1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng tiêu chí đánh giá kiến trúc nhà ở thấp tầng và đánh giá thực nghiệm tại địa bàn phường hòa minh, quận liên chiểu, thành phố đà nẵng

149 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 9,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc xây dựng một hệ thống các tiêu chí đánh giá nhà ở nhằm đem lại một công cụ giúp các nhà phát triển kiến trúc nhà ở hoạch định chiến lược phát triển phù hợp với nhu cầu của nhà ở tro

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS.KTS LÊ PHONG NGUYÊN

Đà Nẵng, 2020

DUT.LRCC

60.58.01.01

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan tất cả nội dung của bài luận văn này hoàn toàn được hình thành

và phát triển từ những quan điểm của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của.TS.KTS Lê Phong Nguyên Các số liệu, kết quả nêu trong bài tiểu luận là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TS.KTS Lê Phong Nguyên Phạm Thị Bích Ngọc

DUT.LRCC

Trang 4

XÂY DỰNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ KIẾN TRÚC NHÀ Ở THẤP TẦNG VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC NGHIỆM TẠI ĐỊA BÀN PHƯỜNG HÒA MINH, QUẬN

LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Học viên: Phạm Thị Bích Ngọc Chuyên ngành: Kiến Trúc

Mã số: Khóa: K38_KT Trường Đại học Bách khoa – ĐHĐN

Tóm tắt – Hiện nay, tại Việt Nam trong quá trình phát triển đang ngày càng xuất hiện

nhiều quy hoạch khu dân cư mới, trong đó nhà ở thấp tầng chiếm một tỷ lệ lớn Việc xây dựng nhiều nhà ở thấp tầng một mặt tích cực đã cải thiện được cuộc sống cho người dân, nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những hạn chế như chưa phù hợp tiêu chuẩn thiết kế nhà ở, chưa tuân thủ theo thiết kế mẫu trong quy hoạch hay trong quá trình sử dụng còn phát sinh ra nhiều vấn đề khác

Việc xây dựng một hệ thống các tiêu chí đánh giá nhà ở nhằm đem lại một công cụ giúp các nhà phát triển kiến trúc nhà ở hoạch định chiến lược phát triển phù hợp với nhu cầu của nhà ở trong tương lai Cũng thông qua hệ thống tiêu chí này, người dân có nhận thức rõ ràng hơn về các đặc điểm, đặc thù của nhà ở, để qua đó có những lựa chọn chỗ ở phù hợp hơn Hệ thống tiêu chí đánh giá này giúp cho các chủ đầu tư, các nhà tư vấn hiểu rõ và hoàn thiện hơn sản phẩm

Từ khóa – Hệ thống, tiêu chí đánh giá, nhà ở, chất lượng ở, kiến trúc

CONSTRUCTION CRITERIA FOR ASSESSMENT OF LOW-RISE HOUSING ARCHITECTURE AND EXPERIMENTAL VALUE AT HOA MINH WARD,

LIEN CHIEU DISTRICT, DA NANG CITY

Summary - Currently, in the process of development, there are more and more new

residential planning in Vietnam, in which low-rise housing accounts for a large proportion The construction of many low-rise houses on the one hand has positively improved the lives

of people, but besides that, there are still limitations such as not conforming to housing design standards, not complying with the design Model in planning or in use also raises many other problems

The development of a system of housing assessment criteria aims to provide a tool to help residential architecture developers plan development strategies that match the needs of future housing Also through this system of criteria, people have a clearer awareness of the characteristics and characteristics of the house, thereby making more suitable accommodation choices This system of evaluation criteria helps investors and consultants to better understand and complete the product

Keywords - System, evaluation criteria, housing, housing quality, architecture

DUT.LRCC

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

TRANG TÓM TẮT ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC HÌNH ẢNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Đóng góp của đề tài 3

6 Cấu trúc của luận văn 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN KIẾN TRÚC NHÀ Ở THẤP TẦNG 4

1.1 Một số khái niệm 4

1.1.1.Khái niệm chung và sự ra đời, quá trình phát triển của nhà ở qua các giai đoạn 4

1.1.2 Khái niệm kiến trúc nhà ở thấp tầng trong đô thị 18

1.1.3 Khái niệm về khu đô thị mới, khu tái định cư 19

1.2 Thực trạng kiến trúc nhà ở thấp tầng ở TP Đà Nẵng 20

1.2.1 Giới thiệu các khu ở mới tại thành phố Đà Nẵng 20

1.2.2 Tình hình phát triển nhà ở tại thành phố Đà Nẵng 22

1.3 Kết luận Chương 1 23

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ XÂY DỰNG TIÊU CHÍ CHẤT LƯỢNG NHÀ Ở THẤP TẦNG 24

2.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và khí hậu 24

2.1.1 Vị trí địa lý 24

2.1.2 Điều kiện địa hình 24

2.1.3 Đặc điểm khí hậu 24

2.2 Các cơ sở xã hội học 25

2.2.1 Cơ cấu dân số 25

2.2.2 Sự biến đổi về cấu trúc gia đình 26

2.2.3 Thói quen cư trú của người dân 28

2.3 Các cơ sở về vi khí hậu và môi trường 29

2.4 Một số cơ sở lý thuyết đánh giá chất lượng kiến trúc nhà ở 30

2.4.1 Các yêu cầu tâm lý – sinh học của không gian ở 30

2.4.2 Mô hình “Tháp công năng” trong Kiến trúc nhà ở 31

2.5 Một số cơ sở pháp lý thiết kế nhà ở 33

DUT.LRCC

Trang 6

2.5.1.QCXDVN 01: 2008/BXD quy chuẩn xây dựng Việt Nam quy hoạch xây

dựng 33

2.5.2 TCVN 9258:2012 Chống nóng cho nhà ở - hướng dẫn thiết kế 33

2.5.3.QCVN 26:2010/BTNMT về tiếng ồn 33

2.5.4.Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 4451:2012 Nhà ở - Nguyên tắc cơ bản để thiết kế 33

2.5.5.TCXDVN 266:2002- Nhà ở Hướng dẫn xây dựng để đảm bảo người tàn tật tiếp cận sử dụng 34

2.6 Kết luận chương 2 34

CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NHÀ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 35

2.1 Tổng quan hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng nhà ở một số nước 35

3.1.1 Pháp 35

3.1.2.Thụy Sỹ 38

3.1.3 Anh 40

3.1.4 Bồ Đào Nha 42

3.1.5 Ấn độ 43

3.1.6 Hàn Quốc 44

3.1.7 Việt Nam 45

2.2 Bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng nhà ở thấp tầng từ một số nước trên thế giới 50

3.2.1.Mục tiêu và nhiệm vụ của việc xây dựng hệ thống tiêu chí chất lượng 50

3.2.2.Xây dựng tiêu chí dựa trên điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và định hướng phát triển nhà ở mỗi quốc gia 51

3.2.3 Xây dựng thông tin đầu ra rõ ràng, dễ tiếp cận với người dân 57

3.2.4 Cập nhật, thay đổi tiêu chí theo thời gian phù hợp với xu thế thời đại 58

2.3 Kết luận chương 3 62

CHƯƠNG 4 XÂY DỰNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT TIÊU CHÍ CHẤT LƯỢNG NHÀ Ở THẤP TẦNG 63

4.1 Xây dựng quy trình thiết lập hệ thống đánh giá chất lượng nhà ở 63

4.2 Xây dựng cơ sở lý thuyết về tiêu chí hệ thống đánh giá chất lượng nhà ở tại Việt Nam 64

4.2.1.Vị trí công trình 67

4.2.2 Chất lượng sử dụng công trình 70

4.2.3 Chất lượng môi trường ở trong công trình 77

4.2.4.Môi trường xung quanh, cộng đồng dân cư 82

4.3.Đánh giá thực nghiệm sơ bộ ban đầu một số căn nhà địa bàn phường Hòa Minh, Quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng 83

4.3.1.Nhà 1: của ông Nguyễn Hữu Tiến, 94 Nguyễn Huy Tưởng, P Hòa Minh 84

DUT.LRCC

Trang 7

4.3.2.Nhà 2: của bà Phạm Quỳnh Anh, số 135 Đặng Huy Trứ, P Hòa Minh 97

4.3.3.Nhà 3: của ông Huỳnh Văn Bảy, số 2 Bàu Năng 6, Khu đô thị mới Tây Bắc, giai đoạn 2,P Hòa Minh 110

4.3.4.So sánh, đánh giá nhận xét chất lượng công trình 124

4.4 Kết luận chương 4 126

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 127 TÀI LIỆU THAM KHẢO

DUT.LRCC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Số hiệu

2.2 Số lượng và tỷ lệ tăng số hộ dân cư bình quân năm, 1979 - 2019 26 2.3 Quy mô hộ bình quân theo khu vực và vùng kinh tế - xã hội 27 2.4 Tỷ lệ hộ dân cư theo quy mô hộ, khu vực và vùng kinh tế - xã hội 27

3.2 Bảng tiêu chí chất lượng nhà ở NF Habitat - NF Habitat HQE

(Qualitel) Phiên bản cập nhật 7/2020(tạm dịch)

37

3.5 Hệ thống tiêu chí đánh giá nhà ở MC FEUP, Bồ Đào Nha 42 3.6 Yếu tố vị trí trong hệ thống tiêu chí đánh giá nhà ở tại Kerala,

tầng” “Vật liệu và kỹ thuật xây dựng”

52

Nguyễn Huy Tưởng, Hòa Minh, Liên Chiểu, Đà Nẵng

87

Huy Trứ, P Hòa Minh

100

Năng 6, Khu đô thị mới Tây Bắc, giai đoạn 2

113

DUT.LRCC

Trang 9

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Số hiệu

1.1 Hình ảnh nhà ở còn lưu lại trên mặt trống đồng Đông Sơn 5

1.3 Một số giải pháp bố trí khuôn viên nhà ở nông thôn 6 1.4 Hình ảnh kiến trúc NONT bị ảnh hưởng bởi kiến trúc Pháp 7 1.5 Phần lớn nhà ở những năm đầu thế kỷ 20 tại khu 36 phố phường

1.11 Nhà dọc theo tuyến phố với kiểu kiến trúc đặc trưng có tên gọi là

Nhà phố (ảnh nguồn internet)

16

1.12 Tổ chức khu nhà phố theo tuyến đồng bộ, KĐTM The Manor Hà

Nội- ảnh nguồn internet

3.4 Tất cả các tiêu chí đều có trọng số ngang nhau trong hệ thống HQI 54

DUT.LRCC

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhà ở có ý nghĩa rất lớn trong quốc kế dân sinh, nó luôn là tâm điểm của những vấn đề xã hội trong tất cả các giai đoạn phát triển Nhà ở là loại hình kiến trúc xuất hiện sớm nhất Đó là những không gian kiến trúc phục vụ cho đời sống sinh hoạt gia đình và con người

Hiện nay, tại Việt Nam trong quá trình phát triển đang ngày càng xuất hiện nhiều quy hoạch khu dân cư mới, trong đó nhà ở thấp tầng chiếm 1 tỷ lệ lớn Việc xây dựng nhiều nhà ở thấp tầng một mặt tích cực đã cải thiện được cuộc sống cho người dân, nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những hạn chế như chưa phù hợp tiêu chuẩn thiết

kế nhà ở, chưa tuân thủ theo thiết kế mẫu trong quy hoạch hay trong quá trình sử dụng còn phát sinh ra nhiều vấn đề khác

Mặc dù nhà ở thấp tầng được thiết kế xây dựng với số lượng rất nhiều như vậy, nhưng lại chưa có bất kỳ một nghiên cứu nào nhằm đánh giá để rút ra được bài học kinh nghiệm và định hướng kiến trúc cho nhà ở thấp tầng trong tương lai Trong khi đó Tiêu chuẩn xây dựng nhà ở đã được hình thành từ lâu ở các quốc gia với mục đích xác lập những điều kiện biên tối thiểu mà giải pháp thiết kế cần đạt được để công trình đạt điều kiện công năng, độ bền vững, an toàn trong sử dụng Tuy nhiên, điều kiện tiện nghi môi trường ở không ngừng thay đổi và có xu hướng ngày càng hoàn thiện hơn theo sự phát triển nhu cầu ngày càng phong phú của con người Chính vì vậy, trong một xã hội phát triển nền kinh tế thị trường, việc thiết lập một hệ thống tiêu chí đánh giá nhà ở là một việc làm rất cần thiết để xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn trong thiết

kế và xây dựng nhằm thúc đẩy sự phát triển thị trường nhà ở theo xu hướng tốt hơn, hiệu quả hơn tại Việt Nam

Vì các lý do trên tôi đã chọn đề tài “Xây dựng tiêu chí đánh giá kiến trúc nhà ở thấp tầng và đánh giá thực nghiệm tại địa bàn phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng”

Việc xây dựng một hệ thống các tiêu chí đánh giá nhà ở nhằm đem lại một công

cụ giúp các nhà phát triển kiến trúc nhà ở hoạch định chiến lược phát triển phù hợp với nhu cầu của nhà ở trong tương lai Cũng thông qua hệ thống tiêu chí này, người dân có nhận thức rõ ràng hơn về các đặc điểm, đặc thù của nhà ở, để qua đó có những lựa chọn chỗ ở phù hợp hơn Hệ thống tiêu chí đánh giá này giúp cho các chủ đầu tư, các nhà tư vấn hiểu rõ và hoàn thiện hơn sản phẩm

Đề tài là thực sự cần thiết, giúp tổng hợp, đánh giá thực trạng kiến trúc nhà ở thấp tầng hiện nay, tiếp đó sẽ giúp xác định được phương hướng thiết kế kiến trúc nhà

ở thấp tầng trong tương lai, sao cho tạo lập được môi trường ở đáp ứng tốt nhu cầu vật chất và tinh thần của người dân; góp phần phát triển đất nước một cách bền vững

DUT.LRCC

Trang 11

2 Mục tiêu nghiên cứu

Giới thiệu tiêu chí đánh giá chất lượng nhà ở của một số nước trên thế giới, từ đó đưa ra một số bài học kinh nghiệm

Vận dụng phương pháp xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng của một số nước

để xây dựng cơ sở lý thuyết tiêu chí chất lượng nhà ở thấp tầng

Thực nghiệm đánh giá được hiện trạng kiến trúc nhà ở thấp tầng tại phường Hòa

Minh, quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các công trình kiến trúc nhà ở thấp tầng Giới hạn về không gian là các khu ở mới bao gồm công trình nhà lô phố trong khu tái định cư phường Hoà Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

Giới hạn về thời gian là các công trình được xây dựng sau năm 2010 đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Thu thập tư liệu, các thông tin sách báo, mạng internet,nhằm nắm bắt thông tin tổng quát về thực trạng nhà ở thấp tầng tại thành phố Đà Nẵng cũng như các quy định xây dựng thiết kế liên quan đến nhà ở thấp tầng, tìm hiểu kinh nghiệm xây dựng tiêu chí đánh giá nhà ở trong nước cũng như thế giới để có cái nhìn tổng quan về đề tài Phương pháp tổng hơp, thống kê, phân tích vấn đề nhằm xây dựng lên tiêu chí chất lượng, quy trình đánh giá của hệ thống

Phương pháp đối chiếu, so sánh, tổng hợp để áp dụng đánh giá các tiêu chí lên hiện trạng nhà ở thấp tầng hiện nay trong các khu ở mới

Đặt vấn đề

Tổng quan tình hình Kinh nghiệm thế giới

Cơ sở khoa học Kinh nghiệm trong

nước

Tổng hợp đề xuất

Đánh giá thực nghiệm

Trang 12

5 Đóng góp của đề tài

Ý nghĩa khoa học: Bổ sung nguồn tài liệu nghiên cứu về kiến trúc nhà ở thấp tầng và định hướng cho kiến trúc nhà ở thấp tầng trong các khu dân cư mới trong tương lai

Ý nghĩa thực tiễn: Thông qua hệ thống tiêu chí này, người dân có nhận thức rõ ràng hơn về các đặc điểm, đặc thù của nhà ở, để qua đó có những lựa chọn chỗ ở phù hợp hơn Hệ thống tiêu chí đánh giá này giúp cho các chủ đầu tư, các nhà tư vấn hiểu

rõ và hoàn thiện hơn sản phẩm Ngoài ra, các tiêu chí đề xuất không những phục vụ trực tiếp cho công tác thiết kế kiến trúc, thi công xây dựng mà còn là động lực gián tiếp thúc đẩy sự phát triển của các ngành có liên quan như kinh tế xây dựng, vật liệu

và trang thiết bị xây dựng, phát triển và quản lý năng lượng…

6 Cấu trúc của luận văn

• 1 Lý do chọn đề tài

• 2 Mục tiêu nghiên cứu

• 3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

• 4 Phương pháp nghiên cứu

• CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT

LƯỢNG NHÀ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

• CHƯƠNG 4 XÂY DỰNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT TIÊU CHÍ

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN KIẾN TRÚC NHÀ Ở THẤP TẦNG

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm chung và sự ra đời, quá trình phát triển của nhà ở qua các giai đoạn

1.1.1.1 Khái niệm chung về nhà ở

Nhà ở là loại công trình xuất hiện sớm trong lịch sử phát triển của xã hội loài người Đó là tổ ấm của gia đình nhằm tạo những môi trường thích nghi với cưộc sống của cá nhân và gia đình, trước hết đảm bảo cho con người có thể có nơi trú ẩn, chống được sự đe dọa của thú dữ, cũng như những điều kiện bất lợi của thiên nhiên như: nắng, mưa, bão, gió, nhiệt độ khắc nghiệt Xã hội càng phát triển thì chức năng gia đình cũng có chuyển biến và nhà ở cũng được phát triển về hình thức và nội dung Nhà

ở không chỉ là nơi trú ẩn, nương thân đơn thuần mà còn là đơn vị sản xuất kinh tế ở quy mô gia đình, một cơ sở để bảo vệ nòi giống, để từng cá thể và gia đình phát triển một cách toàn điện và đã từng được xem là cơ sở tiêu thụ hàng hóa trong xã hội đương đại để tận hưởng những phúc lợi của xã hội, thành tựu kỹ thuật và khoa học của thời đại [10]

1.1.1.2 Sự ra đời và Quá trình phát triển nhà ở qua từng giai đoạn ở Việt Nam

a Giai đoạn xã hội nguyên thủy

Từ thời kỳ đồ đá cũ (khoảng 2,5 vạn năm – 1 vạn năm tr.CN) kéo dài đến thời kỳ

đồ đá mới (khoảng 1 vạn năm – 3.000 năm tr.CN) vùng phía Nam Đồng bằng Bắc Bộ (ĐBBB) có nền văn hóa Tràng An là một trong những nền văn hóa lâu đời nhất tại Việt Nam Lúc đầu cha ông chúng ta ở tản mạn trong các hang động đá vôi ven sông, suối, chưa biết tạo dựng không gian ở cho mình, sinh sống bằng hái lượm và săn bắt Sau đó dần tập trung về trung du vùng Đồng bằng Bắc bộ và sinh sống quần cư thành các làng mạc Đến trước thời kỳ đồ đồng (khoảng 3.000 năm tr.CN) nhà ở vùng ĐBBB

đã có những bước tiến vượt bậc trong cấu trúc làng, xã cũng như tổ chức không gian nhà ở Tuy nhiên, do ngôi nhà ở vùng ĐBBB ảnh hưởng bởi nền nông nghiệp lúa nước của người Lạc Việt nên nhà ở chủ yếu là nhà sàn Căn cứ vào hình ảnh còn lưu lại trên mặt trống đồng thuộc văn hóa Đông Sơn, chúng ta thấy có 2 loại hình kiến trúc là nhà sàn mái cong hình thuyền và nhà sàn mái hình tròn (hình 1.1)[11] Nhà sàn có mái cong hình thuyền, hai đầu mái có hoa văn trang trí, có hai cột chống, ở giữa có bố trí thang để lên sàn (giống nhà sàn hiện nay) Nhà mái hình tròn bố trí một cửa ở giữa, hai bên có phên chắn trang trí, hai nóc mái cong trang trí hai hình tròn khác nhau, có hai cột chống ở hai đầu ngôi nhà Nhà mái tròn có thể sử dụng cho sinh hoạt tín ngưỡng, cộng đồng Như vậy, một thời gian dài nhà ở dân gian người Việt chủ yếu là loại nhà sàn tựa trên cột, đây là loại nhà phù hợp với môi trường tự nhiên vùng châu thổ

DUT.LRCC

Trang 14

Nhà sàn hình mái tròn Nhà sàn hình mái thuyền

Hình 1.1: Hình ảnh nhà ở còn lưu lại trên mặt trống đồng Đông Sơn [11]

b Giai đoạn xã hội phong kiến và thời kỳ Pháp thuộc trước 1954 đối với miền Bắc Việt Nam

Giai đoạn này kéo dài từ cuối thế kỷ

19 đến giữa thế kỷ 20, do kiều kiện xã

hội nên nền kinh tế – xã hội chủ yếu phục

vụ cho chế độ quân chủ Vì vậy đất đai

đều thuộc quyền chiếm hữu của vua,

chúa, quan lại và địa chủ

Nhà ở đã biến đổi hoàn toàn từ nhà

sàn chuyển sang nhà đất, từ đó về tổ chức

không gian cũng đã thay đổi cho phù hợp với phương thức sản xuất mới, thân thiện, gắn kết với môi trường tự nhiên Nhà ở dân gian giai đoạn này được phân ra làm hai nhóm: Nhóm nhà ở trung lưu, giàu có như quan lại, địa chủ và nhóm nhà ở dân nghèo Nhà ở người nghèo chủ yếu sử dụng vật liệu như tre, nứa, lá để làm nhà dạng nhà lều, mái và vách tường lợp bằng tranh kết từ lá, cỏ (Hình 1.2)[11] Khuôn viên nhà ở người nghèo thường có điện tích đất nhỏ dưới một sào (1 sào = 360m2), nhà ở từ 1-2 gian kết hợp với bếp nấu Nhìn chung, nhà ở người nghèo có hình thức và công năng đơn giản, không có nhiều giá trị về kiến trúc

Nhà ở dành cho giới trung lưu thường có khuôn viên sân vườn rộng hàng mẫu đất (1 mẫu = 3.600m2), xung quanh có hàng rào, cổng xây bằng gạch đất nung, có mái lợp ngói hoặc hàng rào trồng cây dâm bụt, cây chè mạn, đan xen là cây lấy gỗ, cổng ra vào trồng cây vòm xén tỉa Bên trong khuôn viên từ cổng vào ở hướng Nam có vườn trồng cau, ao rộng nuôi cá, kế đến là sân lát gạch, phía sau nhà chính là vườn chuối, vườn cây ăn quả và cây lấy gỗ kết hợp với chuồng trại chăn nuôi và nhà vệ sinh; hai bên nhà chính là các nhà phụ, giếng nước và vườn rau Ngôi nhà ở dân gian thường bố trí ở giữa khu đất, tổ hợp giữa nhà chính và nhà phụ thông thường theo bốn hình thức: hình chữ nhất, hình thước thợ, hình chữ đinh và hình chữ môn

Hình 1.2: Kết cấu vì kèo của nhà lều

cỏ[2]

DUT.LRCC

Trang 15

Nhà chữ nhất Nhà chữ đinh

Hình 1.3 Một số giải pháp bố trí khuôn viên nhà ở nông thôn [11]

1 Nhà chính; 2 Nhà phụ; 3 Sân phơi; 4 Cổng; 5 Ao cá; 6 Chuồng chăn nuôi; 7 Nhà vệ sinh; 8 Vườn; 9 Bể cảnh, non bộ, bình phong; 10 Giếng nước

Nhà chính từ 5-7 gian, kết cấu chịu lực vì kèo gỗ 6 cột chạm khắc với các đường nét tinh xảo, các bộ vì kèo hay dùng là vì kèo suốt – giá chiêng, vì kèo trước kẻ – sau bẩy, vì kèo kẻ truyền – giá chiêng, vì kèo chồng rường hoặc kết hợp các bộ vì khác nhau trong cùng một ngôi nhà Vật liệu xây bằng đá, gạch đất nung, gỗ, vách tường gỗ hoặc gạch xây, mái lợp ngói mũi 2 lớp Về tổ chức không gian nhà ở, gian giữa là gian thờ cúng tổ tiên, các gian bên bố trí không gian tiếp khách và nơi ngủ cho đàn ông, gian buồng bố trí nơi ngủ cho đàn bà, con gái Nhà phụ bố trí bếp nấu, phòng ăn, chỗ ngủ của ông bà, nơi để nông cụ sản xuất, cối xay giã gạo và nơi làm nghề phụ lúc nông nhàn

Ngoài không gian sân, vườn, mặt nước, cây xanh góp phần tạo nên cảnh quan Nhà ở nông thôn (NONT), còn có không gian hiên đón rất quan trọng trong việc tạo lập môi trường vi khí hậu Là không gian chuyển tiếp giữa sân và trong nhà, hiên có nhiệm vụ ngăn gió lạnh mùa đông và giảm bức xạ mặt trời vào mùa hè làm cho không gian nhà ở luôn giữ được nhiệt độ tiện nghi cho con người

Thời kỳ người Pháp xâm chiếm và đặt ách đô hộ lên nước ta từ cuối thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20, không gian NONT nhìn chung không có biến đổi nhiều Tuy nhiên, hình thức kiến trúc và vật liệu đã có sự thay đổi Về hình thức kiến trúc, do

DUT.LRCC

Trang 16

quan chức nghỉ hưu hoặc người giàu mang mẫu thiết biệt thự kiến trúc Pháp về làng xây dựng theo kiểu nhà vườn Do không làm nông nghiệp nên khuôn viên ngôi nhà đã

bỏ bớt một số không gian như chuồng chăn nuôi, nhà vệ sinh đưa vào gần không gian

ở, bổ sung thêm gara ô tô, hồ bơi, sân chơi, vườn dạo Ngoài ra, một số người dân lên thành phố buôn bán giàu có mang hình thức kiến trúc Pháp về phối với kiến trúc dân gian truyền thống tạo nên một số hình thức kiến trúc lai tạp Về vật liệu đã có bê tông, sắt thép và các trang thiết bị nội thất nhà ở hiện đại, xuất hiện NONT truyền thống kết hợp với hiên mái bằng (Hiên Tây), lan can hiên có đắp phào bê tông hoặc đắp hoa văn

bê tông, kết cấu trong nhà vẫn là vì kèo gỗ chỉ 2 cột, phần còn lại tựa trên tường xây chịu lực, mái nhà lợp ngói (Hình 1.4), cửa ra vào không sử dụng của bức bàn theo truyền thống mà cánh cửa treo trên khuôn gỗ hoặc tường chịu lực Nhìn chung, mặc dù ảnh hưởng của kiến trúc Pháp nhưng NONT giai đoạn này vẫn mang đậm cấu trúc không gian truyền thống, thân thiện với môi trường và đã mang lại những giá trị kiến trúc cho NONT vùng ĐBBB

Hình 1.4 Hình ảnh kiến trúc NONT bị ảnh hưởng bởi kiến trúc Pháp[11]

Đối với nhà ở thị dân Hà Nội cuối triều Nguyễn, nhà ở tại khu vực 36 phố phường những năm cuối triều Nguyễn đa phần là những ngôi nhà xây sát nhau có mặt tiền khá hẹp hướng ra phố, toàn bộ cấu trúc chủ yếu ngôi nhà nằm vuông góc với phố

và có độ sâu tới vài chục mét tạo ra một hình thức nhà ở đặc biệt thường được gọi là

“nhà ống” do tương phản giữa độ sâu và mặt tiền của ngôi nhà

Loại nhà này thường được chia thành hai thành phần có chức năng khác nhau: Phía ngoài là cửa hàng bao gồm nơi sản xuất, kho chứa, nơi bán hàng; phía trong là nhà ở gồm các phòng ở, khu phụ, sân trong Nhà được chia thành nhiều lớp phòng, giữa các phòng là sân trong, thông thường có hai sân, một sân trồng cây cảnh, bể cá non bộ có thể coi là sân cảnh, một sân gắn với khu phụ có bể nước được gọi là sân ướt

DUT.LRCC

Trang 17

Hình 1.5 Phần lớn nhà ở những năm đầu thế kỷ 20 tại khu 36 phố phường vẫn là nhà

ống cổ truyền [7]

Đa phần nhà ở thời kỳ này được xây bằng gạch, mái lợp ngói dốc về hai phía, riêng lớp mái khu phụ chỉ có một dốc, các lớp mái đặt cách nhau tạo ra sân trong, hai đầu đỉnh mái lớp ngoài cùng giáp đường phố có các trụ mái được trang trí đơn giản bằng vữa đắp, tường mái ngăn cách giữa các nhà được xây cao vượt lên khỏi mái có hình bậc thang theo độ dốc mái

Nhà ở thời kỳ này chỉ có một tầng hoặc một tầng rưỡi, nghĩa là phía trên tầng một phần ngoài của ngôi nhà có một tầng lửng, do vậy mặt đứng nhà khá đơn điệu Mặt chính ngôi nhà thường xây lùi vào so với các tường biên và mái để tránh mưa nắng, cửa đi và cửa sổ bằng các tấm gỗ ván dày được xếp sát cạnh nhau tạo thành hình thức cửa lùa, tương ứng với phần gác lửng phía trên còn có một lỗ cửa nhỏ để lấy ánh sáng và thông gió, nhưng cũng có nhà không có lỗ cửa này nên phía trên chỉ là mảng tường đặc (hình 1.5)

Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, sau khi Hà Nội trở thành thuộc địa của Pháp và sau

đó chính thức được coi là thủ đô toàn xứ Đông Dương, người Pháp đã cho chỉnh trang khu 36 phố phường, mở thêm các khu phố mới chủ yếu dành cho tầng lớp trung lưu người Việt ở phía nam hồ Hoàn Kiếm thì những ngôi nhà ở truyền thống bắt đầu có sự biến đổi mạnh mẽ

DUT.LRCC

Trang 18

Hình 1.6 Phố Hàng Hòm năm 1921 đã có nhiều ngôi nhà ống cải biên được xây mới [7]

Một số ngôi nhà cũ bị phá bỏ và xây dựng lại, nhiều ngôi nhà mới cũng được xây dựng trên các tuyến phố mới mở Những ngôi nhà đầu tiên có niên đại cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 vẫn giữ nguyên cấu trúc nhà ống, tuy vậy số tầng tại khu ở và cửa hàng đều được nâng lên hai tầng, một vài ngôi nhà tới ba tầng, các sân cảnh và sân ướt vẫn được giữ lại Tường nhà xây gạch nhưng đã tổ chức móng sâu hơn, mái lợp ngói máy thay cho ngói ta trước đây, sàn tầng 2 thường được cấu tạo bằng gỗ, bê tông cốt thép còn ít được sử dụng

Mặt tiền các ngôi nhà thời kỳ này cũng trở nên rất phong phú do ảnh hưởng của kiến trúc Pháp Có hai loại mặt tiền chủ yếu ở thời kỳ này: Mặt tiền ảnh hưởng phong cách Địa phương Pháp, nhà có ban công trên tầng 2, các cửa sổ và cửa đi tổ chức theo phương đứng, cửa sổ có hai lớp kính - chớp, xung quanh cửa và trên trán tường trang trí các hình hoa dây, gờ chỉ theo kiểu Pháp, các con sơn đỡ mái bằng gỗ tiện gần giống với những biệt thự phong cách Địa phương Pháp ở khu phố Tây Loại mặt tiền thứ hai ảnh hưởng phong cách kiến trúc Tân cổ điển với việc trang trí mặt tường rất cầu kỳ, đặc biệt là bộ phận tường hoa chắn mái được sử dựng rộng rãi Xung quanh cửa và trên tường các ngôi nhà loại này thường được lấp đầy các hoạ tiết cổ điển, các hình đắp uốn lượn kiểu Baroc, các đầu cột kiểu Ionic, Corinth La Mã được dùng để trang trí cho các bổ trụ Đặc biệt phần tường hoa chắn mái được trang trí cầu kỳ nhất, bộ phận này luôn được tổ chức đăng đối với một phần giữa nổi bật xây nhô cao, trung tâm phần này được trang trí bằng hoa dây đắp nổi bao lấy một hình tròn hoặc trái soan gần giống

DUT.LRCC

Trang 19

hình thức Cartouche mà chúng ta thường thấy ở các công trình hành chính lớn thời bấy giờ, hai bên tường là các hình hoa lá đắp nổi cũng rất cầu kỳ và phong phú (hình

1.6)[7]

Từ những năm 1930, những ngôi nhà ống được xây dựng mới càng trở nên phổ biến, nhà 2 – 3 tầng cao ráo, một số nhà bỏ các sân ướt chỉ giữ lại sân cảnh do các khu bếp, vệ sinh đã bắt đầu được đưa vào khối ở Phong cách kiến trúc Art Deco ảnh hưởng rất lớn tới những ngôi nhà kiểu này Mặt tiền được trang trí giản dị theo phong cách hiện đại, sử dụng hạn chế các hoạ tiết trang trí và được xử lý một cách có cân nhắc, các cửa đi, cửa sổ mở rộng, có ban công rộng rãi do kết cấu bê tông cốt thép đã được sử dụng phổ biến ở thời kỳ này, nhiều nhà còn tổ chức dàn hoa bê tông trên mái (hình 1.7)

Hình 1.7 Nhà ống cải biên số 24 Nguyễn Văn Tố [7]

Cũng từ những năm 1930, nhiều ngôi nhà dành cho tầng lớp trung lưu người Việt được xây dựng ở các ô phố thuộc khu vực phía nam hồ Hoàn Kiếm có hình thức pha trộn rất đặc biệt Nhà được xây dựng trên các lô đất hình chữ nhật kéo dài giống như hình ống song có mặt tiền tương đối rộng Nhà chính cao hai, ba tầng và được xây lùi lại một khoảng so với hàng rào tạo ra một sân trước nhỏ, tầng 1 bố trí phòng khách,

DUT.LRCC

Trang 20

phòng ăn, các phòng ngủ và sinh hoạt gia đình được bố trí trên tầng 2 và tầng 3, ở mỗi tầng đều có khu vệ sinh Cạnh nhà thường tổ chức một lối đi để có thể đi vào nhà phụ một tầng xây ở cuối khu đất, giữa nhà chính và nhà phụ có một sân cảnh nhỏ Cách cấu trúc ngôi nhà kiểu này thực ra cũng chưa đạt được tiêu chuẩn của biệt thự xong cũng không còn là nhà ống theo kiểu cổ truyền nên ta có thể coi nó là biệt thự - nhà ống Công nghệ xây dựng thời kỳ này đã tiến bộ nhiều nên toàn bộ các sàn và mái nhà đều được đổ toàn khối bằng bê tông cốt thép, vì vậy các phòng ở có diện tích tương đối rộng và chiều cao lớn Mặt đứng theo phong cách Art Deco với các cửa mở rộng kết hợp với các ban công lớn, sê nô và ô văng bằng bê tông cốt thép vươn ra khỏi mặt đứng cũng là những yếu tố trang trí của những ngôi nhà loại này Thép uốn được sử dụng rộng rãi để trang trí hàng rào, ban công Nhìn chung thì đây là sự hoà trộn rõ nét nhất giữa kiến trúc nhà ở đô thị Việt Nam cổ truyền với biệt thự kiểu Pháp (hình 1.8)

Hình 1.8 Biệt thự - nhà ống số 112 Bùi Thị Xuân [7]

Từ nửa cuối những năm 1930, một số quan lại và tầng lớp giàu có người Việt đã xây dựng những biệt thự hoàn toàn theo kiểu biệt thự của người Pháp Đây là những biệt thự kiểu hợp khối gồm ba tầng: Tầng 1 bố trí nhà xe, bếp, phòng ở gia nhân, khu

vệ sinh, kho; tầng 2 bố trí nhà khách, phòng sinh hoạt gia đình, phòng ăn bố trí gần cầu thang nội bộ để thuận tiện cho việc đưa đồ ăn từ bếp lên; tầng 3 bố trí các phòng ngủ trong đó phòng ngủ chính có cửa đi trực tiếp vào khu vệ sinh Hình thức kiến trúc của

DUT.LRCC

Trang 21

các biệt thự này đa phần theo phong cách Art Deco, một số rất nhỏ theo phong cách kiến trúc Đông Dương, tuy nhiên khuôn viên các biệt thự này thường không lớn bằng các biệt thự ở khu phố dành cho người Pháp và số lượng cũng không nhiều (hình 1.9)

Biệt thự hoàn chỉnh số 2 Đặng Dung Nhà nha sĩ Nghiêm Mỹ

(khoảng 1940, Hà Nội)

Hình 1.9 biệt thự theo phong cách Art Deco [7]

Bảng 1.1 Những đặc diểm cơ bản của nhà ở thị dân Hà Nội qua các giai đoạn [7]

TT Giai đoạn Loại nhà chủ đạo Đặc điểm kiến trúc Khu vực xây dựng

đứng đơn giản Mặt bằng hẹp và dài, gồm nhiều lớp nhà và sân trong

Khu 36 phố phường

Hai đến ba tầng, mái ngói, mặt đứng theo kiểu Địa phương Pháp hoặc Tân cổ điển Mặt bằng thường có hai lớp nhà và một sân trong

Khu 36 phố phường

ống

- Biệt thự hoàn

- Nhà chính hai đến ba tầng, nhà phụ một tầng, mái ngói hoặc mái bằng

Trang trí theo kiểu Địa phương Pháp, Tân cổ điển, Art Deco;

- Phía bắc Thành cổ (Phường Quán Thánh… hiện nay) Phía nam hồ Hoàn Kiếm (Phường Bùi Thị Xuân, Hàng

DUT.LRCC

Trang 22

TT Giai đoạn Loại nhà chủ đạo Đặc điểm kiến trúc Khu vực xây dựng

chỉnh - Nhà ba tầng, hợp khối

với đầy đủ chức năng ở

Trang trí kiểu Art Deco, một số ít theo kiểu Kiến trúc Đông Dương

Bài… hiện nay)

- Gần hồ Trúc Bạch (Phường Trúc Bạch… hiện nay) Tây nam hồ Hoàn Kiếm (Phường Phan Chu Trinh, Trần Hưng Đạo… hiện nay)

c Giai đoạn từ 1954 đến nay

Mười năm tiếp theo, đất nước lại phải đối phó với chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ Vì vậy, thời gian này xây dựng chủ yếu là các công trình phòng không, sơ tán

Chiến tranh cũng đã phá huỷ phần lớn thành quả mà mười năm trước đã tạo dựng, cho đến mãi sau này cũng không phục hồi hết được

- Miền Nam

Miền Nam có những biến động chính trị Chính quyền, một mặt lo ổn định chế

độ cai trị (chuyển từ thực dân Pháp sang đế quốc Mỹ) mặt khác lo đối phó với cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc- thống nhất đất nước của mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam

Mặc dù có nhiều tiềm năng kinh tế, nhưng hoạt động xây dựng của thời kỳ này chủ yếu ở Sài Gòn và tại một số thành phố lớn hoặc các đô thị có mục tiêu quân sự Họ xây dựng các khu quân sự với các công trình phục vụ cho người nước ngoài, cho chính quyền công sở, nhà ở, nơi vui chơi, nghỉ mát, công trình thương mại, tài chính…và công trình phục vụ chiến tranh như: Doanh trại, kho tàng, sân bay, bến cảng, đường sá, công trình dịch vụ quân sự

Kiến trúc Sài Gòn xưa quy hoạch khá rõ, với các khu vực nhà phố, nhà biệt thự, khu buôn bán… rất rõ rệt, cơ quan thẩm quyền cứ dựa vào những quy hoạch đó để xét duyệt và cấp phép xây dựng, không có chuyện xây dựng bừa bãi và tràn lan Trong thời kỳ này, các kiến trúc Pháp do người Pháp thiết kế và xây dựng xuất hiện ít dần đi

DUT.LRCC

Trang 23

Cũng trong thời kỳ này, dân số Sài Gòn tăng nhanh do có một bộ phận di cư từ miền Bắc vào, và các luật lệ trong xây dựng và quy hoạch đô thị bớt khắt khe hơn so với thời trước 1954, do vậy việc xây dựng và quy hoạch diễn ra không đồng bộ, nảy sinh những phức tạp và tính mỹ quan của kiến trúc dần bị xem nhẹ

Giai đoạn người Mỹ vào Sài Gòn, cũng là giai đoạn phát triển của vật liệu trong xây dựng, các loại hình kiến trúc bêtông đá rửa, nhà mái bằng, vuông thành thẳng cạnh trở nên một trào lưu kiến trúc của những

năm 1960 – 1970 Thế hệ kiến trúc sư

được đào tạo tại Việt Nam và cả ở nước

ngoài bắt đầu góp phần hình thành nên các

trào lưu kiến trúc mới Kiến trúc mái bằng

trở thành phong trào cũng có nhiều lý do,

phần vì là khác lạ so với kiến trúc kiểu

Pháp, phần vì mái bằng để chủ nhân có thể

dễ dàng cơi nới, tăng thêm tầng khi có

điều kiện, còn kiến trúc nhà kiểu Pháp

dùng vật liệu chủ yếu bằng gỗ, mà gỗ

hiếm dần nên việc thay thế vật liệu mới

cho phù hợp là điều tất yếu Các nhà kiểu

Pháp tường quét vôi chỉ sau vài năm bị cũ,

xuống màu, vật liệu đá rửa khi ấy đem lại

nét mới lạ, bền lâu nên được ưa chuộng

Nếu bỏ qua yếu tố phù hợp với

môi trường và điều kiện thực tế ở xứ nhiệt đới, chính là những khiếm khuyết của nhà mái bằng như việc thoát nước không tốt, dễ ngấm nước vì chưa có vật liệu chống thấm tốt, đá rửa bền nhưng dễ bám bụi, gây rêu mốc… thì kiến trúc mái bằng và trang trí đá rửa là một sự thay đổi, cập nhật cái mới trong trào lưu kiến trúc của Sài Gòn xưa những năm 1960 – 1970 (hình 1.10)

Giai đoạn 1975-1985

Đất nước được thống nhất Đây là giai đoạn không còn nguồn viện trợ từ nước ngoài, phải tự tìm hiểu, trau dồi kiến thức và phát triển các phương pháp, kỹ thuật xây dựng mà các nước XHCN viện trợ để phục hồi cơ sở vật chất sau chiến tranh và xây dựng mới hệ thống công trình phúc lợi xã hội dân sinh ở cả hai miền Vì vậy, kiến trúc xây dựng thời kỳ này vẫn ở trạng thái tiết kiệm, thắt lưng buộc bụng

- Chất lượng kiến trúc: Với điều kiện thực tế xây dựng còn nhiều khó khăn như: Suất đầu tư thấp, Nhà nước bao cấp đầu tư và phân phối, vật liệu xây dựng hoàn thiện khan hiếm, thiếu nhiều trang thiết bị công trình, không thang máy, không điều hoà

Hình 1.10 Kiến trúc mái bằng và

trang trí đá rửa [4]

DUT.LRCC

Trang 24

không khí… nên phương châm thiết kế lúc đó, đồng thời cũng là mục tiêu chất lượng công trình là “thích dụng, bền vững, kinh tế, đẹp (mỹ quan) trong điều kiện có thể”[5]

Từ đó, kiến trúc, trước hết phải đáp ứng giá trị sử dụng Cho nên có thể coi kiến trúc XHCN ở miền Bắc là “kiến trúc công năng”, phản ánh hiện thực xã hội từ đầu vào, quá trình tạo dựng, đến đầu ra sử dụng

Các nguyên lý thiết kế được bắt đầu bài bản, chuẩn mực, nhưng do cơ chế bao cấp, phân phối mà có sự phân cấp từ công trình cho đến phân cấp tiêu chuẩn nên nguyên lý được vận dụng một cách mềm dẻo, mức độ tiện nghi tối thiểu, nhưng tối đa nhu cầu

Về hình thức, kiến trúc thời kỳ này có công năng đơn giản, dễ nhận biết, hình thức bên ngoài phù hợp chức năng sử dụng bên trong, đường nét hiện đại ngay thẳng, hình khối kiến trúc ngay ngắn sạch sẽ

Tuy nhiên, diện mạo kiến trúc đô thị không tránh khỏi sự đơn điệu do các công trình đều thấp tầng, nghèo nàn về chủng loại, vật liệu hoàn thiện, chủ yếu là sơn vôi, sau này có đá rửa, ốp gốm, và do chủ trương xây dựng điển hình hóa theo mẫu nhà… Nghệ thuật kiến trúc càng bị hạn chế, nhất là trang trí (cả bên ngoài và nội thất, chiếu sáng nghệ thuật càng chưa dám nghĩ tới)

Kiến trúc khí hậu - tạo bản sắc: Thời kỳ này kiến trúc ở cả hai miền đều xuất phát

từ yêu cầu thực tế khách quan, luôn chú trọng khai thác kiến trúc dân gian Kiến trúc,

vì thế phản ánh rõ đặc thù khí hậu

Bị hạn chế điều kiện đầu tư, thiết bị công nghệ nên kiến trúc phải đặt mục tiêu

“thích ứng” khí hậu nhằm tạo môi trường tiện nghi tối đa cho con người bằng cách khai thác lợi thế khí hậu tự nhiên như ánh sáng, gió mát, khắc phục bất lợi như gió bão, mưa lạnh, nắng nóng bức xạ… Người thiết kế đã chọn các giải pháp như chọn hướng nhà, tổ chức hành lang bên, thông gió tự nhiên, ánh sáng tự nhiên, sử dụng chi tiết kiến trúc để chắn nắng mưa, hướng bức xạ, xử lý mái - tường bao che cách nhiệt, tiếp cận thiên nhiên…hạn chế nhân tạo, tiết kiệm được năng lượng Và đó phải chăng

là những nội dung của kiến trúc Xanh ngày nay đang hướng tới

Cũng chính từ kiến trúc thích ứng khí hậu mà vẻ ngoài bộc lộ rõ hình ảnh kiến trúc của từng vùng miền, vì vậy giai đoạn này kiến trúc được coi là có “bản sắc”

Ngoài những điểm chung về bối cảnh xã hội, các tác động ảnh hưởng đến kiến trúc xây dựng, mục tiêu xây dựng ở miền Nam có những nét riêng, do ảnh hưởng của phương tây, kiến trúc miền Nam theo xu hướng hiện đại, thực dụng, công năng và các nhà thiết kế quan tâm đến khí hậu nên kiến trúc tạo được đặc thù nhiệt đới

DUT.LRCC

Trang 25

Hình 1.11 Nhà dọc theo tuyến phố với kiểu kiến trúc đặc trưng có tên gọi là Nhà phố

(ảnh nguồn internet) Ngày nay, tính thường trực và thời sự của nhà phố là đáng chú ý nhất Nhà phố trở thành một thuật ngữ để chỉ những ngôi nhà liền kề, nhà chia lô được xây dựng – hình thành trên các tuyến phố mới trong các khu đô thị, các tuyến đường mới, các khu

ở được quy hoạch triển khai Ở nước ta, tại các thành phố đã và đang phát triển, nhà phố cũng góp mặt trong giai đoạn hình thành và phát triển đô thị cho tới nay Vốn liên tục được làm mới và sửa chữa cho phù hợp ở những giai đoạn khác nhau của quá trình

đô thị hóa Loại nhà này là một bộ phận cấu thành các đường phố và không gian đô thị Hơn nữa, nhà phố cũng là cơ sở để phát triển những kiểu nhà mới phù hợp với những thay đổi của cuộc sống Thực trạng hiện nay cho thấy, số lượng nhà phố vẫn chiếm chủ yếu đa số tại các vùng trung tâm đô thị, và đang có xu hướng lan nhanh ra các khu vực khác bao gồm cả khu vực ngoại thành

Với mô hình nhà phố phổ biến tại các đô thị hiện nay, giải pháp thích hợp là “giải pháp kiến trúc thoáng hở” Trong đó, lớp vỏ bao che của ngôi nhà cần phải được che các tia bức xạ mặt trời chiếu trực tiếp Đối với các kết cấu như tường và mái nhà cần được cách nhiệt để hạn chế hiện tượng dẫn nhiệt vào nhà Đối với việc tổ chức không gian bên trong nhà phải được bố trí thông thoáng tự nhiên

Với mặt đứng công trình, Ô văng hay là kết cấu che nắng nằm ngang được lắp đặt ngay phía trên đầu cửa sổ và thường vươn xa khỏi tường một khoảng để tạo bóng cho cửa sổ bên dưới hạn chế các tia bức xạ mặt trời chiếu vào phòng

Giải pháp thông gió xuyên phòng là giải pháp thích hợp cho kiến trúc nhà phố Trong trường hợp phòng chỉ có một cửa gió vào cần sử dụng thêm các giải pháp thông gió chủ động như quạt hút gió, chụp hút gió, cầu thông gió để hỗ trợ cho việc thông gió tự nhiên xuyên phòng

Đối với các công trình nhà phố xây mới, thiết kế mẫu cần xuất phát chính từ các yêu cầu tối thiểu của không gian chức năng, từ kích thước đồ đạc nội thất để định đoạt kích thước ngôi nhà, tránh tình trạng chỉ tập trung vào mặt tiền bắt mắt mà đưa ra

DUT.LRCC

Trang 26

những không gian tùy tiện, chỗ thừa chỗ thiếu, hoặc không bố trí được nội thất sau này khi người ở vào nhận nhà

Về mặt tổ chức không gian nhà phố ngày nay việc áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ cũng là một yêu cầu bắt buộc và hợp xu thế Các thiết bị và các cấu tạo mới cần xem xét áp dụng tối đa …nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống trước mắt và cả khả năng bổ xung nâng cấp sau này khi có điều kiện kinh tế Cân nhắc và xem xét các thiết bị mới như thang máy gia đình các loại vách ngăn, mái che di động, hệ thống điều khiển tòa nhà, điều hòa và cấp nước nóng tiết kiệm năng lượng v.v

Hình 1.12 Tổ chức khu nhà phố theo tuyến đồng bộ, KĐTM The Manor Hà Nội- ảnh

nguồn internet Định hướng loại hình nhà phố tương lai : Loại hình nhà Shophouse xuất hiện khoảng 5 năm gần đây, gắn liền với nhu cầu kinh doanh thương mại dịch vụ ở các đô thị tăng cao, kết hợp ở với cửa hàng thương mại nên còn được gọi là nhà phố thương mại (Hình 1.12)

Về tính sở hữu, nếu căn cứ trên chức năng sử dụng, với diện tích ở (house) là vĩnh viễn và phần diện tích kinh doanh (shop) là 50 năm”[6] Vấn đề xảy ra là mâu thuẫn về thời hạn sở hữu các phần không gian khác nhau ngay trong cùng một ngôi nhà Đặc biệt, trong một số trường hợp một số dự án Shophouse xây dựng trên đất chỉ được sử dụng làm dự án xây dựng cơ sở thương mại, dịch vụ có thời hạn nhất định nên hoàn toàn không được cấp sổ đỏ như nhà phố liền kề thông thường Do vậy, tính sở hữu Shophouse cần được xác định và nghiên cứu cho phù hợp

Về thiết kế, Shophouse là loại hình nhà ở mới và chưa có quy chuẩn, tiêu chuẩn, pháp lý Trong tổ chức quy hoạch toàn khu, Shophouse phải được bố trí vị trí phù hợp với thiết kế toàn khu đô thị, trên một hạ tầng thống nhất Kiến trúc Shophouse trên toàn khu cần đạt được sự đồng nhất cao, tạo nên sự đồng điệu, thẩm mỹ cho toàn khu

đô thị Shophouse cần được đặt ở các vị trí giao lộ, dễ dàng để tiếp cận và mua bán

Do Shophouse được thiết kế là nhà ở thương mại, nghĩa là vừa ở, vừa kinh doanh, bởi

DUT.LRCC

Trang 27

vậy kiến trúc tổ chức không gian Shophouse cần đảm bảo thuận lợi để khách hàng sử dụng với cả hai mục đích trên, đồng thời phù hợp với pháp luật khi việc bố trí các không gian phòng ở lâu dài như đối với nhà phố là chưa hợp lý

Thiết kế Shophouse cần phải đảm bảo yêu cầu sinh hoạt, an toàn trong kinh doanh, đặc biệt là vật liệu cháy nổ, đảm bảo an toàn phòng cháy chữa cháy, cùng với các quy định cam kết chặt chẽ để người dân tuyệt đối không tự ý thay đổi kết cầu căn nhà

1.1.2 Khái niệm kiến trúc nhà ở thấp tầng trong đô thị

Nhà thấp tầng là nhà ở có sân vườn phục vụ độc lập cho từng gia đình với ngôi nhà ở chính từ 1 đến 4 tầng [10] Mỗi gia đình thường có một khuôn viên được khai thác sử dụng từ tầng trệt đến các tầng trên, đây là loại nhà ở chiếm một tỷ trọng rất đáng kể trong quỹ đất ở trung bình của toàn đất nước, giải quyết nhu cầu ở đại bộ phận dân cư ở nông thôn và đô thị Các nhà ở thấp tầng thường phản ánh một cách rõ đẹp nhất các điều kiện ràng buộc khống chế của thiên nhiên, khí hậu của lối sống tập quán

và sở thích của chủ nhân Các chủ nhân của nhà ở thấp tầng có thu nhập rất khác nhau

Vì vậy chất lượng quy mô của nhà thấp tầng cũng khác biệt

Tuy nhiên trong phạm vi đô thị thì dưới đây là một số thể loại điển hình:

1.1.2.1 Nhà ở kiểu biệt thự

Là loại nhà ở gia đình độc lập, tiện nghi sang trọng có sân vườn, chủ yếu phục vụ cho người thành phố có thu nhập kinh tế và đời sống cao, những người có địa vị xã hội hay điều kiện kinh tế

Trong đất nước ta loại nhà này chiếm đa số trong đô thị, nhưng nước ngoài thì chủ yếu ở khu ven đô thị hay khu nghỉ mát

Nhà ở biệt thự thường được đặt những khu vực yên tĩnh, có nhiều cây xanh ở ven đô Nhà biệt thự có tiêu chuẩn sinh hoạt cao, điều kiện tiện nghi đầy đủ Nhà chính thường cao từ 1-4 tầng, không thiếu được gara để ôtô

Các biệt thự chỉ dùng để ở Diện tích lô đất từ 300-800 mét vuông nhưng chỉ xây dựng với mật độ nhỏ hơn hay bằng 35% Nhà kiểu biệt thự thường có một số bộ phận chính sau: Sảnh hay tiền phòng hoặc hiên; phòng tiếp khách; phòng sinh hoạt chung; phòng ngủ; phòng ăn; nhà bếp; nhà xe;… Theo số tầng chia ra biệt thự 1 tầng, 2 tầng,

3 tầng Nhà biệt thự còn chia ra: Biệt thự 1 căn (dùng cho 1 gia đình)- đơn lập; biệt thự

2 căn (dùng cho 2 gia đình)-song lập, ngoài ra còn có cụm biệt thự từ 4-8 căn [10]

1.1.2.2 Các kiểu nhà ở liên kế

Nhà này gọi kiểu khối ghép, nhà hàng phố, nhà kiểu dãy, kiểu băng Gần như kiểu nhà ở biệt thự đơn lập, song lập nhưng tiêu chuẩn thì thấp hơn nhưng được xây dựng ngoại vi thành phố lớn, thành phố nhỏ và vừa rất được phát triển Có thể xây dựng hàng loạt để tiết kiệm đất Loại nhà này chỉ có 2 hướng, có thể lối vào phía trước hay phía sau, mặt tường tiếp xúc nhà 2 bên Mỗi gia đình sống trên điện tích mảnh đất

từ 80-120 mét vuông Số lượng căn nhà trong dãy từ 4-16 căn Các căn nhà thường ghép thành dãy theo hình dạng phong phú sinh động

DUT.LRCC

Trang 28

Nhà ở thường 1 hay 2, 3 tầng phục vụ cho 1 hay 2 gia đình Loại nhà này thường cho những gia đình trung lưu, có thể kết hợp kinh doanh, buôn bán và sản xuất

Bề rộng của mặt tiền không nhỏ hơn 3,3m Mật độ xây dựng cho phép

60-70%.[10]

1.1.2.3 Chung cư thấp tầng

Đây là loại nhà dành cho các hộ gia đình có chung nhau các hành lang ra cầu thang mỗi gia đình sống trong một căn hộ độc lập khép kín được bố trí dọc theo một hành lang hoặc quay quanh mặt cầu thang dùng loại này thường từ 1 đến 3 tầng, thường dành cho gia đình cán bộ công nhân viên và gia đình dân ở các thị trấn nhỏ với

ưu thế của nó là chiếm điện tích đất nhỏ kinh phí đầu tư không lớn lắm và không cần phải có thang máy

Trong phạm vi luận văn này, Tác giả chỉ nghiên cứu hai loại hình nhà ở thấp tầng hiện đại ở đô thị, cụ thể là biệt thự nhà phố và nhà liền kề

1.1.3 Khái niệm về khu đô thị mới, khu tái định cư

1.1.3.1 Khái niệm về khu đô thị mới

Năm 2006, Chính phủ chính thức ra Nghị định số 02/2006/NĐ-CP ngày 05 tháng

01 năm 2006, quy định về Qui chế khu đô thị mới, theo đó “Dự án khu đô thị mới” là

dự án đầu tư xây dựng một khu đô thị đồng bộ có hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, khu dân cư và các công trình dịch vụ khác, được phát triển nối tiếp đô thị hiện có hoặc hình thành khu đô thị tách biệt, có ranh giới và chức năng được xác định phù hợp với quy hoạch xây dựng đô thị đã được cơ quan nhà nước có

thẩm quyền phê duyệt

1.1.3.2 Khái niệm về khu tái định cư

Tái định cư là chính sách ổn định, bồi thường thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất theo quy định Khi chủ sở hữu đất, nhà, tài sản gắn liền với đất bị thu hồi sẽ được nhà nước đền bù, bồi thường và hỗ trợ tái định cư theo mức quy định hợp lý hoặc cấp nhà xây sẵn có thể là nhà tái định cư chung cư hoặc tái định cư liền kề mặt đất giúp ổn định lại cuộc sống

Theo Khoản 2 và khoản 4, Điều 86, Luật Đất đai năm 2013 quy định “Người có đất thu hồi được bố trí tái định cư tại chỗ nếu tại khu vực thu hồi đất có dự án tái định

cư hoặc có điều kiện bố trí tái định cư Ưu tiên vị trí thuận lợi cho người có đất thu hồi sớm bàn giao mặt bằng, người có đất thu hồi là người có công với cách mạng

Phương án bố trí tái định cư đã được phê duyệt phải được công bố công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi và tại nơi tái định cư”

“Trường hợp người có đất thu hồi được bố trí tái định cư mà tiền bồi thường, hỗ trợ không đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu thì được Nhà nước hỗ trợ tiền đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu Chính phủ quy định cụ thể suất tái định cư tối thiểu cho phù hợp với điều kiện từng vùng, miền và địa phương”

DUT.LRCC

Trang 29

1.2 Thực trạng kiến trúc nhà ở thấp tầng ở TP Đà Nẵng

1.2.1 Giới thiệu các khu ở mới tại thành phố Đà Nẵng

Theo phê duyệt quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 theo quyết định số 465/QĐ/TTg ngày 17/6/2002 Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung thành phố

Đà Nẵng đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 theo Quyết định số 2357/QĐ-TTg ngày 04 tháng 12 năm 2013 Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Đà Nẵng đến năm 2020 theo Quyết định số 1866/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ ngày 16/10/2019

Đồng thời, hiện nay theo Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/1/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm

2045, Thủ tướng Chính Phủ đã ban hành quyết định phê duyệt nhiệm vụ điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 số 147/QĐ-TTg nhằm điều chỉnh và quy hoạch phát triển Đà Nẵng phù hợp với thực trạng hơn

Đất tái định cư và các dự án nhà ở trên địa bàn toàn thành phố triển khai các dự

án quy hoạch đã được duyệt như sau:

Hình 1.13 Bản đồ quy hoạch Thành phố Đà Nẵng – nguồn Viện Quy hoạch Tp Đà Nẵng

Quy hoạch khu đô thị quận Liên Chiểu đang được triển khai

 Quy hoạch khu đô thị Phúc Lộc Viên

 Quy hoạch khu đô thị Phước Lý

 Quy hoạch khu đô thị Quang Thành 3B

 Quy hoạch khu đô thị Aurora Da Nang City

DUT.LRCC

Trang 30

 Quy hoạch khu đô thị Phùng Hưng

 Quy hoạch khu đô thị Bulova

 Quy hoạch khu đô thị Hòa Minh 5

 Quy hoạch khu đô thị Luxury Beach

 Quy hoạch khu đô thị Dự Án Kim Long City

 Quy hoạch khu đô thị Dự Án Golden Hills Đà Nẵng

Nhiều dự án thuộc bản đồ quy hoạch quận Cẩm Lệ và đang triển khai điểm hình như:

- Quy hoạch khu đô thị Hòa Xuân (5 giai đoạn)

Giai đoạn 1A: Hòa Xuân đảo 1

Giai đoạn 1B: Hòa Xuân Đảo VIP

Giai đoạn 2: Đô thị sinh thái Nguyễn Tri Phương

Giai đoạn 3: Đô thị sinh thái Nam Hoà Xuân

Giai đoạn 4: Khu đô thị Võ Chí Công Nối dài

- Quy hoạch khu đô thị Phước Lý (quy mô gần 50ha)

- Quy hoạch khu đô thị Green Lake Đà Nẵng

- Quy hoạch khu đô thị Thăng Long Riverside (Đường Thăng Long, Hòa Thọ Đông, Cẩm Lệ, Đà Nẵng)

Mặt khác có nhiều quy hoạch dự án khu đô thị đã thanh khoản: Khu đô thị đầu trục Tây Bắc Đà Nẵng, Dream House, An Phát, khu đô thị Hòa An Residence, khu Tái định cư Nam Cầu Cẩm Lệ, cầu Nguyễn Tri Phương…

Các dự án đã được phê duyệt quy hoạch tại quận Ngũ Hành Sơn đặc biệt là phát triển quy hoạch khu đô thị Đà Nẵng, quy hoạch KCN, giáo dục, nông nghiệp, du lịch trọng điểm như:

Bản đồ quy hoạch làng Đại học Đà Nẵng (khu đô thị Làng Đại học)

 Quy hoạch khu tái định cư Làng Đại học

 Quy hoạch y tế: Bệnh viện Chấn thương và Chỉnh hình tại Đường Võ Chí Công, quận Ngũ Hành Sơn (Trường Đại học Y Dược), bệnh viện chuyên khoa Quốc tế tại quy hoạch khu Đô thị FPT quận Ngũ Hành Sơn

 Quy hoạch công viên Văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn

 Quy hoạch trung tâm mua sắm giải trí ngầm Bãi tắm Sơn Thuỷ

 Quy hoạch khu đô thị FPT City Đà Nẵng

 Quy hoạch khu đô thị Forest city

Theo quy hoạch quận Thanh Khê phát triển theo định hướng trở thành trung tâm dịch vụ thương mại của thành phố

Hiện nay, quận Thanh Khê có rất nhiều các quy hoạch nổi bật, trọng điểm:

 Quy hoạch khu đô thị Đa Phước, Lakeside Palace

Quận Hải Châu là nơi tập trung chủ yếu các cơ quan ban ngành và là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị và giáo dục của Thành phố Đà Nẵng

DUT.LRCC

Trang 31

Các dự án quy hoạch khu đô thị quận Hải Châu Đà Nẵng nổi bật:

 Quy hoạch khu đô thị mới River Sky

 Quy hoạch khu đô thị mới Công viên Châu Á Đà Nẵng (Asia Park Residence )

 Quy hoạch khu đô thị mới Halla Jade Residences

 Quy hoạch khu đô thị mới Diamond Villa Riverside

 Quy hoạch khu đô thị mới Hải Châu Center (Elysia Complex City)

 Quy hoạch khu đô thị mới Sunrise Bay

 Quy hoạch khu đô thị mới Thăng Long Sky Village

 Quy hoạch khu đô thị mới Daewon Đa Phước

Một số dự án quy hoạch khu đô thị quận Sơn Trà nổi bật:

 Quy hoạch khu đô thị Vịnh Thuận Phước

 Quy hoạch khu đô thị An Viên City

 Quy hoạch khu đô thị Làng Châu Âu (Euro Village)

 Quy hoạch khu đô thị The Sun City Riverside Đà Nẵng

1.2.2 Tình hình phát triển nhà ở tại thành phố Đà Nẵng

Theo Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở TP Đà Nẵng năm 2019, toàn TP hiện chỉ có năm hộ không có nhà ở, chiếm 0,0016% Trong số năm hộ không có nhà ở thì có hai hộ ở quận Hải Châu, ba hộ ở quận Sơn Trà Đà Nẵng có 2.038 địa bàn, bao gồm 295.418 hộ, bình quân 145 hộ/ địa bàn Tính đến thời điểm 0h00 ngày 1-4-2019, dân số Đà Nẵng là 1.134.310 người, xếp thứ 39 trong cả nước, tỷ lệ tăng dân số bình quân là 2,45%/năm Mật độ dân số là 1.160 người/km2, tỷ lệ hộ có nhà ở kiên cố và bán kiên cố chiếm 99,5%, trong đó tại khu vực thành thị là 99,6%; quy mô bình quân 3,7 người/hộ gia đình, diện tích nhà ở bình quân đầu người là 27,4m2/người Trong những năm gần đây, điều kiện về nhà ở của người dân đã được cải thiện rất nhiều, đạt mức trung bình khoảng 8m2/người

Quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ trong nước đã làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế xã hội ở nhiều địa phương và các thành phố lớn Nhiều khu đô thị mới mọc lên với điều kiện hạ tầng đồng bộ tạo ra không chỉ một bức tranh đô thị hiện đại

mà còn là động lực to lớn để thúc đẩy nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan như không đủ nguồn lực, hạn chế về công tác dự báo, thiếu tầm nhìn trong công tác quy hoạch dẫn đến tình trạng “xôi đỗ” trong quá trình phát triển đô thị Hàng ngày trên các phương tiện thông tin chúng ta đã quá quen thuộc với những hình ảnh đối lập giữa một bên là những nhà cao tầng chót vót với những tiện nghi đầy đủ với một bên là những khu đô thị cũ thường xuyên chịu cảnh ngập nước bốn mùa, giao thông đi lại hết sức khó khăn do lấn chiếm đất công, điều kiện vệ sinh thấp kém Sự tồn tại của các đô thi cũ, đặc biệt là đô thị ở các khu vực trung tâm của các thành phố lớn là một vấn đề khách quan, lâu dài Làm thế nào để có thể đảm bảo

DUT.LRCC

Trang 32

được điều kiện sống cơ bản cho người dân ở các đô thị cũ là thách thức thường xuyên của những người làm công tác quản lý

1.3 Kết luận Chương 1

Như vậy, Nhà ở không chỉ là nơi trú ẩn, mà còn là nơi hưởng thụ sự phát triển của khoa học kỹ thuật Xã hội ngày càng phát triển thì số lượng ngôi nhà cũng không ngừng tăng lên, việc đảm bảo chất lượng đi cùng giúp cho người lao động và con người ở thế hệ sau sống yên vui và phát triển thể lực, trí lực một cách toàn vẹn nhất Nhà ở không những phục vụ cho quá trình phát triển của con người, mà còn phục

vụ cho quá trình phát triển của xã hội, nó vừa tạo ra sản phẩm vật chất, vừa có tác dụng như là sản phẩm tinh thần Vì vậy, sự phát triển của nhà ở cần phải phù hợp với

sự phát triển kinh tế – xã hội của đô thị, chỉ có như vậy mới có thể thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng bền vững của đất nước

DUT.LRCC

Trang 33

1110 đến 1130 kinh độ Đông, cách đảo Lý Sơn (thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía Nam [3]

Nằm ở vào trung độ của đất nước, trên trục giao thông Bắc - Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, cách Thủ đô Hà Nội 764km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 964 km về phía Nam Ngoài ra, Đà Nẵng còn là trung tâm của quần thể của 4 di sản văn hoá thế giới nổi tiếng là cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn và Rừng quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

Trong phạm vi khu vực và quốc tế, thành phố Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua Hành lang kinh tế Đông Tây với điểm kết thúc là Cảng biển Tiên Sa Nằm ngay trên một trong những tuyến đường biển

và đường hàng không quốc tế, thành phố Đà Nẵng có một vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững

2.1.2 Điều kiện địa hình

Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng vừa có núi, vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp

Địa hình đồi núi chiếm điện tích lớn, độ cao khoảng từ 700-1.500m, độ dốc lớn (>40 độ) [3] là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố

Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía Tây, Tây bắc và tỉnh Quảng Nam Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và các khu chức năng của thành phố

2.1.3 Đặc điểm khí hậu

Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và

DUT.LRCC

Trang 34

miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam Mỗi năm có 2 mùa

rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài

Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,90C; cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, trung bình từ 28-300C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình từ 18-230C Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500m, nhiệt độ trung bình khoảng 200C [3]

Độ ẩm không khí trung bình là 83,4%; cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình

2.2.1 Cơ cấu dân số

Theo kết quả điều tra ngày 1 tháng 4 năm 1999, thành phố Ðà Nẵng có 684.846 người Trong đó dân số trong độ tuổi lao động xã hội toàn thành phố là 413.460 người, chiếm 57,7% dân số Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, dân số toàn thành phố Đà Nẵng đạt 1.134.310 người[12], xếp thứ 39 cả nước, chiếm 1,18% dân số cả nước, mật

độ dân số đạt 1.160 người người/km².[12] Trong đó dân số sống tại thành thị đạt 988.569 người, chiếm 87,2% dân số toàn quốc, dân số sống tại nông thôn đạt 145.741 người, chiếm 12,4% dân số Đà Nẵng có sô dân thành thị đứng thứ ba trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương sau Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, đứng thứ 5 toàn quốc sau Bình Dương, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội Ngoài ra thành phố còn tiếp nhận thêm lượng dân cư từ các tỉnh, thành là sinh viên, công nhân lao động, nước ngoài đến thành phố học tập và làm việc nên tỷ lệ dân nhập cư ngày càng tăng Dân số nam của thành phố đạt 558.982 người, trong khi đó nữ đạt 575.328 người Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương là 2,45%.[12] Đà Nẵng cũng

là địa phương có tỷ lệ đô thị hóa cao nhất miền Trung-Tây Nguyên và cao nhất cả nước: 87,2% Đà Nẵng là địa phương có tỷ lệ dân cư sống ở khu vực thành thị cao nhất nước

Dân số Đà Nẵng tăng trưởng ở mức từ 2,5% và 3% trong hầu hết các năm từ năm 2005 tới 2011, cao hơn trung bình toàn quốc là 1% đến 1,2% Cá biệt tỷ lệ tăng trưởng đã tăng lên 3,6% trong năm 2010 trước khi trở lại 2,68% trong năm 2011 Đây

là tốc độ tăng trưởng nhanh thứ ba trong cả nước sau Bình Dương (4,41%) và Đồng Nai (3,5%) Tỷ lệ tăng dân số của thành phố năm 2015 là 1,1% Di cư là yếu tố chủ đạo trong tăng trưởng dân số của thành phố ít nhất là từ năm 2009 Tăng trưởng dân số

tự nhiên của thành phố cao hơn một chút so với mức trung bình của cả nước Tuổi thọ

DUT.LRCC

Trang 35

trung bình đạt 77,4 tuổi đối với nữ và 72,4 hoặc 74,8 tuổi đối với nam Trong tổng điều tra dân số năm 2009, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở mức 9,9 trẻ sơ sinh tử vong trên 1.000 trẻ

Bảng 2.1 Bảng số liệu tăng dân số hàng năm [3]

Dân

số 637.3 661.8 687.3 723.1 760.7 805.7 847.5 887.44 951.7 992.8 1.046.838 1.059.334 1.134.310

2.2.2 Sự biến đổi về cấu trúc gia đình

Đối tượng phục vụ nhà ở chính là gia đình, chính vì vậy cấu trúc nhà ở cần được thoả mãn tốt nhất các yêu cầu đa dạng, phong phú về các kiểu loại gia đình khác nhau Nắm bắt được những vấn đề này, chúng ta mới có thể dự kiến được các điện tích không gian buồng phòng, dự kiến được mối quan hệ giữa các loại hoạt động trong gia đình đó

Cơ cấu gia đình ngày nay đã thay đổi nhiều so với trước đây Nếu như trước đây, một gia đình tam đại đồng đường có 3 thế hệ chung sống, số người trong một gia đình phải đến hơn 6 người, thì ngày nay lại phổ biến gia đình chỉ có 2 thế hệ (cha mẹ và con cái), mỗi gia đình chỉ có 2 con nên một gia đình chỉ có khoảng 4 người Lối sống và Như cầu của con người hiện đại cũng khác xưa và ngày càng tăng lên, điều này đòi hỏi các nhà thiết kế và chủ đầu tư phải nghiên cứu mẫu căn nhà hay hộ chung cư phù hợp với cuộc sống và con người hiện đại

2.2.1.1 Tổng số hộ dân cư

Theo kết quả sơ bộ Tổng điều tra năm 2019, tính đến thời điểm 0 giờ ngày 01/4/2019 cả nước có 26.870.079 hộ dân cư, tăng 4,4 triệu hộ so với năm 2009 Tỷ lệ tăng số hộ dân cư giai đoạn 2009 - 2019 là 18,0%, bình quân mỗi năm tăng 1,8%/năm, thấp hơn 1,2 điểm phần trăm so với giai đoạn 1999 - 2009 Ðây là giai đoạn có tỷ lệ tăng số hộ dân cư thấp nhất trong vòng 40 năm qua

Bảng 2.2 Số lượng và tỷ lệ tăng số hộ dân cư bình quân năm, 1979 - 2019 [12]

2.2.1.2 Quy mô hộ bình quân

Trong tổng số 26.870 nghìn hộ dân cư, bình quân mỗi hộ có 3,5 người/hộ, thấp hơn 0,3 người/hộ so với năm 2009 Quy mô hộ bình quân khu vực thành thị là 3,3 người/hộ, thấp hơn khu vực nông thôn 0,3 người/hộ Vùng Trung du và miền núi phía

DUT.LRCC

Trang 36

Bắc có số người bình quân một hộ lớn nhất cả nước(3,8 người/hộ); vùng Ðồng bằng sông Hồng và Ðông Năm Bộ có số người bình quân một hộ thấp nhất cả nước(3,3 người/hộ)

Bảng 2.3 Quy mô hộ bình quân theo khu vực và vùng kinh tế - xã hội [12]

Quy mô hộ bình quân phổ biến trên cả nước là từ 2 đến 4 người/hộ, chiếm 65,5% tổng số hộ Ðáng chú ý, trong khi tỷ lệ hộ chỉ có một người (hộ độc thân) tăng so với năm 2009 (năm 2009: 7,2%, năm 2019: 10,9%) thì tỷ lệ hộ có từ 5 người trở lên có xu huớng giảm (năm 2009: 28,9%, năm 2019: 23,6%) Trong đó, Ðồng bằng sông Hồng

và Ðông Nam Bộ là hai vùng có tỷ lệ hộ độc thân cao nhất, tương ứng là 13,0% và 12,8%

Bảng 2.4 Tỷ lệ hộ dân cư theo quy mô hộ, khu vực và vùng kinh tế - xã hội [12]

Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên là hai vùng có tỷ lệ hộ từ 5 người trở lên cao nhất cả nước, tương ứng là 30,0% và 27,5% Ðây là hai vùng tập trung nhiều người dân tộc thiểu số, có tập quán sinh sống theo gia đình nhiều thế hệ và có mức sinh cao

DUT.LRCC

Trang 37

2.2.3 Thói quen cư trú của người dân

Với bề dày lịch sử, truyền thống văn hóa của 4000 năm dựng nước và giữ nước, người Việt Nam luôn gắn liền với văn hóa nông nghiệp mà trong đó, giá trị vật chất quan trọng – luôn được đề cao – là đất đai và ngôi nhà Với đặc trưng văn hóa đó, người Việt xưa rất coi trọng gia tộc và chia thành hai bậc: Một là nhà – tiểu gia đình, gồm: Vợ chồng, cha mẹ và con cái; hai là họ – đại gia đình, gồm cả đàn ông, đàn bà cùng một ông tổ sinh ra, kể cả người chết và người sống; việc kế thừa trong gia đình cũng có hai thứ: Một là kế thừa tôn thống (tức là trên tế tự tổ tiên – dưới lưu truyền huyết thống); hai là kế thừa di sản, tức là thừa hưởng tài sản của cha mẹ ông bà chết để lại Với những quan niệm đó, nhiệm vụ của gia đình đối với xã hội Việt xưa là rất nặng nề Vì vậy

mà việc xây cất nhà cửa – nơi trú ngụ của tiểu gia đình, đại gia đình luôn được người Việt xem là việc quan trọng, việc lớn của đời người, tộc họ Tất cả mọi công đoạn xây dựng nhà cửa đều được người Việt quan tâm: Chọn ngày lành tháng tốt, hợp tuổi với người đứng ra chủ lễ; tránh làm các việc hệ lụy hay chọn nhầm ngày xấu; luôn cầu mong điềm lành cho từng công đoạn, kích thước, vật liệu, màu sắc… để xây cất

Trong quá trình xây dựng không gian ở cho mình, bằng sự khéo léo của bàn tay

và khối óc, con người đã tạo lập không gian sống thích nghi với điều kiện tự nhiên, mỗi công trình nhà ở đều phản ánh khả năng hiểu biết của con người về mối quan hệ giữa hình dạng và chức năng Các hình dạng sẵn có trong tự nhiên luôn là kiểu mẫu lý tưởng để con người tham khảo cho một mục đích cụ thể Có lẽ vì vậy, kiến trúc nhà ở của người Việt chịu ảnh hưởng sâu sắc, đậm nét của điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và hình thành nên kiến trúc bản địa

Trong điều kiện xã hội hiện đại, xu hướng phổ biến đã chuyển dần từ phương thức ở kiểu đại gia đình theo huyết thống sang căn hộ độc lập – tiểu gia đình (cặp vợ chồng trẻ và con nhỏ) Quan niệm coi trọng đất đai – nhà ở với mục đích tạo dựng di sản và để lại cho con cháu tuy vẫn còn tồn tại nhưng đã dần “mềm hóa” trong đời sống

xã hội Việt Nam Đến nay, đô thị Việt Nam đang tồn tại 3 dạng nhà ở phổ biến là: Nhà Biệt thự, không gian vườn rộng và biệt lập bao quanh hoặc trước sau; nhà phố – liền

kề có mặt tiền bám sát đường giao thông và nhà ở dạng căn hộ chung cư.[1] Cả ba loại hình nhà ở này tùy theo diện tích, tiện nghi, vật liệu xây dựng, vị trí mà có giá trị được phân thành nhiều hạng khác nhau Trong đó, loại hình nhà ở dạng phố – liền kề, bám trục giao thông vẫn là xu hướng chính của quá trình chỉnh trang, quy hoạch đô thị Đến khi đô thị phát triển, đặc biệt là các đô thị lớn, mật độ dân cư ngày càng tăng, Nhu cầu nhà ở ngày càng cấp bách, hình thái nhà ở dạng căn hộ trở thành xu hướng phát triển tất yếu của các đô thị hiện đại Việt Nam cũng đã quan tâm đẩy mạnh, phát triển loại hình nhà ở dạng này

DUT.LRCC

Trang 38

ưu điểm nhất định như giá thành, điện tích và công năng sử dụng hợp lý, có không gian cảnh quan với các thiết chế văn hóa, giải trí phục vụ cộng đồng, khoảng cách di chuyển, điều kiện về dịch vụ và chăm sóc y tế thuận lợi… nhưng vẫn chưa nhận được

sự quan tâm lớn của cư dân đô thị Việt

2.3 Các cơ sở về vi khí hậu và môi trường

Khí hậu của mỗi vùng chịu ảnh huởng của các yếu tố mang tính vi mô như mặt trời, địa hình, gió mùa, trạng thái của bề mặt trái đất, trạng thái của khí quyển… thuờng được hiểu là “đại khí hậu” Vi khí hậu được hiểu là điều kiện khí hậu hay điều kiện môi trường trong một phạm vi hẹp, chịu ảnh hưởng của khí hậu và các điều kiện nhân tạo như: công trình, ao hồ, cây xanh, sân bãi cũng như các hoạt động của con người Ví dụ: người ta hay nói “điều kiện vi khí hậu trong phòng, vi khí hậu trong công trình” hay “vi khí hậu của khu ở”…Qua khái niệm ở trên, ta thấy khí hậu là yếu

tố vi mô không thể can thiệp dễ thay đổi được Nhưng con người có khả năng tác động nhằm cải thiện vi khí hậu xung quanh mình nhằm hạn chế các bất lợi của khí hậu Vậy

vi khí hậu là đối tượng nghiên cứu của khoa học về đô thị và công trình

Chất lượng của vi khí hậu môi trường trong công trình xây dựng là tổng hợp của nhiều yếu tố như: tiện nghi nhiệt, tiện nghi tiếng ồn, chiếu sáng…Tuy nhiên, tiện nghi nhiệt là yếu tố có tỷ trọng ảnh hưởng lớn nhất đến tiện nghi nói chung Vi khí hậu được đặc trưng bởi nhiều đại lượng vật lý khách quan Tuy nhiên, trong mối quan hệ với con người trong môi trường xây dựng, có 4 yếu tố chủ yếu trực tiếp tác động đến cảm giác nhiệt của con người là: nhiệt độ không khí, độ ẩm (áp suất hơi nước), tốc độ gió và nhiệt độ bức xạ của môi trường [9]

DUT.LRCC

Trang 39

Trong điều kiện bình thuờng, nhiệt độ không khí có tác động rõ nhất đến cảm giác nhiệt của con người Con người chỉ cảm thấy hoàn toàn dễ chịu trong một phạm

vi hẹp của nhiệt độ - khoảng 4 °C xung quanh 25.5 °C, trong khi nhiệt độ môi trường trên trái đất lại thay đổi trong khoảng rộng hơn gấp nhiều lần Nhiệm vụ của người thiết kế không chỉ tạo ra công trình kiến trúc mà còn tạo môi trường vi khí hậu trong công trình tiện nghi để đảm bảo sức khỏe và năng suất lao động cho con người

Ðộ ẩm không khí có vai trò thứ yếu so với nhiệt độ trong tiện nghi, đặc biệt là tiện nghi nhiệt Nhưng trong điều kiện khí hậu nhiệt đới, độ ẩm có vai trò lớn hơn nhiều do ảnh huởng đến tốc độ bay hơi của mồ hôi và các điều kiện vệ sinh thân thể

Ðộ ẩm không khí còn có tác động rõ rệt đến tuổi thọ các bộ phận công trình như tường, cửa, sàn gỗ…

Trong điều kiện nóng ẩm, gió có tác dụng làm mát do tăng cường trao đổi nhiệt trên bề mặt đa và tăng tốc độ bay hơi của mồ hôi Ngoài ra gió giúp thay đổi không khí trong phòng, chống đọng sương, giảm ẩm, vệ sinh môi trường Gió cũng gây rét buốt, thậm chí gây bệnh về mùa Ðông nếu công trình không được thiết kế tốt Do đó, gió là yếu tố quan trọng đối với người thiết kế

Ngoài việc trao đổi nhiệt với môi trường qua các yếu tố nói trên, con người còn trao đổi nhiệt bằng bức xạ với các bề mặt và môi trường xung quanh Do đó hạ thấp nhiệt độ bề mặt môi trường trong mùa nóng và nâng cao trong mùa lạnh là các yêu cầu đặt ra cho người thiết kế nhằm nâng cao tiện nghi nhiệt

2.4 Một số cơ sở lý thuyết đánh giá chất lượng kiến trúc nhà ở

2.4.1 Các yêu cầu tâm lý – sinh học của không gian ở

Vì nhà ở là một không gian kiến trúc phục vụ độc lập theo sở thích cho sinh hoạt từng gia đình, vì vậy tổ chức không gian cần phải bảo đảm tính chất hài hòa của quan

hệ dây chuyền: vừa chặt chẽ, khép kín, đáp ứng đi được tính hợp lý công năng, bảo đảm cho mọi sinh hoạt, vừa có tính độc lập đồng thời phải thỏa mãn tính thẩm mỹ đáp ứng thị hiếu của gia chủ

Ngôi nhà là nơi nghỉ ngơi, tịnh dưỡng sau một ngày làm việc vất vả mệt mỏi ngoài xã hội nên cần có đủ các yếu tố sau:

• Bảo đảm sự kín đáo, riêng tư cho sinh hoạt gia đình, cho từng thành viên của nó

• Bảo đảm sự an toàn, chống được mọi sự xâm nhập quá dễ dàng của người lạ và chống được tác động xấu của khí hậu (nóng, lạnh, quá nhiều gió, mưa tạt…)

• Bảo đảm điều kiện vệ sinh môi trường Phòng cần thông thoáng, không quá nhiều đồ đạc, có không khí tươi, có gió trời, ánh nắng… và độ ồn thích hợp

Nhà còn đòi hỏi phải có đủ các điều kiện vể môi trường trong lành, vệ sinh để con người với tư cách là một sinh vật có thể phát triển lành mạnh, hài hòa

• Phải đủ lượng tối thiểu không khí trong lành bảo đảm con người hoạt động hay nghỉ ngơi bình thường, an toàn cho sức khoẻ

–Người lớn:

DUT.LRCC

Trang 40

Khi ngủ cần 0,012m3 khí ôxy (O2)/h, thải ra 0,015m3 khí cacbonic (C02)/h Khi lao động cần 0,03m3 khí ôxy (O2)/h, thải ra 0,04 khí cacbonnic (C02)/h, 58g hơi nước/h

Khi nghỉ ngơi cần 0,015m3 khí ôxy (O2), thải ra 0,0167m3 khí cacbonic (C02)/h, 40g hơi nước/h [10]

Do đó phòng ngủ cá nhân phải có đủ không khí tươi để có thể sử dụng bình thường nếu như phòng đóng cửa Nếu ở điểu kiện phòng kín tuyệt đối, không gian phòng tối thiểu cần bảo đảm một khối tích không khí:

• Phòng ngủ phải được che nắng chống chói, có nhiệt độ thích nghi để tạo điều kiện bổc hơi toả nhiệt ở đa người thuận lợi gây cảm giác mát mẻ, phải có ánh sáng mặt trời để diệt trùng; phòng còn phải thông thoáng gió tự nhiên, chống được khí độc làm

ô nhiễm không khí trong phòng Người lớn 1 giờ thải ra một lượng hơi nước 40g (ngủ) 58g (lao động) và 32g (nghỉ ngơi) và lượng khí (C02) đáng kể, do đó không khí trong phòng cần được luôn luôn đổi mới.[10]

• Ngoài ra, để phát triển tâm sinh lý con người một cách tốt nhất thì không gian kiến trúc cũng cần phải bảo đảm không tạo ra ức chế căng thẳng thần kinh và tâm lý khó chịu

Ví dụ: Độ cao của phòng vừa phải từ 2800-3800mm là tốt nhất

Phòng nên có cửa sổ, ban công, lôgia để con người tiếp cận được vối thiên nhiên một cách dễ dàng và trực tiếp

Màu sắc không gian phòng ốc cần tươi vui đem lại tâm lý hoặc sảng khoái sông động cho con người hoạt động, hoặc êm dịu để tạo tâm lý yên ổn, thư giãn khi họ muôn mơ mộng, nghỉ ngơi, tìm giấc ngủ sâu…

2.4.2 Mô hình “Tháp công năng” trong Kiến trúc nhà ở

Mục tiêu xây dựng nhà ở nhằm đáp ứng một số nhu cầu cơ bản của con người trong tổng thể môi trường tự nhiên và xã hội Tuy nhiên, việc chọn lọc và phân định chức năng của ngôi nhà cũng có những quan điểm khác nhau tùy theo góc độ nghiên cứu của các tác giả

Cấu trúc thứ bậc của chúng chưa được phân tích cụ thể, dẫn tới khó khăn trong việc thiết lập mức độ tiện nghi Căn cứ theo những đề xuất có thể tổng hợp thành các nhóm chức năng như sau:

DUT.LRCC

Ngày đăng: 02/03/2021, 00:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2]. Trần Quốc Bảo, Quá trình biến đổi kiến trúc nhà ở thị dân Hà Nội thời Pháp thuộc - Giảng viên khoa Kiến trúc và Quy hoạch, Đại học Xây dựng, Bài đăng trên ASHUI.COM 14 tháng 12 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc và Quy hoạch, Đại
[5]. Nguyễn Song Hoàn Nguyên, Mô hình “Tháp công năng” trong Kiến trúc nhà ở, Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 11/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tháp công năng” trong Kiến trúc nhà ở
[7]. Nhìn nhận đánh giá tổng quát kiến trúc Việt Nam giai đoạn 1945-1986, Tạp chí Kiến trúc, Số 236 -12/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn nhận đánh giá tổng quát kiến trúc Việt Nam giai đoạn 1945-1986
[8]. Ngô Thế Phong (2004), Đề tài NCKH cấp Bộ “Các tiêu chí và phương pháp đánh giá chất lượng nhà nhiều tầng”, mã số RD-05-02 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tiêu chí và phương pháp đánh giá chất lượng nhà nhiều tầng
Tác giả: Ngô Thế Phong
Năm: 2004
[9]. N. Ð. Phạm và H. H. Phạm (2011), Nhiệt và khí hậu kiến trúc, Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiệt và khí hậu kiến trúc
Tác giả: N. Ð. Phạm và H. H. Phạm
Nhà XB: Nhà xuất bản Xây dựng
Năm: 2011
[14]. Dr. Sudhi Mary Kurian & Dr. Ashalatha Thampuran (2011), “Assessment of Housing Quality”, Institute of Town Planners, India Journal, 74-85, April – June 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessment of Housing Quality
Tác giả: Dr. Sudhi Mary Kurian & Dr. Ashalatha Thampuran
Năm: 2011
[15]. Jae Soon Lee & Dong-Hoon Oh, (2012) “Housing quality evaluation and housing choice using PIF: A case of the Bunđang New Town housing market in Korea”, International Journal of Urban Sciences, 63-83, Mar 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Housing quality evaluation and housing choice using PIF: A case of the Bunđang New Town housing market in Korea
[16]. Jorge Moreira đa Costa, Maria Francisca Sampaio (2010), “User Information in the housing market”, World Congress on Housing October 26 – 29, 2010, Santander, Spain Sách, tạp chí
Tiêu đề: User Information in the housing market
Tác giả: Jorge Moreira đa Costa, Maria Francisca Sampaio
Năm: 2010
[17]. Harrison (1999), “A. Housing Quality Indicators”. DEGW plc, London. DUT.LRCC Sách, tạp chí
Tiêu đề: A. Housing Quality Indicators
Tác giả: Harrison
Năm: 1999
[1]. Phan Bảo An, Trần Văn Tâm, Văn hóa Việt Nam với kiến trúc nhà ở, Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 7/2017 Khác
[4]. Cổ Văn Hậu, Kiến trúc Sài Gòn xưa qua lời kể, Bài đăng trên ASHUI.COM 03 tháng 2 2012 Khác
[6]. Kiến trúc nhà phố hiện nay – Thực trạng và đề xuất, Tạp chí Kiến trúc Việt Nam số ra ngày 27/09/2018 Khác
[10]. Nguyễn Đức Thiềm (2/2007), Giáo trình Nguyên lý thiết kế kiến trúc nhà ở Khác
[11]. Nguyễn Đình Thi, Quá trình biến đổi không gian nhà ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc bộ, Trường Đại học Xây dựng, Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 10 – 2015 Khác
[12]. Tổng điều tra dân số và nhà ở, thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2019. Tiếng anh Khác
[13]. 721 Housing Quality Indicators (HQI) Form -Version 4 (For NAHP 08-11). Published May 2007 -Updated April 2008 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w