Do hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Hà Nội - Việt Nam tổ chức, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty được đảm bảo bởi hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế
Trang 1THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CHẾ TẠO MÁY ĐIỆN VIỆT NAM - HUNGARI
2.1 Giới thiệu chung về công ty chế tạo máy điện Việt Nam - Hungari:
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển:
* Giới thiệu chung:
Công ty chế tạo máy điện Việt Nam - Hungari là một doanh nghiệp nhà nước được thành lập ngày 4-12-1978
Tên giao dịch Quốc tế là VIHEM
Địa chỉ công ty : Kilômét 25 đường Hà Nội - Thái Nguyên
Cơ quan sáng lập: Bộ cơ khí luyện kim (nay là bộ công nghiệp)
Hình thức hoạt động: Hoạt động độc lập trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ
Lĩnh vực kinh doanh của công ty : Sản xuất, bán buôn, bán lẻ các loại động
cơ điện và điện dân dụng, kinh doanh vật tư kỹ thuật điện, dịch vụ chuyển giao công nghệ sản xuất chế tạo động cơ
* Quá trình hình thành
Ngày 27/12/1965 Chính phủ Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và chinh phủ nước cộng hoà nhân dân Hungari đã có nghị định thư trao đổi về việc chính phủ Hungari giúp ta xây dựng một nhà máy chế tạo động cơ điện
Ngày 25/2/1966 Thủ tướng Chính phủ quyết định giao cho Bộ Công nghiệp nặng sửa đổi thiết kế của Hungari để tiến hành xây dựng nhà máy Đồng thời tổ chức một đoàn 163 người Kỹ sư, trung cấp, công nhân kỹ thuật và học sinh sang Hung ga ri thực tập tại nhà máy EVIG và GAN 2 Lực lượng trên sau khi thực tập xong sẽ là lực lượng nòng cốt trên dây chuyền sản xuất của nhà máy Cuối năm 1968 nhiệm vụ thiết kế kỹ thuật và thiết kế thi công đã hoàn thành
Đầu năm 1975 Bộ đã ra quyết định điều động 25 cán bộ và công nhân trong đoàn thực tập ở Hung ga ri cùng một số kỹ sư đã tốt nghiệp đại học Bách Khoa về làm nhiệm vụ chuẩn bị sản xuất thiết kế sản phẩm đưa thiết bị vào nhà xưởng và đào tạo công nhân
Niềm vui giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước đã đẩy nhanh tiến độ 1
1
Trang 2
xây dựng Các bước đi vào hoàn thiện và xây dựng các công trình phù trợ các công tác lắp đặt các thiết bị vào các dây chuyền sản xuất Xây dựng bộ máy quản lý, tuyển dụng lao động, đào tạo công nhân kỹ thuật và các mặt chuẩn bị khác được khẩn trương thực hiện.
Đến tháng 11 năm 1978 nhà máy đã chế thử thành công động cơ 33 kW, tốc độ 1000 v/p Việc chế thử thành công khẳng định nhà máy đã có thể bước đầu đi vào hoạt động
Ngày 4/12/1978 nhà máy động cơ điện Việt Nam - Hungari - tên gọi đầu tiên của Công ty Chế tạo Máy điện Việt Nam - Hungari, được thành lập theo quyết định số 1092/CL- CB của Bộ trưởng Bộ cơ khí luyện kim Nguyễn Văn Kha và chính thức đi vào hoạt động Đây là 1 nhà máy có dây truyền công nghệ hoàn chỉnh, chế tạo động cơ theo thiết kế của Hung Ga ri có công suất từ 0,75
kW đến 40 kW, tốc độ 1500 v/p, sản lượng 15.000 chiếc/năm
Ngày 20/2/1995 theo quyết định số 125/QĐ của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng, Nhà máy được đổi tên thành Công ty chế tạo máy điện Việt Nam-Hungari
* Kết quả đạt được trong hơn 20 năm xây dựng và phát triển của Công ty :
- Giai đoạn 1979 - 1980 : Đất nước đang phải khắc phục hậu quả của
chiến tranh Vượt qua khó khăn năm đầu nhà máy đã thực hiện thắng lợi nhiệm
vụ được giao
Giá trị tổng sản lượng của những năm này đạt bình quân năm là 1,9 tỷ đồng (theo giá cố định năm 1994)
- Từ năm 1981- 1986: Mặc dù tình hình đất nước rất khó khăn, nhưng năm
nào nhà máy cũng hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao với mức tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước Giá trị tổng sản lượng những năm này đạt bình quân 4,6 tỷ đồng (theo giá cố định năm 1994) gấp 2,42 lần sản lượng trong giai đoạn 1979-1980
- Giai đoạn 1987- 1988: Đất nước ta bước ta bước vào thời kỳ đổi mới,
điều này đã tạo ra những thách thức lớn đối với tập thể cán bộ công nhân viên nhà máy Tốc độ tăng trưởng tuy có chững lại nhưng nhà máy vẫn duy trì được việc làm và đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên Giá trị tổng sản lượng
2
2
Trang 3
của những năm này đạt bình quân năm là 10,13 tỷ đồng, gấp 2,2 lần sản lượng bình quân năm của thời kỳ 1981- 1986 (theo giá cố định năm 1994)
- Giai đoạn 1989- 1992: Trong giai đoạn này tuy công cuộc đổi mới của
Đảng và Nhà nước bước đầu đã thu hút được những kết quả đã định nhưng tình hình kinh tế đất nước vẫn là một thử thách lớn đối với các doanh nghiệp Nhờ
sự nỗ lực, sáng tạo của tập thể lao động và cán bộ công nhân viên, nhà máy đã dần tạo được thế đứng trên thị trường Sản phẩm của nhà máy đã được khách hàng chấp nhận Giá trị sản lượng của những năm này đạt bình quân năm là 7,71 tỷ đồng bằng 76% sản lượng bình quân năm của thời kỳ 1987- 1988
- Giai đoạn từ 1993 đến nay : Qua nhiều năm tạo dựng, bằng công sức của
tập thể lao động và công nhân viên chức toàn công ty, với sự nhìn nhận thị trường một cách nghiêm túc, Công ty đã thiết lập được một mạng lưới tiêu thụ rộng khắp trên toàn quốc Sản phẩm của Công ty phần nào đã chiếm được ưu thế cạnh tranh trên thị trường (với thị phần trong nước là 10 %) Nhịp độ tăng trưởng bình quân hàngnăm đạt 19,4%, nộp ngân sách Nhà nước hàng năm tăng
từ 10% đến 17%, sản lượng bình quân hàng năm tăng gấp 18 lần so với ngày đầu mới thành lập Đời sống và điều kiện làm việc của người lao động không ngừng được cải thiện, mối quan hệ với các bạn hàng không ngừng được củng
cơ điện 1 pha Chủ trì đề tài KC40-93 cấp Nhà nước: Nghiên cứu thiết kế và chế tạo động cơ điện 3 pha rô to, dây quấn, điện áp 6000 V với mục tiêu giảm chi phí nguyên vật liệu đến 30 % Sau 2 năm thực hiện đề tài nhiều loạt động cơ, rô
to dây quấn từ 55 kW đến 600 kW được thiết kế, chế tạo đang hoạt động trên nhiều lĩnh vực cán thép, mía đường, xi măng, thuỷ lợi (Công ty đường Biên Hoà, cán thép Nhà Bè, cán thép Tân Thuận )
Công ty đã nhận 44 huy chương vàng, 11 bằng khen các sản phẩm mới tham gia hội chợ triển lãm quốc tế hàng công nghiệp
3
3
Trang 4
Công ty được Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng huân chương lao động hạng 3, huân chương lao động hạng 2, huân chương chiến công hạng 3 về thành tích sản xuất kinh doanh và công tác quân sự địa phương.Hiện nay Công ty đã mở 2 chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng và có trên 50 địa điểm bán hàng ở các thành phố lớn và các tỉnh trong toàn quốc Sản phẩm của công ty trong 2 năm 2000- 2001 đạt danh hiệu sản phẩm ưa thích được người tiêu dùng bình chọn Do hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Hà Nội - Việt Nam tổ chức, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty được đảm bảo bởi hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001- 2000 chắc chắn sẽ thoả mãn yêu cầu của quý khách hàng.Hơn 20 năm qua với sự lãnh đạo của ban Giám đốc, sự quyết tâm của toàn thể cán bộ công nhân viên trong toàn công ty đã đưa công ty từng bước ổn định
đi dần vào quỹ đạo phát triển, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ cao, công nhân có tay nghề cao và ngày càng vững vàng kinh nghiệm
2.1.2.2 Đặc điểm quy mô các nguồn lực:
- Về lao động : Công ty có một đội ngũ cán bộ kỹ sư, kỹ thuật lành nghề, có kinh
nghiệm trong nhiều năm thiết kế chế tạo máy điện quay Công ty có đội ngũ công nhân bậc cao đã nhiều năm thực hiện công nghệ chế tạo đảm bảo yêu cầu
kỹ thuật đã đặt ra Mấy năm trở lại đây Công ty liên tục tuyển dụng các kỹ sư,
cử nhân kinh tế và công nhân lành nghề được đào tạo chính qui tại các trường Bên cạnh đó công ty còn mở các lớp đào tạo lại để nâng cao trình độ tay nghề cho cán bộ công nhân viên hiện đang công tác tại Công ty
Bảng số 1 : SỐ LƯỢNG LAO ĐỘNG VÀ TRÌNH ĐỘ LAO ĐỘNG
Thị
trường
Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Năm2001
1 Lao động trình độ cao đẳng, đại
400220
355235
4
4
Trang 5
Nguồn: Phòng tổ chức hành chính
- Về nguồn vốn:
Bảng số 2: TÌNH HÌNH VỐN SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY
Tuy nhiên, khoản nợ vay của công ty quá nhiều điều đó sẽ làm tăng chi phí sản xuất Vì vậy, công ty phải cố gắng sử dụng linh hoạt đồng vốn để vốn quay vòng nhanh sẽ giảm chi phí về vốn
- Về máy móc thiết bị : Trong 3 năm trở lại đây, công ty đã chú trọng vào đầu
tư thêm máy móc thiết bị mới như máy cắt dây, máy đúc áp lực cao, máy phay giường, lò tẩm sấy chân không để đảm bảo đáp ứng được kế hoach sản xuất kinh doanh của công ty Năm 2002 công ty còn tiếp tục đầu tư thêm một số máy móc hiện đại như: máy tiện CNC, máy cắt dây để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng
2.1.2.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của Công ty chế tạo máy điện Việt nam - Hunggari:
5
5
Trang 6
Là một đơn vị hạch toán kinh tế độc lập, để quản lý sản xuất và điều hành
mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty phải tổ chức bộ máy quản lý phù hợp với đặc điểm và điều kiện sản xuất của mình sao cho hoạt động mang lại hiệu quả cao nhất
Công ty tổ chức quản lý theo mô hình trực tuyến chức năng, các phòng ban tuỳ chức năng, nhiệm vụ của mình trợ giúp tham mưu cho ban giám đốc
Bộ máy quản lý của công ty bao gồm
- Giám đốc Công ty : Giám đốc công ty do người quyết định thành lập
công ty bổ nhiệm Giám đốc là người đại diện pháp nhân của công ty và chịu trách nhiệm trước người bổ nhiệm về hoạt động của công ty, Giám đốc có quyền điều hành cao nhất trong công ty
- Phó giám đốc Công ty : Do người quyết định thành lập công ty bổ nhiệm
có trách nhiệm giúp Giám đốc công ty theo phân công và uỷ quyền của Giám đốc, chịu trách nhiệm trước Giám đốc về nhiệm vụ được Giám đốc phân công
uỷ quyền
+ Phó giám đốc kinh doanh : Chỉ đạo lập kế hoạch sản xuất, chỉ đạo công
tác thị trường - kinh doanh - tiếp thị
+ Phó giám đốc kỹ thuật : Chỉ đạo công tác kỹ thuật của Công ty.
+ Phó giám đốc sản xuất : Chỉ đạo công tác kỹ thuật của Công ty.
+ Phó giám đốc sản xuất : Chỉ đạo thực hiện kế hoạch sản xuất của công ty
+ Phó giám đốc hành chính : Chỉ đạo điều hành công tác hành chính + Đại diện lãnh đạo về chất lượng : Thay mặt và chịu trách nhiệm trước
giám đốc trong việc thiết kế, xây dựng điều hành hệ thống chất lượng để đáp ứng chính sách chất lượng và mục tiêu chất lượng của công ty
- Các phòng ban chức năng:
Được tổ chức theo yêu cầu của việc quản lý sản xuất kinh doanh đứng đầu các phòng ban là các trưởng phòng, có chức năng tham mưu giúp việc cho ban giám đốc trong quản lý điều hành công việc theo chức năng nhiệm vụ của từng đơn vị được Giám đốc phê duyệt các phòng ban chức năng gồm:
Trang 8Sơ đồ 6: SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY CÔNG TY VI HEM
Phó giám đốc Sản xuất
Phó giám đốc Kinh doanh
v Là Đ
(HC)
Phòng bảo vệ
(BV)
Phòng thiết bị
(TB)
Chi nhá nh
Phòng Kinh doan
h (KD)
Phòn
g kỹ thuật (KT)
Phòn
g t i à chín
h (TC)
Phòn
g QLCL
Quan hệ quản lý điều h nh à
chung
Xưởng điện(LR) Xưởng cơ khí
Trang 92.1.2.4 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của công ty :
Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của công ty là quy trình sản xuất chế biến kiểu liên tục, tổ chức sản xuất nhiều với khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn và xen kẽ liên tục Cùng một quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm nhưng kết quả sản xuất là một nhóm sản phẩm động cơ với công suất, vòng quay khác nhau và một nhóm sản phẩm ba lát với hai loại khác nhau
Động cơ điện của Công ty bao gồm nhiều loại được chia thành động cơ 1 pha và động cơ 3 pha trong 2 loại đó lại chia thành từng loại động cơ với công suất vòng quay khác nhau
Việc sản xuất động cơ được thực hiện ở 2 phân xưởng : Xưởng điện và xưởng cơ khí
- Phôi động cơ gồm : Thân, nắp trước, nắp sau, sau khi làm sạch sẽ được chuyển vào bộ phận gia công để tạo thành bán thành phẩm đạt các thông số kỹ thuật
- Thép trục các loại qua bộ phận gia công thép để tạo thành phôi trục sau đó được đưa qua bộ phận tiện, phay, mài tạo thành các trục động cơ
- Tôn cuốn được pha cắt, sau đó được dập theo kích cỡ từng loại động cơ tạo thành lá tôn stato và rô to lá tôn được chuyển qua bộ phận xếp ép tạo thành lõi thép stato và rô to
- Rô to được chuyển sang đúc tạo thành rô to đúc nhôm
- Rô to và trục qua bộ phận ép tạo thành rô ro trên trục
- Dây điện từ qua bộ phận quấn dây tạo thành bối dây stato
- Bối dây được lồng vào lõi thép stato tạo thành stato lồng dây
- Stato lồng dây được chuyển sang bộ phận tẩm sấy
Tất cả các bán thành phẩm được chuyển sang bộ phận lắp rắp để tạo thành sản phẩm hoàn chỉnh, sản phẩm hoàn thành qua bộ phận kiểm tra, sau đó mới nhập vào kho thành phẩm
Cụ thể sơ đồ quy trình sản xuất động cơ điện như sau :
9
9
Trang 10
Sơ đồ 7 : QUI TRÌNH SẢN XUẤT ĐỘNG CƠ ĐIỆN
Lõi thép Stato
Trục
Tẩm sấy
Rô to trên
Chi tiết phụ
Nắp sau
Nắp trướ
Sta to lồng
Bối dây Stato
Thân
Lắp ráp
Nhập kho
Trang 11Sản phẩm ba lát của công ty được chia làm 2 loại ba lát 20w và ba lát 40w
Việc sản xuất ba lát cũng được thực hiện ở 2 xưởng : Xưởng điện và xưởng
cơ khí
Quy trình sản xuất sản phẩm ba lát như sau :
Sơ đồ 8 : QUY TRÌNH SẢN XUẤT BA LÁT
Cuộn
dây
Bao gói Lắp ráp Sấy tẩm
Nhập kho
Trang 122.1.2.5 Đặc điểm tổ chức sản xuất ở công ty chế tạo máy điện Việt Nam - Hungari:
Công ty chế tạo máy điện Việt Nam - Hung ga ri là doanh nghiệp gia công
cơ khí, căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm và đặc điểm sản phẩm, cho phép công ty tổ chức sản xuất theo phân xưởng công ty có hai phân xưởng sản xuất, mỗi phân xưởng có chức năng và nhiệm vụ khác nhau, hỗ trợ nhau trong quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm Nhiệm vụ chính của từng phân xưởng như sau :
- Xưởng cơ khí : Có nhiệm vụ sản xuất khuôn mẫu, gá lắp,gia công cơ khí các chi tiết sản phẩm như rô to, stato, trục động cơ, nắp mỡ, cánh gió, lõi thép ba lát và thực hiện các dịch vụ cơ khí
- Xưởng điện: Có nhiệm vụ thực hiện tiếp một số bước công nghệ và lắp ráp hoàn chỉnh các sản phẩm như thực hiện lồng đấu, quấn, tẩm, sấy lắp ráp động cơ Sản phẩm hoàn thành phải qua bộ phận KCS để kiểm tra sau đó sẽ đưa vào nhập kho thành phẩm
2.1.2.6 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty VIHEM trong những
năm gần đây:
15
15
Trang 13
Bảng số 3:
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT CỦA CÔNG TY NĂM 2000-2001:
Lợi nhuận từ HĐB T 20.400.728 34.599.891 14.199.163 70
- Lợi nhuận trước thuế 1.038.246.900 1.502.252.394 464.005.494 45
- Thuế thu nhập D/n 259.561.725 375.563.100 116.001.375 45
- Lợi nhuận sau thuế 778.685.175 1.126.689.294 348.004.119 45
Qua bảng kết quả hoạt động SXKD của công ty cho thấy :
17
17
Trang 14
- Tổng doanh thu năm 2000 đạt 39.920.762.410 đồng đến năm 2001 doanh thu
là 50.914.125.901 đồng tăng so với năm 2000 là 10.993.363.491 đồng hay tăng 28%
- Doanh thu thuần năm 2001 so với năm 2000 tăng 42% tương ứng với giá trị là 16.654.075.780 đồng Sở dĩ doanh thu tăng lên là do Công ty không ngừng đầu
tư tăng năng suất sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ như thành lập các chi nhánh tại miền Nam, miền Trung Sản phẩm của Công ty ngày càng có uy tín đối với khách hàng
- Giá vốn hàng bán năm 2001 so với năm 2000 tăng 25% tương ứng 8.360.654.998 đồng do số lượng hàng hoá bán ra tăng
- Chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng cũng tăng lên tương ứng 631.433.780 đồng (22%) và 830.297.893 (51%) Chi phí bán hàng tăng lên khá cao là do chi phí cho việc tiêu thụ sản phẩm nhiều
- Cùng với việc tăng doanh thu, lợi nhuận thực hiện của Công ty năm 2001 so với năm 2000 là 348.004.119 tương ứng 45%
Trang 15thị phần, Công ty VIHEM đã mở thêm một chi nhánh tại Miền trung, do vậy, chi phí tiếp thị, quảng cáo tăng lên đáng kể Đồng thời, chi phí hỗ trợ chi nhánh Miền Nam còn non trẻ để giữ vững và mở rộng thị trường cũng cần phải kể đến
So sánh giữa năm 2001 và 2000 thì CPBH là tăng nhưng xét trong dài hạn thì sự biến động này là hợp lý và cần thiết
Bảng số 4: TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY
Trang 16Chỉ tiêu Năm 2000 % Năm 2001 % Chênh lệch
do ảnh hưởng của các nguyên tố sau:
+ TSLĐ: TSLĐ năm 2001 tăng hơn so với năm 2000 4.726.037.299 đ tương đương 27,65% Mặc dù tồn quỹ tiền mặt giảm nhưng sự tăng trưởng về TSLĐ chủ yếu là do sự tăng lên của các khoản phải thu (tăng 1.927.953.784 đ tương đương 30,11%) và Hàng tồn kho (3.014.683.602đ tương đương 30,1%) Cùng với chiến lược mở rộng thị trường của Công ty việc tăng thêm mức dư nợ đối với khách hàng cũng như lượng hàng dự trữ tại Kho Công ty, các cửa hàng và Chi nhánh là hợp lý Tuy nhiên, việc này cũng yêu cầu Công ty tăng cường quản
lý và kiểm soát đối việc thu hồi công nợ và điều độ sản xuất
+TSCĐ: TSCĐ của Công ty năm 2001 giảm so với năm trước 142.134.078
đ tương ứng 0.77% Trong sự biến động này có sự giảm sút về giá trị TSCĐ (giảm 672.109.268 đ = 7.86%) và sự tăng lên đáng kể của Chi phí ĐTXDD Điều này là kết quả của việc Công ty đang thực hiện thay đổi máy móc thiết bị, thanh
lý, xử lý máy móc thiết bị cũ, XD và đầu tư cơ sở vật chất mới
Về Nguồn vốn:
Nợ phải trả của Công ty năm 2001 tăng so với năm 2000 là 3.479.013.302đ tương ứng 21,61%, là do nợ ngắn hạn tăng 4.343.013.302 đ (=33,82%) và Nợ dài hạn giảm 864.000.000 đ (= 26,49%)
23
23
Trang 17
Trong khi đó, Nguồn vốn chủ sở hữu cũng tăng 1.104.889.919đ (=5,71%)
là do sự tăng thêm của tất cả các nguồn vốn, quỹ, và các nguồn kinh phí Đây là một biểu hiện tốt của kết qủa hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Về Cơ cầu tài sản và cơ cấu nguồn vốn:
Cùng với việc tăng Hàng tồn kho và dư nợ khách hàng đã làm cho cơ cấu tài sản của Doanh nghiệp thay đổi đáng kể - Tỉ trọng TSLĐ từ chỗ chiếm 48,23% tổng tài sản đã tăng lên 54,51% Song song với việc tăng lên của TSLĐ, cơ cấu
nợ ngắn hạn trong Nợ phải trả cũng tăng (Năm 2000: 36,24% ; năm 2001: 42,94%) Như vậy, ta có thể thấy rằng, Công ty đã thực hiện việc vay ngắn hạn để đầu tư vào làm tăng TSLĐ, tăng hàng hoá, nguyên vật liệu… phục vụ cho nhu cầu mở rộng thị trường
Xét một cách toàn diện, khi nợ dài hạn giảm, tiền tồn quỹ giảm đồng thời chi phí DTXDCBDD tăng, có thể thấy rằng, Công ty đã tự trang trải một phần Chi phí DTXDCB Đây là một dấu hiệu cho thấy khả năng Tài chính vững mạnh của Công ty trong năm phân tích
Bảng số 5: TÌNH HÌNH TIÊU THỤ, THU NHẬP CỦA CÁN BỘ CNV
25
Trang 18
phát triển như vậy là do Công ty không ngừng đầu tư máy móc, thiết bị nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng năng suất, mở rộng thị trường Sản phẩm của Công ty ngày càng có uy tín đối với khách hàng, có khả năng cạnh tranh cao, thêm vào đó là sự cố gắng của toàn thể CB CNV Công ty Mặc dù số lượng CNV giảm nhưng Công ty vẫn hoàn thành vượt mức kế hoạch đã đề ra trong từng năm, thu nhập bình quân đầu người tăng 27,59 % so với năm 2000.
2.1.3 Tình hình chung về công tác kế toán :
- Ghi chép, phản ánh một cách chính xác, kịp thời liên tục và có hệ thống số hiện có và tình hình biến động về sản lượng, vật tư, tiền vốn
- Tính toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm, lãi lỗ, các khoản thanh toán với ngân sách theo đúng chế độ kế toán thống kê và thông tin kinh tế của nhà nước và yêu cầu quản lý kinh tế tài chính của công ty
- Thu thập, tổng hợp số liệu về tình hình sản xuất kinh doanh của công ty cả chỉ tiêu hiện vật và giá trị nhằm phục vụ việc lập kế hoạch và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch, phục vụ công tác hạch toán kinh tế, phân tích hoạt động kinh tế và lập báo cáo theo qui định của nhà nước
- Kiểm tra việc thực hiện các chế độ hạch toán, chế độ quản lý kinh tế – tài chính của nhà nước trong phạm vi công ty
Để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, đảm bảo sự lãnh đạo tập chung thống nhất và trực tiếp của kế toán trưởng, đồng thời căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý mà bộ máy kế toán của công ty có cơ cấu như sau :
27
27
Trang 19
Sơ đồ số 9
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN
• Nhiệm vụ cụ thể của từng bộ phận trong bộ máy kế toán được qui định như sau :
- Kế toán trưởng : Giúp giám đốc công ty thực hiện toàn bộ công tác kế toán, thống kê, thông tin kinh tế và hạch toán kinh tế của công ty
- Phó phòng kiêm kế toán tổng hợp : Phụ trách phần việc hạch toán kế toán cuối quí thu thập tài liệu từ các bộ phận kế toán có liên quan, tiến hành lập báo cáo tài chính
h ngà
Kế toán tiêu thụ
1.Kế toán thanh toán tiền mặt
2.Kế toán tạm ứng 3.Kế toán lương
Kế to
án vật liệu
1.kế toán TSCĐ
2.Kế toán tiền gửi
Thủ quĩ và
kế toán bảo hiểm
xã hội
Trang 20- Kế toán mua hàng : Theo dõi tình hình mua hàng và thanh toán tiền hàng của công ty, theo dõi tình hình công nợ với từng khách hàng
- Kế toán bán hàng : Theo dõi tình hình bán hàng và thanh toán tiền hàng của khách hàng
- Kế toán vật liệu : Tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu vật tư nhập, xuất, tồn kho Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch cung ứng vật tư
- Kế toán tài sản cố định : Phản ánh giá trị hiện có, tình hình tăng giảm tài sản
cố định theo nguyên giá và giá trị hao mòn Hàng tháng trích khấu hao tài sản cố định, hàng quí lập bảng tính và bảng trích khấu hao tài sản cố định
- Kế toán tiền gửi tiền vay : theo dõi tình hình tiền gửi tiền vay của công ty tại ngân hàng và các tổ chức tín dụng Định kỳ hàng tháng lên nhật ký chứng từ số
- Kế toán tiền lương : Phản ánh các khoản phải trả và tình hình đã trả cho cán
bộ công nhân viên trong doanh nghiệp
- Thủ quĩ : Quản lý quĩ tiền mặt của công ty
- Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm : Cuối quí căn cứ vào các nhật ký chứng từ, bảng kê, bảng phân bổ và các sổ sách có liên quan để tập hợp chi phí sản xuất trong kỳ Căn cứ vào chi phí sản xuất tập hợp được trong kỳ và chi phí sản xuất dở dang đầu và cuối kỳ để tính ra tổng giá thành sản phẩm nhập kho trong kỳ và tính giá thành sản phẩm cho từng loại sản phẩm
2.1.3.2 Tổ chức vận dụng hình thức kế toán :
Xuất phát từ đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, căn cứ vào trình độ và yêu cầu quản lý, công ty chế tạo máy điện Việt Nam – Hungari đã lựa chon áp dụng hình thức kế toán nhật ký chứng từ Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức nhật ký chứng từ được thể hiện qua sơ đồ sau :
31
31
Trang 21
- Sổ kế toán chi tiết : Bao gồm sổ theo dõi chi tiết tài sản cố định, sổ chi tiết vật liệu, sổ theo dõi chi tiết công nợ với khách hàng
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc biệt là để đơn giản hoá công tác kế toán, công ty không mở các bảng kê và các nhật ký chứng từ còn lại Công ty 33
33
Chứng từ gốc và các bảng phân
Sổ (thể) kế toán chi tiết Nhật ký chứng
Bảng kê
Bảng tổng hợp chi tiết
Sổ cái
Báo cáo t i à chính
Trang 22thực hiện kế toán tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên tình hình nhập – xuất – tồn kho các loại vật liệu, công cụ dụng cụ được phản ánh thường xuyên liên tục, có hệ thống trên cơ sở các chứng từ nhập xuất.
2.2 Công tác tập hợp chi phí sản xuất ở Công ty:
2.2.1 Đặc điểm chi phí sản xuất của Công ty:
Chi phí sản xuất của công ty bao gồm nhiều loại, có tính chất kinh tế, công dụng và yêu cầu quản lý khác nhau Để phục vụ cho công tác quản lý chi phí ở công ty, kế toán tiến hành phân loại chi phí sản xuất theo hai tiêu thức :
- Căn cứ vào mục đích, công dụng của chi phí, toàn bộ chi phí sản xuất của công
ty được chia thành 3 khoản mục :
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
+ Chi phí nhân công trực tiếp
+ Chi phí sản xuất chung
Trong 3 khoản mục trên khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất khoảng 60% đến 70% Đây là một trọng tâm trong công tác quản lý chi phí của công ty
- Căn cứ vào nội dung, tính chất kinh tế của chi phí, kế toán chia chi phí sản xuất thành các yếu tố chi phí nhằm phục vụ cho việc quản lý chi phí theo yếu tố
và lập thuyết minh báo cáo tài chính Trong các yếu tố chi phí sản xuất, yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu luôn chiếm tỷ trọng lớn, chi phí khấu hao tài sản cố định chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng chi phí
Công ty đã xây dựng hệ thống định mức chi phí sản xuất cho từng loại sản phẩm bao gồm : định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, định mức chi phí nhân công trực tiếp, định mức chi phí sản xuất chung Tuy nhiên việc quản lý chi phí theo định mức vẫn chưa được thực hiện một cách có hiệu quả
2.2.2 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất:
Để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được chính xác thì yếu tố đầu tiên, cần thiết là kế toán phải xác định được đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với đặc điểm qui trình công nghệ tình hình sản xuất kinh doanh
và trình dộ quản lý của Công ty
35
35
Trang 23
Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở Công ty được căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, qui trình công nghệ sản xuất, đặc điểm của sản phẩm
và căn cứ vào trình độ quản lý, trình độ hạch toán của công ty Sản phẩm của công ty rất đa dạng, mỗi sản phẩm được cấu tạo từ nhiều chi tiết khác nhau và sử dụng chung nhiều loại vật liệu, cùng một qui trình công nghệ sẽ tạo ra nhiều loại sản phẩm Do vậy Công ty đã lựa chọn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là toàn
bộ qui trình công nghệ sản xuất sản phẩm
2.2.3 Nội dung kế toán tập hợp chi phí sản xuất ở công ty:
2.2.3.1 Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp :
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của Công ty chiếm tỷ lệ tương đối lớn trong tổng chi phí sản xuất Nguyên vật liệu ở Công ty được chia thành 2 loại:
- Nguyên vật liệu chính : Là các loại nguyên vật liệu sử dụng vào mục đích sản xuất, chế tạo sản phẩm gồm toàn bộ nguyên vật liệu chế tạo nên sản phẩm nguyên vật liệu chính ở Công ty rất đa dạng, có nhiều loại khác nhau như : tôn, thép trục, dây điện từ, nhôm, đồng, gang
- Nguyên vật liệu phụ : Là các loại vật liệu không cấu tạo nên sản phẩm, chỉ để phục vụ các hoạt động khác như : xi măng, cát, sỏi phục vụ cho hoạt động xây dựng cơ bản nội bộ Ngoài ra còn có nhiên liệu, phụ tùng thay thế, phế liệu thu hồi
Toàn bộ nguyên vật liệu được Công ty theo dõi trên các tài khoản cấp 2 như sau :
TK 1521 – Vật liệu chính
TK 1522 – Vật liệu phụ
TK 1523 – Nhiên liệu
TK 1524 – Phụ tùng thay thế
TK 1527 – Phế liệu thu hồi
Chứng từ sổ sách kế toán sử dụng để phản ánh quy trình nhập - xuất vật tư gồm:
Trang 24- Phiếu kê mua hàng
- Phiếu xuất kho
- Tại kho vật tư, thủ kho căn cứ vào phiếu xuất kho và lượng vật tư thực tế còn trong kho để tiến hành xuất vật tư và ghi số thực xuất vào phiếu xuất kho (theo đơn vị hiện vật) vào phiếu xuất kho
- Nguyên vật liệu được xuất về kho phân xưởng, thủ kho xưởng căn cứ vào phiếu xuất kho trên để nhập kho số vật tư đó (Ghi vào thẻ kho ở xưởng – phần nhập) Sau đó gửi phiếu xuất này lên phòng kinh doanh Khi xuất vật liệu cho các tổ sản xuất thủ kho xưởng ghi số lượng vật tư xuất kho vào thẻ kho
- Phiếu xuất kho được lập làm 3 liên Công ty thực hiện kế toán chi tiết vật tư theo phương pháp thẻ song song Sau khi ghi số thực xuất, thủ kho căn cứ vào phiếu xuất kho để ghi vào các thẻ kho (Thẻ kho được mở cho từng loại, từng qui cách vật tư ) Định kỳ thủ kho gửi chứng từ lên phòng kế toán Kế toán nhận được phiếu xuất kho kiểm tra tính hợp lệ của chứng từ rồi vào thẻ kho, tính giá thực tế vật liệu xuất kho
+ Tính giá thực tế vật tư xuất kho
Công ty hạch toán vật tư xuất kho theo giá thực tế và sử dụng phương pháp nhập trước xuất trước Giá vật liệu xuất kho được tính theo công thức sau :
Giá trị thực tế Số lượng nguyên vật liệu Giá trị thực tế nguyên nguyên vật liệu = xuất kho thuộc từng × vật liệu nhập kho theo
39
39
Trang 25
xuất kho lần nhập từng lần nhập
Ở công ty phòng kế toán không theo dõi tình hình lĩnh và thanh toán vật tư dùng vào sản xuất trong kỳ Công việc này do phòng kinh doanh đảm nhiệm Toàn bộ vật tư xuất kho được kế toán hạch toán vào chi phí nguyên vật liệu xuất dùng trong kỳ
Ví dụ : Tình hình nhập xuất nguyên vật liệu ở Công ty chế tạo máy điện Việt Nam
Hungari quí 1/ 2002 như sau : (Trích thẻ kho quí 1/ 2002 và phiếu xuất kho số 90)
Công ty áp dụng tính giá thực tế vật liệu xuất kho theo phương pháp nhập trước xuất trước Theo phương pháp này 200 chiếc thân động cơ 1,5KW - 4K xuất kho dùng để sản xuất động cơ gồm 174 chiếc tồn từ đầu quí (1/1/2002), 24 chiếc nhập ngày 5/1/2002, 2 chiếc nhập ngày 17/1/2002
Vậy giá trị thân động cơ xuất kho ngày 27/1/2002 là :
(174 × 36.322) + (24 × 36.322) + (2 × 37.136) = 7.266.028 đồng
PHIẾU XUẤT KHO
Ngày 27 tháng 1 năm 2002 Số : 90
Bộ phận sử dụng : Chị Yến (Xưởng cơ khí) Nợ TK 621.1
Đối tượng sử dụng : Sản xuất động cơ Có TK 152.1
Xuất tai kho : Chị Hương
Tên nhãn hiệu, qui
cách vật tư
Đơn vị tính