hoá thì sau một thời gian nữa, các nước đang phát triển có thể bị bỏ rơi hoàn toàn

Tóm lại, TMĐT mang lại nhiều lợi ích cho DNVVN, cho người dân, cho nền kinh tế và cho xã hội Việt Nam, chúng ta có thể gói gọn như sau:

¾ Đối với DN: Thương mại điện tử hiện nay hỗ trợ DN rất tốt trong việc marketing và tìm kiếm cơ hội kinh doanh, nhất là trên thị trường quốc

tế Tương lai không xa, Thương mại điện tử sẽ giúp DN tiết kiệm nhiều chi phí hoạt động vì đa số các hoạt động kinh doanh đều được hệ thống CNTT quản lý

¾ Đối với cá nhân hay cộng đồng: Thương mại điện tử mang lại rất nhiều lợi ích cho cá nhân như:

ƒ Quyền chọn lựa dịch vụ, sản phẩm để có thể an tâm khi mua (vì Thương mại điện tử buộc các DN phải cạnh tranh bằng chất lượng, giá cả, dịch vụ nên cuối cùng là người tiêu dùng có lợi)

ƒ Truy cập nguồn thông tin, kiến thức phong phú, bổ ích

ƒ Được hưởng lợi ích từ cộng đồng trực tuyến – như những người bạn

“ảo” sẵn sàng giúp nhau khi một ai đó có nhu cầu cần được hỗ trợ

¾ Đối với quốc gia: Thương mại điện tử sẽ góp phần rất lớn vào việc phát triển nền kinh tế quốc gia, phục vụ lợi ích cộng đồng (chủ yếu là thông tin, kiến thức, dịch vụ) để giúp Việt Nam nâng cao dân trí, phát triển kinh tế, sớm sánh vai cùng các nước trong khu vực

Bên cạnh những lợi ích mang lại, thì bản thân TMĐT có những hạn chế nhất định khi triển khai áp dụng Đó là những khó khăn, những rào cản khi doanh nghiệp áp dụng TMĐT:

- Cơ hội mà thương mại Internet tạo ra là không thể phủ nhận Song nó cũng đưa ra nhiều thách thức cho các doanh nghiệp Chi phí giao dịch giảm

và thông tin phong phú sẽ làm giảm lợi nhuận cũng như lợi thế cạnh tranh của một số lĩnh vực kinh doanh Đó là các ngành từ trước đã tận dụng được sự

Trang 22

mất cân đối về thông tin giữa người mua và người bán như môi giới bất động sản và những ngành luôn phải ở gần khách hàng để giảm chi phí tìm kiếm và chi phí mua hàng của khách hàng như ngành bán lẻ

- Chỉ những doanh nghiệp có sản phẩm khi tung ra thị trường chắc chắn đạt doanh số lớn mới đủ bù đắp cho những chi phí đầu tư đã bỏ ra Đây là khó khăn không nhỏ với các doanh nghiệp Việt Nam, vì chất lượng sản phẩm thấp, vốn ít không đủ điều kiện để áp dụng TMĐT

- Khả năng xảy ra rủi ro đối với TMĐT cho các doanh nghiệp rất lớn Ngay đối với thương mại truyền thống, hợp đồng đã ký kết những khả năng thực thi thấp, hàng giả, hàng nhái, hàng chất lượng thấp tràn lan tình hình chấp nhận và thanh toán còn đang là vấn đề nan giải, nay áp dụng TMĐT khả năng rủi ro còn cao hơn nhiều

- TMĐT đòi hỏi phải có hệ thống máy tính hiện đại, chi phí ban đầu và chi phí duy trì lớn, đòi hỏi thời gian thu hồi vốn nhanh Tuy nhiên, thuyết phục người tiêu dùng thay đổi tập quán mua bán cổ truyền sang phương thức mua bán mới không thể thực hiện ngay được

- Ở các doanh nghiệp Việt Nam, nhân lực đảm nhận TMĐT là một vấn

đề nan giải Đó là những người không chỉ giỏi về ngoại ngữ, sử dụng thành thạo máy vi tính mà còn phải hiểu biết sâu sắc về kinh doanh trong cơ chế thị trường, có kinh nghiệm ứng phó cho phù hợp với diễn biến của thị trường

Tóm lại, có thể liệt kê khá nhiều những thuận lợi của TMĐT về mặt lý thuyết nhưng vào thời điểm hiện tại thời cơ trong kinh doanh nhu cầu của người tiêu dùng, khả năng thanh toán và các điều kiện cần thiết khác chưa xuất hiện là những cản trở hạn chế đối với các DNNVV ở Việt Nam

1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển TMĐT

1.1.2.1 Cơ sở hạ tầng công nghệ

TMĐT là hệ quả tất yếu của sự phát triển kỹ thuật hoá, của công nghệ thông tin, mà trước hết là kỳ thuật máy tính điện từ Vì thế, chỉ có thể thực sự

Trang 23

tiến hành thương mại điện có nội dung và hiệu quả đích thực khi đã có một cơ

sở hạ tầng công nghệ thông tin vững chắc, bao gồm tính toán điện tử và truyền thông điện tử Cơ sở hạ tầng công nghệ không chỉ có nghĩa là tính hiện hữu mà còn hàm nghĩa tính kinh tế sử dụng, nghĩa là chi phí trang thiết bị các phương tiện công nghệ thông tin vững chắc, bao gồm tính toán điện tử và truyền thông điện tử Và chi phí dịch vụ truyền thông (phí điện thoại, phí nối mạng, và truy cập mạng) phải đủ rẻ để đông đảo người sử dụng có thể tiếp cận được Điều này có ý nghĩa đặc biệt to lớn đối với các nước đang phát triển, mức sống nói chung còn thấp

1.1.2.2 Hạ tầng cơ sở nhân lực

Áp dụng TMĐT tất yếu làm nẩy sinh hai đòi hỏi: một là mọi người đều quen thuộc và có khả năng thành thạo hoạt động trên mạng, hai là có một đội ngũ chuyên gia tin học mạnh, thường xuyên bắt kịp các công công nghệ thông tin mới phát triển để phục vụ cho kinh tế số hoá nói chung và TMĐT nói riêng, cũng như có khả năng thiết kế các công cụ phần mềm đáp ứng được nhu cầu hoạt động của một nền kinh tế số hoá tránh bị động, lệ thuộc hoàn toàn vào nước khác

Ngoài ra, nếu sử dụng Internet//Web thì một yêu cầu tự nhiên nữa của kinh doanh trực tuyến là tất cả những người tham gia đều phải giỏi Anh ngữ

vì đây cũng là ngôn ngữ chủ yếu sử dụng trong thương mại nói chung, và TMĐT qua mạng Internet nói riêng

1.1.2.3 Hệ thống thanh toán điện tử

TMĐT chỉ có thể thực hiện khi đã tồn tại một hệ thống thanh toán điện

tử phát triển cho phép thực hiện thanh toán tự động (trong đó, thẻ thông minh

có tầm quan trọng đặc biệt đối với kinh doanh bán lẻ), khi chưa có hệ thống này thì TMĐT chỉ ứng dụng được phần trao đổi thông tin, buôn bán vẫn phải kết thúc bằng trả tiền trực tiếp hoặc bằng các phương tiện thanh toán truyền

Trang 24

thống, khi ấy hiệu quả của TMĐT bị giảm thấp và có thể không đủ để bù lại các chi phí trang bị công nghệ đã bỏ ra

Hệ thống thanh toán điện tử đi liền với việc mã hoá toàn bộ hàng hoá, hay đánh số sản phẩm là một vấn đề không chỉ có tính quốc gia, mà còn có tính quốc tế trên cơ sở của các chuẩn và định chế EAN Internationnal (European Article Numbering International) và Uniform Code Council , thể hiện dưới dạng các mã vạch Theo đó tất cả các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ đều được mã hoá bằng một dãy số gồm 13 con số và tất cả các công ty đều có địa chỉ của mình bằng một mã từ 100 đến 100.000 con số, mã vạch là hệ thống dùng các vạch đen, trắng, màu, có độ rộng khác nhau để biểu diễn con

số, một máy quét dùng tế bào quang điện sẽ nhận dạng các vạch này, biến đổi thành con số, rồi tự động đưa vào máy tính để thanh toán tự động

• Thừa nhận tính pháp lý của giao dịch TMĐT

• Thừa nhận tính pháp lý của chữ ký điện tử

• Bảo vệ pháp lý của các hợp đồng TMĐT

• Quy định pháp lý đối với các dữ liệu có xuất xứ từ Nhà nước, chính quyền địa phương, doanh nghiệp nhà nước

• Bảo vệ pháp lý với sở hữu trí tuệ

• Bảo vệ bí mật riêng tư một cách thích đáng

Trang 25

• Bảo vệ pháp lý đối với mạng thông tin, chống tội phạm xâm nhập

1.2 DNNVV và đặc điểm đặc điểm ứng dụng TMĐT

1.2.1 Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân được tổ chức ra để thực hiện các hoạt động công ích hoặc thu lợi nhuận

Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam hiện hành: doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản riêng, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh

Trong xu hướng nền kinh tế phát triển như hiện nay, doanh nghiệp cũng tồn tại dưới nhiều loại hình hết sức phong phú và đa dạng, tuỳ theo từng cách tiếp cận khác nhau người ta có thể chia doanh nghiệp thành những loại sau:

- Theo cấp độ quản lý: có doanh nghiệp trung ương và doanh nghiệp địa phương

- Theo quan hệ sở hữu về vốn và tài sản: có doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp

- Theo ngành kinh tế- kỹ thuật: có doanh nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp thương mại - dịch vụ, doanh nghiệp nông nghiệp

- Theo quy mô sản xuất kinh doanh: có doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, luận văn chỉ quan tâm đến việc phân chia doanh nghiệp theo quy mô sản xuất kinh doanh Theo đó, doanh nghiệp được chia thành 2 loại là doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV)

Việc đưa ra tiêu thức để xác định doanh nghiệp nào được coi là lớn, doanh nghiệp nào được coi là DNNVV thì tuỳ vào điều kiện kinh tế - xã hội

cụ thể của từng quốc gia và nó cũng thay đổi trong từng thời kỳ từng giai

Trang 26

đoạn phát triển của nền kinh tế Song nhìn chung có thể có 2 cách tiếp cận sau đây:

- Theo chức năng: người ta dựa vào những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp như: trình độ chuyên môn hoá sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức tổ chức quản lý quan hệ giữa chủ và thợ, giữa người quản lý và người làm công trong hoạt động kinh doanh Cách tiếp cận này có nhiều hạn chế vì nó mới chỉ nêu được mặt định tính còn mặt định lượng rất cần thiết thì

nó lại chưa thể hiện được

- Theo tính ứng dụng: Người ta căn cứ vào số lượng vốn, số lượng lao động mà doanh nghiệp đó thường xuyên sử dụng

Trên cơ sở đó, mỗi nước lại lựa chọn cho mình những tiêu chí khác nhau để phân chia doanh nghiệp lớn và DNNVV cho phù hợp với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, chẳng hạn:

- Ở Nhật Bản: doanh nghiệp sản xuất có dưới 300 lao động hoặc có vốn đầu tư dưới 100 triệu Yên được coi là DNNVV

- Ở Mỹ: DNNVV là doanh nghiệp có dưới 500 lao động hoặc có số vốn đầu tư dưới 3.5 triệu USD

- Ở Italia: DNNVV là doanh nghiệp tư nhân và độc lập có số công nhân dưới 200 người và có tổng doanh thu hàng năm dưới 400 triệu EUR

- Ở Hàn Quốc: Trong công nghiệp và xây dựng các doanh nghiệp có số lao động nhỏ hơn 300 người và vốn dưới 0.6 triệu USD, trong thương mại dịch

vụ DN có số lao động dưới 20 người và số vốn dưới 0.25 triệu USD là những DNNVV

- Ở EU: DNNVV là những doanh nghiệp có số lao động dưới 250 người, vốn dưới 27 triệu EUR và doanh thu đạt khoảng 40.000 EUR

Trang 27

Qua việc xem xét, xác định qui mô DNNVV của một số nước trên thế giới thì tiêu thức lao động và tiêu thức vốn đầu tư là hai tiêu thức thường được nhiều nước lựa chọn, sử dụng để xác định quy mô doanh nghiệp

Ở Việt Nam, khái niệm DNNVV được đưa ra với những điều kiện cụ thể, đặc điểm riêng biệt về quan điểm phát triển kinh tế nhiều thành phần và các chính sách, qui định phát triển kinh tế của nước ta, với nội dung:

DNNVV là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, không phân biệt thành phần kinh tế, có quy mô về vốn hoặc lao động thoả mãn các qui định của Chính phủ đối với từng ngành nghề, tương ứng với từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế

Trước năm 1998, do chưa có qui định chính thức của Chính phủ nên nước ta chủ yếu sử dụng hai tiêu thức là lao động và vốn, tuỳ theo qui định của từng cơ quan như: Ngân hàng Công thương Việt Nam qui định các DNNVV là doanh nghiệp có từ 500-1000 người Trong khi Hội đồng liên minh các Hợp tác xã lại qui định các DN có vốn đầu tư từ 100-300 triệu đồng

và số lao động từ 5-10 người là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có số vốn sản xuất kinh doanh trên 300 triệu đồng và lao động trên 50 người Thành phố Hồ Chí Minh qui định các doanh nghiệp có vốn trên

1 tỉ đồng, lao động trên 1000 người và doanh thu trên 10 tỷ đồng/ năm là DN vừa và dưới các qui định trên là doanh nghiệp nhỏ

Ngày 20/06/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành công văn số 681/CP-KTN xây dựng tiêu thức DNNVV tạm thời qui định trong giai đoạn hiện nay là những doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỉ đồng và có số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người

Như vậy, tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng

ký kinh doanh như: các doanh nghiệp Nhà nước đăng ký theo Luật DN Nhà nước; các công ty cổ phần, công ty TNHH và các doanh nghiệp tư nhân đăng

ký hoạt động theo Luật Công ty, Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư nước

Trang 28

ngoài tại Việt Nam; các HTX đăng ký hoạt động theo Luật HTX; các cá nhân

và nhóm sản xuất - kinh doanh đăng ký theo Nghị định 66- HĐBT, đồng thời các doanh nghiệp này thoả mãn hai tiêu thức về vốn và lao động theo công văn 681/CP đều được coi là DNNVV Với cách phân loại này, ở Việt Nam số DNNVV chiếm khoảng 93% tổng số doanh nghiệp hiện có

Tuy nhiên, cùng với tốc độ phát triển nhanh của nền kinh tế khi bước vào kỷ nguyên mới, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của các DNNVV, các chỉ tiêu đánh giá DNNVV cũng được nâng lên một bậc nhằm khuyến khích các DN mở rộng sản xuất và giảm tỉ lệ thất nghiệp Ngày 23/11/2001, Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển

DNNVV Theo Nghị định này thì DNNVV được hiểu là: “DNNVV là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỉ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu về vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu” 1

1.2.2 Đặc điểm của các DNNVV có ảnh hưởng tới ứng dụng TMĐT

Nhìn chung hiện nay các DNNVV có một số đặc điểm cơ bản sau:

- Nhạy cảm, linh hoạt, thích ứng nhanh với sự biến động của thị trường: Thông thường, các DNNVV năng động và linh hoạt hơn so với các DN lớn trong sản xuất kinh doanh qua hệ thống tổ chức sản xuất, quản lý gọn nhẹ, công việc điều hành mang tính trực tiếp, đồng thời DNNVV có khả năng đổi mới nhanh trang thiết bị kỹ thuật, thích ứng nhanh với sự biến động của thị trường Chính đặc điểm này đưa đến cho DNNVV một lợi thế là lựa chọn và ứng dụng mô hình TMĐT thích hợp một cách nhanh chóng và dễ dàng hơn

1 Nghị đinh số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính Phủ về Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trang 29

- Vốn đầu tư vào DNNVV không nhiều: Do là loại hình DN có quy mô sản xuất không lớn về mặt bằng sản xuất, số lao động, doanh số nên vốn đầu

tư vào DNNVV không nhiều, có thể bằng vốn tự có hay vay mượn nhỏ do đó chúng tạo ra cơ hội đầu tư đối với nhiều người, tạo điều kiện cho mọi tầng lớp nhân dân trong nước dù ở điều kiện văn hoá, giáo dục khác nhau đều có thể tìm kiếm cơ hội lập nghiệp Chính vì thế mà ở các nước đang phát triển cũng như các nước phát triển, số lượng DNNVV tăng rất nhanh và chiếm tỉ lệ tuyệt đối trong tổng số các DN trong nền kinh tế Vì vốn đầu tư vào DNNVV không nhiều nên dẫn đến quỹ vốn để đầu tư vào phát triển TMĐT cũng không nhiều, trong khi đó để phát triển TMĐT bài bản cần phải có kế hoạch về thời gian và tài chính, chính điều này dẫn đến một thực tế là nhiều DNNVV biết tầm quan trọng của ứng dụng TMĐT nhưng vẫn phải bỏ qua vì thiếu nhân lực

và vật lực

- Khả năng thu hồi vốn nhanh: Các DNNVV chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến thực phẩm, thương mại dịch vụ vốn là những ngành thu hồi vốn nhanh Theo thống kê, ở các nước phát triển các DNNVV hàng năm có thể khấu hao đến 50-60% giá trị tài sản

cố định và thời gian hoàn vốn không quá 2 năm Ở các nước đang phát triển, việc thu hồi vốn cũng tương đối nhanh, tuỳ thuộc vào khả năng điều hành của chủ DN và đặc điểm từng lĩnh vực kinh doanh cũng như chính sách khấu hao tài sản cố định của Nhà nước Do đó, các DNNVV nâng cao được hiệu quả ứng dụng của TMĐT

- Sử dụng các loại máy móc thiết bị không đòi hỏi công nghệ hiện đại

và mang tính trung gian, đòi hỏi sử dụng nhiều lao động Các DNNVV gắn liền với các công nghệ trung gian vốn là cầu nối giữa công nghệ truyền thống

và công nghệ hiện đại Và lợi thế đặc biệt của công nghệ trung gian là sử dụng nhiều lao động, từ đó tạo nhiều cơ hội việc làm cho người dân Điều này không những cần thiết đối với các nước đang phát triển như Việt Nam mà còn

Trang 30

cần thiết đối với các nước phát triển Vì thế, các DNNVV lựa chọn các mô hình TMĐT đơn giản, nâng cấp mạng máy tính phù hợp với khả năng

- Khả năng hợp tác với các doanh nghiệp lớn là rất tốt: Các DNNVV dễ dàng nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ, sản phẩm, ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, thích hợp với sự biến động đa dạng của thị trường, thích ứng với cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện nay Từ đó tạo ra cơ hội hợp tác, cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn là rất cao Do vậy, các DNNVV tích hợp với hệ thống TMĐT của các doanh nghiệp lớn

- DNNVV cần diện tích nhỏ, đòi hỏi về cơ sở hạ tầng không quá cao

Vì thế nó có thể được đặt ở nhiều nơi trong nước, từ thành thị cho tới các vùng nông thôn, miền núi và hải đảo Đó chính là đặc điểm quan trọng nhất của DNNVV để có thể giảm bớt sự chênh lệch về phát triển kinh tế giữa các vùng trong một nước, giảm bớt sự chênh lệch về phát triển kinh tế giữa các vùng trong một nước, giảm bớt luồng chảy lao động tập trung vào các thành phố, để tiến hành công nghiệp hoá nông thôn

Bên cạnh đó, DNNVV cũng có một số nhược điểm như:

- Nguồn vốn tài chính hạn chế, đặc biệt là nguồn vốn tự có cũng như bổ sung để thực hiện quá trình tích tụ, tập trung nhằm duy trì hoặc phát triển mở rộng sản xuất, kinh doanh DNNVV khó có khả năng tiếp cận đến các nguồn vốn của ngân hàng vì bản thân DN thiếu tài sản thế chấp, khó xây dựng phương án kinh doanh, chưa tạo được sự tin cậy tín dụng cần thiết xuất phát

từ quy mô kinh doanh nhỏ của mình Cũng vì vậy mà các DNNVV trang bị công nghệ thông tin để ứng dụng TMĐT ban đầu gặp khó khăn

- Cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ kỹ thuật công nghệ còn yếu kém, lạc hậu, khó có khả năng đầu tư công nghệ mới do vốn ít, qua đó ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường

- Năng lực quản lý hạn chế Đa số các chủ DN nhỏ chưa được đào tạo

cơ bản, đặc biệt là những kiến thức về kinh tế thị trường, về quản trị kinh

Trang 31

doanh, họ quản lý bằng kinh nghiệm, thực tiễn là chủ yếu DNNVV thường thiếu những nhà quản lý có trình độ, thiếu đội ngũ lao động lành nghề, thiếu chuyên gia có trình độ cao Do đó, các DNNVV cần quan tâm đào tạo nguồn nhân lực về TMĐT

- Khả năng tiếp cận thông tin và tiếp cận thị trường của các DNNVV bị hạn chế rất nhiều DNNVV khó cập nhật được các thông tin trong kinh doanh

và dễ bị các Công ty lớn thôn tính

- Các DNVVN có năng suất lao động và sức cạnh tranh về kinh tế thấp hơn nhiều so với các DN lớn DNNNVV thiếu khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ quốc tế, khó khăn trong việc thiết lập và mở rộng hợp tác với bên ngoài

Ở Việt Nam, ngoài những đặc điểm của các DNNVV nói chung như đã

đề cập ở trên, các DNNVV Việt Nam còn có một số đặc điểm đó là:

- Các DNNVV ở Việt Nam rất đa dạng về loại hình tổ chức kinh doanh,

về lĩnh vực kinh doanh, về hình thức sở hữu, về địa bàn hoạt động Trước kia trong thời kỳ kế hoạch hoá, tập trung quan liêu bao cấp, các DNNVV tồn tại chủ yếu dưới hai loại là DNNVV và Hợp tác xã thì hiện nay chúng tồn tại, phát triển ở mọi thành phần kinh tế như DNNN, Công ty liên doanh, DN tư nhân, Công ty TNHH, Công ty cổ phần

- Tuy tồn tại ở nhiều hình thức khác nhau nhưng khi nói đến các DNNVV tại Việt Nam là chủ yếu nói đến các DN thuộc khu vực ngoài quốc doanh Do tính lịch sử của quá trình hình thành, phát triển các thành phần kinh tế của nước ta, đại bộ phận các DNNVV đều thuộc khu vực ngoài quốc doanh mà điển hình nhất là kinh tế tư nhân Bởi vậy, đặc điểm và tính chất của các DN khu vực ngoài quốc doanh – trong đó chủ yếu là khu vực tư nhân – mang tính đại diện cho các DNNVV Việt Nam Các con số thống kê về DNNVV tại Việt Nam không có riêng biệt mà chủ yếu tổng kết cho khu vực ngoài quốc doanh mà đại diện là khu vực kinh tế tư nhân

Trang 32

- Các DNNVV Việt Nam hiện nay gắn liền với công nghệ lạc hậu, trình

độ nhân lực không cao, khả năng tiếp cận thông tin chưa tốt

- Môi trường pháp lý cho sự phát triển của các DNNVV Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện nên còn nhiều sự chồng chéo

Thêm vào đó, giới hạn dưới của DNNVV không được qui định rõ và lúc đó rất có thể coi các hộ gia đình có đăng ký kinh doanh ở Việt Nam – một

số lượng rất nhiều – là các DNNVV, lúc đó thì sẽ khó khăn trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ do sự dàn trải số lượng quá đông

1.3 Kinh nghiệm phát triển TMĐT ở một số quốc gia trên thế giới

1.3.1 Tình hình phát triển TMĐT ở một số quốc gia

1.3.1.1 Khái quát phát triển TMĐT ở Singapore

Để thúc đẩy giao dịch TMĐT, Singapore tập trung vào phát triển hệ thống thanh toán điện tử, túi tiền điện tử Hệ thống giao dịch điện tử an toàn (Secure Electronic Transaction-SET) mang tính quốc tế được thành lập năm

1997 và đi vào hoạt động từ đầu năm 1998

Chính phủ Singapore hỗ trợ thành lập và vận hành Điểm nóng TMĐT (Electronic Commerce Hotbed- ECH) với sự tham gia của khoảng 60 tổ chức tài chính, công nghệ, và xây dựng hạ tầng TMĐT ECH ra đời nhằm xúc tiến TMĐT sao cho đến năm 2010, đất nước này sẽ trở thành một tâm điểm TMĐT trên thế giới ECH đã lập ra Uỷ ban Điều phối Thương mại Điện tử (Electronic Commerce Co-ordination Committee) hoạt động trong khuôn khổ của ECH Đến đầu năm 1997, Uỷ ban này đã đưa lên Internet 30 chương trình phần mềm ứng dụng chuyên phục vụ phát triển TMĐT Tiểu ban này có trách nhiệm nghiên cứu và soạn thảo chính sách quản lý TMĐT, qui định cụ thể về giao dịch TMĐT ra đời: Luật Giao dịch TMĐT; Luật chống lạm dụng máy tính; Luật bảo vệ bí mật cá nhân Bên cạnh đó, luật bản quyền cũng được sửa đổi để tăng cường bảo hộ sở hữu tài sản trí tuệ, khuyến khích việc đưa thông tin lên mạng…Tuy nhiên, văn bản có tính chất bao trùm sự phát triển TMĐT

Trang 33

ở Singapore là Kế hoạch tổng thể về TMĐT của Singapore Kế hoạch này xác định mục tiêu cụ thể như sau:

Xây dựng hạ tầng cơ sở TMĐT có khả năng kết nối quốc tế;

Biến Singapore thành một trung tâm TMĐT;

Khuyến khích các doanh nghiệp ứng dụng TMĐT như là một chiến lược kinh doanh;

Khuyến khích dân chúng sử dụng rộng rãi các hình thức TMĐT;

Từng bước tạo ra sự phù hợp giữa hệ thống qui định hiện hành về giao dịch kinh doanh với các qui định mới về giao dịch TMĐT

1.3.1.2 Khái quát phát triển Thương mại điện tử tại Malaysia

Trong khuôn khổ chương trình Tầm nhìn Malaysia năm 2020, Chính phủ

đã thành lập Siêu hành lang thông tin đa phương tiện (Multimedia Super Corridor- MSC) Đầu năm 1996, tiểu ban đặc biệt được thành lập dưới sự chủ trì của Bộ Năng lượng, Bưu điện và Viễn thông có mục tiêu xây dựng hệ thống chính sách, qui định đáp ứng các yêu cầu phát triển TMĐT, sửa đổi Luật chữ ký điện tử, Luật

Y tế điện tử, Luật giao dịch TMĐT, sửa đổi Luật bản quyền phù hợp với yêu cầu phát triển TMĐT Năm 1997, Quốc hội Malaysia đã thông qua cả bốn luật này Tháng 2/1997, Chính phủ Malaysia công bố chiến lược TMĐT gồm những điểm chính sau đây:

Xây dựng hệ thống hạ tầng thông tin với công nghệ tiên tiến;

Biến Siêu hành lang đa phương tiện thành một trung tâm TMĐT của khu vực;

Tiến tới Malaysia không kiểm duyệt Internet;

Đưa Malaysia thành kiểu mẫu về bảo vệ sở hữu trí tuệ trong giao dịch TMĐT;

Không đánh thuế nhập khẩu các thiết bị, kỹ thuật phục vụ cho TMĐT trong thời gian ít nhất 10 năm

Trang 34

Trong năm 1997, Chính phủ thành lập Tiểu ban chuyên trách về TMĐT do

Bộ Thương mại và Công nghiệp chủ trì Uỷ ban Quốc gia về TMĐT được thành lập đầu năm 1998 Hiện nay, ISP chính, đóng vai trò như người cung cấp các dịch

vụ kết nối Internet, ISP chính, đóng vai trò như người cung cấp các dịch vụ kết nối Internet chủ yếu ở Malaysia là Malaysia Institute of Microelectronic Systems- MIMOS; Hệ thống thanh toán điện tử đã được thiết lập do Ngân hàng Negara điều hành Trong năm 1999, Bộ Tài chính đã từng bước xem xét điều chỉnh thuế nhập khẩu thiết bị phục vụ phát triển TMĐT, và các loại thuế áp dụng đối với các doanh nghiệp kinh doanh TMĐT Để khuyến khích dân chúng sử dụng các hình thức TMĐT Chính phủ và các tổ chức trực thuộc tính cực thực hiện giao dịch TMĐT

1.3.2 Những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ phát triển TMĐT của

các nước trên thế giới

Đối với các nước phát triển, họ có nhiều điều kiện về cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực cho việc triển khai và ứng dụng TMĐT Còn đối với các nước đang phát triển thì TMĐT vừa là thách thức (vì môi trường công nghệ, pháp

lý, xã hội… của các nước này còn chưa hình thành đầy đủ) vừa là cơ hội cần lợi dụng để tiến hành thương mại có hiệu quả Không kịp thời chuẩn bị và tham gia một cách hợp lý thì thiếu điều kiện để cạnh tranh tồn tại đuổi kịp các nước phát triển, có thể sẽ bị tụt hậu, thậm chí bị bỏ rơi Kinh nghiệm của các nước đã và đang triển khai ứng dụng TMĐT đã rút ra bài học sau:

Trước hết hình thành một hệ thống các nguyên tắc chỉ đạo và quan điểm về hệ thống các hạ tầng cơ sở công nghệ, pháp lý, kinh tế, xã hội, cho việc chấp nhận và triển khai TMĐT, lấy đó làm cơ sở mang tính nguyên lý cho các chương trình và các hoạt động;

Chuẩn bị tốt về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là cơ sở hạ tầng thông tin và pháp lý cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển TMĐT của các doanh nghiệp;

Trang 35

Xây dựng một chương trình tổng thể (MasterPlan), tiếp đó là một chương trình hành động về TMĐT để từng bước triển khai đồng bộ và có hệ thống

1.3.2.1 Về các nguyên tắc chỉ đạo

Mỹ đưa ra 5 nguyên tắc lớn để chỉ đạo việc áp dụng và phát triển TMĐT Hệ thống các nguyên tắc này còn được gọi là "thách thức của Hoa Kỳ", vì nó chủ trương hoạt động thương mại hoàn toàn tự do và toàn cầu hoá

Cụ thể là:

- Internet phải là vũ đài do thị trường chi phối, tức là không có sự điều tiết cua chính phủ, khu vực tư nhân phải là tiên phong

- Chính phủ cần tránh các hạn chế không cần thiết đối với TMĐT;

- Nếu Chính phủ cần phải tham gia, thì công việc của chính phủ là tạo môi truờng pháp lý giản dị, nhất quán cho TMĐT, mà không phải điều tiết nó;

- Chính phủ công nhận các tính chất đặc thù của Internet và không cho rằng Internet phải theo các khuôn khổ điều chỉnh đã xác lập cho liên lạc, truyền thanh và truyền hình;

- TMĐT cần phải mang tính toàn cầu, không phân biệt đối xử giữa những người mua và người bán ở các quốc gia khác nhau

Chính phủ Mỹ cũng khuyến nghị ra thế giới ba nguyên tắc:

- TMĐT cần phải được tự do, phi thuế quan;

- Thế giới cần có một luận chung để điều tiết hình thức thương mại này, luật ấy phải đơn giản, nhất quán và mang tính có thể tiên liêu được;

- Sở hữu trí tuệ và bí mật riêng tư phải được tôn trọng và bảo vệ trong khi tiến hành TMĐT

Trong khi đó, ASEAN cũng đưa ra mười nguyên tắc về chỉ đạo TMĐT để phản ứng lại "thách thức" của Mỹ bao gồm:

- Chính phủ đóng vai trò tạo dựng môi trường mang tính hỗ trợ cho TMĐT, xúc tiến TMĐT thông qua các dự ấn thí điểm và các thực

Trang 36

nghiệm, xây dựng một quan điểm mới trong lập chính sách có tính tới TMĐT;

- Các doanh nghiệp chấp nhận và áp dụng TMĐT thông qua các cam kết trong khu vực doanh nghiệp về đảm bảo tính cạnh tranh;

- Thiết lập một cơ sở hạ tầng truyền thông có tính thường hữu, dễ tiếp cận, chi phí thấp, trên cơ sở nguyên tắc nhằm đảm bảo tính liên thông và liên tác;

- Đảm bảo dòng thông tin và tôn trọng sự tự định đoạt của từng cá nhân song song với việc bảo đảm các tiêu chuẩn quốc gia về văn hoá, xã hội,

sự khác biệt về xã hội và văn hoá giữa các quốc gia;

- Thừa nhận việc bảo vệ sở hữu trí tuệ, có tính tới những sự phát triển mới nhất, các chuẩn mực đã hình thành, các hiệp định và các công ước quốc tế có liên quan;

- Tạo dựng môi trường tại các quốc gia thành viên ASEAN nhăm đảm bảo an ninh cho TMĐT, với khu vực tư nhân đi đầu về công nghệ khuyến khích ứng dụng công nghệ chứng thực và mã hoá;

- Sử dụng các phương tiện công nghệ được thừa nhận quốc tế và có tính liên tác để chống truy nhập bất hợp pháp vào dữ liệu, tạo môi trường tin cậy và an toàn cho lưu thông dữ liệu xuyên biên giới để giúp cho thương mại quốc tế;

- Hỗ trợ việc hình thành và áp dụng một bộ mã thương mại thống nhất và hài hoà các quy tắc và thủ tục thương mại trên bình diện quốc tế, có tính tới các chính sách quốc gia;

- Chủ động tham gia và phát triển các hệ thống thanh toán điện tử phục

vụ TMĐT trong nước, trong khu vực và với các nước khác trên thế giới Các quốc gia phải đảm bảo tính an toàn và đáng tin cậy của hệ thống này;

- Liên tục kiểm nghiệm các phản ánh của TMĐT và hệ thống thuế và hợp tác chặt chẽ để đảm bảo tính toàn vẹn của hệ thống thuế

Trang 37

Giữa hai hệ thống các nguyên tắc chỉ đạo của Mỹ và của ASEAN có những điểm tương tự những cũng có những điểm khác biệt rất căn bản:

- Mỹ mặc nhiên coi phương tiện của TMĐT là Internet Các nước ASEAN chỉ nhận định rằng Internet đang nhanh chóng được toàn thế giới chấp nhận và rồi sẽ trở thành công cụ chủ yếu để tiến hành buôn bán cũng như liên lạc trong nội bộ các nước;

- Mỹ đánh giá TMĐT thuần tuý tích cực Các nước ASEAN lại đánh giá đặc trưng của TMĐT là các rủi ro, bất trắc, các "được và mất" tiềm tàng;

- Mỹ quan niệm Internet là đặc thù, ngoài vòng điều chỉnh của các quy định hiện hữu của liên lạc, truyền thanh, truyền hình và chủ trương TMĐT phải mang tính toàn cầu và hoàn toàn phi quan thuế Các nước ASEAN lại nhìn nhận TMĐT phải được tiến hành có tính tới các đặc thù quốc gia, và phải được phản ánh vào hệ thống thuế

Quan điểm chỉ đạo phát triển TMĐT của ASEAN phù hợp hơn với điều kiện của các nền kinh tế đang phát triển, sức cạnh tranh quốc tế chưa cao Với

tư cách là thành viên của ASEAN, Việt Nam cần xây dựng một hệ thống quan điểm chỉ đạo phát triển TMĐT phù hợp với quan điểm của ASEAN Tuy nhiên, cần thấy rằng so với các nước ASEAN khác như Malaysia, Indonesia, Thailand, và đặc biệt là Singapore, hạ tầng cơ sở cho phát triển TMĐT ở Việt Nam còn thấp hơn khá nhiều, đặc biệt là hạ tầng cơ sở thông tin Vì vậy, Việt Nam cần điều chỉnh hệ thông quan điểm chỉ đạo để khích hợp với thực tế của tình hình kinh tế xã hội đất nước

1.3.2.2 Chuẩn bị hạ tầng cơ sở cho phát triển TMĐT

Trong điều kiện của Việt Nam, với trình độ phát triển như hiện nay, hạ tầng cơ sở thông tin (hạ tầng vật chất) cần được ưu tiên phát triển trước tiên Song song với sự phát triển của hạ tầng cơ sở thông tin, hệ thống các qui định quản lý Nhà nước đối với quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên trên Internet, qui định đối với giao dịch thương mại điện tử, hệ thống thanh toán điện tử cần

Trang 38

có sự đầu tư ban đầu Trong giai đoạn đầu tiên, hạ tầng cơ sở thông tin, pháp

lý và thanh toán cần đảm bảo mức độ đáp ứng được yêu cầu cho các doanh nghiệp ứng dụng thí điểm TMĐT Giai đoạn này có thể kéo dài khoảng từ 3 đến 5 năm

Một nhân tố hạ tầng quan trọng khác là yếu tố thể chế Quan điểm tiếp cận và nguyên tắc chỉ đạo khác nhau tuỳ từng khối, từng nước và việc chấp nhận áp dụng, thực thi TMĐT liên quan tới rất nhiều ngành công nghệ, sản xuất và quản lý kinh tế, xã hội và cả an ninh quốc gia (an ninh kinh tế, an ninh công nghệ, an ninh quốc phòng)

1.3.2.3 Về chương trình tổng thể

Chương trình tổng thể về TMĐT của Australia gồm 3 điểm:

(i) Nâng cao nhận thức về các lợi ích, các cơ hội và tầm quan trọng của TMĐT; (ii) Đảm bảo khả năng tiếp cận của toàn thể dân chúng với các phương tiện của TMĐT; (iii) Đảm bảo cho mọi người có đủ hiểu biết kỹ thuật

và kỹ năng thực hành TMĐT

Chương trình tổng thể về TMĐT của Singapore gồm 5 điểm: (i) Phát triển hạ tầng cơ sở cho TMĐT kết nối với toàn thế giới; (ii) Biến Singapore thành một tâm điểm TMĐT của thế giới; (iii) Khuyến khích các doanh nghiệp ứng dụng TMĐT trên quan điểm chiến lược; (iv) Xúc tiến các cơ quan công cộng và các doanh nghiệp ứng dụng TMĐT; (v) Làm hài hoà các luật và các chính sách TMĐT với các nước ngoài

So sánh 2 chương trình tổng thể trên đây, có thể nhận thấy chương trình của Singapore là chương trình của một đất nước - thành phố, xưa nay và sau này hoạt động chủ yếu như một nơi giao dịch và chuyển khẩu, khác với chương trình của Australia, một nước rộng lớn

Chương trình tổng thể của Singapore là thành viên Đó là vì cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và sự vận hành hệ thống luật pháp của Singapore đã phát triển hơn các nước thành viên khác, cho phép có thể đi nhanh hơn

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG TMĐT TRONG CÁC DNNVV Ở

VIỆT NAM THỜI KỲ HỘI NHẬP2.1 Đặc điểm nền kinh tế Việt Nam thời kỳ sau hội nhập và những cơ hội thách thức đối với TMĐT Việt Nam

2.1.1 Những thành tựu đáng ghi nhận

Tổng sản phẩm trong nước (GDP), năm 2007 tăng 8,46%; năm 2008 tăng 6,18% Cơ cấu kinh tế theo giá thực tế chuyển dịch theo hư ớng tích cực, năm 2007, tỷ trọng GDP khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm còn 20,0%

so với 20,81% năm 2006; 20,97% năm 2005; 21,81% năm 2004 và 22,54% năm 2003 Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng dần và chiếm 41,7% so với 41,56%; 41,02% ; 40,21% và 39,47% và khu vực dịch vụ tăng nhẹ, chiếm 38,30% so với 38,08%; 38,01%; 37,98% và 37,99% các năm t ương ứng Nét mới trong năm 2007 là tỷ trọng khu vực dịch vụ tăng cao trong điều kiện có nhiều khó khăn nhiều mặt, nhất là dịch vụ vận tải, du lịch, thương mại, tài chính ngân hàng Năm 2008 lại có xu hướng chuyển dịch ngược lại do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu là khó tránh khỏi

Do kinh tế tăng trưởng cao nên tình hình tài chính 2 năm qua khá lành

mạnh Thu chi ngân sách nhà nước cân đối, bội chi ngân sách trong phạm vi

Quốc hội cho phép

Đạt được kết quả trên đây là do sau khi vào WTO các ngành sản xuất

và dịch vụ có chuyển biến tích cực theo hướng hội nhập với kinh tế thế giới

Sản xuất nông nghiệp

Sau khi vào WTO, nông nghiệp Việt Nam bước đầu mang dáng dấp của một nền sản xuất hàng hoá có những nét hiện đại đáp ứng được các yêu cầu của thị trường trong nước với nhu cầu cao hơn về chất lượng Tốc độ tăng trưởng của khu vực này theo GDP năm 2007 tăng 3,76%, năm 2008 tăng

Trang 40

Sản xuất công nghiệp tuy gặp khó khăn về thị trường, nhất là 6 tháng

cuối năm 2008 nhưng đánh giá chung 2 năm vào WTO vẫn tăng trưởng khá cao Năm 2007, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 17,1% cao hơn năm 2006 (17,0%), trong đó khu vực ngoài nhà nước tăng 26,0%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,2%

Năm 2008 tuy có khó khăn do suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng sản xuất công nghiệp vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá 13,9%, trong đó khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng 18,0%, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 18,0%

Kinh tế đối ngoại phát triển toàn diện cả về thu hút vốn đầu tư trực

tiếp nước ngoài và mở rộng thị trường xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ Trong 2 năm 2007 và 2008, cả nước đã thu hút 2116 dự án FDI đăng ký mới với số vốn 81.105 triệu USD, chiếm 21% số dự án, 54,59% tổng số vốn đăng

ký cả nước và bằng 43,7% tổng số vốn điều lệ còn hiệu lực từ năm 1988 đến cuối năm 2008

Điều đó cho thấy sau khi vào WTO, Việt Nam thực sự là điểm đến đầu

tư hấp dẫn của nhiều tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới và khu vực…

Về xuất nhập khẩu: Sau khi vào WTO, thực hiện các cam kết quốc tế,

thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam được mở rộng cả về quy mô, đối tác, hàng hoá, dịch vụ Tổng mức lưu chuyển ngoại thương năm 2007 đạt 109,2 tỉ USD, tăng 48,2% so năm 2006, năm 2008 đạt 143,1 tỉ USD 31,0% so năm

2007

Kim ngạch xuất khẩu năm 2007 đạt 48,561 tỉ USD, tăng 21,9% so với năm 2006, năm 2008 đạt 62,7 tỉ USD, tăng 29,5% so với năm 2007 Đáng chú

Ngày đăng: 02/03/2021, 09:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w