Nghiên cứu phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với người lao động trên địa bàn quận 6 tp hcm Nghiên cứu phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với người lao động trên địa bàn quận 6 tp hcm Nghiên cứu phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với người lao động trên địa bàn quận 6 tp hcm Nghiên cứu phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với người lao động trên địa bàn quận 6 tp hcm Nghiên cứu phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với người lao động trên địa bàn quận 6 tp hcm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 6 TP HCM
Mã số đề tài: 2016/05-KT-TC-NH
Chủ nhiệm đề tài: ThS Thái Thị Nho
TP Hồ Chí Minh, 2017
Trang 2MỤC LỤC
Chương 1: Giới thiệu……… 6
1.1 Sự cần thiết nghiên cứu……… 6
1.2 Mục tiêu nghiên cứu……… 7
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN ĐỐI VỚI NGƯỜI
LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 6 TP HCM
Mã số đề tài: 2016/05-KT-TC-NH
Chủ nhiệm đề tài: ThS Thái Thị Nho
TP Hồ Chí Minh, 2017
Trang 31.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 7
1.4 Phương pháp nghiên cứu………8
1.5 Những đóng góp mới của đề tài……….8
1.6 Kết cấu đề tài……… 8
Kết luận chương 1……….8
Chương 2 Cơ sở lý luận về BHXH, BHXH TN……….9
2.1 Tổng quan về BHXH, BHXH TN……… 9
2.1.1 Khái niệm về BHXH, BHXH TN………9
2.1.2 Những qui định cơ bản về chế độ BHXH TN ở Việt Nam………10
2.1.3 Vai trò của BHXH, BHXH TN……… 12
2.1.4 Đặc điểm và nguyên tắc BHXH TN……… 13
2.1.5 Cơ sở khoa học của sự phát triển BHXH TN……….16
2.2 Phát triển và phát triển BHXH TN………17
2.2.1 Một số khái niệm liên quan tới phát triển và phát triền BHXH TN……… 17
2.2.2 Nội dung phát triển BHXH TN……… 17
2.2.3 Sự cần thiết phát triển BHXH TN……… 19
Kết luận chương 2……… 19
Chương 3 Tổng quan về Cơ quan BHXH Quận 6……….24
3.1 Giới thiệu BHXH quận 6……… 24
3.1.1 Vị trí địa lý……….24
3.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển……….24
3.1.3 Chức năng, nhiệm vụ……… 25
3.2 Cơ cấu tổ chức……… 26
3.3 Thuận lợi, khó khăn……… 27
Kết luận chương 3……… 27
Chương 4 Thực trạng nghiên cứu phát triển BHXH TN đối với người lao động trên địa bàn quận 6………29
4.1 Thực trạng phát triển hệ thống cung ứng dịch vụ BHXH TN trên địa bàn quận 6… 29
4.2 Phát triển đối tượng tham gia BHXH TN trên địa bàn quận 6……… 29
4.3 Các nhóm yếu tố ảnh hưởng của Cơ quan BHXH quận 6 đến sự phát triển của BHXH TN trên địa bàn quận 6………30
4.3.1 Ảnh hưởng của Chính sách BHXH TN tới sự phát triển của BHXH TN………… 31
4.3.2 Ảnh hưởng của thông tin tuyên truyền tới sự phát triển của BHXH TN………… 32
4.3.3 Nhóm yếu tố liên quan đến chất lượng dịch vụ của Cơ quan BHXH quận 6………33
Kết luận chương 4……… 33
Chương 5 Giải pháp, kiến nghị……… 42
5.1 Giải pháp……… 42
5.2 Kiến nghị……… 50
Kết luận chương 5……… 50
Kết luận ……… 50
Tài liệu tham khảo ……… 51
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHXH BB Bảo hiểm xã hội bắt buộc
BHXH TN Bảo hiểm xã hội tự nguyện
BHYT Bảo hiểm y tế
KT-XH Kinh tế xã hội
HĐLĐ Hợp đồng lao động
UBND Ủy ban nhân dân
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Sự cần thiết nghiên cứu
Trang 5Con người là vốn quý nhất của mọi xã hội Vì vậy, con người phải luôn luôn đượcbảo vệ Mục tiêu tối thượng của mọi xã hội là bảo vệ quyền được sống, được lao động vàđược hưởng thụ lành mạnh của con người Với mục đích là “Nhà nước của dân, do dân và
vì dân”, Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củangười lao động Khi nền kinh tế có những bước vận hành đầu tiên theo cơ chế thị trường,vào năm 1994, Luật Lao động đã được ban hành Theo đà phát triển của kinh tế thị trường,hàng loạt vấn đề mới xuất hiện trong quan hệ lao động ở các doanh nghiệp Do đó, LuậtLao động đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần nhằm bảo vệ tốt hơn cho người lao động.Bảo hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện, Bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc và Bảo hiểm y tế(BHYT) là một trong những chính sách lớn, phức tạp đã được ban hành từ rất sớm nhằmbảo vệ tối đa quyền lợi của người lao động Khoản 2 Điều 140 Chương XII Luật Lao độngnăm 1994 quy định: “Các loại hình BHXH bắt buộc hoặc tự nguyện được áp dụng đối vớitừng loại đối tượng và từng loại doanh nghiệp để bảo đảm cho người lao động được hưởngcác chế độ BHXH thích hợp”
Đến nay BHXH, BHYT đã được nâng lên thành Luật Luật BHXH đã được Quốchội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ 9 ngày29/6/2006 gồm 11 chương và 141 điều Đến ngày 20/11/2014 Luật BHXH sửa đổi đã đượcQuốc hội khóa XIII thông qua tại Kỳ họp thứ Tám, gồm 09 Chương, 125 Điều, quy địnhchế độ, chính sách bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của người lao động, người sửdụng lao động; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến BHXH, tổ chức đại diện tập thểlao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động; cơ quan BHXH; Quỹ BHXH; thủ tụcthực hiện BHXH và quản lý nhà nước về BHXH Cũng như Luật BHYT được Quốc hộinước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14tháng 11 năm 2008 với 10 chương và 52 điều và Luật BHYT sửa đổi bổ sung đã đượcQuốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông quangày 13 tháng 6 năm 2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2015 Đó là biểu hiện sinhđộng nhất cho việc nhất quán, kiên trì thực hiện việc bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợppháp cho người lao động của Đảng và Nhà nước ta
BHXH và BHYT là bảo vệ quyền lợi cho người lao động, góp phần cải thiện đờisống người lao động nhằm theo kịp với xu hướng phát triển của xã hội Nhận thức được
tầm quan trọng của việc tham gia BHXH và BHYT, tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu phát
triển Bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với người lao động trên địa bàn Quận 6” để thực
hiện đề tài khoa học này
Trang 61.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu phát triển Bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với người lao động trên địabàn Quận 6 Các yếu tố ảnh hưởng của Cơ Quan Bảo Hiểm xã hội Quận 6 tác động đếnphát triển BHXH TN
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
+ Hiểu biết tổng quan Cơ quan Bảo Hiểm xã hội quận 6
+ Thực trạng công tác quản lý BHXH TN đối với NLĐ trên địa bàn Quận 6
+ Tầm quan trọng của công tác phát triển BHXH TN đối với người lao động trênđịa bàn Quận 6
+ Các yếu tố ảnh hưởng của Cơ Quan Bảo Hiểm xã hội Quận 6 tác động đến pháttriển BHXH TN
+ Đề ra những giải pháp, kiến nghị phù hợp để phát triển BHXH TN đối với ngườilao động trên địa bàn Quận 6 trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố ảnh hưởng của Cơ Quan Bảo Hiểm xã hộiQuận 6 tác động đến phát triển BHXH TN đối với người lao động trên địa bàn Quận 6
- Khách thể nghiên cứu: Cơ quan Bảo Hiểm Xã Hội quận 6
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu: Cơ quan Bảo Hiểm Xã Hội quận 6
- Thời gian nghiên cứu:
+ Thời gian thực hiện đề tài: quí 1,2,3 năm 2017
+ Thời gian nghiên cứu dữ liệu: 3 năm (2013- 2015)
1.4 Phương pháp nghiên cứu chủ yếu
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, nhằm đảm bảo tính khoa học và thực tiễn của cácnội dung nghiên cứu, đề tài dự kiến sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính:
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế tại Cơ quan Bảo Hiểm Xã Hội quận 6,người lao động đã và đang tham gia BHXH TN trên địa bàn quận 6
- Phương pháp thống kê mô tả, phân tích số liệu, phân tích thống kê
1.5 Những đóng góp mới
Trang 7Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu giúp làm rõ những bất cập cũng như những tích cựctrong công tác phát triển BHXH TN đối với người lao động trên địa bàn Quận 6 Qua đó,
đề xuất một số giải pháp cần thực hiện và một số kiến nghị đối với Nhà nước, Cơ quanBảo Hiểm Xã Hội quận 6 nhằm thúc đẩy hiện thực hóa và phát huy những tích cực trongcông tác phát triển BHXH TN đối với người lao động trên địa bàn Quận 6
Ý nghĩa thực tiễn: Những nghiên cứu là cơ sở khách quan để các cơ quan BảoHiểm Xã Hội đề ra các giải pháp nhằm khắc phục những bất cập và tận dụng những tíchcực trong công tác quản lý, phát triển BHXH TN đối với người lao động trên địa bàn Quận
6 của mình Kết quả nghiên cứu có được cũng có ý nghĩa tham khảo cho những công trìnhnghiên cứu khác
1.6 Kết cấu đề tài: gồm 5 chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý luận về BHXH, BHXH TN
Chương 3: Giới thiệu khái quát về Cơ quan BHXH Quận 6
Chương 4Thực trạng phát triển BHXH TN đối với người lao động trên địa bàn quận 6Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Kết luận chương 1: Trong chương 1 tác giả đã trình bày lý do chọn đề tài (tính cấp thiết
của đề tài), mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiêncứu chủ yếu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài (đóng góp mới của đề tài nghiêncứu) Để có cơ sở phân tích đánh giá thực trạng của công tác quản lý, phát triển BHXH
TN đối với người lao động trên địa bàn Quận 6 Chương tiếp theo tác giả sẽ nghiên cứu,giới thiệu về BHXH, BHXH tự nguyện, BHYT để làm nền tảng cho nghiên cứu này
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BHXH, BHXH TỰ NGUYỆN
2.1 Tổng quan về BHXH, BHXH TN
2.1.1 Khái niệm về BHXH, BHXH TN
BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người laođộng khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làmtrên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống chongười lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội
Bảo hiểm xã hội có lịch sử hình thành và phát triển rất lâu và sự tồn tại của nó là tấtyếu Có nhiều khái niệm về BHXH do đó có nhiều cách tiếp cận BHXH khác nhau Khái
Trang 8niệm được hiểu một cách chính xác nhất theo Tổ chức Lao động quốc tế - ILO (1999).
“BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặpphải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằngcách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụnglao động, người lao động và sự bảo trợ của Nhà nước, nhằm đảm bảo an toàn đời sống chongười lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội”
Quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam (2006): “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập củangười lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động,bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuôi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảohiểm xã hội”
Quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam (2006): “Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động
và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia”
Quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam (2006): “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao
động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thunhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội”
* Khái niệm phí bảo hiểm xã hội
Theo Trần Quang Hùng và Mạc Văn Tiến (1998): “Phí BHXH là khoản tiền đónggóp hàng tháng hoặc định kỳ của những người tham gia BHXH cho Quỹ bảo hiểm xã hội
* Khái niệm quỹ bảo hiểm xã hội
Cũng theo Trần Quang Hùng và Mạc Văn Tiến (1998): “Trong kinh tế thị trường,Quỹ BHXH là tập hợp những đóng góp bằng tiền của những người tham gia BHXH hìnhthành một quỹ tiền tệ tập trung để chi trả cho những người được BHXH và gia đình họ khi
họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc bị mất việclàm”
* Khái niệm trợ cấp bảo hiểm xã hội
Trợ cấp BHXH là khoản tiền từ Quỹ BHXH được cơ quan hay tô chức BHXH chitrả cho người được BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng lao
Trang 9động hoặc bị mất việc làm và có đủ điều kiện hưởng theo quy định của pháp luật BHXH.Trợ cấp BHXH có nhiều loại như trợ cấp một lần, trợ cấp lần đầu, trợ cấp hàng tháng, trợcấp ngắn hạn, trợ cấp dài hạn (Trần Quang Hùng và Mạc Văn Tiến, 1998).
* Khái niệm người lao động
Quy định tại Điều 6 Bộ Luật Lao động của Quốc hội (1994), “Người lao động làngười từ đủ 15 tuôi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, đượctrả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”
2.1.2 Những quy định cơ bản về chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam
Luật bảo hiểm xã hội được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa ViệtNam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 đã dành chương IV (từ Điều 69 đếnĐiều 79), mục 2 chương VI (từ Điều 98 đến Điều 101) và một số điều khoản có liên quan
để quy định về bảo hiểm xã hội tự nguyện Những quy định này chính là cơ sở pháp lýquan trọng cho việc hình thành chế độ BHXH TN chính thức ở nước ta (Chính phủ, 2006)
i) Đối tượng áp dụng bảo hiểm xã hội tự nguyện
Quy định tại Điều 2 và Điều 9 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 12năm 2007 của Chính phủ: Người tham gia BHXH TN là công dân Việt Nam trong độ tuôilao động, không thuộc diện áp dụng của pháp luật về BHXH bắt buộc, bao gồm: Ngườilao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới tháng; Cán bộ không chuyêntrách cấp xã, ở thôn và tô dân phố; Người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh,dịch vụ, kể cả xã viên không hưởng tiền lương, tiền công trong các hợp tác xã, liên hợphợp tác xã; Người lao động tự tạo việc làm; Người lao động làm việc có thời hạn ở nướcngoài mà trước đó chưa tham gia BHXH BB hoặc đã nhận BHXH một lần (Chính phủ,2007)
ii) Quyền và trách nhiệm của người tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện
* Quyền của người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện
Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP ngày 28/12/2007của Chính phủ: Người tham gia BHXH TN có các quyền sau đây:
Được cấp sô bảo hiểm xã hội; Nhận lương hưu hoặc trợ cấp BHXH TN đầy đủ, kịpthời, thuận tiện theo quy định; Hưởng bảo hiểm y tế khi đang hưởng lương hưu; Yêu cầu
tô chức BHXH cung cấp thông tin về việc đóng, quyền được hưởng chế độ, thủ tục thực
Trang 10hiện BHXH; Khiếu nại, tố cáo với cơ quan Nhà nước, cá nhân có thẩm quyền khi quyềnlợi hợp pháp của mình bị vi phạm hoặc tô chức, cá nhân thực hiện BHXH tự nguyện cóhành vi vi phạm pháp luật về BHXH; Ủy quyền cho người khác nhận lương hưu và trợ cấpBHXH tự nguyện.
* Trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện
Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định; Thực hiện quy định về việc lập hồ sơ BHXHTN; Bảo quản sô bảo hiểm xã hội theo đúng quy định (Chính phủ, 2007)
iii) Phương thức đóng và mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện
* Phương thức đóng: Người tham gia BHXH tự nguyện được đăng ký với tô chứcBHXH theo một trong 3 phương thức là: Đóng hàng tháng; đóng hàng quý; đóng 6 thángmột lần Trường hợp đóng hàng tháng thì đóng trong thời hạn của 15 ngày đầu; đóng hàngquý thì đóng trong thời hạn của 45 ngày đầu và đóng 6 tháng một lần thì đóng trong thờihạn của 3 tháng đầu
* Mức đóng BHXH TN hàng tháng (cho mỗi tháng): Mức đóng BHXH hàng thángcủa người tham gia BHXH TN bằng tỷ lệ phần trăm đóng BHXH TN (X) với mức thunhập tháng làm căn cứ đóng BHXH của người tham gia BHXH TN lựa chọn
* Tỷ lệ đóng BHXH tự nguyện: Từ tháng 01/2008 – 12/2009 = 16%; Từ tháng01/2010 – 12/2011 = 18%; Từ tháng 01/2012 – 12/2013 = 20%; Từ tháng 01/2014 trở đi =22%
* Mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH TN của người tham gia
BHXH tự nguyện lựa chọn (gọi tắt là Mức thu nhập tháng): thấp nhất bằng lương tối thiểuchung, cao nhất bằng 20 lần lương tối thiểu chung
Trang 112.1.3 Vai trò của bảo hiểm xã hội, bảo hiểm xã hội tự nguyện
i) Vai trò của bảo hiểm xã hội, bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với cá nhân người
lao động và gia đình
Thứ nhất, ổn định thu nhập cho người lao động và gia đình Khi tham gia BHXH,
BHXH TN, NLĐ phải trích một khoản phí nộp vào quỹ BHXH, khi gặp rủi ro, bất hạnhnhư: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm cho chi phí gia đình tang lên, khi về già hếttuôi lao động hoặc phải ngừng làm việc tạm thời Do vậy thu nhập của gia đình bị giảm,đời sống kinh tế lâm vào tình cảnh khó khăn, túng quẫn (Viet Nam Foundation, 2013)
Thứ hai, tạo được tâm lý yên tâm, tin tưởng Khi đã tham gia BHXH tự nguyện góp
phần nâng cao đời sống tinh thần đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho người laođộng, đặc biệt khi về già (Viet Nam Foundation, 2013)
ii) Vai trò của bảo hiểm xã hội, bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với xã hội
Thứ nhất, tăng cường mối quan hệ giữa các bên Nhà nước, người sử dụng lao
động và NLĐ có mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ rủi ro chỉ
có được trong quan hệ của BHXH Tuy nhiên mối quan hệ này thể hiện trên giác độ khácnhau Người lao động tham gia BHXH, BHXH tự nguyện với vai trò bảo vệ quyền lợi chochính mình đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội Người sử dụng laođộng tham gia BHXH là để tăng cường tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi ro cho NLĐnhưng đồng thời cũng bảo vệ, ôn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội Mốiquan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của BHXH
Thứ hai, tạo điều kiện cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện, động
lực cần thiết để khắc phục những biến cố trong cuộc sống, hoà nhập vào cộng đồng, kíchthích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mựccủa chân - thiện - mỹ, nhờ đó có thể chống lại tư tưởng “Đèn nhà ai nhà ấy rạng” BHXH
là yếu tố tạo nên sự hoà đồng mọi người, không phân biệt chính kiến, tôn giáo chủng tộc,
vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội công bằng, văn minh
Thứ ba, thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần tương thân tương ái Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là nhân tố quan trọng, giúp đỡ
những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, tạo điềukiện cho xã hội phát triển lành mạnh và bền vững
Trang 12Thứ tư, thực hiện bình đẳng xã hội Trên giác độ xã hội, BHXH TN là một công cụ
để nâng cao điều kiện sống cho người lao động Trên giác độ kinh tế, BHXH TN là mộtcông cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng Nhờ sự điều tiết nàyngười lao động được thực hiện bình đẳng không phân biệt các tầng lớp trong xã hội (VietNam Foundation, 2013)
2.1.4 Đặc điểm và nguyên tắc của bảo hiểm xã hội tự nguyện
* Đặc điểm: Bảo hiểm xã hội tự nguyện với tư cách là tiểu hệ thống của hệ thống
BHXH quốc gia, nên có những đặc điểm chung của BHXH Ngoài ra, BHXH TN cónhững đặc điểm cơ bản như: Bảo hiểm xã hội tự nguyện cũng như BHXH, dựa trênnguyên tắc cùng chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm; Đòi hỏi tất cả mọingười tham gia và bao trùm bởi một hệ thống được quy định mà các mức đóng góp tạonên một quỹ chung; Các thành viên được hưởng chế độ khi họ gặp các sự cố, các “rủi ro
xã hội” được bảo hiểm và đủ điều kiện để hưởng; Chi phí cho các chế độ được chi trả bởinguồn quỹ BHXH tự nguyện; Nguồn quỹ được hình thành từ các mức đóng góp của ngườitham gia, trong BHXH TN chủ yếu là người lao động, với một phần hỗ trợ của nhà nước;Đòi hỏi tham gia tự nguyện nhưng dựa trên những mức phí xác định; Các mức đóng gópđược đưa vào một quỹ BHXH TN và các chế độ được chi trả từ đó; Phần “nhàn rỗi tươngđối” của Quỹ được đầu tư để kiếm lợi nhuận; Các chế độ được bảo đảm trên cơ sở các hồ
sơ đóng góp không liên quan đến tài sản cũng như thu nhập của người hưởng BHXH TN;Các mức đóng góp và mức hưởng bằng một tỷ lệ với thu nhập (Trần Quang Hùng, 1993)
* Các nguyên tắc: Cũng theo tác giả Trần Quang Hùng (1993) BHXH tự nguyện có
và cơ chế quản lí cần thiết Biểu hiện cụ thể quyền được BHXH của người lao động làviệc họ được hưởng trợ cấp BHXH khi có nhu cầu phát sinh, theo các chế độ xác định.Các chế độ này gắn với các trường hợp người lao động bị giảm hoặc mất khả năng laođộng hoặc mất việc làm do đó bị giảm hoặc mất nguồn sinh sống Trong nền kinh tế thị
Trang 13trường các trường hợp đó có thể có rất nhiều và xảy ra một cách ngẫu nhiên Về nguyên líthì mọi trường hợp như thế, người lao động đều phải được BHXH, nhưng giữa nguyên lívới thực tiễn luôn luôn có một khoảng cách rất xa.
Nguyên tắc 2 Bảo hiểm xã hội tự nguyện phải dựa trên sự đóng góp tự nguyện của người tham gia bảo hiểm để hình thành nguồn quỹ BHXH TN
Đây là nguyên tắc có tính bản chất của BHXH trong nền kinh tế thị trường
Để hình thành nguồn quỹ BHXH TN để chi trả trợ cấp bảo hiểm cần phải có sựđóng góp của người tham gia BHXH Những người tham gia BHXH muốn đượchưởng BHXH thì phải thực hiện trách nhiệm đóng góp tài chính của mình cho QuỹBHXH Quỹ BHXH không phải là cái có sẵn, nên, trước hết phải tìm cách tạo ra nó Nếukhông có sự đóng góp này thì chính sách BHXH có hay đến mấy cũng không bao giờ cóBHXH trong thực tiễn Vì vậy, thực hiện trách nhiệm đóng góp tài chính BHXH là điềukiện cơ bản nhất để người lao động được hưởng quyền BHXH
Nguyên tắc 3 Nhà nước có trách nhiệm phải BHXH đối với người lao động, người lao động cũng có trách nhiệm phải tự BHXH cho mình
Đây là mối quan hệ trong nền kinh tế thị trường, trong đó, Nhà nước có vai tròquản lý vĩ mô mọi hoạt động KT-XH trên phạm vi cả nước Với vai trò này, Nhà nước cótrong tay mọi điều kiện vật chất của toàn xã hội, đồng thời cũng có mọi công cụ cần thiết
để thực hiện vai trò của mình
Đối với người lao động, khi gặp phải những rủi ro không mong muốn và khôngphải hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của người khác thì trước hết đó là rủi ro của bản thân
Vì thế, nếu muốn được BHXH tức là muốn nhiều người khác hỗ trợ cho mình, là dàn trảirủi ro của mình cho nhiều người khác thì tự mình phải gánh chịu trực tiếp Điều đó cónghĩa là bản thân người lao động phải có trách nhiệm tham gia BHXH TN để tự bảo hiểmcho mình
Nguyên tắc 4 San sẻ rủi ro theo quy luật số lớn
Nguyên tắc này dựa trên nguyên lý của BHXH là lấy số đông bù số ít Trong hoạtđộng BHXH, chỉ khi có đủ lớn số người tham gia thì khi đó BHXH mới có ý nghĩa “đảmbảo” Số lớn người tham gia BHXH sẽ tạo điều kiện hình thành một nguồn quỹ đủ lớn vớikhoản đóng góp “đủ nhỏ” của mỗi cá nhân Mức đóng góp BHXH nhất là BHXH TN
Trang 14thường rất thấp nên phần lớn những NLĐ trong nước đều có thể đóng góp dễ dàng Nhưngđiều quan trọng là, sự đóng góp đó được thực hiện đều kỳ và là đóng góp của số đông.Nhờ số lớn người đóng góp mà khi một số trong tông số người tham gia BHXH TN phátsinh nhu cầu được BHXH TN (chẳng hạn như hưu trí tự nguyện) thì quỹ BHXH TN có đủkhả năng chi trả các trợ cấp định kỳ, đảm bảo cuộc sống cho người nghỉ hưu.
Nguyên tắc 5 Kết hợp hài hoà các lợi ích, các khả năng và phương thức đáp ứng nhu cầu bảo hiểm xã hội tự nguyện
Trong BHXH các bên tham gia đều có được những lợi ích Nhưng lợi ích nhậnđược không phải luôn luôn như nhau, thống nhất với nhau, mà trái lại có lợi ích có lúc lạimâu thuẫn với nhau Đối với người lao động, khi sử dụng thu nhập của mình trước hết họphải dành phần lớn chi cho các nhu cầu sinh sống hàng ngày của bản thân và gia đình,phần còn lại mới có thể xem xét để đóng phí bảo hiểm xã hội Giả sử thu nhập của ngườilao động giữ nguyên, nếu đóng phí BHXH TN thấp thì lợi ích trước mắt của người laođộng sẽ tăng lên nhưng khi họ bị ốm đau, tai nạn, mất việc làm hay tuôi già thì đươngnhiên chỉ nhận được trợ cấp thấp Nếu muốn được hưởng trợ cấp BHXH TN cao, lẽ đươngnhiên sẽ phải đóng phí BHXH TN cao hơn thì phần chi cho đời sống hàng ngày lại phảigiảm đi Vì vậy, trong nghiên cứu xây dựng các thiết chế hoặc trong điều hành BHXH TN
cụ thể cần phải tìm ra những giải pháp để kết hợp hài hoà lợi ích lâu dài của người laođộng
Nguyên tắc 6 Bảo đảm tính thống nhất BHXH TN trên phạm vi cả nước, đồng thời phải phát huy tính đa dạng, năng động của các bộ phận cấu thành
Hệ thống BHXH của một nước thường gồm nhiều bộ phận cấu thành Trong đó, bộphận lớn nhất do Nhà nước tô chức và bảo hộ đặc biệt bao trùm toàn bộ những ngườihưởng lương từ ngân sách Nhà nước và những NLĐ thuộc khu vực kinh tế của đất nước(BHXH BB) Bên cạnh đó hệ thống/tiểu hệ thống BHXH TN cũng do Nhà nước lập ra,nên phải được thực hiện thống nhất trong cả nước
Nguyên tắc 7 Phát triển, mở rộng BHXH TN phải phù hợp với điều kiện KTXH trong từng giai đoạn phát triển và phù hợp với khả năng tham gia của số đông người lao động
Trang 15Sự phát triển của BHXH TN biểu hiện trên nhiều mặt: Cơ cấu các bộ phận của hệthống, số lượng và cơ cấu các chế độ trợ cấp, mức trợ cấp, thời hạn nghỉ việc để hưởng trợcấp, mức đóng phí Nếu không cân nhắc thận trọng và lựa chọn bước đi hợp lý sẽ có thểphát sinh trục trặc không thể kiểm soát được.
2.1.5 Cơ sở khoa học của sự phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện
Đối với bản thân con người, mặc dù có nhiều loại nhu cầu với những mức độ khácnhau, nhưng tựu trung lại có thể chia ra nhóm nhu cầu thiết yếu và nhu cầu ít thiết yếuhơn Nhu cầu thiết yếu là loại nhu cầu có tính phô biến cho tất cả mọi thành viên xã hội.Nhu cầu ít thiết yếu hơn (không có nghĩa là nhu cầu thấp hơn) là loại nhu cầu tùy thuộcvào hoàn cảnh của từng cá nhân hoặc nhóm xã hội mà phát sinh loại nhu cầu này Mức độthỏa mãn các nhu cầu này của xã hội cũng như của từng cá nhân hoặc nhóm xã hội tùythuộc vào khả năng kinh tế trong từng thời kỳ
Các nhà xã hội học và tâm lý học, dù có cách tiếp cận khác nhau về nhu cầu, nhưngđều thống nhất về một đặc tính cơ bản của nhu cầu: là nguồn gốc của mọi hành động củacon người (Đoàn Văn Chúc, 1997)
Nhu cầu con người hàm chứa hai khía cạnh: khía cạnh sinh học và khía cạnh xãhội Từ khía cạnh xã hội, khi mà thu nhập còn thấp, mức sống chưa cao, người ta phải tìmcách thỏa mãn những nhu cầu phô biến (tức là nhu cầu thiết yếu) trước đã
Đến khi thu nhập tăng lên, mức sống cao hơn, lúc đó các nhu cầu cao hơn sẽ đượcthỏa mãn dần Tất nhiên ở đây cũng phải thấy một logic sau: khi mức sống được nâng lênthì các nhu cầu mới lại sẽ phát sinh và khi mức sống càng cao, nhu cầu phát sinh càngnhiều và càng đa dạng, phong phú Do đó, có thể nói, nhu cầu là cái đích di động, còn việcthỏa mãn các nhu cầu chỉ là tập hợp các phương tiện để tiếp cận đến cái đích ấy mà thôi.Ngay trong các nhu cầu thiết yếu, không phải ai (hoặc xã hội) cũng có thể đáp ứng (hoặcthỏa mãn) một cách nhanh chóng hoặc hoàn chỉnh, mà vẫn phải có những thang bậc (mứcđộ) thỏa mãn dần dần Thường thì người ta (và xã hội) phải thỏa mãn những nhu cầu thiếtyếu ở mức độ tối thiểu trước đã, sau đó mới nâng dần mức độ thỏa mãn lên
Sự xuất hiện của BHXH nói chung và BHXH TN nói riêng là một tất yếu kháchquan khi mà mọi thành viên trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia hệ thốngBHXH và sự cần thiết phải tiến hành bảo hiểm cho NLĐ Vì vậy, BHXH đã trở thành nhucầu và quyền lợi của NLĐ và được thừa nhận là một nhu cầu tất yếu khách quan, một
Trang 16trong những quyền lợi của con người như trong Tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồngLiên hợp quốc họp thông qua ngày 10-12-1948 đã nêu: “Tất cả mọi người với tư cách làthành viên của xã hội có quyền hưởng Bảo hiểm xã hội”.
Tóm lại, qua cách tiếp cận nêu trên về nhu cầu và nhu cầu BHXH, có thể thấy nhu
cầu BHXH (theo nghĩa hẹp) là nhu cầu được bảo đảm và duy trì cuộc sống của NLĐ vàgia đình họ ở mức độ nào đó Nhu cầu này là nhu cầu động và nó chỉ có thể đáp ứng được
ở mức độ nào đó (với mức ngày một tăng lên nhưng không thể tăng mãi) Nhu cầu BHXHrất đa dạng và luôn phát triển mở rộng, nhưng khả năng đáp ứng nhu cầu thì không phảinhư vậy, vì một mặt, khả năng đáp ứng nhu cầu luôn có một độ trễ nhất định so với nhucầu Mặt khác, khả năng đáp ứng nhu cầu lại phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố kinh tế –
xã hội và trong chừng mực nhất định, phụ thuộc vào cả yếu tố chính trị của mỗi quốc giatrong từng thời kỳ Đáp ứng được nhu cầu BHXH TN là cả một nghệ thuật, nhận thức vàtrình độ tô chức của hệ thống BHXH mỗi nước
2.2 Phát triển và phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện
2.2.1 Một số khái niệm liên quan tới phát triển và phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện
* Phát triển: Phát triển là sự tăng trưởng gắn liền với sự hoàn thiện về cơ cấu và
nâng cao về chất lượng Phát triển là sự tăng lên về quy mô, khối lượng của sự vật, hiệntượng, nhưng đồng thời làm thay đôi về cấu trúc (thay đôi về chất) của sự vật, hiện tượng
đó Phát triển là quá trình biến đôi của sự vật, hiện tượng
Theo Nguyễn Đăng Hải (2011), thì phát triển chỉ sự trưởng thành, lớn hơn về chất,
về lượng Nói cách khác, phát triển là tất cả các hoạt động tìm kiếm nhằm tạo ra cái mới,
có thể làm tăng về số lượng, làm cho tốt hơn về chất lượng hoặc cả hai
* Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện: Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện thể
hiện quá trình thay đôi (tăng lên) về số lượng tham gia, chất lượng bảo hiểm ở giai đoạnnày so với giai đoạn trước đó, sự thay đôi về cơ cấu đối tượng tham gia
Qua đó, có thể hiểu rằng, sự phát triển BHXH TN trước hết là sự gia tăng về sốlượng người tham gia bảo hiểm, cơ cấu đối tượng được mở rộng, đối tượng tham gia bảohiểm ở nhiều tầng lớp lao động, ngành nghề khác nhau Đồng thời là sự gia tăng chấtlượng dịch vụ BHXH TN và cải thiện các chính sách BHXH TN trên phạm vi từ điểm chođến toàn quốc gia
Trang 17Với khái niệm phát triển nêu trên, có thể hiểu phát triển BHXH TN theo cả hai chiều: chiều rộng và chiều sâu.
Theo chiều rộng, phát triển BHXH TN là việc mở rộng độ “bao phủ“, nghĩa là mở
rộng các loại đối tượng tham gia BHXH, có thể từ nhóm lao động nông nghiệp, nông dân,đến lao động tiểu thủ công nghiệp, lao động tự do (còn gọi là lao động độc lập) Phát triểntheo chiều rộng bao gồm cả việc mở rộng các chế độ BHXH, trước hết là chế độ hưu trí,tiếp đến, khi có điều kiện (cả khả năng tô chức của cơ quan BHXH và khả năng tham giacủa NLĐ) có thể là các chế độ khác, như chế độ TNLĐ- BNN, chế độ bảo hiểm thấtnghiệp Phát triển theo chiều rộng thường gắn với phát triển về quy mô và cơ cấu
Theo chiều sâu, phát triển BHXH TN là việc nâng dần các mức đóng góp, tương
ứng là nâng dần các mức thụ hưởng BHXH, theo sự phát triển KT-XH của đất nước vàchất lượng cuộc sống của dân cư Trước mắt mức đóng góp có thể dựa trên mức lương tốithiểu chung của xã hội, tiến dần lên là mức lương trung bình của xã hội và tiếp theo có thể
là dựa trên mức thu nhập thực tế của người lao động (khi đã đủ lớn) Phát triển theo chiềusâu còn bao gồm cả nâng cao chất lượng dịch vụ BHXH TN của các cơ quan BHXH cáccấp Phát triển BHXH theo chiều sâu thường gắn với phát triển về chất lượng
2.2.2 Nội dung phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện
Với cách tiếp cận về khái niệm phát triển nêu trên, nội dung phát triển BHXH tự
nguyện bao gồm: * Phát triển về số lượng: Trên cơ sở phân tích nhu cầu (qua khảo sát
thực tế) của các nhóm đối tượng tham gia BHXH TN, có thể (i) mở rộng nhóm đối tượngtham gia BHXH TN đối với những người chưa từng tham gia BHXH và (ii) gia tăng sốlượng người thuộc các nhóm đã tham gia BHXH TN
Đối với nhóm (i), như đã phân tích ở trên, có thể lựa chọn những đối tượng có thunhập tương đối ôn định và phát triển trong một số năm Ví dụ có thể mở rộng đối vớinhóm người làm việc trong khu vực tiểu thủ công nghiệp; lao động độc lập nhưng khá ônđịnh ở thành thị, như thợ cắt tóc, thợ làm đẹp, thợ làm móng tay…
Đối với nhóm (ii) cần tăng cường tuyên truyền, đồng thời tô chức khảo sát để mởrộng độ bao phủ của nhóm như mở rộng đối với nông dân, lao động trong các trang trại,các cơ sở sản xuất cá thể nhỏ lẻ
Trang 18* Phát triển về chất lượng: Thông qua khảo sát để đánh giá khả năng tham gia
BHXH TN của các nhóm đối tượng, chủ yếu là đánh giá mức thu nhập hiện tại mà mức độtăng trưởng (thay đôi) thu nhập trong một số năm gần đây Từ những thông tin này tiếnhành phân tô để tác động đến các nhóm có thu nhập trên trung bình và thu nhập cao, triểnkhai trước hoặc xây dựng mức phí BHXH cao Đối với nhóm thu nhập chưa cao (nhưngcao hơn mức lương tối thiểu chung do nhà nước quy định), lựa chọn những nhóm có nhucầu cao nhất (so với nhóm) để đề xuất mức phí phù hợp Phân nhóm đối tượng, vừa đadạng hóa đối tượng vừa nâng cao chất lượng tham gia BHXH Tương đương với các mứcphí áp dụng cho các nhóm đối tượng, sẽ có các mức hưởng BHXH phù hợp và điều nàytạo cho hệ thống BHXH TN phát triển bền vững (phát triển về chất)
* Phát triển về cơ cấu: Là sự tổ hợp của phát triển về số lượng và phát triển về chất
lượng nêu trên, thông qua việc phân nhóm đối tượng và phân nhóm mức đóng, mức thụ
hưởng BHXH TN * Phát triển về cơ chế chính sách: Là sự phát triển phù hợp với năng
lực quản lý của các cơ quan BHXH và phù hợp với định hướng phát triển KT-XH chungcủa đất nước và của từng địa phương Như vậy, về cơ chế chính sách có thể có cơ chếchính sách chung, có tính phổ quát, áp dụng trong phạm vi cả nước Ví dụ về định hướngchính sách, nguyên tắc chung của BHXH TN, xây dựng và quy định khung các chế độBHXH; lộ trình thực hiện việc mở rộng độ “bao phủ” của chính sách Có những chínhsách căn cứ từ thực tiễn (kinh tế - xã hội, nhu cầu, tính đặc thù các nhóm đối tượng) củatừng địa phương để lựa chọn; (i) Việc mở rộng quy mô cho nhóm đối tượng nào trước,nhóm đối tượng nào sau; (ii) Lựa chọn mức đóng và phương thức đóng - hưởng, trên cơ sởkhung mức chung của nhà nước (BHXH Trung ương)
2.2.3 Sự cần thiết phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện
Theo Trần Quang Hùng và Mạc Văn Tiến (1998), “Việt Nam là một nước đông dân(90 triệu người, đứng hàng thứ 12 trên thế giới), nhưng lại là một trong những nước mớibước ra khỏi nhóm nước nghèo Vì vậy an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm xã hội nóiriêng có ý nghĩa rất to lớn đối với người dân và người lao động (NLĐ) Riêng lĩnh vựcBHXH, qua trên 50 năm thực hiện, chính sách BHXH đã phát huy dần từng bước, từ chỗđối tượng BHXH chỉ là công nhân viên chức Nhà nước, đến nay đã mở rộng cho NLĐtrong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế Tính đến nay đã có khoảng 19 triệungười tham gia BHXH”
Trang 19Chính sách bảo hiểm xã hội đã góp phần to lớn vào việc ôn định đời sống cho NLĐthụ hưởng BHXH; góp phần ôn định chính trị - xã hội của đất nước Tuy nhiên, so với lựclượng lao động cả nước thì tỷ lệ lao động tham gia BHXH còn thấp.
Đối với loại hình BHXH tự nguyện, theo tác giả, đây là sự cần thiết khách quan
trong nền kinh tế quốc dân Thực ra loại hình bảo hiểm này đã manh nha thực hiện ở mộtvài địa phương Chẳng hạn ở Phú Xuyên, Hà Tây, từ năm 1986 Hội nông dân ở đây đãthực hiện bảo hiểm hưu trí cho nông dân Bảo hiểm ở Hà Tây được thực hiện trên cơ sởđóng bằng thóc để hưởng tuôi già Tuy nhiên, do chưa có sự chuẩn bị chu đáo và chưa có
cơ sở pháp lý phù hợp, nên kết quả thực hiện ở các địa phương này còn hạn chế Loại hìnhBHXH tự nguyện thường được áp dụng cho hai nhóm lao động Nhóm thứ nhất là nhữngngười tham gia hình thức BHXH BB nhưng có nhu cầu thêm; nhóm thứ hai là nhữngngười chưa tham gia BHXH Trong luận án, như ở phạm vi đã trình bày, chỉ đề cập đếnnhóm thứ hai Những người này gồm lao động trong nông nghiệp, lao động trong khu vựctiểu thủ công nghiệp, lao động độc lập…
Do tính chất lao động rất đa dạng và thu nhập của họ cũng rất khó kiểm soát, nêncần có cách thức tô chức và cách đóng BHXH TN phù hợp Về cách thức tổ chức BHXH
TN, theo kinh nghiệm của một số nước, nhà nước chỉ tạo ra khung pháp lý, định hướngchung Các hoạt động nghiệp vụ BHXH được thực hiện theo chế độ tự quản
Mô hình này có thể tóm tắt như sau; NLĐ bầu ra người đại diện cho mình vào Hộiđồng tự quản cơ sở Hội đồng cơ sở lại bầu ra đại diện để tham gia vào hội đồng tự quảnvùng Hội đồng tự quản các vùng lại bầu ra Hội đồng BHXH Trung ương Đây là cơ quancao nhất của BHXH tự nguyện Cơ quan này đề ra điều lệ và định ra phương hướng hoạtđộng theo định hướng chung của nhà nước, bao gồm cả cách thức đóng góp, xây dựng cácchế độ, đầu tư phát triển quỹ… Vì là hình thức tự nguyện, nên tổ chức như vậy NLĐ coiBHXH là của mình, dễ dàng chấp nhận hơn
Để thực hiện được mô hình BHXH tự nguyện đòi hỏi hệ thống luật pháp của Nhànước phải hoàn thiện và có sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan chức năng
Về cách thức đóng góp BHXH TN, vì thu nhập của NLĐ ở các nhóm đối tượng nêutrên rất khó kiểm soát và thường không ôn định (đặc biệt là lao động trong nông nghiệp,lao động độc lập), do đó cũng nên thực hiện đóng và hưởng trên cơ sở của “mức thu nhậpđược bảo hiểm” Mức thu nhập được bảo hiểm, hiểu một cách phô quát nhất là mức thu
Trang 20nhập bình quân của các nhóm lao động tham gia BHXH tự nguyện, thông qua thống kêthu nhập theo số lớn, được dùng để tính mức đóng và mức hưởng BHXH Mức thu nhậpđược bảo hiểm này có thể được điều chỉnh theo từng thời kỳ phù hợp với mặt bằng chungcủa nền kinh tế quốc dân.
Đóng và hưởng theo cách này thì mọi NLĐ có thể tham gia được nhất là đối vớinhững lao động có thu nhập thấp và không ôn định và nghiệp vụ bảo hiểm cũng sẽ đơngiản Về các chế độ BHXH, do tính chất linh hoạt và đa dạng của lao động và khả năngquản lý, hệ thống BHXH tự nguyện nên làm từng bước, trước hết có thể thực hiện chế độbảo hiểm tuôi già và chế độ tử tuất Điều kiện để hưởng trợ cấp BHXH cũng trên cơ sở độtuôi và thời gian đóng góp Tuy nhiên, khác với hệ thống bảo hiểm bắt buộc, trong hệthống bảo hiểm tự nguyện, NLĐ có thể tham gia bảo hiểm khi tuôi đời đã tương đối nhiều(chẳng hạn 40-50 hay 50 tuổi mới bắt đầu tham gia bảo hiểm) Vì vậy về mặt kỹ thuật cầntính toán các mức đóng khác nhau để những người ở các độ tuôi khác nhau cũng có thểtham gia, mà vẫn bảo đảm công tác công bằng (Trần Quang Hùng, 1993)
Như đã nêu, số đối tượng tham gia BHXH theo hình thức bắt buộc chỉ mới chiếmkhoảng 20% lực lượng lao động, còn khoảng 80% số lao động chưa được tham giaBHXH, trong đó số người làm nông nghiệp và ở nông thôn chiếm khoảng 80%
Như vậy, ở góc độ chính sách, chúng ta chưa có điều kiện thực hiện BHXH bắtbuộc cho lực lượng lao động đông đảo này Trong khi đó Hiến pháp và các chủ trương củaĐảng đều đã đề cập đến vấn đề BHXH đối với NLĐ trong các thành phần kinh tế
Tuy nhiên, với những đặc điểm nêu trên, theo tác giả, để xây dựng BHXH tự
nguyện cần phải thống nhất một số vấn đề sau:
Thứ nhất, về đối tượng thụ hưởng BHXH TN: là tất cả NLĐ kể cả những đối tượng
đã tham gia BHXH BB đều có thể tham gia BHXH TN Mọi NLĐ trong các thành phầnkinh tế đều có quyền hưởng BHXH TN nếu có đóng phí BHXH Tuy nhiên, để được coi làđối tượng thụ hưởng BHXH TN phải là những người thu nhập ở mức tối thiểu nào đó.Những người quá nghèo, không có thu nhập thì không nên tham gia vào hệ thống BHXH
mà là đối tượng của cơ chế bảo đảm xã hội (hệ thống trợ giúp xã hội)
Trang 21Thứ hai, do tính phức tạp của vấn đề, cho nên phải thực hiện dần các chế độ
BHXH, trước mắt chỉ có thể thực hiện chế độ bảo hiểm tuôi già (hưu trí) và chăm sóc y tế(ốm đau)
Thứ ba, cơ sở để đóng góp BHXH TN nên quy định bằng một tỷ lệ trên một mức
nào đó, có thể là lấy mức tối thiểu của Chính phủ quy định Mức này gọi là “mức thu nhậpđược bảo hiểm” Như vậy, mọi người tham gia BHXH TN sẽ đóng theo mức cố định Khimức lương tối thiểu thay đổi thì đương nhiên mức đóng này cũng thay đôi theo Mặt khác,
do nhu cầu BHXH TN của mọi người có thể khác nhau, nên có thể xây dựng một số mứcđóng khác nhau để NLĐ có thể lựa chọn mức đóng nào rồi thì phải thực hiện mức đótrong một thời gian nhất định mới được chuyển sang mức khác (nếu muốn) Trên cơ sởmức đóng góp này thì mức hưởng sẽ là như nhau với mọi NLĐ (nếu đóng theo một mức)
Thứ tư, do NLĐ tự nguyện đóng góp nên tô chức quỹ BHXH nên theo hình thức tự
quản là tốt nhất, trên cơ sở các định hướng chung của Nhà nước Có thể coi những ngườitham gia BHXH như các “cổ đông” trong các doanh nghiệp cổ phần, họ bầu ra đại diệncủa mình trong Hội đồng quản trị để quản lý và hoạt động thu chi của quỹ BHXH
Kết luận chương 2, trong chương này tác giả đã khái quát hóa được tổng quan về BHXH,BHXH TN làm nền tảng nghiên cứu các chương tiếp theo
Trang 22CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ CƠ QUAN BẢO HIỂM XÃ HỘI QUẬN 6
3.1 Giới thiệu Bảo hiểm xã hội Quận 6
3.1.1 Vị trí địa lý
Quận 6 nằm về phía Tây Nam thành phố Hồ Chí Minh, bắc giáp với quận Tân Phú vàQuận 11 có ranh giới dọc theo rạch Lò Gốm, đại lộ Hồng Bàng; đông giáp với Quận 5, córanh giới dọc theo đường Nguyễn Thị Nhỏ, qua bến xe Chợ Lớn, đường Ngô Nhân Tịnh;nam giáp với Quận 8, có ranh giới kênh Bến Nghé (bến Trần Văn Kiểu cũ ); tây giáp vớiquận Bình Tân, có ranh giới là đường An Dương Vương Quận 6 có chợ đầu mối Bình Tây
là 01 trong những trung tâm bán buôn lớn của cả nước Thế mạnh của Quận 6 là thươngmại, dịch vụ; trong đó chủ yếu là buôn bán thực hiện trao đổi sản phẩm với các tỉnh miềnTây Nam Bộ, bên cạnh đó với phần đông là dân lao động, có đông người Hoa có nhiềukinh nghiệm, nhạy bén trong sản xuất - kinh doanh, phát triển mạnh về sản xuất tiểu thủcông nghiệp
Quận 6 có tổng diện tích tự nhiên là 7,14 km2, chiếm 0,34% diện tích tự nhiên của toànthành phố Dân số tính đến năm 2014 của Quận 6 là 256.121 người Địa bàn Quận 6 đượcchia thành 14 phường với 74 khu phố và 1311 tổ dân phố Thành phần dân tộc: ngườiKinh chiếm 73,31%, người Hoa chiếm 26,10%, còn lại là người Chăm, Khơ - me, Tày,Nùng…
Bảo hiểm Xã hội quận 6 chịu sự lãnh đạo, quản lý trực tiếp, toàn diện của Giámđốc Bảo hiểm Xã hội TP HCM và chịu sự quản lý hành chính nhà nước của Ủy ban Nhândân Quận 6
Bảo hiểm Xã hội Quận 6 có tư cách pháp nhân, có dấu, tài khoản và trụ sở riêng.Hiện tại, Bảo hiểm Xã hội Quận 6 có 30 biên chế, trong đó:
- 01 Giám đốc;
- 03 Phó Giám đốc;
Trang 23- Bảo hiểm Xã hội quận 6 là cơ quan sự nghiệp nhà nước thuộc Bảo hiểm Xã hộiThành phố Hồ Chí Minh có chức năng giúp Giám đốc Bảo hiểm Xã hội Thành phố HồChí Minh tổ chức thực hiện chế độ chính sách BHXH, BHYT và quản lý thu, chi BHXH,BHYT trên địa bàn quận theo phân cấp quản lý của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam và quyđịnh của pháp luật.
- Bảo hiểm Xã hội quận 6 chịu sự lãnh đạo, quản lý trực tiếp, toàn diện của Giámđốc Bảo hiểm Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh và chịu sự quản lý hành chính nhà nướccủa Ủy ban Nhân dân Quận 6
- Tổ chức hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ, cấp sổ, thẻ; thu các khoản đóng BHXH,BHYT, giải quyết các chế độ BHXH, BHYT cho người tham gia bảo hiểm theo phân cấp
- Tổ chức ký, giám sát thực hiện hợp đồng với các cơ sở khám, chữa bệnh; bảo vệquyền lợi người có thẻ BHYT và chống lạm dụng quỹ BHYT