1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤTVÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

64 335 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận cơ bản về tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại bài luận
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 94,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ được chia ra làm 3 loại khoản mục chi phí sau :- Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp - Chi phí nhân công trực tiếp - Chi phí sản xuất chun

Trang 1

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤTVÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

I - SỰ CẦN THIẾT PHẢI TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUÂT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT.

1- Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất :

1.1 Khái niệm chi phí sản xuất :

Trong quá trình sản xuất sản phẩm, Doanh nghiệp thường phải bỏ ra những chi phí về các loại đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động của con người Đây là các yếu tố cơ bản để tiến hành các hoạt động sản xuất, song sự tham gia của mỗi yếu tố này là khác nhau dẫn đến sự hình thành những chi phí tương ứng như: chi phí nguyên liệu, vật liệu (gọi là hao phí về lao động vật hoá), chi phí nhân công (chi phí về lao động sống), chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền .Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá và cơ chế hạch toán kinh doanh, các chi phí trên đều được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ Điều này giúp cho chúng ta có thể biết được số chi phí mà doanh nghiệp đã chi trong quá trình hoạt động là bao nhiêu nhằm tính toán các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phục vụ cho yêu cầu quản lý

Trong Doanh nghiệp sản xuất, ngoài những chi phí sản xuất có tính chất sản xuất còn phát sinh những chi phí không có tính chất sản xuất như chi phí phục vụ cho việc tiêu thụ sản phẩm, cho các hoạt động mang tính chất sự nghiệp Chỉ những chi phí để tiến hành các hoạt động sản xuất mới được coi là chi phí sản xuất và là bộ phận quan trọng trong chi phí sản xuất kinh doanh của một Doanh nghiệp

1.2 Phân loại chi phí sản xuất :

Trang 2

Chi phí sản xuất của các Doanh nghiệp bao gồm nhiều loại có nội dung kinh

tế khác nhau, mục đích và công dụng trong quá trình sản xuất cũng khác nhau Để phục vụ cho công tác quản lý chi phí sản xuất và kế toán tập hợp chi phí sản xuất nhằm nhận biết và động viên mọi khả năng tiềm tàng hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất của Doanh nghiệp, có thể tiến hành phân loại chi phí sản xuất theo các tiêu thức khác nhau

1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí:

Căn cứ vào tính chất, nội dung kinh tế của các chi phí giống nhau để xếp vào một yếu tố chi phí, không phân biệt chi phí đó phát sinh trong lĩnh vực nào, ở đâu Toàn bộ chi phí sản xuất trong kỳ được chia thành các yếu tố chi phí sau :

- Chi phí nguyên liệu vật liệu

- Chi phí nhân công

- Chi phí khấu hao tài sản cố định

- Chi phí dịch vụ mua ngoài

dự toán chi phí cho kỳ sau

1.2.2 Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí:

Các chi phí sản xuất có cùng mục đích và công dụng được xếp vào cùng một khoản mục chi phí, không phân biệt các chi phí đó có nội dung kinh tế như thế nào Vì vậy, cách phân loại này còn gọi là phân loại chi phí sản xuất theo khoản

Trang 3

mục Toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ được chia ra làm 3 loại khoản mục chi phí sau :

- Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp

- Chi phí nhân công trực tiếp

- Chi phí sản xuất chung: là những chi phí ngoài 2 khoản mục chi phí trực tiếp

đã nêu ở trên, bao gồm những khoản chi phí sau:

+ Chi phí nhân viên phân xưởng

+ Chi phí vật liệu

+ Chi phí dụng cụ sản xuất

+ Chi phí khấu hao tài sản cố định

+ Chi phí dịch vụ mua ngoài

+ Chi phí bằng tiền khác

Về mặt quản lý, phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí giúp cho việc quản lý chi phí sản xuất theo định mức, là cơ sở cho kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo khoản mục, là căn cứ để phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và định mức chi phí sản xuất cho

kỳ sau Tuy nhiên cách phân loại này về bản chất kế toán là chưa chính xác vì chi phí sản xuất còn bao gồm cả một phần chi phí quản lý doanh nghiệp

Trang 4

+ Chi phí khả biến (biến phí) là các chi phí thay đổi về tổng số tỷ lệ với sự thay đổi của số lượng sản phẩm sản xuất (như chi phí vật liệu)

+ Chi phí cố định (định phí) là các chi phí mà tổng số không thay đổi khi

có sự thay đổi trong mức độ hoạt động của sản xuất hoặc khối lượng sản phẩm, công việc, lao vụ sản xuất trong kỳ (như chi phí khấu hao) Tuy nhiên, nếu có thay đổi về khối lượng sản phẩm sản xuất thì chi phí cố định trên một đơn vị sản phẩm sẽ biến động tương quan tỷ lệ nghịch với sự biến động của sản phẩm

Cách phân loại này có tác dụng lớn đối với quản trị kinh doanh, phân tích điểm hoà vốn và phục vụ cho việc ra các quyết định quản lý cần thiết để hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả kinh doanh

2 Giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất :

2.1 Khái niệm giá thành sản phẩm :

Giá thành là biểu hiện bằng tiền của chi phí sản xuất tính cho một khối lượng hoặc một đơn vị sản phẩm (công việc, lao vụ) do doanh nghiệp sản xuất đã hoàn thành

Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu chất lượng quan trọng đối với các Doanh nghiệp sản xuất cũng như đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn trong quá trình sản xuất

Trang 5

Căn cứ vào cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành, giá thành sản phẩm được chia thành 3 loại:

- Giá thành kế hoạch: Giá thành kế hoạch là giá thành sản phẩm được tính

trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch Việc tính toán xác định giá thành kế hoạch được tiến hành trước khi quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm và do bộ phận kế hoạch thực hiện Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của Doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của Doanh nghiệp

- Giá thành định mức: Việc tính giá thành định mức cũng được thực hiện

trước khi tiến hành sản xuất, chế tạo sản phẩm, được tính trên cơ sở chi phí các định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm Giá thành định mức được xem là thước đo chính xác để xác định kết quả sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn, lao động trong sản xuất, giúp cho đánh giá đúng đắn các giải pháp mà doanh nghiệp đã áp dụng trong quá trình hoạt động sản xuất nhằm nâng có hiệu quả kinh doanh

- Giá thành thực tế: Giá thành thực tế của sản phẩm chỉ có thể tính toán được

khi quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm đã hoàn thành và dựa trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong kỳ và sản lượng sản phẩm thực tế đã sản xuất ra trong kỳ Đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp kinh tế -kỹ thuật-tổ chức và công nghệ để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có ảnh hưởng đến thu nhập của doanh nghiệp, là căn cứ cho việc xây dựng giá thành kế hoạch cho những kỳ sau ngày càng tiên tiến, sát thực

2.2.2 Phân loại giá thành theo phạm vi các chi phí cấu thành.

Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm được chia làm 2 loại:

Trang 6

- Giá thành sản xuất: Giá thành sản xuất của sản phẩm bao gồm các chi phí

sản xuất, chế tạo sản phẩm tính cho sản phẩm, công việc hay lao vụ đã hoàn thành, là căn cứ để tính toán giá vốn hàng bán và mức lãi gộp ở các doanh nghiệp sản xuất

- Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ: Bao gồm giá thành sản xuất và chi

phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản phẩm tiêu thụ Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ là căn cứ để tính toán, xác định mức lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp

3- Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với giá thành sản phẩm.

Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt biểu hiện của quá trình sản xuất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tuy nhiên, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm không phải là một mà có sự khác nhau về lượng, về thời gian và thể hiện qua các điểm sau :

- Chi phí sản xuất luôn gắn liền với từng thời kỳ nhất định đã phát sinh còn giá thành sản phẩm lại gắn liền với khối lượng sản phẩm, công việc, lao vụ đã sản xuất hoàn toàn

- Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm một phần chi phí thực tế đã phát sinh (chi phí trả trước) hoặc một phần chi phí sẽ phát sinh ở kỳ sau nhưng đã ghi nhận

là chi phí của kỳ này (chi phí phải trả) Hơn nữa , theo quy định, một số chi phí không được tính vào giá thành mà tính vào chi phí của nghiệp vụ tài chính

- Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ liên quan đến những sản phẩm đã hoàn thành mà còn liên quan đến cả sản phẩm đang còn dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng Giá thành sản phẩm không liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng nhưng lại liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang kỳ trước chuyển sang

Trang 7

Chi phí sản xuất trong kỳ là căn cứ để tính giá thành sản phẩm, công việc, lao

vụ đã hoàn thành Quản lý giá thành phải gắn liền với quản lý chi phí sản xuất

4- Yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.

Vấn đề quan trọng trong quản lý vi mô của doanh nghiệp là quản lý chi phí một cách chi tiết, chặt chẽ Thông tin kế toán trở thành yếu tố quan trọng giúp cho quản lý chi phí đầu vào cũng như toàn bộ quá trình sản xuất chế biến Mặt khác, việc phân loại chi phí theo khoản mục cho phép xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau tới giá thành sản phẩm, phục vụ công tác lập kế hoạch và phân tích giá thành nhằm mục đích hạ thấp giá thành sản phẩm

Việc phân tích đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động kinh doanh chỉ có thể dựa trên giá thành sản phẩm chính xác và tính chính xác của giá thành sản phẩm lại chịu ảnh hưởng của kết quả tập hợp chi phí sản xuất Do vậy, tổ chức tốt công tác

kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đảm bảo xác định đúng nội dung, phạm vi chi phí cấu thành trong giá thành sản phẩm, lượng giá trị các yếu

tố chi phí đã được chuyển dịch và sản phẩm (công việc, lao vụ) đã hoàn thành có

ý nghĩa quan trọng và là yêu cầu cấp bách của nền kinh tế thị trường

5- Nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.

Để tổ chức tốt công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, đáp ứng đầy đủ trung thực và kịp thời yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và giá thành cả Doanh nghiệp, kế toán cần thực hiện được các nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Xác định đúng đối đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và phương pháp tính giá thành sản phẩm thích hợp

- Tổ chức vận dụng các tài khoản kế toán để hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho (kê khai thường xuyên hoặc kiểm kê định kỳ)

Trang 8

- Tổ chức tập hợp, kết chuyển hoặc phân bổ từng loại chi phí sản xuất theo đúng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất đã xác định và bằng phương pháp thích hợp đã chọn, cung cấp kịp thời những số liệu thông tin tổng hợp về các khoản mục chi phí và yếu tố chi phí quy định.

- Lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố (trên thuyết minh báo cáo tài chính), định kỳ tổ chức phân tích chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Doanh nghiệp

- Tổ chức kiểm kê và đánh giá khối lượng sản phẩm dở dang khoa học, hợp

lý, xác định giá thành và hạch toán giá thành sản phẩm hoàn thành sản xuất trong

kỳ một cách đầy đủ và chính xác

II- NỘI DUNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT :

1- Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất :

Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi (giới hạn) mà chi phí sản xuất cần được tập hợp nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra giám sát chi phí và yêu cầu tính giá thành

Để xác định đúng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất, cần phải dựa trên những căn cứ cơ bản sau:

- Đặc điểm và công dụng của chi phí trong quá trình sản xuất

- Đặc điểm cơ cấu tổ chức sản xuất của Doanh nghiệp

- Quy trình công nghệ sản xuất, chế tạo sản phẩm

- Đặc điểm, tính chất của sản phẩm và nửa thành phẩm

- Yêu cầu kiểm tra, kiểm soát chi phí và yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ của Doanh nghiệp

- Yêu cầu tính giá thành theo các đối tượng tính giá thành

- Khả năng, trình độ quản lý nói chung và hạch toán nói riêng

Trang 9

Tập hợp chi phí sản xuất theo đúng đối tượng đã quy định hợp lý có tác dụng phục vụ tốt cho việc tăng cường quản lý chi phí sản xuất và phục vụ cho công tác tính giá thành sản phẩm kịp thời và đúng đắn.

2- Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất:

2.1 Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là các chi phí về nguyên vật liệu chính, nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện các lao vụ, dịch vụ của doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường được xây dựng thành các định mức và quản lý theo các định mức chi phí đã xây dựng

Các chi phí phát sinh tuy là các chi phí trực tiếp nhưng có thể liên quan đến một hoặc nhiều đối tượng tập hợp chi phí khác nhau Do đó, để tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vào đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, có 2 phương pháp:

- Phương pháp tập hợp trực tiếp

- Phương pháp phân bổ gián tiếp

Đối với những chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chỉ liên quan đến từng đối tượng tập hợp chi phí thì dùng phương pháp trực tiếp còn trong trường hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có liên quan đến nhiều đối tượng thì phải lựa chọn tiêu chuẩn hợp lý để tiến hành phân bổ chi phí cho các đối tượng liên quan

Chi phí nguyên vật liệu chính, nửa thành phẩm mua ngoài có thể chọn tiêu thức phân bổ là chi phí định mức, chi phí kế hoạch, khối lượng sản phẩm sản xuất Chi phí vật liệu phụ, nhiên liệu có thể chọn tiêu chuẩn phân bổ là chi phí định mức, chi phí vật liệu chính, khối lượng sản phẩm sản xuất Để tính toán tập hợp chính xác chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, cần kiểm tra xác định số nguyên vật

Trang 10

liệu đã lĩnh nhưng cuối kỳ chưa sử dụng hết và trị giá của phế liệu thu hồi (nếu có) để loại ra khỏi chi phí về nguyên vật liệu trực tiếp trong kỳ.

sử dụng trong kỳ

+

Trị giá nguyên vật liệu còn lại đầu kỳ ở địa điểm SX

-Trị giá nguyên vật liệu còn lại cuối kỳ chưa

sử dụng

-Trị giá phế phế liệu thu hồi

Để tập hợp và phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản 621 - Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp

Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp tập hợp và phân bổ cho từng đối tượng được phản ánh ở Bảng phân bổ chi phí nguyên liệu vật liệu

Sơ đồ 2.1 SƠ ĐỒ KẾ TOÁN CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TRỰC TIẾP

TK152(TK611) TK621 TK 152(TK611)

D: xxx Giá trị NL,VL xuất kho Trị giá NL, VL còn sử dụng

dùng trực tiếp sản xuất và phế liệu thu hồi

TK 335 TK 154(TK631)

D:xxx Trị giá NL,VL mua dùng Trị giá NL,VL thực tế

trực tiếp sản xuất sử dụng trực tiếp sản xuất

TK 331

Trang 11

2.2 Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp.

Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ gồm tiền lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm

y tế, kinh phí công đoàn theo số tiền lương của công nhân sản xuất

Về nguyên tắc, chi phí nhân công trực tiếp cũng được tập hợp giống như đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Để tập hợp và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng TK 622- Chi phí nhân công trực tiếp

Việc tính toán và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp có thể phản ánh ở Bảng phân bổ tiền công và bảo hiểm xã hội

Tuỳ theo đặc điểm hoạt động sản xuất của từng Doanh nghiệp mà TK622- Chi phí nhân công trực tiếp có thể mở các tài khoản chi tiết cần thiết

Sơ đồ 2.2 SƠ ĐỒ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ NHÂN CÔNG TRỰC TIẾP

TK334 TK622 TK 154

Lương chính, lương phụ phải kết chuyển CPNCTT cho các

trả cho công nhân sản xuất đối tượng chịu chi phí

TK 335

Trích trước tiền lương nghỉ phép

công nhân sản xuất

TK 338

Trích BHXH,BHYT,KPCĐ theo

tiền lương của CNSX

Trang 12

2.3 Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung.

Chi phí sản xuất chung là các chi phí liên quan đến việc phục vụ quản lý, phục

vụ sản xuất và những chi phí sản xuất ngoài hai khoản nguyên vật liệu trực tiếp

và nhân công trực tiếp phát sinh trong phạm vi các phân xưởng, tổ, đội, bộ phận sản xuất

Chi phí sản xuất chung được tập hợp theo từng địa điểm phát sinh chi phí: phân xưởng, tổ, đội sản xuất Trường hợp một phân xưởng, đội sản xuất trong kỳ

có sản xuất nhiều loại sản phẩm, công việc thì phải tiến hành phân bổ cho các sản phẩm, công việc có liên quan Tiêu chuẩn sử dụng để phân bổ chi phí sản xuất chung có thể là chi phí nhân công trực tiếp, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo định mức chi phí sản xuất chung

Để tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng TK627 -Chi phí sản xuất chung

TK 627- Chi phí sản xuất chung được quy định có 6 tài khoản cấp 2:

+ TK 6271 - Chi phí nhân viên+ TK 6272 - Chi phí vật liệu+ TK 6273 - Chi phí dụng cụ sản xuất+ TK 6274 - Chi phí khấu hao tài sản cố định+ TK 6275 - Chi phí dụng cụ mua ngoài+ TK 6276 - Chi phí khác bằng tiềnTuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý của từng ngành, từng Doanh nghiệp có thể mở thêm một số tài khoản cấp 2 khác để phản ánh một số nội dung chi phí hoặc yếu

tố chi phí thích hợp

Trang 13

SƠ ĐỒ KẾ TOÁN TẬP HỢP VÀ PHÂN BỔ CHI PHÍ SẢN XUẤT CHUNG

Trang 14

Chi phí khác bằng tiền

2.4 Tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp:

Chi phí sản xuất sau khi tập hợp riêng từng khoản mục như đã nêu ở trên cần được kết chuyển để tập hợp chi phí sản xuất của toàn doanh nghiệp và Chi tiết theo từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất

Để tập hợp chi phí sản xuất của toàn Doanh nghiệp, kế toán tuỳ thuộc vào việc

áp dụng kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên hay phương pháp kiểm kê định kỳ mà sử dụng tài khoản khác nhau

2.4.1 Đối với các Doanh nghiệp áp dụng kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên.

Trong trường hợp này, kế toán sử dụng TK 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh

dở dang để tập hợp chi phí sản xuất và cung cấp số liệu để tính giá thành sản phẩm, lao vụ, gia công chế biến vật liệu ở các Doanh nghiệp sản xuất thuộc các ngành kinh tế và kinh doanh dịch vụ

TK 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất Các doanh nghiệp sản xuất thuộc các ngành công nghiệp có thể mở chi tiết theo từng phân xưởng, từng giai đoạn gia công chế biến , các Doanh nghiệp sản xuất có thể mở chi tiết theo từng ngành trồng trọt, chăn nuôi

Các nghiệp vụ kế toán tập hợp chi phí sản xuất toàn Doanh nghiệp theo phương pháp kê khai thường xuyên

Trang 15

SƠ ĐỒ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT TOÀN DOANH NGHIỆP

(Phương pháp kê khai thường xuyên)

Cuối tháng kết chuyển chi phí Phế liệu thu hồi do

nguyên vật liệu trực tiếp sản phẩm hỏng

TK 622 TK 138

Cuối tháng kết chuyển chi phí Bồi thường phải thu do

nhân công trực tiếp sản phẩm hỏng

TK 627 TK 155

Cuối tháng kết chuyển chi phí Giá thành sản xuất

sản xuất chung Thành phẩm nhập kho

TK 632

Giá thành lao vụ bán không qua kho

TK 157

Giá thành sản xuất sản phẩm lao vụ gửi bán

2.4.2 Đối với các Doanh nghiệp áp dụng kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ.

Doanh nghiệp sử dụng TK 631 - Giá thành sản xuất để tập hợp chi phí sản xuất toàn Doanh nghiệp Tài khoản 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang chỉ

Trang 16

sử dụng để phản ánh chi phí sản xuất của những sản phẩm, công việc, lao vụ còn đang sản xuất dở dang đầu kỳ và cuối kỳ.

Các Doanh nghiệp sản xuất tuỳ theo đặc điểm hoạt động sản xuất mà mở chi tiết tài khoản 631 - Giá thành sản xuất theo từng đối tượng chịu chi phí đã xác định

Các nghiệp vụ kế toán tập hợp chi phí sản xuất toàn Doanh nghiệp theo phương pháp kiểm kê định kỳ

Trang 17

SƠ ĐỒ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT TOÀN DOANH NGHIỆP

(Phương pháp kiểm kê định kỳ)

Chi phí sản xuất Chi phí sản xuất

dở dang đầu kỳ dở dang cuối kỳ

Trang 18

hoàn thành một vài quy trình chế biến nhưng vẫn còn phải gia công chế biến tiếp mới trở thành thành phẩm.

Trong các Doanh nghiệp sản xuất hiện nay có thể đánh giá sản phẩm dở dang theo một trong các phương pháp sau :

- Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

- Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương

- Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất định mức

3.1 Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

Theo phương pháp này, sản phẩm dở dang cuối kỳ chỉ bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp còn các chi phí khác tính cả cho giá thành thành phẩm chịu

Công thức tính toán như sau:

D ck và D dk : Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ và đầu kỳ

C n : Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phát sinh trong kỳ.

S Tp : Sản lượng thành phẩm

S d : Sản lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ.

Phương pháp này có ưu điểm là tính toán đơn giản, khối lượng công việc tính toán ít nhưng có nhược điểm là thông tin về chi phí sản phẩm dở dang có độ chính xác không cao vì không tính đến các chi phí chế biến Tuy nhiên, phương pháp này có thể áp dụng thích hợp đối với loại hình Doanh nghiệp sản xuất có chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng chi phí sản xuất, khối lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ ít và không có biến động nhiều so với đầu kỳ

Trang 19

3.2 Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương.

Theo phương pháp này, sản phẩm dở dang cuối kỳ chịu toàn bộ số chi phí sản xuất trong kỳ theo mức độ hoàn thành của nó Do vậy, để tính khối lượng sản phẩm dở dang ra khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương, kế toán không chỉ căn cứ vào khối lượng sản phẩm dở dang mà còn cả mức độ chế biến của chúng Sau đó, lần lượt tính toán chính xác từng khoản mục chi phí cho sản phẩm

dở dang theo nguyên tắc:

- Đối với chi phí sản xuất bỏ vào một lần ngay từ đầu dây chuyền công nghệ (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ) thì tính cho sản phẩm dở dang theo công thức :

C : được tính theo từng khoản mục chi phí tương ứng phát sinh trong kỳ

S’d: Là khối lượng sản phẩm dở dang đã tính đổi ra khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương theo tỷ

lệ chế biến hoàn thành (% HT):

S’ d = S d x %HT

Ưu điểm của phương pháp này là kết quả tính toán có mức độ chính xác hợp

lý cao và độ tin cậy cao hơn do tính toán đầy đủ các khoản mục chi phí

Trang 20

Nhược điểm của phương pháp này là khối lượng tính toán nhiều hơn, hơn nữa

việc đánh giá mức độ chế biến hoàn thành của sản phẩm dở dang trên các công đoạn của dây chuyền sản xuất khá phức tạp và mang nặng tính chủ quan

Đối với những sản phẩm có khối lượng sản phẩm dở dang ở các khâu trên dây chuyền sản xuất tương đối đồng đều nhau, có thể coi mức độ hoàn thành chung của tất cả sản phẩm dở dang là 50% để đơn giản cho việc tính hợp lý và độ tin cậy cần thiết của thông tin

3.3 Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất định mức.

Phương pháp này được tiến hành trên cơ sở các định mức chi phí được xây dựng cho từng giai đoạn Căn cứ vào định mức chi phí sản xuất từng giai đoạn và căn cứ vào số lượng sản phẩm dở dang kiểm kê cuối kỳ để tính theo công thức sau

Dck = Sd x Định mức chi phíPhương pháp này có ưu diểm là tính toán nhanh vì đã lập các bảng tính sẵn giúp cho việc xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ được nhanh hơn nhưng mức độ chính xác không cao vì chi phí thực tế không thể sát với chi phí định mức được

III - TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

1- Đối tượng tính giá thành sản phẩm.

Xác định đối tượng tính giá thành là công việc cần thiết đầu tiên của toàn bộ công việc tính giá thành sản phẩm của kế toán Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm công việc, lao vụ do Doanh nghiệp sản xuất, chế tạo và thực hiện cần tính được tổng giá thành và giá thành đơn vị

Để xác định được đối tượng tính giá thành, bộ phận kế toán giá thành cũng phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất và cơ cấu sản xuất, quy trình công

Trang 21

nghệ sản xuất chế tạo sản phẩm, đặc điểm sử dụng sản phẩm, nửa thành phẩm, các yêu cầu quản lý, yêu cầu cung cấp thông tin cho việc ra quyết định trong doanh nghiệp, khả năng và trình độ quản lý, hạch toán

2- Kỳ tính giá thành và đơn vị tính giá thành.

Phương pháp tính giá thành là phương pháp sử dụng số liệu chi phí sản xuất

đã tập hợp trong kỳ để tính toán tổng giá thành và giá thành đơn vị theo từng khoản mục chi phí quy định cho các đối tượng tính giá thành và bao gồm các khoản mục sau :

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Chi phí nhân công trực tiếpChi phí sản xuất chung

* Các phương pháp tính giá thành được sử dụng ở các Doanh nghiệp sản xuất bao gồm :

Trang 22

Phương pháp tính giá thành giản đơnPhương pháp tính giá thành phân bướcPhương pháp tính giá thành theo hệ sốPhương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàngPhương pháp loại trừ chi phí

Phương pháp tính giá thành theo tỷ lệPhương pháp tính giá thành định mứcCăn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất, đặc điểm của sản phẩm, yêu cầu quản lý sản xuất và giá thành sản phẩm, mối quan hệ giữa đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất với đối tượng tính giá thành mà lựa chọn phương pháp tính giá thành thích hợp với từng đối tượng tính giá thành.Tuy nhiên, các phương pháp này đều lựa chọn trên công thức đơn giản của phương pháp tính giá thành giản đơn Trong phạm vi chuyên đề này, em xin trình bày nội dung của các phương pháp tính giá thành chủ yếu sau:

3.1 Phương pháp tính giá thành giản đơn:

Phương pháp này áp dụng thích hợp với những sản phẩm, công việc có quy trình công nghệ sản xuất giản đơn khép kín, tổ chức sản xuất nhiều, chu kỳ sản xuất ngắn và xen kẽ liên tục, đối tượng tính giá thành phù hợp với đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất, kỳ tính giá thành định kỳ hàng tháng (quý) phù hợp với kỳ báo cáo

Theo phương pháp này, căn cứ vào chi phí sản xuất đã tập hợp trong kỳ và chi phí của sản phẩm dở dang đã xác định, giá thành sản phẩm hàng tháng tính cho từng khoản mục chi phí theo công thức sau:

Trang 23

Z = Dđk + C - Dck

Trong đó:

Z : Tổng giá thành theo từng đối tượng tính giá thành.

Dđk : Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ

Dck: Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ

C : Tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ

Giá thành đơn vị được xác định theo công thức:

Z

Z = S

3.2- Phương pháp tính giá thành theo hệ số :

Phương pháp này áp dụng thích hợp trong trường hợp cùng một quy trình công nghệ sản xuất, sử dụng cùng một loại nguyên vật liệu, kết quả sản xuất thu được là nhiều loại sản phẩm chính khác nhau Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất, đối tượng tính giá thành là từng loại sản phẩm do quy trình công nghệ sản xuất đó đã hoàn thành

Nội dung của phương pháp này được tiến hành theo các bước sau:

- Quy đổi sản lượng thực tế của từng loại sản phẩm ra sản phẩm tiêu chuẩn và

hệ số giá thành đã quy định để xác định tổng sản lượng thực tế quy đổi theo sản lượng sản phẩm tiêu chuẩn

Trang 24

Σ Sản lượng quy đổi = Σ Si x Hi

Trong đó:

Si: Sản lượng thực tế của sản phẩm loại i

Hi: Hệ số quy định cho sản phẩm loại i

- Tính tổng giá thành của cả liên sản phẩm theo từng khoản mục :

Giá trị sản phẩm làm dở cuối kỳ

- Tính giá thành của từng loại sản phẩm :

+ Giá thành của sản phẩm loại i được tính theo công thức:

x

Sản lượng quy đổi của từng loại sản phẩm

Σ Sản lượng quy đổi

+ Giá thành đơn vị của từng loại sản phẩm :

Zi =

Zi Si

3.3 Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng:

Phương pháp này áp dụng ở các Doanh nghiệp sản xuất các loại sản phẩm phức tạp, tổ chức sản xuất từng sản phẩm hoặc hàng loạt hàng theo đơn đặt hàng Đối tượng tính giá thành là sản phẩm của mỗi đơn đặt hàng, còn kỳ tính giá thành phù hợp với chu kỳ sản xuất

Trang 25

Đặc điểm của phương pháp này là tất cả các khoản chi phí sản xuất đều tập hợp theo đơn đặt hàng không kể số lượng sản phẩm hay sự phức tạp của việc chế tạo sản phẩm đó Các chi phí sản xuất theo từng khoản mục giá thành được tập hợp riêng trên các bảng chi tiết tính giá thành căn cứ vào chỉ tiêu công tác Hàng ngày, chi phí sản xuất chế biến được hạch toán trực tiếp vào từng đơn đặt hàng căn cứ vào chứng từ gốc, còn chi phí gián tiếp chi dùng cho nhiều đơn đặt hàng thì phân bổ theo tiêu thức phù hợp Để tính giá thành ta phải đánh giá sản phẩm làm xong căn cứ vào giá thành kế hoạch, giá thành thực tế đã sản xuất, thống kê đánh giá đúng mức phần đơn đặt hàng chưa kết thúc để tính ra giá thành của sản phẩm hoàn thành.

Phương pháp này đơn giản, dễ làm nhưng có hạn chế là kỳ tính giá thành không thống nhất với kỳ báo cáo, không phản ánh được các chi phí sản xuất chi

ra trong tháng báo cáo ở bảng tính giá thành nên giá thành thực tế của đơn đặt hàng hoàn thành xong trong kỳ báo cáo không phản ánh riêng kết quả hoạt động sản xuất trong kỳ đó Giá thành sản phẩm và chi phí làm dở đều có tính chất ước định, trong trường hợp sản phẩm của đơn đặt hàng có tính chất cục bộ thì khó phân tích được nguyên nhân tăng giảm giá thành của từng loại sản phẩm

3.4- Phương pháp tính giá thành theo định mức:

Đối với các doanh nghiệp có quy trình công nghệ ổn định, có hệ thống các định mức kinh tế kỹ thuật, định mức chi phí, dự toán chi phí tiên tiến hợp lý, chế

độ quản lý định mức đã được kiện toàn và đi vào nề nếp thường xuyên thì tính gía thành sản phẩm theo phương pháp định mức có tác dụng lớn trong việc kiểm tra tình hình thực hiện định mức, dự toán chi phí sản xuất, tình hình sử dụng hợp lý, tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất để có thể đề ra biện pháp kịp thời động viên mọi khả năng tiềm tàng hiện có, phấn đấu hạ giá thành sản phẩm Nhưng phương pháp này đòi hỏi trình độ tổ chức và nghiệp vụ kế toán chi phí sản xuất

và tính giá thành sản phẩm của kế toán viên phải tương đối vững

Trang 26

Phương pháp tính giá thành sản phẩm theo định mức được tiến hành theo các bước sau :

- Tính giá thành định mức của sản phẩm được căn cứ vào các định mức kinh tế kỹ thuật và dự toán chi phí sản xuất

- Xác định số chênh lệch do thay đổi định mức khi có thay đổi định mức kinh tế kỹ thuật sản xuất sẽ dẫn đến thay đổi chi phí sản xuất định mức và giá thành định mức của sản phẩm Bộ phận tính giá thành phải tính lại giá thành sản phẩm theo định mức mới Việc thay đổi định mức thường tiến hành vào đầu tháng nên việc tính toán số chênh lệch do thay đổi định mức chỉ cần thực hiện đối với

số sản phẩm dở dang đầu kỳ Số chênh lệch do thay đổi định mức bằng định mức

cũ trừ đi định mức mới và được cộng (trừ) vào gía thành thực tế của sản phẩm đảm bảo cho giá thành thực tế phản ánh trung thực hợp lý

- Xác định số chênh lệch do thoát ly định mức là chênh lệch giữa chi phí sản xuất thực tế phát sinh so với chi phí sản xuất định mức Việc xác định số chênh lệch do thoát ly định mức được tiến hành theo những phương pháp khác nhau tuỳ thuộc vào từng khoản mục chi phí, song số chênh lệch do thoát ly định mức được xác định như sau :

- Tính giá thành thực tế của sản phẩm trên cơ sở giá thành định mức, số chênh lệch thoát ly so với định mức và số chênh lệch do định mức thay đổi, xác định giá thành thực tế của sản phẩm theo công thức:

Trang 27

4 - Sổ sách hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm :

Như trên chúng ta đã có phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm khái quát chung cho các doanh nghiệp, theo đó mỗi doanh nghiệp chọn hình thức ghi sổ cho phù hợp Việc lựa chọn này phải dựa trên hoàn cảnh thực tế và yêu cầu quản lý của từng đơn vị, có thể lựa chọn một trong các hình thức sau :

Nguyên tắc tổ chức sổ nhật ký chứng từ là tập hợp và hệ thống hoá các nghiệp

vụ kinh tế phát sinh theo bên Có của một tài khoản hoặc một số tài khoản có nội dung kinh tế giống nhau, kết hợp đối ứng Nợ của một hay nhiều tài khoản khác.Kết hợp chặt chẽ việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian với việc hệ thoóng hoá các nghiệp vụ theo nội dung kinh tế Đồng thời kết hợp việc hạch toán tổng hợp với hạch toán chi tiết trên cùng một sổ kế toán trong quá trình ghi chép

Hệ thống sổ :

+ Nhật ký chứng từ số 7: Ghi Có các TK 142, 152, 154, 214, 241, 334, 335,

338, 622, 627, 631 và các tài khoản khác trên nhật ký chứng từ số 1, số 2

+Bảng kê số 4: “ Tập hợp chi phí sản xuất “

+Bảng kê số 5: “ Tập hợp chi phí đầu tư XDCB “

+Bảng kê số 6: “ Tập hợp chi phí trả trước và chi phải trả “

+Bảng phân bổ số 1: “ Bảng phân bổ tiền lương và BHXH “

Trang 28

+Bảng phân bổ số 2: “ Bảng phân bổ nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ “+Bảng phân bổ số 3: “ Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ ”

Sổ cái TK 621, 622, 627, 154: Sổ cái được mở cho cả năm theo dõi phát sinh của các khoản mục chi phí

TRÌNH TỰ GHI SỔ KẾ TOÁN THEO HÌNH THỨC NHẬT KÝ - CHỨNG TỪ

Chứng từ gốcBáo cáo t i chínhà

Sổ cáiChứng từ gốcBảng phân bổ Bảng phân bổ Bảng phân bổ Bảng tổng hợp chi tiết Ghi chú:

Ghi h ng ng yà à

Ghi cuối tháng hoặc định kỳ Đối chiếu

PHẦN II

THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ

THÀNH SẢN PHẨM Ở CÔNG TY MAY THĂNG LONG

I - ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG CỦA CÔNG TY MAY THĂNG LONG :

1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty :

Tên gọi: Công ty May Thăng LongTên giao dịch quốc tế: ThangLong Gament Company

Trang 29

Tên viết tắt: ThalogaTrụ sở của công ty: 250 Minh Khai - Hai Bà Trưng - Hà NộiCông ty May Thăng Long được Bộ Ngoại thương chính thức ra quyết định thành lập vào ngày 8 tháng 5 năm 1958, lúc bấy giờ có tên là Công ty may mặc xuất khẩu Hà Nội, sau đó chuyển sang Bộ Nội thương, rồi Bộ Công nghiệp nhẹ và nay trực thuộc Bộ Công nghiệp Đây là Công ty may mặc xuất khẩu đầu tiên của Việt Nam với nhiệm vụ chính là sản xuất hàng gia công may mặc xuất khẩu.

Năm 1980, Công ty may mặc xuất khẩu Hà Nội đổi tên thành Xí nghiệp May Thăng Long

Báo cáo ngày 31/12/1958, Xí nghiệp đã hoàn thành xuất sắc năm kế hoạch đầu tiên của mình với tổng sản lượng là 319.129 sản phẩm đạt 112,8% Đây là cơ sở cho một nền móng vững chắc thúc đẩy sự phát triển, là cột mốc đánh dấu thắng lợi đầu tiên có ý nghĩa lớn đối với Xí nghiệp

Trong những năm 60, các sản phẩm của Xí nghiệp đã có mặt ở hầu hết các nước Đông Âu cũ như: Cộng hoà dân chủ Đức, Hungary, Mông Cổ, Liên Xô (cũ), Tiệp Khắc

Năm 1986, Xí nghiệp được Bộ Công nghiệp nhẹ xét nâng lên hạng I

Ngày 8 tháng 2 năm 1991, Xí nghiệp May Thăng Long là đơn vị đầu tiên trong ngành may được Nhà nước cấp giấy phép xuất khâủ trực tiếp, tạo được thế chủ động trực tiếp ký kết các hợp đồng sản xuất gia công nâng cao được hiệu quả kinh doanh

Do nhu cầu và tốc độ phát triển của Xí nghiệp đến tháng 6 năm 1992, Bộ Công nghiệp nhẹ (nay là Bộ Công nghiệp) đã có quyết định chuyển đổi hoạt động: từ Xí nghiệp thành Công ty Công ty May Thăng Long chính thức ra đời từ đây và là đơn vị may đầu tiên trong các xí nghiệp may được chuyển sang mô hình

tổ chức Công ty

Trang 30

Hàng năm, Công ty sản xuất từ 8 đến 9 triệu sản phẩm, trong đó sản phẩm xuất khẩu chiếm 95 % và sản phẩm gia công chiếm 80% đến 90%.

Năm 1995, Công ty đã sản xuất được trên 9 triệu sản phẩm với các mặt hàng sản xuất chủ yếu như áo bò, sơ mi cao cấp, quần Jean, áo sơ mi bò mài, áo Jacket.Qua nhiều năm liên tục năng động, sáng tạo và phát triển, Công ty May Thăng Long đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Độc lập hạng 3 vào tháng 8 năm 1997

Công ty May Thăng Long là một doanh nghiệp nhà nước với số vốn kinh doanh trên 16 tỷ đồng, trong đó vốn do nhà nước cấp :

- Vốn cố định: 12 tỷ đồng.

- Vốn lưu động: 4 tỷ đồng.

Hiện nay, Công ty đang mạnh dạn vay vốn từ nhiều nguồn khác nhau để mua sắm trang thiết bị hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống cán bộ công nhân viên với tổng số lao động tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2000 là hơn 2000 người, trong đó 90% cán bộ chủ chốt của Công ty có trình

độ Đại học, Công ty đã đạt được một số chỉ tiêu trong những năm gần đây :

Trang 31

Tổ chức sản xuất của các loại hàng trong Công ty là sản xuất phức tạp kiểu

liên tục, loại hình sản xuất hàng loạt lớn, chu kỳ sản xuất ngắn Công ty được bố

trí như sau:

- 6 Xí nghiệp may từ Xí nghiệp 1 đến Xí nghiệp 6 tại Hà Nội

- 1 Xí nghiệp may Hải Phòng tại thành phố Hải Phòng

- 1 Xí nghiệp may Nam Hải tại thành phố Nam Định

- 1 Xí nghiệp phụ trợ bao gồm: 1 phân xưởng thêu và 1 phân xưởng mài

- 1 Xí nghiệp dịch vụ đời sống

Mô hình tổ chức sản xuất ở Công ty May Thăng Long như sau :

2.2 Đặc điểm tổ chức quản lý

Công ty May Thăng Long là đơn vị hạch toán kinh doanh độc lập, trực thuộc

Tổng Công ty Dệt may Việt Nam tổ chức quản lý theo 2 cấp:

Trên Công ty có Ban Giám đốc Công ty lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp đến từng

Xí nghiệp Các phòng ban chức năng và nghiệp vụ được tổ chức theo yêu cầu của

việc quản lý kinh doanh và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Giám đốc

Dưới các Xí nghiệp thành viên đứng đầu là Giám đốc Xí nghiệp Ngoài ra, để

giúp việc cho Giám đốc còn có các tổ trưởng sản xuất, các nhân viên báo sổ, nhân

viên thống kê

Mô hình tổ chức bộ máy quản lý ở Công ty May Thăng Long như sau :

3- Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm :

K h o

X ư ở

Trang 32

Đặc điểm sản xuất của Công ty May Thăng Long là sản xuất phức tạp, chế biến kiểu liên tục, sản phẩm phải trải qua nhiều giai đoạn công nghệ sản xuất kế tiếp nhau Các mặt hàng sản xuất đều phải trải qua các giai đoạn chung là: cắt - may - là - đóng gói Cụ thể là: các phân xưởng sản xuất được tổ chức theo dây chuyền khép kín, mỗi phân xưởng có 4 dây chuyền may với bộ phận là được bố trí ở cuối dãy Mỗi công nhân may thực hiện một bộ phận nào đó cấu thành nên sản phẩm, rồi sau đó mới ghép nối lại thành sản phẩm mới hoàn chỉnh, phòng KCS sẽ có trách nhiệm kiểm tra lại sản phẩm trước khi đóng gói sản phẩm Nếu sản phẩm phải trải qua tẩy mài (quần áo bò) thì trước khi là phải trải qua giai đoạn tẩy mài, còn đối với sản phẩm cần thêu thì trước khi vào may phải trải qua giai đoạn thêu sau đó mới vào may, là, đóng gói.

Ngày đăng: 06/11/2013, 08:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1    SƠ ĐỒ KẾ TOÁN CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TRỰC TIẾP - LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤTVÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
Sơ đồ 2.1 SƠ ĐỒ KẾ TOÁN CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TRỰC TIẾP (Trang 10)
BẢNG PHÂN BỔ CHI PHÍ CHỜ PHÂN BỔ Số - LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤTVÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
BẢNG PHÂN BỔ CHI PHÍ CHỜ PHÂN BỔ Số (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w