Trục của cổ họp với trục thân một góc 1300 gọi góc nghiêng, giúp cho xương đùi vận động dễ dàng, về mặt lý thuyết góc nghiêng giữa cổ và thân sẽ không vững khi chịu lực, do đó cổ xương đ
Trang 1ĐỀ CƯƠNG TỐT NGHIỆP
NGÀNH Y ĐA KHOA Năm học: 2017-2018
Trang 2GIẢI PHẪU
1 Mô tả xương cánh tay
2 Mô tả xương đùi
3 Mô tả xương chảy
4 Mô tả động mạch nách: Đường đi, liên quan, nhánh bên và nhánh nối
5 Mô tả cấu tạo, nhánh tận của đám rối thần kinh cánh tay
6 Mô tả nguyên ủy, đường đi, tận cùng, liên quan và nhánh bên động
mạch đùi
7 Mô tả các thành của ống bẹn
8 Mô tả hình thể ngoài và liên quan của tim
9 Trình bày cấu tạo của tim
10 Mô tả giới hạn và phân khu của trung thất, kể tên các thành phần được
chứa đựng trong trung thất tương ứng
11 Mô tả hình thể ngoài và liên quan của dạ dày
12 Mô tả hình thể ngoài và liên quan của gan
13 Mô tả hình thể ngoài và liên quan của thận
14 Mô tả hình thể ngoài và liên quan của bàng quang
15 Mô tả tử cung: Hướng, tư thế, hình thể ngoài và liên quan
16 Mô tả động mạch cảnh ngoài: nguyên ủy, đường đi, nhánh bên và nhánhtận
17 Mô tả các lớp vỏ nhãn cầu
18 Mô tả hình thể ngoài của tủy gai
19 Mô tả mặt trên ngoài của bán cầu đại não
20 Mô tả dây thần kinh mặt (VII)
Trang 3Câu 1: Mô tả xương cánh tay.
Xương cánh tay là một xương dài, ở trên khớp với xương vai, ở dưới khớp với xương trụ và xương quay, xương có một thân và hai đầu
1 Định hướng
Đầu tròn lên trên, vào trong
Rãnh của đầu nầy ra trước
2 Mô tả
2.1 Thân xương
2.1.1 Các mặt
- Mặt trước ngoài: Ở 1/3 giữa có một vùng gồ ghề hình chữ V gọi là lồi củ delta
- Mặt trước trong: phẳng và nhẵn, ở giữa là lỗ nuôi xương, 1/3 trên có 1 đường gồ ghề gọi là mào củ bé
- Mặt sau: có rãnh chạy chếch xuống dưới ra ngoài được gọi là rãnh thần kinh quay,
đi trong rãnh có dây thần kinh quay và động mạch cánh tay sâu Do đó, dây thần kinh quay dễ bị tổn thương khi gãy 1/3 giữa thân xương cánh tay
- Bờ trước ở trên không rõ ràng, phần dưới chẽ ra 2 gờ để ôm lấy hố vẹt
- Bờ trong là chỗ bám của vách gian cơ trong
- Bờ ngoài là chỗ bám của vách gian cơ ngoài
Hai bờ trong và ngoài nổi rõ ở phần dưới
3
Trang 4- Cổ giải phẫu là chỗ hơi thắt lại, sát với chỏm xương.
Bên ngoài chỏm và cổ giải phẫu là 2 củ:
+ Củ lớn lồi ra ngoài vượt quá khỏi mỏm cùng vai
+ Củ bé lồi ra trước và tạo nên phần nằm trước nhất của đầu trên xương cánh tay
Củ lớn và củ bé liên tục xuống dưới tạo thành mào củ lớn và mào củ bé, đồng thờitạo nên hai mép của rãnh gian củ nên còn được gọi là mép ngoài và mép trong rãnhgian củ theo thứ tự
Đầu trên xương cánh tay dính vào thân xương bởi một chỗ thắt gọi là cổ phẫuthuật, vị trí nầy hay xảy ra gãy xương Thần kinh nách và động mạch mũ cánh taysau đi sát với xương ở vị trí cổ phẫu thuật
- Mỏm trên lồi cầu ngoài nằm ở phía trên ngoài của lồi cầu
- Lồi cầu gồm chỏm con và ròng rọc
+ Chỏm con: có hình cầu, nằm ở ngoài, khớp với mặt trên của chỏm xương quay.Phía trên chỏm con lõm thành một hố gọi là hố quay
+ Ròng rọc: nằm ở trong, có dạng ròng rọc gồm một rãnh và hai sườn Sườntrong lồi hơn sườn ngoài, vì vậy trục dọc của ròng rọc nằm chéo so với thân xương
Do đó, ở tư thế giải phẫu cẳng tay tạo thành một “ góc mang” khoảng 170 độ so vớicánh tay Tuy nhiên góc nầy biến mất khi gấp hoặc sấp cẳng tay
Ròng rọc xương cánh tay tiếp khớp với khuyết ròng rọc của xương trụ Phía trênròng rọc ở mặt trước có hố vẹt, ở mặt sau có hố khuỷu
Chỏm xương cánh tay hướng vào trong và ra sau, trong khi trục của đầu dướixương cánh tay nằm ngang cho nên chúng họp thành một góc Góc nầy được xemnhư là góc xoắn của xương cánh tay
Trang 5Câu 2: Mô tả xương đùi
Xương đùi là một xương dài gồm có thân và hai đầu
Hình lăng trụ tam giác gồm ba mặt: trước, trong, ngoài; ba bờ: trong, ngoài và sau
Bờ sau lồi và sắc gọi đường ráp có nhiều cơ bám
Đường ráp gồm 2 mép: mép ngoài và mép trong mà ở đầu trên và đầu dưới hai mép được tiếp tục như sau:
- Ở đầu trên của thân xương:
+ Mép ngoài chạy về phía mấu chuyển to và ngừng lại ở lồi củ cơ mông là nơi bám của cơ mông lớn
+ Mép trong chạy vòng quanh mấu chuyển bé và liên tục với đường gian mấu.+ Ngoài ra còn có một đường chạy về mấu chuyển bé gọi đường lược để cho cơ lược bám
- Ở đầu dưới hai mép chạy về hai mỏm trên lồi cầu xương đùi tương ứng; hai mép giới hạn một tam giác gọi là diện kheo
2.2 Đầu trên
Gồm có chỏm đùi, cổ đùi, mấu chuyển lớn và mấu chuyển bé
5
Trang 6Xương đùi
A Mặt trước B Mặt sau
1 Xương chậu 2 Mấu chuyển lớn 3 Đường gian mấu 4 Mặt trước 5 Xương mác
6 Mấu chuyển nhỏ 7 Xương bánh chè 8 Xương chày 9 Chỏm đùi 10 Cổ đùi
11 Mấu chuyển nhỏ 12 Mặt trong 13 Mỏm trên LC trong 14 Lồi cầu (LC) trong
15 Mào gian mấu 16 Mặt ngoài 17 Đường ráp 18 Mỏm trên LC ngoài
19 Lồi cầu ngoài 20 Hố gian lồi cầu
- Chỏm đùi: hình 2/3 khối cầu, hướng lên trên vào trong và ra trước Có hõm chỏm đùi để dây chằng chỏm đùi bám
- Cổ đùi: nối chỏm với hai mấu chuyển, nghiêng lên trên và vào trong Trục của cổ họp với trục thân một góc 1300 gọi góc nghiêng, giúp cho xương đùi vận động dễ dàng, về mặt lý thuyết góc nghiêng giữa cổ và thân sẽ không vững khi chịu lực, do đó
cổ xương đùi sẽ có cấu tạo đặc biệt để bù đắp khuyết điểm trên là:
+ Lớp xương đặc ở mặt trong thân xương sẽ kéo dài lên đến cổ khớp
+ Ở mặt ngoài thân xương dù xương đặc chỉ dừng lại ngang mấu chuyển lớn,nhưng ở mặt trên cổ đùi có tăng cường một lớp vỏ xương đặc
+ Ở chỏm, xương sắp xếp thành từng bè hình nan quạt tụ lại tại vùng xương đặccủa cổ, đây là hệ thống quạt chân đế
+ Giữa cổ và thân có hệ thống cung nhọn mà chân của cung tựa vào vỏ xương đặccủa thân xương Riêng cung ngoài các thớ chạy đến tận chỏm đùi
Giữa hai hệ thống này có một điểm yếu chổ hay xảy ra gãy xương nhất là ngườigià
Ngoài góc nghiêng giữa cổ và thân; cổ xương đùi còn có góc ngã trước khoảngGóc này là góc họp giữa trục của cổ và đường thẳng nối hai lồi cầu
- Mấu chuyển lớn: Là nơi bám của khối cơ xoay đùi, có thể sờ và định vị đượctrên người sống Mặt trong mấu chuyển lớn, có hố mấu chuyển là nơi bám của cơbịt ngoài
- Mấu chuyển bé: Ở mặt sau và trong xương đùi
Hai mấu chuyển nối nhau phía trước bằng đường gian mấu và nối nhau phía saubởi mào gian mấu
2.3 Đầu dưới
Đầu dưới có:
- Lồi cầu trong và lồi cầu ngoài
-Phía trước hai lồi cầu liên tục nhau, có diện bánh chè ở giữa tiếp khớp vớixương bánh chè
- Ở phía sau hai lồi cầu cách nhau bằng hố gian lồi cầu
Mặt ngoài lồi cầu ngoài có mỏm trên lồi cầu ngoài; mặt trong lồi cầu trong cómỏm trên lồi cầu trong và củ cơ khép
Trang 7Câu 3: Mô tả xương chày
Là xương chính của cẳng chân, chịu gần toàn bộ sức nặng cơ thể từ trên dồn xuống
1 Định hướng
- Đầu nhỏ xuống dưới
- Mấu của đầu nhỏ phía trong
- Bờ trước sắc, sát da Bờ này cũng như mặt trong nằm sát da nên xương chày khi
bị gãy dễ đâm ra da gây gãy hở, đồng thời xương khó lành khi tổn thương
- Bờ gian cốt, ở ngoài, ở dưới bờ này tách ra hai trẻ để ôm lấy khuyết mác
- Bờ trong: không rõ ràng
2.2 Đầu trên
Loe rộng để đỡ lấy xương đùi, gồm có:
- Lồi cầu trong
- Lồi cầu ngoài, lồi hơn lồi cầu trong, phía dưới và sau có diện khớp mác để tiếp khớp đầu trên xương mác
Mặt trên mỗi lồi cầu có một diện khớp trên tương ứng để tiếp khớp lồi cầu xương đùi, diện khớp trong lõm hơn diện khớp ngoài
Hai diện khớp trên cách nhau bằng vùng gian lồi cầu trước, vùng gian lồi cầu sau
và gò gian lồi cầu Gò gian lồi cầu có hai củ gian lồi cầu trong và ngoài Ở vùng gianlồi cầu trước và sau có chỗ bám của dây chằng chéo của khớp gối
7
Trang 8Mặt trước của hai lồi cầu có củ nằm ngay dưới da là lồi củ chày, nơi bám của dâychằng bánh chè.
2.3 Đầu dưới: nhỏ hơn đầu trên, gồm có:
- Mắt cá trong: do phần trong đầu dưới xuống thấp tạo thành, sờ được dưới da,mặt ngoài mắt cá trong có diện khớp mắt cá trong tiếp với diện mắt cá trong củaròng rọc xương sên
- Diện khớp dưới: tiếp khớp diện trên của ròng rọc xương sên
- Khuyết mác: ở mặt ngoài tiếp khớp đầu dưới xương mác
Trang 9Câu 4: Mô tả động mạch nách: Đường đi, liên quan, nhánh bên và nhánh nối.
Động mạch nách là động mạch chính của vùng nách, là sự nối tiếp của động mạchdưới đòn và khi đến bờ dưới cơ ngực lớn đổi tên thành động mạch cánh tay
1 Đường đi
Động mạch bắt đầu từ khoảng giữa xương đòn đến bờ dưới cơ ngực lớn Trong tưthế giải phẫu, đường đi của động mạch chếch xuống dưới, ra ngoài và ra sau, tươngứng với một đường cong lõm nhẹ hướng xuống dưới vào trong
2 Liên quan
Động mạch đi sau cơ ngực bé, cơ này chia động mạch thành 3 phần:
Phần đầu tiên nằm giữa xương đòn và bờ trên của cơ ngực bé Động mạch đượcche phủ ở trước bởi mạc đòn ngực và cơ ngực lớn; nằm trên cơ răng trước Ở trướcđộng mạch lúc này là tĩnh mạch nách, ở sau ngoài là đám rối thần kinh cánh tay
Phần thứ hai của động mạch nách nằm ở sau cơ ngực bé, cũng được che phủ bởi
cơ ngực lớn và ở sau động mạch là cơ dưới vai Phần này nằm giữa hai rễ của thầnkinh giữa
Phần thứ ba của động mạch nằm giữa bờ dưới cơ ngực bé và bờ dưới cơ ngực lớn.Động mạch nằm trên gân cơ lưng rộng và cơ tròn lớn; ở ngoài có thần kinh giữa, thầnkinh cơ bì và cơ quạ cánh tay; ở trong có thần kinh trụ, thần kinh bì cẳng tay trong; ởsau có thần kinh quay và thần kinh nách
4.3 Vòng nối cánh tay do động mạch mũ cánh tay trước nối với động mạch mũ cánh tay sau và động mạch cánh tay sâu của động mạch cánh tay
Hai vòng nối trên và vòng nối dưới không tiếp nối nhau nên thắt động mạch nách ởkhoảng giữa động mạch dưới vai và các động mạch mũ rất nguy hiểm thường đưa đếnhoại tử cánh tay
9
Trang 10Câu 5: Mô tả cấu tạo, nhánh tận của đám rối thần kinh cánh tay.
Thần kinh đến chi trên xuất phát từ đám rối cánh tay, một cấu trúc rất quan trọng nằm một phần ở cổ, một phần ở nách
1 Cấu tạo
Cấu tạo của đám rối thần kinh cánh tay
A Bó sau B Bó ngoài C Bó trong
1 TK cơ bì 2 TK nách 3 TK quay 4 TK giữa 5 TK trụ
Đám rối cánh tay được tạo bởi sự kết hợp của các nhánh trước thần kinh gai sống cổ
5, 6, 7, 8 và ngực 1
- Nhánh trước của thần kinh cổ 5, 6 có thể nối với một nhánh nhỏ của thần kinh cổ
4 để tạo thành thân trên
- Nhánh trước của TK cổ 7 tạo thành thân giữa
- Nhánh trước của TK cổ 8 và ngực 1 tạo thành thân dưới
Mäüt thán chia thành 2 ngành: trước và sau
-3 ngành sau tạo bởi bósau
- Ngành trước thân trên và thân giữa hợp thành bó ngoài
-Ngành trước thân dưới tạo thành bó trong
Đám rối cho các nhánh bên tách ra từ các thân hoặc các bó để vận động cho các cơ của hố nách
Trang 11+Thần kinh bì cẳng tay trong
+Thần kinh bì cánh tay trong
2.3 Bó sau tách ra hai nhánh cùng:
+Thần kinh nách
+Thần kinh quay
11
Trang 12Câu 6 Mô tả nguyên ủy, đường đi, tận cùng, liên quan và nhánh bên động mạch đùi.
Nguyên ủy_tận cùng: động mạch chậu ngoài đi đến điểm giữa bờ sau dây chằng bẹn thì đổi tên
thành động mạch đùi Động mạch đùi đi ở mặt trước đùi và dần dần đi vào trong, sau đó chui qua vòng gân cơ khép đổi tên thành động mạch kheo.
Đường đi và liên quan: chia làm ba đoạn là đoạn sau dây chằng bẹn,đoạn trong tam giác đùi và
đoạn trong ống cơ khép.
+ đoạn sau dây chằng bẹn: khoảng trống giữa dây chằng bẹn và bờ trước xương chậu chia làm hai ngăn.
Ngăn mạch máu: được giới hạn phía trước bởi dây chằng bẹn, phía sau là bờ trước xương chậu, phía trong là dây chằng khuyết, phía ngoài là cung chậu lược.
Ngăn cơ: là khoảng trống giữa dây chằng bẹn và bờ trước xương chậu,ngoài cung chậu lược trong ngăn này chứa cơ thắt lưng – chậu và thần kinh đùi.
Động mạch đùi ở phía sau dây chằng bẹn đi trong ngăn mạch máu Ở đây động mạch nằm ngoài nhất rồi đến tĩnh mạch đùi, trong cùng là các bạch huyết bẹn sâu Ba thành phần này được bọc trong bao chung gọi là bao mạch đùi, nó được chia thành 2 vách ngăn thành 3
khoang Khoang ngoài chứa động mạch đùi, khoang giữa chứa tĩnh mạch đùi, khoang trong cùng chứa hạch bạch huyết cong được gọi là ống đùi Đầu trên ống đùi là vòng đùi, đầu dưới là mạc sàng ở lỗ tĩnh mạch hiển vòng đùi được giới hạn phia trước là dây chằng bẹn, trong là dây chằng khuyết, sau là mào lược xương mu ống đùi là một điểm yếu của vùng bẹn có thể gây thoát vị đùi.
+ đoạn đi trong tam giác đùi: tam giác đùi là một tam giác mà đáy là dây chằng bẹn, cạnh ngoài
là bờ trong cơ may, cạnh trong là bờ trong cơ khép dài, đỉnh tam giác cách dây chằng bẹn khoảng 10 cm, tương ứng với nơi cơ may bắt cháy coe khép dài Sàn tam giác đùi từ ngoài vào trong có cơ thắt lưng chậu, cơ lược, cơ khép dài và đôi khi một phần cơ khép ngắn trần tam giác đùi đậy bằng mạc sàng và mạc đùi Do đó thật ra tam giác đùi là một khối hình tháp tam giác mà đáy được giới hạn phía trước bởi dây chằng bẹn, ở phía sau bởi bờ trước xương chậu , đỉnh là chỗ cơ may gặp cơ khép dài và ba thành là: thành ngoài là cơ may và cơ thắt lưng chậu, thành trong là cơ lược và cơ khép dài và thành trước là mạc sàng.trong tam giác đùi thần kinh đùi nằm phía ngoài, động mạch đùi ở giữa, tĩnh mạch đùi trong cùng Nhánh của thần kinh sinh dục đùi và tĩnh mạch hiển lớn xuyên qua thành trước của bao mạch đùi.
+ đoạn đi trong ống cơ khép: ống cơ khép bắt đầu từ đỉnh tam giác đùi đén vòng gân cơ khép,
là một ống hình lăng trụ tam giác hơi bị vặn vào trong, đểcho bó mạch đùi đang từ khu đùi trước chạy ra vùng kheo ở phía sau, ống có ba mặt:
- Mặt trước trong là cơ may khi cơ này đi từ ngoài vào trong Ở sâu hơn cơ may còn có mạc rộng cơ kháp che phủ.
- Mặt trước ngoài là cơ rộng trong/
- Mặt sau là cơ khép dài và cơ khép lớn.
ống cơ khép chứa động mạch đùi, tĩnh mchj đùi, nhánh thần kinh đùi đến cơ rộng trong và thần kinh hiển trong ống cơ khép động mạch đùi bắt chéo phía trước để đi vào trong tĩnh mạch đùi còn thần kinh hiển lúc đầu đi ngoài sau ra trước rồi vào trong động mạch sau cùng chọc ra nông
ở 1/3 dưới ống cơ khép.
Trang 13
Nhánh bên:
+ Động mạch thượng vị nông: tách khỏi động mạch đùi dưới dây chằng bẹn khoảng 1-2 cm xuyên qua bao mạch đùi, mạc sàng rồi hướng về phía rốn trong lớp mỡ dưới da và tiếp nối với động mạch thượng vị dưới là nhánh của động mạch vhaauj ngoài.
+ động mạch mũ chậu nông: thường cùng chỗ với động mạch thượng vị nông và đi vè phía mào chậu trong mô dưới da và nối tiếp với động mạch mũ chậu sâu là nhánh động mạch chậu ngoài
+ các động mạch thẹn ngoài: các nhánh này sau khi chui qua lỗ tĩnh mạch hiển sẽ cho nhánh đi
về vùng bẹn,bìu ở nam giới hoặc âm hộ ở nữ giới.
+ động mạch đùi sâu:vị trí cuất phát của động mạch đùi sâu thường sau ngoài của động mạch đùi( 44,32%) và cũng có thể sau trong động mạch đùi ( 25,5%) Là nhánh lớn nhất của động mạch đùi tách ra khỏi dộng mạch đùi ở dưới dây chằng bẹn 4 cm và cấp máu cho hầu hết các
cơ vùng đùi Phía trên động mạch đùi sâu nằm trước cơ thắt lưng chậu, cơ lược sau đó đi sau cơ khép dài, trước cơ khép ngắn và khép lớn động mạch lúc đầu lớn nhưng sau khi phân nhánh thì nhỏ dần và tận cùng bằng một nhánh xuyên cuối xuyên qua cơ khép lớn.
Ngoài các nhánh vào các cơ ở đùi, đặc biệt là cơ tứ đầu đùi động mạch đùi sâu cho các nhánh:
- Động mạch mũ đùi ngoài:đi giữa cơ may, cơ thẳng đùi và cơ thắt lưng chậu, vòng lấy đầu trên xương đùi sau đó cho các nhánh lên, xuống, ngang
13
Trang 14- Động mạch mũ đùi trong: đi giữa cơ thắt lưng chậu và cơ lược, vòng lấy đầu trên xương đùi và chia các nhánh lên, xuống, nhánh sâu và ổ cối.
- Các động mạch xuyên: thông thường có 4 nhánh xuyên, từ động mạch đùi sâu xuyên qua cơ khép lớn, gần nơi cơ này bám vào đường ráp đẻ cung cấp máu cho vùng đùi sau Các nhánh xuyên lại cho nhánh lê, nhánh xuống để tạo nên một chuỗi động mạch ở vùng đùi sau Ngoài ra các nhánh xuyên thứ nhất còn cho ngành nối với động mạch mông dưới, động mạch mũ đùi ngoài và động mạch mũ đùi trong
+ Động mạch gối xuống: tách từ mặt trước của dộng mạch đùi trước khi động mạch này chui qua vòng gân cơ khép Nó nằm trên cơ khép lớn và được cơ rộng trong che phủ.
Khi có sự tồn tại của động mạch ngồi thì động mạch đùi rất nhỏ chỉ còn vai trò cung cáp máu cho đùi.
Trang 15Câu 7: Mô tả các thành của ống bẹn
Ống bẹn là một khe nằm giữa các lớp cân cơ của thành bụng trước bên, dài khoảng 4- 6 cm theo hướng từ sau ra trước, vào trong và xuống dưới gần như song song và ngay trên nửa trong nếp bẹn Đây là một điểm yếu tiềm tàng của thành bụng, nhất là ở nam giới, ở đây có thể xảy ra thoát vị gọi là thoát vị bẹn
Ở nam giới, ống bẹn chứa thừng tinh Còn phái nữ, ống bẹn chứa dây chằng tròn tử cung
1 Sợi gian trụ 2 Cột trụ ngoài 3 Cột trụ trong
4 Dây treo dương vật 5 Dây chằng phản chiếu 6 Thừng tinh
15
Trang 162 Thành dưới ống bẹn
Thành dưới ống bẹn được tạo nên bởi dây chằng bẹn
Dây chằng bẹn là chỗ dày lên của bờ dưới cân cơ chéo bụng ngoài, đi từ gai chậu trước trêntới củ mu.Ở đoạn trong, từ dây chằng bẹn, ngoài những sợi tới bám vào củ mu còn có những thớ sợi chạy vòng ra phía sau đến bám vào đường lược của xương mu gọi là dây chằng khuyết Dây chằng khuyết tiếp tục đi ra ngoài tới lồi chậu mu, ở đây nó hòa lẫn với cân cơ lược và lớp chu cốt mạc của của xương mu tạo nên một dây chằng rất chắc gọi là dây chằng lược
3 Thành trên ống bẹn
Thành trên ống bẹn là bờ dưới cơ chéo bụng trong và cơ ngang bụng
Khi bờ dưới của hai cơ này dính vào nhau thì tạo nên một cấu trúc gọi là liềm bẹn (hay gân kết hợp), tới dính vào mào lược xương mu
4 Thành sau ống bẹn
Đây là thành quan trọng nhất của ống bẹn, chịu đựng áp lực trong ổ bụng, nhưng được cấu tạo chủ yếu chỉ bởi mạc ngang Do đó rất yếu và có thể xảy ra thoát vị thành bụng ở đây, gọi là thoát vị bẹn Mạc ngang vùng này được tăng cường bởi những cấu trúc trợ lực Đó là các dây chằng cùng lớp với mạc ngang hoặc nằm sau mạc ngang
Trang 171 Dây chằng rốn giữa 2 Hố trên bàng quang 3 Hố bẹn trong 4 Hố bẹn ngoài
5 Bó mạch chậu ngoài 6 Ống dẫn tinh 7 ĐM rốn 8 Bàng quang 9 Dây
chằng gian hố
10 Lỗ bẹn sâu 11 Điểm yếu của thành sau ống bẹn 12 Cung chậu lược 13 Gân kết
hợp
14 Dây chằng bẹn 15 Dây chằng khuyết
* Dây chằng gian hố: là những thớ sợi nằm ở bờ trong lỗ bẹn sâu, chạy từ mặt sau cơ ngang
bụng xuống dính vào dây chằng bẹn, do mạc ngang dày lên tạo nên Đôi khi dây chằng gian
hố chứa một số sợi của cơ ngang bụng
Dây chằng gian hố làm chắc thêm phần thành sau ở cạnh trong lỗ bẹn sâu
Người ta còn mô tả một khoảng tam giác ở thành sau ống bẹn, là chỗ yếu nhất của thành bụng bẹn, nơi hay xảy ra thoát vị bẹn trực tiếp Tam giác bẹn được giới hạn phía ngoài là động mạch thượng vị dưới, phía trong là với bờ ngoài cơ thẳng bụng, giới hạn dưới là dây chằng bẹn
Tuy vậy, ở phần trên tam giác bẹn còn có liềm bẹn che phủ Do đó, thực chất của vùng yếu này là một khoảng có giới hạn trên là bờ dưới liềm bẹn, giới hạn dưới là dây chằng bẹn và giới hạn ngoài là ĐM thượng vị dưới
Sau mạc ngang là lớp mỡ ngoài phúc mạc, có một động mạch và hai thừng sợi đi qua đó là:
* Động mạch thượng vị dưới
- Là nhánh của động mạch chậu ngoài
- Từ chỗ xuất phát trên dây chằng bẹn, động mạch chạy vào trong rồi vòng quanh phía dưới
- trong lỗ bẹn sâu để quặt lên trên, hướng về đường cung và chui vào bao cơ thẳng bụng, phân chia trong cơ và tiếp nối với ĐM thượng vị trên ở gần rốn Đoạn gần lỗ bẹn sâu, động mạch nằm sau dây chằng gian hố
* Dây chằng rốn trong: là di tích của ĐM rốn thời kỳ phôi thai.
* Dây chằng rốn giữa: còn gọi là dây treo bàng quang - di tích của ống niệu rốn trong thời
kỳ phôi thai, chạy từ đỉnh bàng quang đến rốn
Phúc mạc phủ lên mặt sau các thừng sợi trên tạo nên các nếp và các hố Ứng với ĐM thượng vị dưới và hai dây chằng trên từ ngoài vào trong có các nếp rốn ngoài, nếp rốn trong
và nếp rốn giữa Giữa các nếp rốn, phúc mạc lõm thành ba hố là:
- Hố bẹn ngoài: ở ngoài ĐM thượng vị dưới Đây là nơi xảy ra thoát vị bẹn gián tiếp
- Hố bẹn trong: ở giữa nếp rốn ngoài và nếp rốn trong, là chỗ yếu nhất của thành bụng (tương ứng với tam giác bẹn) và thường xảy ra thoát vị bẹn trực tiếp
- Hố trên bàng quang: ở giữa nếp rốn trong và nếp rốn giữa, ít xảy ra thoát vị
17
Trang 18Câu 8: Mô tả hình thể ngoài và liên quan của tim.
Tim nằm đè lên cơ hoành, ở giữa hai phổi, hơi lệch sang trái, trước thực quản vàcác thành phần khác của trung thất sau Thể tích to bằng nắm tay, ở người lớn nặngkhoảng 260-270 gam Trục dọc đi từ sau ra trước, hướng chếch sang trái và xuốngdưới, dài khoảng 12 cm Bề ngang khoảng 8 cm
Vị trí tim trong lồng ngực
1 TM chủ trên 2 ĐM chủ lên 3 Thân ĐM phổi 4 Tiểu nhĩ phải 5 Cán ức
6 Dây chằng ĐM 7 Màng phổi trung thất 8 Khoang màng ngoài tim
Trang 19Tim (nhìn phía sau)
1.Cung ĐM chủ 2.TM chủ trên 3.ĐM phổi phải 4.Rãnh gian nhĩ
5.Rãnh tận cùng 6.TM chủ dưới 7.Xoang TM vành 8.TM tim nhỏ
9.TM tim giữa 10.TM sau của tâm thất trái 11 TM tim lớn
12 TM chếch của tâm nhĩ trái 13 Các TM phổi 14 Động mạch phổi trái
Bên phải là tâm nhĩ phải, liên quan với màng phổi phải và thần kinh hoành phải,phía trên có tĩnh mạch chủ trên và phía dưới có tĩnh mạch chủ dưới đổ vào cómotjrãnh nối bờ phải của hai tĩnh mạch chủ trên và tĩnh mạch chủ dưới là rãnh tận cùng.Bên trái rãnh gian nhĩ là tâm nhĩ trái, có bốn tĩnh mạch phổi đổ vào Tâm nhĩ tráiliên quan với thực quản ở phía sau, nên khi tâm nhĩ trái lớn sẽ đè vào thực quản gâykhó nuốt
2 Mặt ức sườn (còn gọi là mặt trước)
- Có rãnh vành chạy ngang phía trên, ngăn cách phần tâm nhĩ ở trên và tâm thất
- Mặt ức sườn nằm sau xương ức và các sụn sườn 3, 4, 5, 6 bên trái Chiếu lênthành ngực, mặt ức sườn ứng với một tứ giác, mà :
- Góc trên phải và trên trái ở ngang mức khoang gian sườn II cạnh bờ phải và bờtrái xương ức
19
Trang 20- Góc dưới phải ở khoảng gian sườn V, cạnh bờ phải xương ức.
- Góc dưới trái ở khoảng gian sườn V, trên đường giữa xương đòn trái
Mặt ức sườn của tim (mũi tên chỉ xoang ngang ngoại tâm mạc).
1 Dây chằng ĐM 2 ĐM phổi trái 3 Thân ĐM phổi 4 ĐM vành trái 5 Nhánh mũ
6 Nhánh gian thất trước 7 Khuyết đỉnh tim 8 ĐM vành phải 9 Tâm nhĩ phải
10 Màng ngoài tim 11 ĐM phổi phải
3 Mặt hoành (hay mặt dưới)
Là mặt của tim đè lên cơ hoành và qua cơ hoành liên quan với thùy trái của gan và đáy vë dạ dày
Rãnh vành ở mặt ức sườn chạy tiếp xuống mặt hoành, chia tim ra hai phần: phầnsau là tâm nhĩ, hẹp; phần trước là tâm thất, rộng hơn, có rãnh gian thất sau, chạy từsau ra trước và nối với rãnh gian thất trước ở bên phải đỉnh tim, tạo nên khuyết đỉnhtim
4 Mặt phổi (hay mặt trái)
Mặt phổi hẹp, liên quan với phổi và màng phổi trái, TK hoành trái
5 Đỉnh tim (còn gọi là mỏm tim)
Đỉnh tim nằm chếch sang trái; ngay sau thành ngực tương ứng khoảng gian sườn Vtrên đường giữa xương đòn trái Bên phải đỉnh tim là khuyết đỉnh tim, nơi hai rãnhgian thất gặp nhau
Trang 21CÂU 9 Trình bày cấu tạo của tim.
Thành của tim được cấu tạo bởi ba lớp: ngoại tâm mạc, cơ tim và nội tâm mạc.
+ ngoại tâm mạc: còn gọi là màng ngoài tim là một túi kín gồm hai bao: bao sợi ở ngoài gọi là
ngoại tâm mạc sợi, bao thanh mạc ở trong gọi là ngoại tâm mạc thanh mạc.
- Ngoại tâm mạc sợi: bao bọc phía ngoài tim và có các thớ sợi dính với các cơ quan lân cận như cơ hoành, cột sống, xương ức, khí quản, phế quản và thực quản các thớ sợi bám vào xương ức biệt hóa rõ rệt thành các dây chằng ngoại tâm mạc
- Ngoại tâm mạc thanh mạc: có hai lá: lá thành và lá tạng, giữa hai lá là một khoang ảo gọi là ổ ngoại tâm mạc khi viêm ngoại tâm mạc, trong ổ có chứa nhiều chất dịch
Lá tạng và lá thành liên tiếp nhau ở các mạch máu lớn ở đáy tim Do đó có hai bao mạch: bao động mạch phía trược bọc lấy động mạch chủ và thân động mạch phổi và bao tinhc mạch ở sau bọc các tĩnh mạch phổi và tĩnh mạch chủ trên Giữa hai bao là xoang ngang ngoại tâm mạc.thọc ngón tay qua xoang ngang ta sẽ luồn được ra sau các động mạch và phía trước các tĩnh mạch Giữa hai tĩnh mạch phổi phải và hai tĩnh mạch phổi trái ở mặt sau tâm nhĩ trái có một hố nông lõm như một túi cùng gọi là xoang chéch ngoại tâm mạc.
+ cơ tim : ạo nên một lớp dày mỏng tùy chỗ, mỏng ở tâm nhĩ và rất dày ở tâm thất đặc biệt là
tâm thất trái Đại bộ phận các sợi cơ co bóp, ngoài ra cong một bộ phận nhỏ các sơi cơ kém biệt hóa mang tính chất thần kinh gọi là “ hệ thống dẫn truyền của tim”
Các sợi cơ co bóp: các cơ tim bám vào một hệ thống vòng sợi được coi như cái cốt của tim Có bốn vòng sợi vây quanh bốn lỗ lớn của tim: hai lỗ nhĩ thất, lỗ động mạch chủ và lỗ thân động mạch phổi, phần sợi giáp giữa lỗ đọng mạch chủ với hai lỗ nhĩ thất đặc biệt dày và chắc được gọi là tam giác sợi.các thớ cơ bám vào các vòng sợi được chia làm hai loại: loại riêng cho từng tâm nhĩ hoặc tâm thất và loại chung cho hai tâm nhĩ hoặc hai tâm thất.
Hệ thống dẫn truyền của tim: là các sơi cơ kém biệt hóa nằm lẫn trông các soeij cơ co bóp và có nhiệm vụ duy trì sự co bóp tự động của tim.
Nội tâm mạc: hay màng trong tim là một màng rất mỏng phủ và dính chặt lên tát cả mặt trong
các buồng tim và liên tiếp với nội mạc của các mạch máu của tim ra vào Khi viêm nội tâm mạc
có thể gây các chứng hẹp hoặc hở van tim hoặc gây các cục huyết khối làm tắc động mạch.
21
Trang 23Câu 10: Mô tả giới hạn và phân khu của trung thất, kể tên các thành phần
được chứa đựng trong trung thất tương ứng.
1 Giới hạn
Trung thất được giới như sau:
-Phía trước: là mặt sau xương ức và các sụn sườn
-Phía sau: là mặt trước cột sống ngực
-Phía trên: là lỗ trên của lồng ngực, nghiêng một góc 450 so với mặt phẳng ngang, nơi trung thất thông với nền cổ
-Phía dưới: là mặt trên cơ hoành
-Hai bên: là màng phổi trung thất
2 Phân chia trung thất
Có nhiều cách phân chia trung thất, trong đó có hai quan điểm chính:
2.1.Quan niệm cổ điển
Trung thất được chia thành hai phần: trung thất trước và trung thất sau bởi một mặt phẳng đứng ngang đi qua khí quản và hai phế quản chính
2.2.Quan niệm theo T.A
Hội nghị quốc tế về giải phẫu nhất trí phân chia trung thất thành 2 là trung thất trên
và dưới bởi mặt phẳng ngang đi qua góc ức (đốt sống ngực 4), trung thất dưới đượcchia thành ba trung thất gọi là trung thất trước, trung thất giữa và trung thất sau
Là trung thất nằm sau màng ngoài tim
3 Thành phần chứa đựng trong các trung thất
1 Trung thất trên
Trung thất trên chức tuyến ức, khí quản, thực quản, các mạch máu lớn của tim nhưcung động mạch chủ và các nhánh bên của nó, thân động mạch phổi, tĩnh mạch chủtrên, thần kinh lang thang và thần kinh hoành
5 Liên quan các thành phần trong trung thất sau
Các thành phần đi trong trung thất sau liên quan mật thiết với nhau Nếu lấy thực quản làm mốc:
23
Trang 24-Trước thực quản: phía trên là khí quản, phía dưới là tâm nhĩ trái và xoang chếch màngngoài tim.
- Phía sau thực quản: giữa là ống ngực; bên trái là động mạch chủ ngực và các tĩnhmạch bán đơn, bán đơn phụ; bên phải là tĩnh mạch đơn Sau nữa và xa hơn hai bên cộtcột sống là chuỗi hạch giao cảm ngực
- Hai bên thực quản: dây thần kinh X nhưng khi xuống đoạn dưới thì dây X trái trởthành thân thần kinh lang thang trước còn dây X phải trở thành thân thần kinh langthang sau
Trung thất hẹp nên một khối u choán chỗ trong trung thất có thể gây chén ép vàbiểu hiện hội chứng trung thất (khó thở, khó nuốt, phù áo khoác ) Đồng thời tổ chứcliên kết của trung thất sau liên tiếp với tổ chức liên kết các vùng nền cổ, các vùngtrung thất khác nên một áp xe trung thất sau có thể lan tỏa đến các vùng lân cận này
Trang 25Câu 11: Mô tả hình thể ngoài và liên quan của dạ dày.
Dạ dày là đoạn phình to nhất của ống tiêu hoá, nối giữa thực quản và tá tràng,nằm sát dưới vòm hoành, ở sau cung sườn và vùng thượng vị trái Dạ dày rất codãn, có thể tích từ 2 đến 2,5 lít hoặc hơn nữa, nên không có hình dáng nhất định, dạdày giống hình chữ J Hình dạng dạ dày thay đổi tuỳ thuộc lượng ăn vào, tư thế,tuổi, giới tính, sức co bóp và tuìy theo cả lúc quan sát
1 Hình thể ngoài
Dạ dày gồm có 2 thành trước và sau, 2 bờ cong vị lớn và nhỏ và 2 đầu: tâm vị ở trên, môn vị ở dưới, kể từ trên xuống dạ dày gồm có:
Hình thể ngoài của dạ dày
1 Gan 2 Các hạch bạch huyết 3 Túi mật 4 Bờ cong vị bé 5 Môn vị 6 Tâm vị
7 Thân vị 8 Mạc nối nhỏ 9 Lách 10 Tụy 11 Bờ cong vị lớn 12 Mạc nối lớn
1 Tâm vị
Tâm vị là một vùng rộng khoảng từ 3 đến 4 cm2, nằm gần thực quản có lỗ tâm
vị Lỗ này thông thực quản với dạ dày, không có van đóng kín mà chỉ có nếp niêmmạc Ở người sống, lỗ tâm vị nằm sau sụn sườn 7 trái, trước thân đốt sống ngực X
và lệch bên trái đường giữa khoảng 2,5cm
4.1 Hang môn vị: tiếp nối với thân vị chạy sang phải và hơi ra sau
4.2 Ống môn vị: thu hẹp lại trông giống cái phễu và đổ vào môn vị
25
Trang 26Dạ dày liên quan với các cơ quan trong lồng ngực qua vòm cơ hoành trái như phổi
và màng phổi trái, tim và màng ngoài tim Một phần thuìy gan trái nằm ở mặt trước dạdày
Là thành trước của hậu cung mạc nối và qua đó dạ dày có liên quan với:
+ Đuôi tụy và các mạch máu của rốn lách
4 Bờ cong vị lớn
Bờ cong lớn chia làm 3 đoạn:
+ Đoạn đáy vị: áp sát vòm hoành trái và liên quan với lách
+ Đoạn có dây chằng hay mạc nối vị lách chứa các động mạch vị ngắn
+ Đoạn có mạc nối lớn chứa vòng động mạch bờ cong vị lớn
Tóm lại, tuy dạ dày di động, nhưng được treo tại chỗ nhờ các mạc của phúc mạcnhư mạc nối nhỏ, mạc nối lớn, các dây chằng vị hoành, vị lách và vị kết tràng Ba dâychằng này là thành phần của mạc nối lớn
Trang 27Cđu 12: Mô tả hình thể ngoăi vă liín quan của gan.
Gan lă tạng to nhất trong cơ thể, vừa lă một tuyến nội tiết vă ngoại tiết Gan măunđu đỏ trơn bóng, mật độ chắc nhưng dễ vỡ khi chấn thương, ở người chết gan nặngkhoảng 1500g, ở người sống nặng khoảng 2300g do chứa nhiều mâu Gan có bềngang dăi khoảng 28cm, bề trước sau khoảng 18cm vă bề cao khoảng 8cm
Gan ở tầng trín mạc treo kết trăng ngang trong ô dưới hoănh phải, nhưng lấnsang thượng vị vă dưới cơ hoănh trâi Đối chiếu gan trín thănh ngực thì giới hạntrín của gan ở khoảng gian sườn IV đường trung đòn phải, bờ dưới gan chạy dọctheo bờ dưới sườn phải
Hình thể ngoăi vă liín quan
Gan có hình dạng quả dưa hấu cắt chếch từ trâi sang phải theo một bình diệnnhìn lín trín ra trước vă sang phải Gan có 2 mặt: mặt hoănh lồi âp sât văo cơhoănh vă mặt tạng, gan chỉ có duy nhất một bờ là bờ dưới
1 Mặt hoănh: Gồm có 4 phần:
Hình 5 1 Mặt hoănh của gan
1 Cơ hoănh 2 Dđy chằng tam giâc phải 3 Thùy phải 4 Bờ dưới
5 Túi mật 6 Dđy chằng tròn gan 7 Thùy trâi
8 Dđy chằng liềm 9 Dđy chằng tam giâc trâi 10 Dđy chằng vănh
- Phần trín: lồi, trơn lâng, nằm dưới cơ hoănh phải có dấu ấn của tim, qua cơhoănh liín quan với đây phổi phải, măng tim vă đây phổi trâi
- Phần trước tiếp xúc với cơ hoănh vă thănh bụng trước, phần trên và phầntrước được chia đôi bởi dđy chằng liềm
- Phần phải liín tiếp với phần trín vă phần trước của mặt hoănh lă vùng đối diệnvới câc cung sườn thứ VII đến XI bín phải
- Phần sau hình tam giác, có vùng trần lă vùng gan không có phúc mạc chephủ, có thùy đuôi Bín phải của thùy đuôi có rênh tĩnh mạch chủ dưới, bín trâi cókhe dđy chằng tĩnh mạch Mặt hoănh của gan qua cơ hoănh liín quan với phổi,măng phổi, tim, măng tim, do đó một âp xe gan khi vỡ có thể lan lín phổi, măngtim
27
Trang 282 Mặt tạng
Mặt tạng của gan
1 Dây chằng tam giác trái 2 Ấn dạ dày 3 Dây chằng liềm 4 Dây chằng tròn
5 Thuỳ vuông 6 Túi mật 7 Thuỳ đuôi 8 Lá dưới dây chằng vành
9 Vùng trần 10 Dây chằng tam giác phải 11 Ấn thận
Là mặt gan nhìn xuống dưới và sau Mặt tạng không đều do các vết của các tạngtrong ổ bụng ấn vào Có 2 rãnh dọc và 1 rãnh ngang có hình chữ H chia mặt tạng vàphần sau của mặt hoành thành 4 thùy Thùy phải, thùy trái, thùy vuông và thùy đuôi
- Rãnh dọc phải tạo bởi phía trước là hố túi mật, phía sau là rãnh tĩnh mạch chủdưới, giữa hai rãnh có mõm đuôi của thùy đuôi
- Rãnh dọc trái hẹp và sâu, cách rãnh phải 6cm, phía trước là khe dây chằng tròn,dây chằng tròn là di tích của tĩnh mạch rốn bị tắc Phía sau là khe dây chằng tĩnhmạch, dây chằng tĩnh mạch là di tích của ống tĩnh mạch, nối tĩnh mạch rốn và tĩnhmạch chủ dưới lúc phôi thai
- Rãnh ngang là cửa gan dài khoảng 6cm chạy từ phải sang trái Mạch máu, thầnkinh và ống dẫn mật từ ngoài chạy vào hay từ trong chạy ra đều qua cửa gan Mặt tạngcủa thùy phải có 3 ấn: ấn kết tràng ở trước, ấn thận phải ở phía sau và ấn tá tràng ởphía trong
+ Mặt tạng ở thùy trái có một lõm lớn và ấn dạ dày
+ Mặt tạng ở thùy vuông úp lên dạ dày, män vị và tá tràng
+ Thùy đuôi ở sau có một phần thuộc về phần sau của mặt hoành
3 Bờ
Gan chỉ có một bờ là bờ dưới, bờ này rõ và sắc chạy từ phải sang trái, giữa phầntrước của mặt hoành và mặt tạng Bờ dưới có 2 khuyết: khuyết dây chằng tròn vàkhuyết túi mật
4 Liên quan với phúc mạc
Gan hầu hết được phúc mạc che phủ, trừ một phần sau của mặt hoành, không có phúc mạc che phủ gọi là vùng trần
Trang 29Câu 13: Mô tả hình thể ngoài, kích thước và liên quan của thận.
Thận là một cơ quan chẵn, có một số chức năng:
Ngoại tiết:
- Thải chất độc trong cơ thể qua nước tiểu
- Duy trì thăng bằng nước điện giải
Nội tiết:
- Tiết Renin điều chỉnh huyết áp
- Tiết Erythropoietin kích thích tủy xương tạo hồng cầu
1 Hình thể ngoài
Thận nằm sau phúc mạc, trong góc xương sườn XI và cột sống thắt lưng, ngaytrước cơ thắt lưng, trên mặt phẳng phân giác của của góc tạo bởi mặt phẳng đứng dọcgiữa và mặt phẳng đứng ngang Thận phải thấp hơn thận trái khoảng 2 cm
Thận có hai bờ: bờ ngoài: lồi, bờ trong: lồi ở phần trên và dưới, lõm ở giữa gọi là rốn thận là nơi động mạch tĩnh mạch, niệu quản đi qua
Thận có hai đầu: đầu trên và đầu dưới
Trục lớn là đường nối hai đầu, chếch từ trên xuống dưới, ra ngoài và ra sau
Mỗi thận nặng 150 gram, cao 12 cm, rộng 6 cm, dày 3 cm Trên phim X quang, mỗithận cao bằng 3 thân đốt sống
29
Trang 30Mạc thận có hai lâ trước vă sau:
-Phía trín hai lâ nhập lại vă hoă văo mạc của cơ hoănh
-Phía dưới, hai lâ thường không hợp lại mă hoă lẫn văo lớp mô ngoăi phúc mạc.-Phía ngoăi, hai lâ chập văo nhau
-Phía trong, lâ sau hoă văo mạc cơ thắt lưng rồi đến bâm văo thđn câc đốt sốngthắt lưng, lâ trước mạc thận đi trước vă dính văo câc mạch mâu lớn rồi hoă vă lâtrước bín đối diện, nhờ thế mă hai ổ thận không thông với nhau
Mạc thận ngăn câch với bao xơ thận bởi bao mỡ gọi lă mỡ quanh thận
Phía ngoăi mạc thận có một lớp mỡ khâc gọi lă mỡ cạnh thận
4 Liín quan
4.1 Phía trước
4.1.1 Thận phải
Ở sau phúc mạc, gần như nằm trín rễ mạc treo kết trăng ngang
- Đầu trín vă phần trín bờ trong: liín quan với tuyến thượng thận phải
- Bờ trong vă cuống thận: liín quan phần xuống của tâ trăng
- Mặt trước: liín quan phần lớn với vùng gan ngoăi phúc mạc Phần còn lại liín quan với góc kết trăng phải vă ruột non
4.1.2 Thận trâi
Ở phía sau phúc mạc có rễ mạc treo kết trăng ngang bắt chĩo phía trước
- Đầu trín vă phần trín bờ trong: liín quan với tuyến thượng thận trâi
- Phần dưới: liín quan với dạ dăy qua túi mạc nối, tụy tạng vă lâch, góc kết trăngtrâi, phần trín kết trăng trâi vă ruột non
Trang 31Liên quan trước của thận
1 Tuyến thượng thận phải2 Tá tràng 3 Thận phải
4 TM chủ dưới5 Tuyến thượng thận trái 6 Đuôi tụy 7 TM cửa
Liên quan của mặt sau thận
1 Tĩnh mạch chủ dưới 2 Động mạch chủ bụng 3 Tầng ngực 4 Cơ ngang bụng
5 Cơ vuông thắt lưng 6 Cơ thắt lưng 7 Niệu quản
31
Trang 32Câu 14:Mô tả vị trí, hình thể ngoài và liên quan của bàng quang
Bàng quang là một tạng rỗng mà hình dạng, kích thước, vị trí thay đổi theo số lượng nước tiểu chứa bên trong nó Bàng quang nhận nước tiểu từ 2 thận thông qua hai niệu quản rồi thải nước tiểu ra ngoài qua niệu đạo.
Vị trí:
Bàng quang là một tạng nằm dưới phúc mạc Khi rỗng bàng quang nằm trong phần trước hố chậu, sau xương mu, trước các tạng sinh dục, trực tràng, trên hoành chậu Khi căng bàng quang có hình cầu nằm trong ổ bụng
Ở trẻ em phần lớn bàng quang nằm trong ổ bụng Khi trẻ lớn lên bàng quang tụt dần xuống vùng chậu
Ở người già do trương lực các cơ thành bụng yếu, bàng quang có hơi nhô lên trên về phía ổ bụng.
Hình thể ngoài:
Bàng quang có hình tứ diện tam giác với 4 mặt: mặt trên, mặt sau và hai mặt dưới bên
Mặt trên phủ bởi phúc mạc, lồi khi bàng quang đầy, lõm khi bàng quang rỗng làm cho lòng bàng quang có hình chữ T hay Y trên thiết đồ đứng dọc
Hai mặt dưới bên nằm tựa trên hoành chậu Hai mặt này gặp nhau ở trước bởi 1 bờ tròn đôi khi được gọi là mặt trước.
Mặt sau còn gọi là mặt đáy, ở phần trên mặt sau có phúc mạc phủ.
Ðỉnh bàng quang là chỗ gặp nhau của 2 mặt dưới bên và mặt trên có dây chằng rốn giữa treo bàng quang vào rốn.
Thân bàng quang là phần bàng quang nằm ở giữa đỉnh và đáy.
Trong lòng bàng quang có lỗ niệu đạo trong chỗ gặp nhau bởi đáy và mặt dưới bên, qua đó bàng quang thông với niệu đạo.
Phần bàng quang xung quanh lỗ niệu đạo trong là cổ bàng quang.
Liên quan:
Liên quan với phúc mạc:
Phúc mạc che phủ mặt trên và phần trên đáy BQ rồi phủ lên thành bụng trước, thành bên chậu ngay
ở bờ trên khớp mu khi bàng quang rỗng Khi căng đầy bàng quang nhô lên trên về phía ổ bụng chỗ phúc mạc lật lên trên phủ lên thành bụng trước cũng bị đẩy cao hơn do đó một phần bàng quang ở mặt dưới bên không có phúc mạc che phủ Phía sau phủ lên tử cung ở nữ hoặc túi tinh ở nam tạo nên túi bịt bàng quang sinh dục.
Liên quan với các cơ quan xung quanh
Hai mặt dưới bên: Liên quan với xương mu, khớp mu và đám rối tĩnh mạch bàng quang, nằm trong khối mỡ trong khoang sau xương mu Vì xương mu nằm sát ngay trước bàng quang nên khi gãy xương mu các mảnh xương gãy có thể chọc thủng bàng quang Hai bên bàng quang liên quan chủ yếu với khoang sau xương mu Khoang này nằm một phần ở vùng chậu và 1 phần ở vùng bụng, là một phần của khoang ngoài phúc mạc trải dài từ nền chậu tới rốn Trong khoang là các mô liên kết thưa, mô mỡ và các mạch máu thần kinh tới bàng quang
Mặt trên: ở nam liên quan với ruột non, kết tràng xích ma Ở nữ liên quan với thân tử cung khi bàng quang rỗng.
Mặt sau: ở nam: ống dẫn tinh, túi tinh, trực tràng Ở nữ liên quan với thành trước âm đạo, cổ tử cung.
Trang 34Câu 15: Mô tả tử cung: Hướng, tư thế, hình thể ngoài và liên quan.
Là nơi làm tổ của trứng đã thụ tinh và chữa thai, là một xoang cơ rỗng, khẩu kính6x4x2cm, hình nón cụt, đáy trên đỉnh dưới, có 3 phần: thân, eo và cổ tử cung
Tư thế bình thường của cổ tử cung là tư thế gập ra trước (trục của thân và trục của cổtạo một góc 1200 mở ra trước) và ngã ra trước (trục của cổ tử cung tạo với trục âm đạomột góc 900 mở ra trước)
Hướng và tư thế của tử cung
Cấu tạo trong của tử cung và vòi tủ cung
1 Đáy tử cung 2 Buồng tử cung 3 Thân tử cung 4 Cổ tử cung
5 Ống cổ tử cung 6 Dây chằng riêng buổng trứng 7 ĐM và TM buồng trứng
Trang 35Hình thể ngoài và liên quan
1.1 Thân tử cung
- Mặt trước dưới còn gọi là mặt bàng quang, áp vào mặt trên của bàng quang, ở đây
có phúc mạc phủ đến tận eo tử cung rồi quặt ngược ra trước che phủ mặt trên bàngquang, tạo nên túi cùng bàng quang tử cung
- Mặt sau trên được đặt tên là mặt ruột, vì liên quan với ruột non và đại tràngsigma, ở đây phúc mạc che phủ đến tận phần trên âm đạo, rồi quặt ngược ra sau chephủ trực tràng, tạo nên túi cùng tử cung trực tràng
Hai mặt của tử cung liên tiếp phía trên bởi đáy tử cung và gặp nhau ở hai bên và tạonên bờ phải và bờ trái, đây là chổ bám của dây chằng rộng Động mạch tử cung chạysong song với bờ tử cung trong hai lá của dây chằng rộng Bờ và đáy tử cung gặpnhau ở góc bên, đây là nơi nối tiếp với vòi tử cung và là nơi bám của dây chằng tròn
tử cung và dây chằng riêng buồng trứng
- Phần âm đạo nhìn như một mỏm cá mè Ở đỉnh mỏm là lỗ tử cung, lỗ được giớihạn phía trước, phía sau bằng mép trước và mép sau
35
Trang 36Câu 16: Mô tả động mạch cảnh ngoài: nguyên ủy, đường đi, nhánh bên và
cổ lồi cầu xương hàm dưới, động mạch tận cùng bằng 2 nhánh động mạch hàm trên và động mạch thái dương nông
Nhánh bên
Động mạch cảnh ngoài tách ra 6 nhánh bên:
- Động mạch giáp trên phát sinh từ mặt trước động mạch cảnh ngoài, tựa vaò cơ khít hầu
dưới đến cực trên tuyến giáp, đi kèm với thần kinh thanh quản trên Động mạch giáp trên cho các nhánh dưới móng, nhánh ức đòn chũm, động mạch thanh quản trên, nhánh nhẫn giáp và 2 nhánh tận đến cực trên tuyến giáp là nhánh trước và nhánh sau
- Động mạch lưỡi phát sinh từ mặt trước động mạch cảnh ngoài, tựa vào cơ khít hầu giữa,
lộ trình uốn hình sin hướng lên trên và ra trước Động mạch lưỡi cho các nhánh trên móng,
động mạch dưới lưỡi, các nhánh lưng lưỡi và động mạch lưỡi sâu
- Động mạch mặt phát sinh từ mặt trước động cảnh ngoài, tựa vào cơ khít hầu giữa và trên, sau đó hướng ra ngoài giữa bụng sau cơ 2 thân, cơ trâm móng và tuyến nước bọt dưới hàm
ở trong và cơ chân bướm trong ở ngoài Tiếp theo động mạch uốn theo bờ dưới thân xương hàm dưới để lên mặt tạo thành đường đi giống như chữ S nằm ngang Nó có thể chung thân với động mạch lưỡi, tạo thành thân lưỡi mặt Động mạch mặt cho các nhánh động mạch khẩu cái lên, nhánh hạnh nhân, động mạch dưới cằm, các nhánh tuyến, động mạch môi dưới, động mạch môi trên và tận cùng bằng động mạch góc ở đầu trong mắt
- Động mạch hầu lên phát sinh từ chỗ phân đôi của động mạch cảnh chung, đi lên nền sọ, tựa vào các cơ khít hầu dưới, giữa và trên Bên ngoài động mạch hầu lên là động mạch cảnhtrong Động mạch hầu lên cho các nhánh động mạch màng não sau, các nhánh hầu và động mạch nhĩ dưới
- Động mạch chẩm phát sinh từ mặt sau động mạch cảnh ngoài, hướng về phía mỏm chũm, động mạch chẩm cho các nhánh chũm, nhánh tai, các nhánh ức đòn chũm, các nhánh chẩm
và nhánh xuống
- Động mạch tai sau phát sinh từ mặt sau động mạch cảnh ngoài, thường ngang với bờ trên
bụng sau cơ 2 thân và đi theo bờ này lên mỏm chũm, qua sau tai đến da đầu, động mạch đi kèm với thần kinh tai sau, nhánh của thần kinh mặt Động mạch tai sau cho các nhánh độngmạch trâm chũm, động mạch nhĩ sau, nhánh tai và nhánh chẩm
Trang 37Động mạch cảnh ngoài cho 2 nhánh cùng là động mạch thái dương nông và động mạch hàm.
Ðộng mạch thái dương nông: bắt đầu từ phía sau cổ hàm dưới chạy lên trên, vượt qua mặt nông của mỏm gò má (nên có thể bắt được mạch của động mạch này ở ngay trước lỗ ống tai ngoài), chạy lên trên cung cấp máu cho vùng thái dương và vùng đỉnh
Ðộng mạch hàm: bắt đầu từ cổ hàm dưới, động mạch chạy về phía trước đến hố chân bướmkhẩu cái, dựa vào cơ chân bướm ngoài, ta chia động mạch hàm làm 3 đoạn: đoạn 1 trước khi bắt ngang, đoạn 2 bắt ngang, đoạn thứ 3 sau khi bắt ngang cơ này Động mạch hàm phân ra nhiều nhánh nuôi phần sâu của vùng mặt, động mạch hàm cho một nhánh nuôi màng não quan trọng là nhánh động màng não giữa đi qua lỗ gai vào hố sọ giữa, đây là động mạch hay tổn thương khi chấn thương sọ não gây nên máu tụ ngoài màng cứng
37
Trang 38Câu 17: Mô tả các lớp vỏ nhãn cầu.
Nhãn cầu có 3 lớp từ ngoài vào trong là:
Phía trước tiếp tục với giác mạc, có kết mạc che phủ
Mặt trong nhìn về phía trục của nhãn cầu, có màu nâu do có nhiều tế bào sắc tố, gọi là sắc tố củng mạc
1.2 Giác mạc
Trong suốt, chiếm 1/6 trước nhãn cầu có đường kính 12mm
Mặt trước lồi, mặt sau lõm Phần trung tâm gọi là đỉnh giác mạc dày 0,5mm, cònphần ngoại biên dày 1mm Nối với củng mạc ở rãnh củng mạc Trong rảnh cóxoang tĩnh mạch củng mạc
Cấu tạo của nhãn cầu (thiết đồ ngang)
1 Giác mạc 2 Kết mạc 3 Thấu kính 4 Thể thủy tinh 5 Củng mạc
Trang 391.3 Mạch máu
Động mạch đến củng mạc từ động mạch mi ngắn và động mạch mi trước Còn giác mạc là vùng vô mạch, sống nhờ sự thẩm thấu
2 Lớp mạch
Lớp mạch lót gần như toàn bộ mặt trong của củng mạc, đến phần trước (gần chỗnối củng - giác mạc) thì tách ra, chạy vào trục nhãn cầu theo một mặt phẳng vuônggóc với trục Từ sau ra trước, có 3 phần: màng mạch, thể mi và mống mắt
2.1 Màng mạch
Màng mạch là một màng mỏng, che phủ phần lớn mặt trong củng mạc Có hai mặt:mặt ngoài màu nâu, mặt trong màu đen Có một lỗ phía sau cho thần kinh thị giác điqua
Chức năng chính là nuôi dưỡng và tạo buồng tối cho nhãn cầu
2.2 Thể mi
Thể mi là phần dày lên của màng mạch, nối liền màng mạch với mống mắt, được phủ bởi một tầng sắc tố thể mi
Cắt đứng dọc qua nhãn cầu, thể mi có hình tam giác mà đỉnh ở phía sau, đáy hướng
về trục của nhãn cầu Thể mi được cấu tạo gồm cơ thể mi và mõm mi, có nhiệm vụđiều tiết thấu kính:
- Cơ thể mi: gồm các sợi cơ kinh tuyến (chiếm đa số) và các sợi cơ vòng
- Mõm mi: có khoảng 70 gờ nổi lên, sắp xếp theo vòng tròn phía sau mống mắt.2.3 Mống mắt
Mống mắt còn gọi là tròng đen Là phần trước của lớp mạch, có hình vành khăn, nằm theo mặt phẳng trán, ở trước thấu kính, chứa nhiều sắc tố, thay đổi theo nòi giống
Đường kính khoảng 12mm, dày 0.5mm Có hai mặt và hai bờ:
- Bờ trung tâm gọi là bờ con ngươi, giới hạn nên một lỗ là đồng tử hay con ngươi
- Bờ ngoại biên gọi là bờ thể mi
- Võng mạc thể mi: lót mặt trong thể mi, bắt đầu từ miệng thắt võng mạc
- Võng mạc mống mắt: ở mặt sau mống mắt đến bờ con ngươi
Trên võng mạc thị giác có hai vùng đặc biệt:
- Vết võng mạc hay còn gọi là điểm vàng là một vùng nằm ngay cạnh cực sau củanhãn cầu Trong vết có lõm trung tâm, là một vùng vô mạch được nuôi dưỡng bằng
39
Trang 40màng mạch, có nhiều tế bào hình nón để nhìn được các vật chi tiết và rõ nhất Đườngnối liền vật nhìn và lõm trung tâm gọi là trục thị giác của nhãn cầu.
Đĩa thần kinh thị hay điểm mù: là vùng tương ứng nơi đi vào của thần kinh thị Ởđây không có cơ quan cảm thụ ánh sáng Đĩa thần kinh thị nằm ở phía trong vàdưới so với lõm trung tâm và cực sau của nhãn cầu Ở giữa đĩa thị có hố đĩa là nơi
có mạch trung tâm võng mạc đi vào
Mạch máu cho võng mạc là động mạch trung tâm võng mạc: Nhánh của độngmạch mắt, đi theo thần kinh thị giác vào nhãn cầu ở hố đĩa, phân chia hai nhánh lên
và xuống, rồi chia nhỏ nhiều lần cho võng mạc Tĩnh mạch đi theo động mạch vàtập trung thành tĩnh mạch trung tâm võng mạc