1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của ong anisopteromalus calandrae (howard) ký sinh mọt cánh

214 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 214
Dung lượng 5,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ --- NGUYỄN THỊ OANH NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA ONG Anisopteromalus calandrae Howard KÝ SINH MỌT CÁNH CỨNG HẠI TR

Trang 1

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

-

NGUYỄN THỊ OANH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI

CỦA ONG Anisopteromalus calandrae (Howard)

KÝ SINH MỌT CÁNH CỨNG HẠI TRONG KHO

TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP

LUẬN ÁN TIẾN SỸ SINH HỌC

Hà Nội – 2019

Trang 2

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

…… ….***…………

NGUYỄN THỊ OANH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI

CỦA ONG Anisopteromalus calandrae (Howard)

KÝ SINH MỌT CÁNH CỨNG HẠI TRONG KHO

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và những kết quả nghiên cứu trong luận án này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một luận án nào

Tôi cũng xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

NCS Nguyễn Thị Oanh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án này, nghiên cứu sinh đã nhận được sự hướng dẫn khoa

học, sự chỉ bảo tận tình của PGS.TS Trần Ngọc Lân và PGS.TS Trương Xuân Lam,

những người Thầy đã giành nhiều thời gian, trí tuệ, trực tiếp dẫn dắt trong quá trình thực hiện luận án Tôi xin gửi đến các Thầy những tình cảm thiêng liêng và lòng biết

ơn sâu sắc nhất

Tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa Sinh thái Tài nguyên và Môi trường, Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã giúp đỡ tôi rất nhiều về cơ sở vật chất và thủ tục hành chính để bảo vệ luận án

Trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Giám đốc Trung tâm Phân tích Hóa học, trường Đại học Đồng Tháp đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất và thiết bị hiện đại giúp tôi thực hiện đề tài thuận lợi

Xin cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các Thầy cô giáo trong tổ bộ môn Động vật, khoa Sư phạm Lý - Hóa - Sinh, trường Đại học Đồng Tháp

Xin trân trọng cảm ơn Ban quản lý cùng các anh chị cơ quan Chi cục Bảo vệ Thực vật tỉnh Đồng Tháp, Trạm Bảo vệ Thực vật thành phố Sa Đéc, huyện Lấp Vò, đã tạo điều kiện hết sức giúp tôi trong quá trình điều tra thu thập số liệu

Cảm ơn sự hỗ trợ của đề tài cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo mã số: B2016.SPD.01

đã hỗ trợ một phần kinh phí cũng như cơ sở vật chất phục vụ cho đề tài nghiên cứu

Xin được tỏ lòng biết ơn tới bố, mẹ, anh, chị, em, chồng, con và những người thân đã hết lòng động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận án

Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

NCS Nguyễn Thị Oanh

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài……… ……… … 1

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn……… … 2

3 Mục tiêu nghiên cứu….……….……… …… 3

4 Những đóng góp mới của luận án……… ….… 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài……… ……… …… 4

1.2 Những nghiên cứu trên thế giới.……… 5

1.2.1 Nghiên cứu thành phần loài thiên địch của côn trùng trong kho ……… 5

1.2.2 Nghiên cứu về ong ký sinh Anisopteromalus calandrae 7

1.2.2.1 Đặc điểm hình thái, sinh học mọt thuốc lá là vật chủ của ong ký sinh A calandrae……….……… 7

1.2.2.2 Đặc điểm hình thái ong ký sinh Anisopteromalus calandrae 8

1.2.2.3 Tập tính của ong ký sinh Anisopteromalus calandrae………… 9

1.2.2.4 Đặc điểm sinh học của ong ký sinh Anisopteromalus calandrae…… 11

1.2.2.5 Đặc điểm sinh thái của ong ký sinh Anisopteromalus calandrae…… 14

1.2.2.6 Khả năng kiểm soát sâu mọt của ong ký sinh A calandrae……… … 20

1.3 Nghiên cứu ở Việt Nam……… ……… 25

1.3.1 Nghiên cứu thành phần loài thiên địch trong kho bảo quản nông sản 25

1.3.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh học mọt thuốc lá 25

1.3.3 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, tập tính, đặc điểm sinh thái học và khả năng kiểm soát sâu mọt của ong ký sinh A calandrae……… ………

26 CHƯƠNG 2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊNCỨU……… 27

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28

Trang 6

2.3 Nội dung nghiên cứu 28

2.4 Vật liệu nghiên cứu và dụng cụ thí nghiệm 29

2.4.1 Vật liệu nghiên cứu 29

2.4.2 Dụng cụ, thiết bị, hóa chất thí nghiệm 29

2.5 Phương pháp nghiên cứu……… 30

2.5.1 Điều tra thành phần loài thiên địch của côn trùng hại nông sản trong kho 30 2.5.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của ong ký sinh A calandrae 32

2.5.2.1 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học vật chủ của ong ký sinh A calandrae 32

2.5.2.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái ong ký sinh A calandrae 32

2.5.2.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh học ong ký sinh A calandrae……… 36

2.5.2.4 Xác định ngưỡng phát dục và tổng nhiệt hữu hiệu ……… … 39

2.5.2.5 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của ong ký sinh A calandrae…… … 40

2.5.3 Nghiên cứu khả năng khống chế sâu mọt của ong ký sinh A calandrae 43 2.5.4 Phương pháp xử lý hình ảnh, số liệu……… 46

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN……… 47

3.1 Thành phần loài thiên địch của côn trùng hại nông sản trong kho ở tỉnh Đồng Tháp ……… ……….………… 47

3.1.1 Thành phần loài thiên địch của côn trùng hại nông sản trong kho… … 47

3.1.2 Tỷ lệ bắt gặp các loài thiên địch theo chủng loại nông sản trong kho… 54

3.2 Đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của ong ký sinh A calandrae……… 57

3.2.1 Một số đặc điểm hình thái, sinh học của mọt thuốc lá - vật chủ của ong ký sinh A calandrae……… 57

3.2.2 Đặc điểm hình thái ong ký sinh Anisopteromalus calandrae……….….… 61

3.2.2.1 Đặc điểm hình thái của ong trưởng thành……… 61

3.2.2.2 Đặc điểm hình thái trứng……… 68

3.2.2.3 Đặc điểm hình thái ấu trùng……… 69

3.2.2.4 Đặc điểm hình thái tiền nhộng và nhộng……… ……… 74

3.2.3 Đặc điểm sinh học ong ký sinh A calandrae……… 76

3.2.3.1 Tập tính hoạt động của ong trưởng thành……… 77

3.2.3.2 Tập tính hoạt động sống của ấu trùng……… 87

Trang 7

3.2.3.3 Thời gian phát triển vòng đời ong ký sinh A calandrae với vật chủ

3.2.3.4 Tuổi thọ, khả năng ký sinh và sức đẻ trứng của ong ký sinh A

3.2.4.2 Ảnh hưởng của vật chủ và thức ăn bổ sung đến tuổi thọ, thời gian và

3.2.4.3 Ảnh hưởng của mật độ vật chủ đến sức đẻ trứng của ong cái A

3.3.1.2 Ảnh hưởng của mật độ thả ong ký sinh đối với tỷ lệ xuất hiện ong ký

3.3.2 Khả năng khống chế mọt thuốc lá (L serricorne) trên thức ăn nuôi cá

3.3.2.1 Sự xuất hiện mọt thuốc lá trưởng thành theo thời gian sau khi thả

3.3.2.2 Ảnh hưởng của mật độ thả ong ký sinh đối với tỷ lệ xuất hiện ong

3.3.3 Khả năng của ong ký sinh A calandrae khống chế mọt thuốc lá gây hại

3.3.3.1 Khả năng của ong ký sinh khống chế mọt thuốc lá có trong hộp nhựa

Trang 8

3.3.3.2 Khả năng của ong ký sinh khống chế mọt thuốc lá trong 5 kg thức ăn

nuôi cá ở thùng giấy carton sau khi thả ong 127

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… … 130

NHỮNG CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN LUẬN ÁN……… 132

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… …….… 134

Trang 9

Bảng 3.6 Tỷ lệ giao phối thành công và thời gian giao phối của các cặp ong

Bảng 3.7 Thời gian phát triển các pha của ong ký sinh A calandrae trên sâu

Bảng 3.8 Tuổi thọ, khả năng ký sinh và sức đẻ trứng của ong ký sinh A

Bảng 3.9 Ngưỡng phát dục và tổng nhiệt hữu hiệu của ong ký sinh A

Bảng 3.12 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tỷ lệ vũ hóa và giới tính đời con của

Bảng 3.14 Ảnh hưởng của thức ăn bổ sung đến tuổi thọ ong ký sinh A

Bảng 3.15 Ảnh hưởng của thức ăn bổ sung đến tuổi thọ và thời gian đẻ trứng

Trang 10

Bảng 3.16 Tương quan giữa mật độ sâu non vật chủ mọt thuốc lá với số vật chủ

Bảng 3.18 Ảnh hưởng của mật độ thả ong ký sinh A calandrae đến tương

Bảng 3.19 Số lượng mọt ngô xuất hiện theo thời gian thí nghiệm sau khi thả

Bảng 3.20 Tỷ lệ mọt ngô trưởng thành xuất hiện theo thời gian sau khi thả

Bảng 3.21 Tỷ lệ ong ký sinh A calandrae trưởng thành xuất hiện trên vật

Bảng 3.22 Số lượng mọt thuốc lá trưởng thành xuất hiện theo thời gian sau

Bảng 3.23 Tỷ lệ mọt thuốc lá trưởng thành xuất hiện theo thời gian sau khi

Bảng 3.24 Tỷ lệ ong ký sinh A calandrae trưởng thành xuất hiện trên vật

Bảng 3.25 Số lượng mọt thuốc lá trưởng thành xuất hiện trong 5 kg thức ăn

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 1.1 Mọt thuốc lá (Lasioderma serricorne)……… 7

Hình 1.2 Trưởng thành ong ký sinh Anisopteromalus calandrae 9

Hình 1.3 Mọt ngô (Sitophilus zeamais)……… 23

Hình 2.1 Một số dụng cụ sử dụng trong quá trình nghiên cứu……… 30

Hình 2.2 Các thông số sử dụng để đo kích thước phần đầu của trưởng thành ong cái A calandrae 33

Hình 2.3 Các thông số sử dụng để đo kích thước phần râu đầu và ngực của trưởng thành ong cái A calandrae 34

Hình 2.4 Các thông số sử dụng để đo kích thước phần cánh, bụng, chân cơ thể của trưởng thành ong cái A calandrae 35

Hình 2.5 Thí nghiệm quan sát nuôi theo dõi đặc điểm sinh học của ong ký sinh A calandrae 39

Hình 2.6 Bố trí thí nghiệm nuôi ong khống chế mọt ngô và mọt thuốc lá …… 44

Hình 2.7 Bố trí thí nghiệm thả ong ký sinh khống chế mọt theo khối lượng 45 Hình 3.1 Các loài bắt mồi trong kho nông sản bảo quản ở Đồng Tháp…… 50

Hình 3.2-1 Các loài ong ký sinh trong kho nông sản bảo quản ở Đồng Tháp 51 Hình 3.2-2 Các loài ong ký sinh trong kho nông sản bảo quản ở Đồng Tháp 52 Hình 3.3 Kích thước chiều rộng đầu sâu non các tuổi mọt thuốc lá …… 58

Hình 3.4 Đầu của sâu non mọt thuốc lá từ tuổi 1 đến tuổi 5……… 59

Hình 3.5 Trứng và sâu non mọt thuốc lá… …….……….……… 59

Hình 3.6 Nhộng mọt thuốc lá……… ……….… 60

Hình 3.7 Trưởng thành mọt thuốc lá……… ……… 61

Hình 3.8 Trưởng thành ong ký sinh A calandrae ……….….…… 63

Hình 3.9 Đầu và ngực của trưởng thành ong cái A calandrae……… … 64

Hình 3.10 Bụng của trưởng thành ong cái A calandra……… 64

Hình 3.11 Râu đầu của trưởng thành ong cái A calandrae……… … 65

Hình 3.12 Cánh của trưởng thành ong cái A calandrae……… 65

Hình 3.13 Cặp chân thứ 3 của trưởng thành ong cái A calandrae……… 66

Hình 3.14 Bụng và râu đầu của trưởng thành ong đực A calandrae………… 66

Trang 12

Hình 3.15 Trứng ong ký sinh A calandrae……… … 69

Hình 3.16 Hình thái ấu trùng tuổi 1 ong ký sinh A calandrae ……… 70

Hình 3.17 Hình thái ấu trùng tuổi 2 ong ký sinh A calandrae ……… 70

Hình 3.18 Hình thái ấu trùng tuổi 3 ong ký sinh A calandrae ……… 71

Hình 3.19 Hình thái ấu trùng tuổi 4 ong ký sinh A calandrae ………….… 72

Hình 3.20 Chiều rộng đầu các tuổi ấu trùng ong ký sinh A calandrae……… 73

Hình 3.21 Chiều dài cơ thể các tuổi ấu trùng ong ký sinh A calandrae…… 73

Hình 3.22 Chiều rộng cơ thể các tuổi ấu trùng ong ký sinh A calandrae……….… 73

Hình 3.23 Giai đoạn tiền nhộng của ong ký sinh A calandrae……… … 74

Hình 3.24 Các giai đoạn phát triển của nhộng ong ký sinh A calandrae… 75

Hình 3.25 Tỷ lệ số trứng ong ký sinh A calandrae được đẻ trên một vật chủ sâu non 77

Hình 3.26 Tập tính giao phối của ong ký sinh A calandrae 80

Hình 3.27 Một số hành vi trong quá trình giao phối của ong ký sinh A calandrae 81

Hình 3.28 Một số hành vi trong quá trình tìm kiếm vật chủ và đẻ trứng của ong ký sinh A calandrae……….… 85

Hình 3.29 Bột thức ăn nuôi cá sâu non mọt thuốc lá (a1); sâu non mọt thuốc lá nằm trong ổ thức ăn (a2); trứng ong ký sinh A calandrae trên sâu non mọt thuốc lá (b)……… 85

Hình 3.30 Tỷ lệ sâu non các tuổi và nhộng của vật chủ bị ong ký sinh 87

Hình 3.31 Hình thái các pha phát triển trong vòng đời của ong ký sinh A calandrae……….… 89

Hình 3.32 Tỷ lệ (%) số sâu non vật chủ bị ký sinh hàng ngày bởi trưởng thành ong cái A calandrae 92

Hình 3.33 Nhịp điệu đẻ trứng ong cái A calandrae……… 93

Hình 3.34 Nhịp điệu đẻ trứng của trưởng thành ong cái A calandrae theo phương trình lý thuyết 94

Hình 3.35 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tuổi thọ ong cái A calandrae…… 100

Hình 3.36 Ảnh hưởng của thức ăn bổ sung đến nhịp điệu đẻ trứng của ong cái A calandrae 105

Trang 13

Hình 3.37 Số lượng mọt thuốc lá trưởng thành xuất hiện trong hộp nhựa

đựng 100 g thức ăn nuôi cá được đặt vào mỗi thùng giấy carton sau khi thả ong

Hình 3.38 Số lượng mọt thuốc lá trưởng thành có trong 100 g thức ăn nuôi

Trang 14

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT, CÁC KÝ HIỆU

Cs.: Cộng sự

ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

L:D: (Light/Dark) – (Thời gian chiếu sáng /thời gian tối) trong ngày

* Nhóm từ, cụm từ chỉ thông số đo kích thước hình thái ong ký sinh

Anisopteromalus calandrae

Body.l: Body length (Chiều dài cơ thể)

Eye.b: Eye breadth (Chiều rộng mắt nhìn từ phía bên)

Eye.d: Eye distance (Khoảng cách mắt)

Eye.h: Eye height (Chiều cao mắt nhìn từ phía bên)

Gst.b: Gaster breadth (Chiều rộng bụng)

Gst.l: Gaster length (Chiều dài bụng)

Hea.b: Head breadth (Chiều rộng đầu)

Hea.h: Head height (Chiều cao đầu)

Msc.b: Mesoscutum breadth (Chiều rộng tấm lưng ngực giữa)

Msc.l: Mesoscutum length (Chiều dài tấm lưng ngực giữa)

Msp.l: Malar space (Chiều dài má nhìn từ phía bên)

Mss.l: Mesosoma length (Chiều dài ngực)

Mv.l: Marginal vein (Chiều dài gân mép cánh)

OOL: Shortest distance between posterior ocellus and eye margin, dorsal view (Khoảng cách mắt kép - mắt đơn phía sau)

Pdl.flg: Pedicel+flagellum (Chiều dài đốt cuống râu + phần ngọn râu)

POL: Shortest distance between posterior ocelli, dorsal view (Khoảng cách mắt đơn - mắt đơn phía sau)

Ppd.l: Propodeum length (Chiều dài đốt trước cuống bụng)

Pv.l: Postmarginal vein (Chiều dài gân sau mép cánh)

Scp.l: Scape length (Chiều dài đốt gốc râu)

Sct.l: Scutellum length (Chiều dài tấm mai)

Sv.l: Stigmal vein (Chiều dài gân mắt cánh)

Tb3.l: Metatibia (Chiều dài đốt ống chân sau)

Trang 15

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bảo quản nông sản sau thu hoạch là quá trình thứ hai sau trồng trọt của sản xuất nông nghiệp Bảo quản nông sản vừa đảm bảo dự trữ hàng hóa nông sản cho tiêu dùng, phát triển kinh tế, vừa đảm bảo hạt giống cho vụ trồng kế tiếp Trong quá trình bảo quản nông sản, riêng với côn trùng đã có nhiều loài gây hại và gây ra nhiều tổn thất

Từ trước đến nay, tổn thất sau thu hoạch luôn là vấn đề được quan tâm trong sản xuất nông nghiệp nhiệt đới Bởi nguyên nhân chính của “mất mùa trong nhà” là do sâu mọt gây hại nông sản bảo quản trong kho Mỗi năm trên thế giới mức tổn thất về lương

thực trong bảo quản khoảng 5 - 10% (Hodges et al., 2014) [1] Ở Việt Nam mức tổn

thất sau thu hoạch đối với lúa gạo dao động trong khoảng 11 - 13%, với ngô là 13 -

15% trong đó có khâu bảo quản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2009) [2] Theo tổ chức Hợp phần xử lý sau thu hoạch, ở khu vực đồng bằng sông Hồng và các

khu vực khác mức tổn thất đối với lúa là 11,6% còn với ngô là 18 - 19%, riêng ở vùng

ĐBSCL, mức tổn thất lúa là 13,7% tổng sản lượng [3]

Sản lượng lương thực như lúa, gạo, ngô, đậu, v.v của tỉnh Đồng góp phần không nhỏ khi ĐBSCL hiện nay là vùng sản xuất lương thực có hạt lớn nhất cả nước (Tổng cục Thống kê, 2017) [4] Bên cạnh đó do phương cách bảo quản, nông sản thường bị côn trùng phá hoại dẫn đến thiệt hại lớn và ảnh hưởng tới việc tiêu thụ trong nước và xuất khẩu

Để giảm thiểu những tổn thất trong bảo quản nông sản, hiện nay ở Việt Nam, biện pháp chủ yếu được sử dụng là thuốc xông hơi như Phosphine diệt sâu mọt hại

nông sản (Hoàng Trung và cs., 2004) [5] Thực tế, biện pháp này không thể tiêu diệt

hoàn toàn những loài sâu mọt gây hại chính, mà lại có thể làm phát sinh tính kháng thuốc của chúng Bên cạnh đó, các hóa chất độc hại vừa tiêu diệt côn trùng có ích, vừa

để dư lượng hóa chất trong nông sản, không an toàn với môi trường và đe dọa sức khỏe người tiêu dùng

Trên thế giới, biện pháp sử dụng kẻ thù tự nhiên để kiểm soát sâu mọt là trọng tâm của chiến lược bảo vệ nông sản an toàn Ở các nước phát triển đã có nhiều công trình nghiên cứu sử dụng các loài ký sinh thuộc bộ Cánh màng (Hymenoptera) như là

Trang 16

tác nhân kiểm soát sâu mọt thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera) gây hại nông sản bảo quản trong kho Ví dụ, một số công trình nghiên cứu đề cập đến việc sử dụng loài ong

Anisopteromalus calandrae (Howard) (Kraaz et al., 2008) [6] hay loài Lariophagus distinguendus (Forster) (Steidle et al., 2001 [7] và Niedermayer et al., 2016) [8] là

một trong những tác nhân chính trong kiểm soát nhiều loài mọt thuộc bộ Cánh cứng

như Sitophilus oryzae (Linnaeus), Sitophilus zeamais Motsch., Callosobruchus

maculatus (Fabricius), Callosobruchus chinensis (Linnaeus) và Rhyzopertha dominica (Fabricius) v.v gây hại nông sản trong kho

Hiện nay ở Việt Nam nói chung cũng như tỉnh Đồng Tháp và vùng ĐBSCL nói riêng, việc sử dụng ong ký sinh mới nghiên cứu và phát triển ứng dụng phòng chống sâu hại trên đồng ruộng Đối với phòng chống sâu hại nông sản trong kho bằng kẻ thù

tự nhiên còn hạn chế, chỉ có một vài thông báo khoa học Riêng với giống ong ký sinh

Anisopteromalus ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào được công bố

Để có cơ sở khoa học cho việc hướng tới sử dụng loài thiên địch như ong ký sinh phòng chống sâu hại nông sản trong kho ở Việt Nam, từ 2015, chúng tôi đã thực

hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của ong Anisopteromalus

calandrae (Howard) ký sinh mọt Cánh cứng hại trong kho tại tỉnh Đồng Tháp”

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

 Ý nghĩa khoa học

- Cung cấp các dẫn liệu về thành phần loài thiên địch của côn trùng hại nông

sản bảo quản trong kho tại tỉnh Đồng Tháp

- Cung cấp các dẫn liệu về đặc điểm hình thái, sinh học, một số tập tính ký

với vật

chủ sâu non mọt thuốc lá (Lasioderma serricorne)

- Cung cấp những dẫn liệu khoa học về khả năng khống chế mọt ngô

(Sitophilus zeamais) trên hạt đậu trắng và mọt thuốc lá (L serricorne) trên thức ăn nuôi cá của ong ký sinh A calandrae

 Ý nghĩa thực tiễn

- Việc đánh giá mức độ phổ biến của một số loài thiên địch giúp người dân

và những người làm công tác quản lý kho điều tra, phát hiện nhanh và chính xác sự

Trang 17

hiện diện của chúng Từ đó sử dụng biện pháp phòng trừ phù hợp nhằm không gây ảnh hưởng những loài có ích trong kho tàng

- Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái và khả năng khống chế

sâu mọt trong kho của ong ký sinh A calandrae là cơ sở khoa học để sử dụng loài

ong ký sinh này trong phòng chống sâu mọt hại nông sản, thức ăn chăn nuôi trong kho bảo quản tại tỉnh Đồng Tháp nói riêng và vùng ĐBSCL nói chung

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được thành phần loài thiên địch của côn trùng hại nông sản trong

kho tại tỉnh Đồng Tháp

- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của ong ký sinh A calandrae

- Đánh giá được khả năng khống chế mọt ngô (S zeamais) và mọt thuốc lá (L

serricorne) của ong ký sinh A calandrae trong điều kiện phòng thí nghiệm

4 Những đóng góp mới của luận án

- Lần đầu tiên cung cấp dẫn liệu về đặc điểm sinh học, tập tính, đặc điểm sinh

thái của loài ong ký sinh A calandrae với vật chủ sâu non mọt thuốc lá (Lasioderma serricorne) trên hạt thức ăn nuôi cá ở Việt Nam

- Cung cấp dẫn liệu khoa học mới về khả năng khống chế mọt ngô (Sitophilus

zeamais) trên hạt đậu trắng và mọt thuốc lá (Lasioderma serricorne) trên thức ăn

nuôi cá của ong ký sinh A calandrae trong điều kiện phòng thí nghiệm

(*) Anisopteromalus calandrae là loài ong ký sinh giết chết vật chủ, ong đẻ trứng ký sinh ở trên bề mặt cơ thể vật chủ (ký sinh ngoài) Theo tên gọi Việt Nam một số tác giả thường gọi là ong ngoại ký sinh để phân biệt với các loài ong nội ký sinh (ong đẻ trứng ký sinh bên trong cơ thể vật chủ - ký sinh trong) Tuy nhiên xuất phát từ Tiếng Anh “Parasitoid” chúng tôi thống nhất sử dụng cụm từ “ong ký sinh” đối với loài A calandrae trong toàn văn luận án

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Hầu như ở đâu có dự trữ và bảo quản nông sản, hàng hóa thì ở đó xuất hiện các loài sinh vật gây hại Nhiều khi chỉ cần sau vài tuần, sinh vật gây hại đã phát triển thành quần thể có số lượng lớn và gây ra những vụ cháy ngầm, tiêu hủy một phần hoặc hoàn toàn nông sản bảo quản trong kho (Bùi Công Hiển, 1995) [9] Sự phá hại của côn trùng đối với nông sản bảo quản trước hết phải kể đến việc làm giảm phẩm chất hoặc phá hủy làm cho nông sản bảo quản bị giảm hoặc mất hoàn toàn giá trị sử dụng (Bùi Công Hiển và Trần Huy Thọ, 2003) [10] Trong nhiều trường hợp, thiệt hại có thể rất lớn và thậm chí là vô giá

Trên thế giới, nhiều nước đã quan tâm nghiên cứu sử dụng côn trùng ký sinh

để kiểm soát sâu hại nông sản trong kho Một trong những loài ong ký sinh được

một số tác giả nghiên cứu là Anisopteromalus calandrae (Howard) Các kết quả nghiên cứu này đã đề cập đến đặc điểm sinh học, sinh thái học của ong ký sinh A

calandrae trên một số loài mọt Cánh cứng hại nông sản bảo quản trong kho

Đồng Tháp là một trong những tỉnh thuộc ĐBSCL với nhiều kho bảo quản,

dự trữ các loại nông sản như lúa, gạo, ngô, đậu, v.v Hệ thống kho và chủng loại nông sản bảo quản của tỉnh Đồng Tháp đa dạng và phong phú là điều kiện thuận lợi cho sự lây lan và phát triển nhiều loài côn trùng gây hại Kết quả điều tra của

Nguyễn Thị Oanh và cs (2016) ghi nhận, các loài gây hại thuộc bộ Cánh cứng phổ biến như mọt đậu đỏ (Callosobruchus maculatus), mọt ngô (Sitophilus zeamais), mọt thuốc lá (Lasioderma serricorne) và mọt đục hạt (Rhyzopertha dominica) [11]

Tuy nhiên hiện nay, ở Việt Nam nói chung hay ở Đồng Tháp nói riêng chủ yếu sử dụng thuốc hóa học độc hại để phòng trừ, việc nghiên cứu côn trùng ký sinh các loài sâu hại trong kho bảo quản nông sản lại chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức Do vậy, để hòa nhập với xu thế phát triển trên thế giới và đáp ứng thực tiễn

của địa phương, việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài ong ký sinh A

calandrae là cơ sở khoa học cho việc áp dụng biện pháp phòng trừ sinh học Mục

đích nghiên cứu là hướng tới sử dụng thiên địch trong phòng trừ sâu hại nhằm đem lại nông sản an toàn cho người và động vật sử dụng

Trang 19

1.2 Những nghiên cứu trên thế giới

1.2.1 Nghiên cứu thành phần loài thiên địch của côn trùng trong kho

Ở nhiều nước trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu về thành phần loài thiên địch của côn trùng gây hại nông sản bảo quản trong kho Chẳng hạn ở Hawaii, Lebeck (1991) đã thống kê có 22 loài thiên địch, trong đó có 2 loài bắt mồi thuộc họ Ampulicidae và 20 loài ong ký sinh thuộc họ Evaniidae (8 loài), Pteromalidae (1 loài), Eupelmidae (3 loài), Encyrtidae (1 loài) và Eulophidae (7 loài) [12]

loài ong ký sinh của côn trùng hại kho, trong đó có 3 loài thuộc họ Pteromalidae, 3 loài thuộc họ Bethylidae và 1 loài thuộc họ Braconidae [13] Nhóm tác giả cũng đã

đánh giá loài ong ký sinh A calandrae chiếm tỷ lệ bắt gặp cao (41,7%) trong tổng

số các loài ghi nhận được

Với sự có mặt của loài A calandrae trong 9 loài ong ký sinh thuộc 4 họ

(Encyrtidae, Eulophidae, Bethylidae và Pteromalidae) cũng được Helbig (1998) công bố khi nghiên cứu các loài ong ký sinh sâu mọt trên các cửa hàng ngô tại miền Nam châu Phi Nghiên cứu, thu thập trong 3 mùa (1988 - 1990) tại các địa điểm

khác nhau, tác giả nhận thấy 2 loài ong ký sinh A calandrae và Theocolax elegans

(Westwood) bắt gặp thường xuyên hơn so với các loài còn lại [14]

Eliopoulos et al (2002) lần đầu tiên tại Hy Lạp đã công bố 16 loài ong ký

sinh sâu mọt trong kho thuộc 5 họ Kết quả ghi nhận, họ Pteromalidae có 6 loài

(gồm cả loài A calandrae), họ Bethylidae có 6 loài, họ Braconidae có 2 loài, họ

Ichneumonidae và Trichogrammatidae mỗi họ có 1 loài Nghiên cứu này được tiến hành trên ngũ cốc, bột, đậu, thuốc lá và quả khô bảo quản với số lượng khác nhau tại các cơ sở lưu trữ và cửa hàng gia đình Tỷ lệ ong ký sinh bắt gặp cao nhất trong kho bảo quản quả khô, thuốc lá và bột Trong nghiên cứu, nhóm tác giả đã đánh giá

độ bắt gặp các loài giảm dần theo tứ tự: ong A calandrae, Holepyris sylvanidis (Brèthes), Theocolax elegans (Westwoo), Venturia canescens (Gravenhorst),

Habrobracon hebetor Say, và Cephalonomia tarsalis (Ashmead) [15]

Từ kết quả điều tra trên gạo tại Thái Lan, Hayashi et al (2004) đã thống kê

có 29 loài bắt mồi và mô tả nhận dạng 19 loài ong ký sinh côn trùng hại nông sản

trong kho, trong đó có ong ký sinh A calandrae [16] Khóa định loại bằng hình vẽ

Trang 20

mô phỏng rõ nét đến họ, giống và loài của nhóm ong ký sinh cũng được đưa ra trong nghiên cứu này

Asl et al (2009) khảo sát trong hai năm (2006-2007) tại 50 kho bảo quản

thuộc vùng ngoại ô Mashhad, Iran đã ghi nhận thành phần loài thiên địch của côn trùng hại trên các loại như lúa mì, ngô, gạo, đậu và các loại trái cây, hạt khô Nhóm

tác giả thu được 5 loài ong ký sinh gồm: Habrobracon hebetor (Say) thuộc họ

Anisopteromalus calandrae, Theocolax elegans (Westwood) thuộc họ Pteromalidae

và Venturia canescens (Gravenhorst) thuộc họ Ichneumonidae Trong 5 loài ong ký sinh nói trên loài A calandrae được bắt gặp với tỷ lệ 58,14% và C tarsalis 28,58% cao hơn các loài còn lại Các tác giả cũng ghi nhận ong ký sinh A calandrae có thể

ký sinh trên 5 loài vật chủ như mọt đậu đỏ (C maculatus), mọt đậu nành (Acanthocelides obtectus), mọt răng cưa (Oryzaephilus surinamensis), mọt Sitophilus

granarius (Linnaeus) và mọt Sitophilus sp Nhóm tác giả đánh giá sự xuất hiện của

các loài ong ký sinh sẽ có tiềm năng trong việc khống chế côn trùng hại sản phẩm bảo quản tại các kho ở ngoại ô Mashhad [17]

Khi điều tra thành phần loài ong ký sinh sâu mọt trong kho tại Iran, Lotfalizadeh và Hosseini (2012) đã thu được 10 loài, trong đó có 2 loài thuộc họ

Bethylidae, 6 loài thuộc họ Pteromalidae (kể cả loài A calandrae) và 2 loài thuộc

họ Braconidae [18]

Một nghiên cứu khác cũng tại Iran đã điều tra các loài ong ký sinh của sâu mọt trên nông sản dự trữ và vật chủ của chúng ở tỉnh Golestan trong năm 2010 Kết quả

đã thu thập và xác định có 7 loài ong ký sinh thuộc 5 họ trên 10 loại nông sản bảo

quản, trong đó phổ biến là loài ong ký sinh A calandrae (Eyidozehi et al., 2013) [19]

Imamura et al (2014) đã điều tra côn trùng gây hại sản phẩm dự trữ và kẻ

thù tự nhiên của chúng bằng các bẫy mồi nhử là hạt gạo nâu trong 5 cơ sở bảo quản chế biến và 2 kho hạt ở nhiệt độ thấp nằm ở phía tây nam của Ibaraki (Nhật Bản)

Nhiều cá thể của ong ký sinh A calandrae và Lariophagus distinguendus (Forster) thu được từ bẫy mồi Hai loài ong này đã ký sinh ấu trùng mọt ngô (S zeamais) trên

gạo nâu đặt trong bẫy mồi [20]

Trang 21

Theo Diaz và Costa (2014), loài ong ký sinh A calandrae được ghi nhận đầu

tiên ở Paraguay Loài ong ký sinh này được phát hiện trên ngô hạt bị hư hỏng do

mọt ngô (S zeamais) và mọt răng cưa (O surinamensis) [21]

1.2.2 Nghiên cứu về ong ký sinh Anisopteromalus calandrae

1.2.2.1 Đặc điểm hình thái, sinh học mọt thuốc lá là vật chủ của ong ký sinh A calandrae

Mọt thuốc lá (L serricorne) là một trong những loài vật chủ ưa thích của ong

ký sinh A calandrae Đặc điểm hình thái của mọt thuốc lá cũng được một số tác giả

quan tâm nghiên cứu Trên thức ăn là thuốc lá khô, Ashworth (1993) mô tả trứng mọt thuốc lá có chiều dài 0,4 - 0,5 mm, rộng 0,2 mm Trứng nở trong vòng 6 - 8 ngày, vỏ trứng thường bị ăn bởi ấu trùng mới nở Trước khi hóa nhộng giai đoạn ấu trùng có 4 tuổi, ấu trùng tuổi 1 thường có chiều dài nhỏ hơn 1 mm, cơ thể được phủ nhiều lông

Ấu trùng khi đạt trọng lượng 2,5 - 4,5 mg có chiều dài 4,5 mm [22]

Theo Ryan (1999), mọt thuốc lá có phổ thức ăn khá phong phú với trên 50 loại sản phẩm nông sản khác nhau Trưởng thành mọt thuốc lá có chiều dài cơ thể là

2,0 - 3,7 mm [23] Nghiên cứu của Cabrera (2001) mô tả mọt thuốc lá có kích thước

khoảng 2 - 3 mm và có màu nâu đỏ, cánh được bao phủ bởi lớp lông Khi có va chạm, cơ thể thực hiện động tác co chân, thụt đầu và nằm bất động giả chết Ấu trùng màu trắng và phủ nhiều lông [24]

Nghiên cứu của Arbogast et al (2002) cho thấy trưởng thành mọt thuốc lá có

màu nâu đỏ, thân hình tròn hoặc bầu dục, cánh được bao phủ bởi lớp lông cứng,

kích thước mọt dài trung bình 2 - 3 mm [25]

Hình 1.1 Mọt thuốc lá (Lasioderma serricorne) (Nguồn: Cabrera, 2001) [24]

Ashworth (1993) đã xác nhận, thời gian vòng đời của mọt phụ thuộc vào

C nhưng chỉ kéo dài 28

Trang 22

ngày ở nhiệt độ 32oC Kết quả nghiên cứu của Ryan (1999) cho thấy ở nhiệt độ 30 ±

13 ± 3 ngày, nhộng 8 ± 3 ngày và trưởng thành 17 ± 1 ngày Thời gian vòng đời của mọt trung bình là 44 ± 1 ngày [23]

Visarathanonth (1985) cho biết vòng đời của mọt thuốc lá đạt 56,35 ngày khi nuôi với thức ăn là bột lúa mì; 61,5 ngày với thức ăn là bột cari và 66,2 ngày với thức ăn là đậu nành [26] Nghiên cứu của Cabrera (2001) ghi nhận thời gian phát triển vòng đời mọt thuốc lá là 26 ngày ở nhiệt độ 37°C và 120 ngày ở 20°C Ở điều kiện nhiệt độ 17°C vòng đời mọt phát triển chưa hoàn thiện, cá thể trưởng thành có thể chết khi ở nhiệt độ 4°C trong vòng 6 ngày [24]

Theo kết quả nghiên cứu của Mahroof và Phillips (2008), thời gian phát triển trung bình của mọt thuốc lá ở giai đoạn trứng là 4,8 ngày, ấu trùng 38 ngày, nhộng 4,6 ngày khi nuôi với thức ăn là bột mì Trên ớt ngọt thời gian phát triển trung bình của mọt thuốc lá ở giai đoạn trứng là 5 ngày, ấu trùng 73 ngày và nhộng là 18,3 ngày Theo các tác giả, sức đẻ trứng của mọt thuốc lá cũng bị ảnh hưởng bởi thức ăn Kết quả cho thấy, khi nuôi mọt với thức ăn là bột lúa mì thì trưởng thành cái mọt thuốc lá đẻ trung bình được 52,4 ± 4,8 quả trứng; còn khi nuôi trên xì gà (dạng thuốc lá sấy khô bó và quấn chặt thành bó) thì trưởng thành cái đẻ trung bình được 5,8 ± 0,8 quả trứng [27]

1.2.2.2 Đặc điểm hình thái ong ký sinh Anisopteromalus calandrae

Đặc điểm hình thái loài ong ký sinh A calandrae được ghi nhận trong một vài nghiên cứu Hayashi et al (2004) đã cung cấp khóa định loại bằng hình vẽ của 19

loài ong ký sinh, đồng thời đã mô tả đặc điểm hình thái của chúng Trong công trình

này với loài ong ký sinh A calandrae, nhóm tác giả mô tả một số đặc điểm cấu tạo,

màu sắc của trưởng thành được mô tả như: cặp chân thứ ba có đốt háng màu đen, đốt chuyển màu vàng, đốt đùi màu nâu hoặc đen, bàn chân có 5 đốt; phần gốc bụng của

trưởng thành đực có màu trắng sữa [16]

Trang 23

Ong đực Ong cái

Hình 1.2 Trưởng thành ong ký sinh Anisopteromalus calandrae

(Nguồn: Chaisaeng, 2007) [28]

Baur et al (2014) đã mô tả những đặc điểm hình thái chi tiết của giống ong

Anisopteromalus Các bộ phận cơ thể của ong ký sinh A calandrae được mô tả và so

sánh với các loài khác thuộc cùng giống như cấu tạo râu đầu của trưởng thành cái có 3 đốt vòng còn râu đầu của trưởng thành đực có 2 đốt vòng; ở cánh trước của ong phần dưới mắt cánh không có lông cứng; đốt bụng thứ nhất có mép sau cong ngược về phía

trước, đốt bụng thứ hai gần như thẳng Các tỷ lệ số đo hình thái của ong ký sinh A

calandrae trên các bộ phận cơ thể như râu đầu, đầu, ngực, bụng, chân, … của ong cái

cũng được đo với tỷ lệ trong khoảng cho phép khi so sánh với loài khác cùng giống [29]

1.2.2.3 Tập tính của ong ký sinh Anisopteromalus calandrae

Tập tính của ong ký sinh luôn là vấn đề lý thú và cần thiết trong nghiên cứu mối quan hệ giữa ký sinh và vật chủ, như tập tính ghép đôi (hành vi giao phối), tập tính tìm kiếm vật chủ, tập tính lựa chọn vật chủ thích hợp hay tập tính đẻ trứng ký sinh Nghiên cứu tập tính của ong ký sinh cũng là cơ sở khoa học để sử dụng ong trong biện pháp phòng trừ sinh học, hạn chế sâu mọt gây hại

Khi nghiên cứu ong ký sinh A calandrae với các loài sâu mọt trên hạt ngũ cốc

trong phòng thí nghiệm Sayaboc và Dungan (1994) đã mô tả một số hành vi tìm kiếm vật chủ và đẻ trứng của ong dựa trên quan sát sự tiếp xúc của ong với sâu non

mọt gạo (S oryzae) Sau khi giao phối, ong cái A calandrae tiếp xúc với vật chủ

trong hạt thường có những hành vi như: di chuyển chậm trên bề mặt hạt; đánh trống bằng đôi râu; tìm kiếm vật chủ; khoan vào hạt; châm chích vật chủ, đẻ trứng; nghỉ

Trang 24

ngơi và vệ sinh cơ thể Trung bình trong một ngày, ong cái dành 87% thời gian cho việc đẻ trứng và các hoạt động liên quan, còn lại là nghỉ ngơi và ăn thêm [30]

Onodera et al (2002) cho rằng chất kairomon (một dạng tín hiệu thông tin

hóa học khác loài) tiết ra từ vật chủ đã thu hút và kích thích hành vi châm chích của

ong ký sinh A calandrae trên vật chủ sâu non mọt đậu xanh (C chinensis) Chất

kairomon được chiết xuất từ sâu non vật chủ bằng aceton Chất kairomon là một hỗn hợp của các triacylglycerol và axit béo, nhưng từng chất trong số đó có tác dụng hoạt động riêng biệt và không có tác dụng kết hợp giữa chúng Người ta còn biết những hợp chất là thành phần của một pheromon đánh dấu đẻ trứng vào sâu non vật chủ mọt đậu Tuy nhiên, chúng khác nhau từ các hydrocarbon no và

diacylglycerol của kairomon so với ong ký sinh Dinarmus basalis Rondani trên vật chủ mọt đậu xanh Do đó, có thể thấy ong ký sinh A calandrae và D basalis đã

chọn lọc sử dụng các chất thông tin hóa học có thành phần khác nhau để tìm ký chủ

đẻ trứng [31]

Sự lựa chọn vật chủ của ong ký sinh A calandrae đã được Smith et al (1993) nghiên cứu Các tác giả đã đánh giá sự ưu tiên kích thước vật chủ sâu non mọt ngô (S

zeamais) của ong ký sinh A calandrae với sự phân bố tuổi đồng đều Thế hệ đầu tiên

của ong ký sinh A calandrae thu thập từ hạt ngô bảo quản ở Carolina được tiếp xúc

với một hỗn hợp tất cả các kích thước của sâu non mọt ngô (sâu non có phân bố độ tuổi đồng đều trong hạt ngô) Tỷ lệ 87% ong đẻ trứng ký sinh trên sâu non trong hạt

có đường kính khe hở của hạt là 0,9 - 1,8 mm và 6% trên tiền nhộng và nhộng trong

sự phân bố kích thước vật chủ này Ong ký sinh A calandrae ưa thích nhất với sâu

non vật chủ lớn (đường kính ngang thân là 1,6 mm), ưa thích trung bình với sâu non

có đường kính ngang thân trong khoảng 0,9 - 1,8 mm và ít ưa thích nhất là nhộng và sâu non vật chủ có kích thước nhỏ hơn 0,9 mm [32]

Kazemi et al (2008) đã sử dụng phương pháp thí nghiệm lựa chọn và không

lựa chọn vật chủ để đánh giá mức độ ưa thích vật chủ ký sinh của ong Kết quả cho thấy trong điều kiện được lựa chọn, ong ưa thích ký sinh các sâu non tuổi 4 hơn so với tuổi khác Còn trong điều kiện không được lựa chọn vật chủ, chúng ưa thích ký sinh cả sâu non tuổi 4 và nhộng [33]

Belda và Riudavets (2010) thiết kế thí nghiệm dạng kiểu ống chữ Y để đánh giá khứu giác của ong ký sinh, với nông sản bảo quản là hạt gạo nâu và hạt lúa mì

Trang 25

Vật chủ thí nghiệm là sâu non tuổi cuối và trưởng thành các loài mọt gồm mọt gạo

(S oryzae), mọt đục hạt (R dominica), mọt Tribolium confusum (Du Val, 1863) và mọt thuốc lá (L serricorne) Kết quả cho thấy, ong ký sinh A calandrae ưa thích ký

sinh sâu non tuổi cuối của các loài mọt này đồng thời tìm kiếm vật chủ bằng sự bắt mùi của ngũ cốc và các sản phẩm bảo quản [34]

Sitthichaiyakul và Amornsak (2014) đã thử nghiệm trên các silo chứa gạo

nâu nhiễm ấu trùng mọt ngô (S zeamais) thấy rằng ong ký sinh A calandrae có khả

năng kiểm soát tốt sự phát triển của sâu non mọt ngô ở cả 4 tầng chứa hạt của silo lần lượt là 0 cm; 5,5 cm; 11,0 cm và 14,5 cm trong đó ong ưa thích đẻ trứng ký sinh trên tầng silo có độ cao 14,5 cm [35]

Nhìn chung, cho đến nay tập tính của ong ký sinh A calandrae còn ít được

quan tâm nghiên cứu

1.2.2.4 Đặc điểm sinh học của ong ký sinh Anisopteromalus calandrae

Nghiên cứu của Assem et al (1984) đã sử dụng sâu non mọt Sitophilus

granarius (Linnaeus, 1875) là vật chủ của ong ký sinh A calandrae Thí nghiệm nhằm

đánh giá ảnh hưởng của chất lượng vật chủ đến tỷ lệ giới tính của ong ký sinh ở nhiệt

kích thước vật chủ Trên vật chủ tuổi lớn số ong đực được sinh ra ở thế hệ con thấp hơn

so với ong cái, còn trên vật chủ tuổi nhỏ, số lượng ong đực được sinh ra cao hơn Sự khác biệt này là do một số lượng lớn ong cái nở ra từ trứng được đẻ trên các vật chủ tuổi lớn và rất ít trên vật chủ tuổi nhỏ sau mỗi khoảng thời gian 24 giờ thí nghiệm [36]

Kết quả nghiên cứu của Ahmed et al (1996) tại Arabia Saudi cho thấy, loài ong ký sinh A calandrae như là một tác nhân kiểm soát sinh học đối với sâu non của mọt đục hạt (R dominica) Ong ký sinh A calandrae được nuôi trong phòng thí

nghiệm trên vật chủ sâu non mọt đục hạt Thời gian pha trứng là 36 giờ ở 26°C và 27 giờ ở 30°C Các giai đoạn ấu trùng kéo dài 6,9 và 5,4 ngày; giai đoạn tiền nhộng 23,6

và 17,8 giờ và nhộng 5,4 và 4,6 ngày, tương ứng ở 26°C và 30°C Thời gian phát triển từ trứng đến trưởng thành trung bình là 18,9 và 14,6 ngày, tương ứng ở 26°C và 30°C Tỷ lệ giới tính đời con trong phòng thí nghiệm 2,3♀:1♂ Ở nhiệt độ 26°C một trưởng thành cái đẻ trung bình mỗi ngày là 6,7 trứng và đẻ được tổng số trứng là 150,4 trứng; còn ở nhiệt độ 30°C trung bình mỗi ngày đẻ được 8,3 trứng và tổng số trứng đẻ được là 132,6 trứng Trưởng thành cái và trưởng thành đực ong ký sinh khi

Trang 26

cho ăn mật ong sống được 32,6 ngày ở nhiệt độ 26°C và 25,5 ngày ở nhiệt độ 30°C

Tỷ lệ ký sinh trong phòng thí nghiệm là 69,5; 43,3; 30,1; 16,8 và 0, tương ứng với vật

chủ là R dominica, S granarius, Bruchus rufimanus Boheman, Trogoderma

granarium Everts và O surinamensis Kết quả quan sát thực tế cho thấy hoạt động

ký sinh diễn ra từ tháng 2 đến tháng 11 và đạt tới đỉnh cao vào tháng 7 với tỷ lệ ký sinh 59,3% trên vật chủ mọt đục hạt [37]

Jungyoun et al (2004) đã nghiên cứu quan hệ giữa vật chủ mọt gạo (Sitophilus oryzae) và ong ký sinh A calandrae Nghiên cứu đã đánh giá về kích

thước cơ thể ở thế hệ con ong ký sinh và tuổi thọ cũng như khả năng giao phối của chúng Kết quả cho thấy tuổi thọ của ong ký sinh không ảnh hưởng đến kích thước

cơ thể của ong cái và ong đực Ở nhiệt độ 28 ± 1°C, độ ẩm 75 ± 5% tuổi thọ trung bình của trưởng thành ong cái có kích thước nhỏ là 15,3 ± 6,14 ngày và có kích thước lớn là 15,9 ± 4,16 ngày Tương tự, đối với trưởng thành ong đực có kích thước cơ thể nhỏ, tuổi thọ kéo dài 5,4 ± 1,9 ngày và 6,0 ± 2,3 ngày với trưởng thành

có kích thước lớn hơn Số cá thể ở đời con được sinh ra bởi trưởng thành cái có kích thước lớn cao gấp hai lần so với trưởng thành cái có kích thước nhỏ hơn (80,9 ± 5,78 so với 37,4 ± 3,16 cá thể) Ong đực có kích thước lớn có số lần giao phối nhiều gấp đôi so với ong đực có kích thước nhỏ hơn (19,2 ± 3,8 cá thể cái so với 8,1 ± 3,8

cá thể cái) Trong trường hợp được lựa chọn ngẫu nhiên, số cá thể ở thế hệ con sinh

ra không khác nhau khi ong cái có kích thước lớn giao phối với ong đực có kích thước lớn hoặc nhỏ hơn (thế hệ con 132,8 ± 9,81 cá thể so với 132,5 ± 7,41 cá thể) Trong khi ong cái có kích thước cơ thể nhỏ giao phối với ong đực có kích thước lớn hoặc nhỏ hơn thì sinh ra thế hệ con lần lượt tương ứng 70,4 ± 13,72 cá thể và 54,07

± 6,17 cá thể [38]

Kazemi et al (2008) nghiên cứu trong điều kiện phòng thí nghiệm ở nhiệt độ 25

± 1ºC và chế độ chiếu sáng L:D là 16:8 giờ Nhóm tác giả đề cập đến các thông số sinh

học của A calandrae khi ký sinh trên mọt đậu đỏ (C maculatus) hại hạt đậu xanh (độ

thủy phần hạt 20 ± 5%) Kết quả cho thấy, giai đoạn phát triển trước trưởng thành của

ong A calandrae kéo dài 19,82 ± 0,038 ngày và thời kỳ trước đẻ trứng của ong cái rất

ngắn, đẻ trứng ngay sau khi vũ hóa Thời gian sinh sản và sau sinh sản tương ứng là 25,12 ± 1,98 và 1,75 ± 0,28 ngày Tuổi thọ ong trưởng thành là 26,69 ± 1,98 ngày Trung bình một ong cái sinh ra số cá thể ở đời con với tổng số là 240 ± 28,51 cá thể [33]

Trang 27

Kết quả nghiên cứu của Visarathanonth et al (2010) với ong ký sinh A

calandrae tại Thái Lan Nhóm tác giả đã cung cấp thêm một số đặc điểm sinh học

của ong ký sinh A calandrae và xác định khả năng kiểm soát sâu mọt gây hại thóc

dự trữ của loài ong này Thí nghiệm được tiến hành theo dõi giữa ong ký sinh và vật

thấy giai đoạn trứng nở là 1 ngày; ấu trùng 4,1 ± 0,7 ngày; nhộng 6,3 ± 0,9 ngày và trưởng thành có tuổi thọ là 9,6 ± 1,0 ngày Thời gian từ trứng đến trưởng thành là 11,4 ngày Một ong cái sản sinh ra thế hệ con trung bình 37 ± 14 cá thể cái và 42 ±

14 cá thể đực với tổng số 79 ± 13 cá thể Thời gian đẻ trứng là 11 ngày với đỉnh cao

12 ± 5 quả trứng vào ngày thứ 5 Tỷ lệ giới tính của ong ký sinh (cái: đực) là 0,88:

1 Sâu non mọt ngô nuôi trên gạo nâu vào 21 ngày tuổi cho năng suất đẻ trứng của ong cao nhất (65 ± 17 quả trứng) Ở các lứa tuổi sâu non là 19, 23, và 25 ngày tuổi, sức đẻ trứng của ong cái giảm lần lượt tương ứng còn 57 ± 17, 56 ± 21 và 40 ± 22 quả trứng [39]

Một nghiên cứu khác của Kazemi et al (2010) về sức đẻ trứng và sự tăng trưởng quần thể của ong ký sinh A calandrae ký sinh sâu non tuổi 4 loài mọt đậu

độ chiếu sáng L:D là 16:8 giờ Kể từ khi trứng ký sinh được đẻ trên sâu non vật chủ sống bên trong hạt, tỷ lệ trứng nở được xem là 1 (100%) Số lượng trứng trung bình mỗi ong cái có thể đẻ được trong một ngày là 11,5 quả [40]

Narongplian et al (2011) nghiên cứu vòng đời của ong ký sinh A calandrae

trên sâu non của loài mọt ngô trong điều kiện phòng thí nghiệm, nhiệt độ 25,68 ± 1,14°C; độ ẩm 59,34 ± 5,31% và chế độ chiếu sáng L:D là 12:12 giờ Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian vòng đời từ trứng đến giai đoạn trưởng thành là 13,8 ± 0,41 ngày Giai đoạn ấu trùng là 5,8 ± 0,41 ngày, nhộng là 7 ± 0,65 ngày Tuổi thọ của trưởng thành là 12,4 ± 1,05 ngày [41]

Nghiên cứu của Mobarakian et al (2014) về nhiệt độ ngưỡng phát dục và tổng nhiệt hữu hiệu của ong ký sinh A calandrae với vật chủ mọt đậu đỏ (C

maculatus) Kết quả cho thấy ngưỡng phát dục thấp nhất và tổng nhiệt hữu hiệu

Trang 28

1.2.2.5 Đặc điểm sinh thái của ong ký sinh Anisopteromalus calandrae

Các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến loài ong ký sinh A calandrae được quan

tâm nghiên cứu như sự tương tác của ong ký sinh và vật chủ, sự cạnh tranh của ong

ký sinh A calandrae với các loài ong ký sinh khác; ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá

trình phát triển cũng như phản ứng chức năng của ong Ngoài ra còn có ảnh hưởng của thức ăn của vật chủ và mật độ vật chủ lên quần thể ong, ảnh hưởng của thức ăn

bổ sung đến tuổi thọ của ong, v.v…

Arbogast và Mullen (1990) đã công bố kết quả nghiên cứu về sự tương tác

giữa mọt ngô (S zeamais) và ong ký sinh A calandrae trong khối lượng lớn ngô bảo

quản ở Georgia Hàng tháng thu thập trưởng thành mọt ngô và ong ký sinh, trong đó ong cái và ong đực được kiểm tra cụ thể Tại mỗi thời điểm thu mẫu tiếp tục thả nuôi mọt ngô và ong ký sinh trên gạo dạng hạt trong vòng 1 tuần và 3 tuần ở điều kiện

thành các quần thể để theo dõi, trong đó mỗi quần thể thả ong ký sinh ở các mật độ khác nhau nhằm đánh giá mức độ kiểm soát mọt tự nhiên Kết quả kiểm tra mẫu vật chủ mọt ngô và ong ký sinh (gồm cả giai đoạn sâu non và giai đoạn nhộng) trên hạt gạo cho thấy tỷ lệ ong ký sinh phản ứng theo những thay đổi của mật độ vật chủ Cụ thể tỷ lệ ong ký sinh giảm dần vào giai đoạn cuối của thời gian thử nghiệm Các tác giả cũng đã đánh giá, tỷ lệ xuất hiện ong ký sinh cho phép dao động khi quần thể mọt gây thiệt hại đáng kể xảy ra trong suốt thời gian thử nghiệm Đồng thời tỷ lệ ong ký sinh đạt cao khi mật độ quần thể mọt cao nhất [43] Như vậy, theo nhóm tác giả, ong

ký sinh A calandrae có thể là một tác nhân kiểm soát sinh học có hiệu quả nếu như

nó được thả vào với số lượng đủ sớm trong thời gian lưu giữ sản phẩm bảo quản Điều này sẽ giúp ngăn chặn sự phát triển từ giai đoạn ban đầu của quần thể mọt Trong thời gian lưu giữ lâu dài, nếu thả bổ sung ong ký sinh sẽ đưa đến việc ngăn chặn quần thể mọt tự phục hồi, khi quần thể ký sinh sụt giảm

Wen và Brower (1995) cung cấp một số dẫn liệu về sự cạnh tranh giữa hai loài

ký sinh là A calandrae và Choetospila elegans Westwood Nhóm tác giả tiến hành khảo sát hai loài ong nói trên với vật chủ mọt gạo (S oryzae) gây hại hạt lúa mì ở

điều kiện nhiệt độ trung bình 28 ± 0,5°C, độ ẩm 65 ± 5%, chu kỳ chiếu sáng L:D là 12:12 giờ Kết quả cho thấy, sự khống chế số lượng mọt gạo xuất hiện giảm như nhau

trong cả hai trường hợp chỉ thả ong ký sinh A calandrae và thả đồng thời cả hai loài

Trang 29

ong ký sinh A calandrae và C elegans Trong khi nếu chỉ thả ong ký sinh C elegans

kiểm soát mọt trong cùng điều kiện thức ăn và vật chủ như nhau thì khả năng khống

chế mọt giảm hơn so với chỉ thả ong ký sinh A calandrae Mặt khác khi theo dõi quần thể ký sinh ở thế hệ sau thì tỷ lệ ong ký sinh A calandrae xuất hiện tăng 23,4%, còn tỷ lệ ong C elegans xuất hiện giảm 73,6% Trong điều kiện cả hai loài cạnh tranh, tỷ lệ ong cái C elegans giảm do sự có mặt của loài ong ký sinh A calandrae, trong khi ong C elegan không ảnh hưởng tới sự xuất hiện của ong ký sinh A

calandrae Như vậy theo các tác giả ong ký sinh A calandrae có ưu thế hơn khi cạnh

tranh với loài C elegans trong việc khống chế mọt gạo trên hạt lúa mì [44]

Kết quả tương tự cũng được Williams và Floyd (1971) khảo sát giữa hai loài ong

ký sinh A calandrae và ong Choetospila elegans Westwood trong việc khống chế mọt ngô (S zeamais) trên ngô hạt bảo quản Kết quả cho thấy, ong ký sinh A calandrae cũng chiếm ưu thế hơn so với C elegans trong việc khống chế mọt ngô Tỷ lệ ong cái C

elegans xuất hiện giảm khi có mặt của ong ký sinh A calandrae [45]

Khi nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ lên vòng đời và tỷ lệ giới tính của ong

ký sinh A calandrae trên ấu trùng mọt ngô (S zeamais), Smith (1992) đã thu thập thế

hệ thứ hai của A calandrae từ các kho bảo quản thương mại tại miền Nam Carolina

Tác giả tiến hành nuôi ở các mức nhiệt độ 20°C, 25°C, 30°C và 35°C với độ ẩm không đổi là 63% và thời gian chiếu sáng L:D là 12:12 giờ Ấu trùng ký sinh được tính trên ấu trùng vật chủ mọt ngô từ 21 đến 23 ngày tuổi ở 25°C, độ ẩm 63% Trong nghiên cứu, các chỉ tiêu được theo dõi như sức đẻ trứng hàng ngày của ong cái, thời gian phát triển các pha của ong, chỉ số giới tính của ong Bên cạnh đó nghiên cứu còn đánh giá tỷ lệ số trứng ong cái đẻ hàng ngày, thời gian đẻ trứng và tuổi thọ của ong cái Kết quả cho thấy, thời gian đẻ trứng của ong cái được ghi nhận là 53,5 ngày ở nhiệt độ 20°C và 13,3 ngày ở nhiệt độ 35°C Tuổi thọ của ong cái trung bình dài nhất

là 14,5 ngày (ở 20°C) và ngắn nhất là 6 ngày (ở 30°C và 35°C) Thời gian phát triển vòng đời của ong cái là 44 ngày (ở 20°C) và chỉ còn 10 ngày (ở 35°C) Số ong ở thế

hệ con được sinh ra từ một ong cái trung bình tăng từ 10,4 cá thể (ở 20°C) đến 42,6

cá thể (ở 35°C) Về tỷ lệ giới tính đời con, tỷ lệ ong cái được sinh ra là 33% ở 20°C, còn ở các mức nhiệt độ 30°C và 35°C tỷ lệ này là 63-71% [46]

Burks et al (1999) nghiên cứu ảnh hưởng của mức nhiệt độ thấp đối với vật chủ mọt gạo (S oryzae) gây hại lúa mì và ong ký sinh A calandrae Sâu non mọt

Trang 30

gạo cho tiếp xúc ở -25°C và nhiệt độ -12°C, mỗi mức nhiệt độ được giữ trong 2 giờ sau đó đưa ra đặt ở môi trường nhiệt độ 27°C, độ ẩm 75% Ong ký sinh cho tiếp xúc với vật chủ ở -12°C hoặc -10°C trong 2 giờ rồi tiếp tục đưa ra ở môi trường với nhiệt độ 27°C, độ ẩm 75% sau 2 hoặc 3 ngày theo dõi kiểm tra vật chủ đã bị ký sinh Kết quả cho thấy ong ký sinh sinh sản tốt khi đặt ở nhiệt độ -10°C trong 2 giờ, tuy nhiên ở nhiệt độ này sức sống của một số vật chủ sâu non bị hạn chế nên ảnh hưởng tới sức sống của ong Trong khi đặt ở nhiệt độ -12°C trong 2 giờ sau 3 ngày cho thấy sức sống của ong ký sinh tốt hơn Ở nhiệt độ -12°C sau 19 ngày tỷ lệ ong

ký sinh xuất hiện là 88% Như vậy khi tiếp xúc với vật chủ và lưu giữ ở nhiệt độ 12°C trong 2 giờ sau đó đưa ra theo dõi ở nhiệt độ 27°C, độ ẩm 75% ong ký sinh có thể khống chế tốt tỷ lệ mọt gạo xuất hiện [47]

-Theo Menon et al (2002), phản ứng chức năng của ong ký sinh A calandrae ký sinh sâu non tuổi 4 của mọt đục hạt (R dominica) trên hạt lúa mì Thí nghiệm được tiến

hành trong khoảng nhiệt độ từ 20°C - 35°C và mật độ vật chủ là 1, 2, 4, 8, 16 và 32 sâu non ở mỗi công thức thí nghiệm Nhóm tác giả đã sử dụng phương trình phản ứng chức năng, trong đó một phần tương quan bậc hai là nhiệt độ được thay thế cho thời gian tìm kiếm Tỷ lệ tìm kiếm tức thời tăng khi nhiệt độ tăng Tỷ lệ tìm kiếm tối đa của ký sinh

hạt trên phạm vi rộng của nhiệt độ [48] Như vậy có thể nói ong ký sinh A calandrae là

loài có tiềm năng trong quá trình kiểm soát tự nhiên đối với sâu mọt gây hại nông sản dạng hạt bảo quản

Mobarakian et al (2010) đã nhận xét rằng, ong ký sinh A calandrae là một trong những kẻ thù tự nhiên quan trọng của sâu mọt, đặc biệt trên mọt đậu đỏ (C

maculatus) Trong nghiên cứu này, các giai đoạn phát triển của ong ký sinh A calandrae được nghiên cứu liên tục ở các nhiệt độ khác nhau (20°C, 25°C và 30°C), độ

thủy phần hạt 20 ± 5% và chế độ chiếu sáng L:D là 16:8 giờ Kết quả cho thấy, có sự khác biệt đáng kể trong giai đoạn phát triển trước trưởng thành của ong đực và ong cái

ở các điều kiện nhiệt độ khác nhau Giai đoạn phát triển trước trưởng thành của ong đực là 35,0 ± 1,3; 18,75 ± 0,25 và 13,89 ± 0,46 ngày tương ứng ở 20°C, 25°C và 30°C Trong khi đó, thời gian phát triển của ong cái kéo dài hơn, chúng hoàn thành giai đoạn trước trưởng thành là 41,00 ± 0,45; 20,59 ± 0,26 và 14,64 ± 0,53 ngày (tương ứng với

Trang 31

mức nhiệt độ nêu trên) Thời gian phát triển của ong đực và ong cái chỉ khác biệt đáng

kể ở 30°C và không có sự khác biệt đáng kể ở 20°C và 25°C [49]

Ahmed (2013) nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ trong khoảng 20°C - 35°C

và độ ẩm tương đối đến đặc điểm vòng đời và thời gian phát triển của ong ký sinh

A calandrae với hai loài vật chủ là mọt đục hạt và mọt gạo Kết quả thấy rằng, giai

đoạn phát triển của ong ký sinh A calandrae dao động từ 28,6 ± 6,6 ngày ở nhiệt độ

20°C, độ ẩm 90% đến 10,7 ± 2,1 ngày tại 35°C và độ ẩm 90% Trưởng thành cái và đực giao phối ngay sau khi vũ hóa Ong cái bắt đầu đẻ trứng trong vòng 1 ngày ở

hưởng đáng kể lên vị trí đẻ trứng Thời gian trứng nở là 2,1 ± 0,1 ngày ở 20°C và độ

ẩm 50% Giai đoạn ấu trùng giảm từ 9,3 ± 0,1 ngày ở 20°C xuống 3,2 ± 0,1 ngày ở 35°C Kết quả cũng cho thấy độ ẩm không có tác dụng rõ rệt đến thời gian phát triển của ấu trùng Sự phát triển giai đoạn từ trứng đến trưởng thành của ong ký sinh trên vật chủ sâu non mọt đục hạt ngắn hơn khoảng một ngày so với trên vật chủ sâu non mọt gạo Tuổi thọ và vòng đời của ong đực ngắn hơn so với ong cái ở cùng điều kiện nhiệt độ Thời gian đẻ trứng của một ong cái giảm từ 15,5 ± 0,1 ngày ở 20ºC xuống còn 5,1 ± 0,1 ngày ở 35ºC [50]

Niedermayer et al (2013) nghiên cứu sử dụng các loài ong ký sinh

Lariophagus distinguendus (Foerster) và A calandrae để kiểm soát sinh học mọt Sitophilus granarius (Linnaeus) trong các kho hạt ở châu Âu Để đánh giá tính phù

hợp của chúng trong kiểm soát sinh học dưới nhiệt độ khắc nghiệt vào mùa đông và mùa hè, nhóm tác giả đã nghiên cứu tập tính ký sinh của chúng ngoài tự nhiên với điều kiện nhiệt độ trong thực tế và trong điều kiện nhiệt độ ổn định của phòng thí

C), L distinguendus có tỷ lệ ký sinh cao hơn so với

Những phát hiện trên đã cho thấy vấn đề phụ thuộc vào nhiệt độ của một trong hai

loài ong ký sinh L distinguendus hoặc A calandrae để lựa chọn ứng dụng hiệu quả

hơn của ong ký sinh trong kiểm soát sinh học sâu mọt

Theo nghiên cứu của Mobarakian et al (2014) khi theo dõi thời gian phát triển của vật chủ mọt đậu đỏ (C maculatus) và ong ký sinh A calandrae Nhóm tác

giả đã thử nghiệm với điều kiện nuôi ở các mức nhiệt độ từ 15°C đến 35°C Kết quả

Trang 32

cho thấy đối với cả hai loài ký sinh và vật chủ, thời gian phát triển trước trưởng thành giảm khi nhiệt độ càng tăng Đối với mọt đậu đỏ thời gian phát triển trước trưởng thành trung bình cho cả con cái và con đực ở nhiệt độ 15°C là 151,6 ngày, ở 20°C là 58,7 ngày và giảm khi ở mức nhiệt độ 35°C còn 22,9 ngày Còn đối với ong

ký sinh cũng có kết quả tương tự, cụ thể thời gian phát triển trước trưởng thành của ong cái và ong đực trung bình ở 15°C là 128,1 ngày, ở 20°C là 37,6 ngày và giảm xuống khi ở mức 35°C còn 11,6 ngày [42]

Đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ đến một số thông số sinh học như thời gian

phát triển vòng đời, tuổi thọ, tỷ lệ giới tính đời con của ong ký sinh A calandrae cũng được El-Aw et al (2016) nghiên cứu tại El-Beheira Governorate (Ai Cập)

Nghiên cứu được thực hiện vào năm 2013, khi theo dõi trên lúa mì nhận thấy sự

hoạt động của mọt gạo (S oryzae) đạt đỉnh điểm vào tháng 8 (trung bình 510 cá thể trưởng thành/1 kg lúa mì) Trong khi hai loài mọt S granarius và mọt ngô (S

zeamais) đạt đỉnh cao vào tháng 12 và tháng 9 trung bình lần lượt 401 và 300 cá thể

trưởng thành/1 kg hạt Ong ký sinh A calandrae hoạt động từ tháng 3 đến tháng 11

và đạt đỉnh cao vào tháng 8 với 112 con trưởng thành/1 kg hạt Trong nghiên cứu, nhóm tác giả đã đồng thời đánh giá ảnh hưởng của các mức nhiệt độ như 20°C, 25°C, 30°C và 35°C, độ ẩm 70% đến sự phát triển của ong ký sinh Kết quả thấy

rằng tỷ lệ giới tính đời con của ong ký sinh A calandrae tăng theo chiều tăng của

nhiệt độ và đạt đỉnh cao vào dịp tháng 8, trung bình 2,3 cái/1 đực Thời gian phát

triển vòng đời của ong ký sinh A calandrae giảm khi nhiệt độ càng tăng Ở 20°C

thời gian vòng đời trung bình là 26,89 ngày, còn ở 35°C thời gian chỉ kéo dài 11,55 ngày Số lượng ong ký sinh trưởng thành xuất hiện cũng tăng dần theo chiều tăng nhiệt độ từ 20°C đến 30°C; ở nhiệt độ 30°C ghi nhận 67,67 cá thể Sau đó, số lượng này giảm xuống còn 62,67 cá thể ở 35°C Tỷ lệ giới tính đời con cũng được ghi nhận với sự khác biệt đáng kể từ nhiệt độ 20°C đến 35°C Ở nhiệt độ 20°C, tỷ lệ

giới tính của ong A calandrae là 2 cái/1 đực Trong khi ở 35°C, tỷ lệ này tăng là

2,3 cái/1 đực Không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ giới tính khi quan sát ở các mức nhiệt độ 20°C, 25°C và 30°C Kết quả nghiên cứu đánh giá, nhiệt độ 30°C là nhiệt độ tốt nhất cho sự hoạt động và phát triển của ong ký sinh [52]

Kazemi et al (2008) lại quan tâm tới sự ảnh hưởng của thức ăn bổ sung đến tuổi thọ ong ký sinh A calandrae Thí nghiệm của nhóm tác giả thấy rằng tuổi thọ của

Trang 33

trưởng thành cái được ghi nhận như sau: ở điều kiện nuôi chỉ cung cấp dung dịch mật ong 50% là 49,00 ± 4,32 ngày; khi nuôi chỉ có sâu non vật chủ tuổi thọ là 26,69 ± 1,98 ngày; có sâu non vật chủ và dung dịch mật ong 50% là 38,90 ± 3,52 ngày và cuối cùng không có sâu non vật chủ và dung dịch mật ong là 5,66 ± 0,37 ngày Trưởng thành đực có tuổi thọ lần lượt tương ứng với các điều kiện nuôi nói trên là 10,64 ± 1,5, 6,85 ± 0,34, 8,41 ± 0,52 và 5,59 ± 0,28 ngày [33]

Zilch et al (2017) đã tiến hành thí nghiệm trên ba loại thức ăn gồm: 100 g bột

mì, 950 g bột mì và 50 g men bia, 950 g bột mì và 50 g thuốc lá khô, mỗi loại đựng

trong chậu nhựa 120 ml Vật chủ thí nghiệm là mọt thuốc lá (L serricorne), điều kiện

thí nghiệm với nhiệt độ trung bình 28 ± 2˚C, độ ẩm 60 ± 10% Mỗi chậu nhựa được

để vào một chậu lớn hơn, mặt đáy có lót giấy làm ẩm hàng ngày và được bao bởi vải thông gió Mật độ vật chủ sâu non mọt thuốc lá ở giai đoạn tuổi 4 được thả vào mỗi

công thức thức ăn là 10, 20, 50 và 100 sâu non Mỗi công thức thả 1 cặp ong ký sinh

A calandrae vừa vũ hóa và cho ăn thêm mật ong Thí nghiệm được lặp lại 12 lần

Sau 24 giờ bổ sung tương ứng 10 sâu non tuổi 4 cho mỗi cặp ong được thả để cho ký sinh tiếp xúc vật chủ trong vòng 1 ngày Hàng ngày ghi chép số cặp ong được thả bị chết, số mọt và số ong ở thế hệ con xuất hiện Theo dõi thí nghiệm đến khi các cặp

ong đã thả bị chết (thời gian khoảng 20 ngày) Kết quả cho thấy tỷ lệ ong ký sinh A

calandrae xuất hiện cao nhất ở loại thức ăn bột mì và men bia với mật độ 50 sâu non

là 96,34% và thức ăn bột mì với mật độ 100 sâu non là 92,91% Các công thức còn lại không có sự khác nhau đáng kể Nhóm tác giả cũng xác định trong điều kiện có thức ăn là mật ong và có vật chủ trưởng thành ong cái có thể sống được 25 ngày trong khi trưởng thành ong đực thời gian sống ngắn hơn [53]

Nhìn chung các kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học của ong ký

sinh A calandrae chủ yếu tập trung vào đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm lên

sự phát triển của ong ký sinh và một số tác giả quan tâm đến sự ảnh hưởng của thức ăn

bổ sung và mật độ vật chủ Ngoài ra có một vài nghiên cứu đề cập tới khả năng kháng

thuốc trừ sâu của ong ký sinh A calandrae như Baker và Weaver (1993) [54], Baker và Thorne (1995) [55] và Baker et al (1998) [56] Các tác giả đều có chung nhận xét mặc

dù ong ký sinh A calandrae có sức đề kháng cao nhưng cũng rất nhạy cảm với thuốc

trừ sâu như Malathion, Chlorpyrifos-methyl, Pirimiphos-methyl, Malathion-Resistant

và Malathion Nhóm tác giả cũng cho rằng để tạo hệ sinh thái cân bằng, đồng thời giúp

Trang 34

các loài thiên địch như ong ký sinh phát triển cần bổ sung nguồn dinh dưỡng cho chúng Tuy nhiên việc lựa chọn các chủng ký sinh nào phù hợp với môi trường sống của ong còn đang được tiếp tục nghiên cứu

1.2.2.6 Khả năng kiểm soát sâu mọt của ong ký sinh A calandrae

Nhằm mục tiêu sử dụng ong ký sinh A calandrae để kiểm soát sinh học các loài

sâu mọt Cánh cứng hại nông sản bảo quản, một số công trình đã quan tâm nghiên cứu đánh giá khả năng kiểm soát sinh học các loài sâu mọt của loài ong này

Williams và Floyd (1971) [45], Arbogast và Mullen (1990) [43] đã nghiên cứu

khả năng kiểm soát mọt ngô (S zeamais) của ba loài ong ký sinh A calandrae, C

elegans và T elegans Theo các tác giả này, trong ngô hạt được bảo quản, khi khảo sát

giữa ong ký sinh A calandrae và hai loài còn lại thì khả năng khống chế mọt ngô của ong ký sinh A calandrae hiệu quả hơn so với loài ong C elegans và T elegans

Helbig (1998) nghiên cứu khả năng ký sinh tự nhiên của hai loài ong ký sinh

A calandrae và T elegans đối với loài mọt Prostephanus truncatus (Horn) và mọt

ngô (S zeamais) Nghiên cứu được tiến hành tại cửa hàng ngô truyền thống ở miền

Nam Togo Tác giả tiến hành thử nghiệm hai loài ký sinh này trên ngô hạt đổ rời

với vật chủ là P truncatus Kết quả cho thấy ong ký sinh A calandrae đã làm giảm

sự xuất hiện của mọt P truncatus tới 70,1% sau 8 tuần thả ong; trong khi đó ong T

elegans không có tác động đối với loài mọt này Mặt khác, khi theo dõi thả ong ký

sinh A calandrae đối với hai quần thể mọt P truncatus và mọt ngô thì tỷ lệ xuất hiện loài P truncatus là 61,3%; còn đối với loài mọt ngô tỷ lệ này chỉ còn 22,5% Nghiên cứu cũng đã đánh giá, ong ký sinh T elegans chỉ có thể làm giảm sự xuất

hiện của loài mọt ngô [14]

Hou et al (2002) đánh giá hiệu quả của việc sử dụng bột đậu giàu protein và

ong ký sinh trong khống chế một số loài mọt gây hại lúa mạch Nghiên cứu đã tiến hành hai thí nghiệm ở nhiệt độ 30°C, độ ẩm 70% là chỉ sử dụng bột đậu giàu protein

(60% protein, 30% tinh bột và 7% chất giữ ẩm) để khống chế mọt gạo (S oryzae), mọt thóc đỏ (T castaneum) và mọt râu dài (Cryptolestes ferrugineus) Thí nghiệm thứ hai vừa kết hợp bột đậu giàu protein với hai loài ong ký sinh A calandrae và

Cephalonomia waterstoni Gahan Kết quả cho thấy khi chỉ xử lý bột đậu giàu

protein thì tỷ lệ quần thể mọt gạo và mọt râu dài xuất hiện giảm tới 90%, còn tỷ lệ mọt thóc đỏ xuất hiện giảm hơn 70% Trong khi kết hợp bột đậu giàu protein và cả hai

Trang 35

loài ong ký sinh A calandrae và C waterstoni tỷ lệ mọt gạo xuất hiện giảm khoảng 70%, còn khi chỉ kết hợp bột đậu giàu protein và ong ký sinh A calandrae tỷ lệ mọt

gạo xuất hiện giảm tới 99,8% [57] Với thí nghiệm kết hợp bột đậu giàu protein và ong ký sinh đối với việc khống chế hai loài mọt còn lại là mọt thóc đỏ và mọt râu dài các tác giả chưa đánh giá được hiệu quả Ngoài ra Hou (2003) đã nghiên cứu thêm

và còn ghi nhận bột đậu giàu protein không ảnh hưởng đến khả năng ký sinh cũng như

sức sống và hoạt động tìm kiếm của ong ký sinh A calandrae [58]

Kết quả nghiên cứu của Mahal et al (2005) cho thấy ảnh hưởng của ong ký sinh A calandrae đến việc kiểm soát quần thể mọt đục hạt (R dominica) trong kho hạt lúa mì Ong ký sinh A calandrae được thả với 6 mật độ (5, 10, 20, 30, 40 và 50

cặp ong) Mỗi mật độ tướng ứng với 500 g hạt lúa mì Thí nghiệm được bố trí 5 lần

7 ngày lượng hạt từ các lô riêng rẽ được để vào các chai thủy tinh có đậy lớp vải màn thông gió nhưng ngăn côn trùng đi ra Sau 13 - 17 ngày kiểm tra sự xuất hiện

của ký sinh và vật chủ Ở công thức 50 cặp ong, ong ký sinh khống chế được từ 74 -

83% sự xuất hiện mọt đục hạt; trong khi đó, ở công thức 5 cặp ong tỷ lệ này là 48 - 53% Trong thử nghiệm thứ hai, để đánh giá việc kiểm soát mọt đục hạt của ong ký

sinh A calandrae trên các vật liệu khác nhau được sử dụng bảo quản nông sản

Năm trăm (500) hạt có sâu non mọt đục hạt 20~22 ngày tuổi được pha trộn với 250

g hạt lúa mì tươi được bảo quản riêng biệt trong 5 loại túi: túi đay, vải trắng,

polypropylene, polythene và nylon Sau đó tiếp xúc với 50 cặp ong ký sinh A

calandrae Các ong ký sinh xâm nhiễm vào trong tất cả các loại túi, trừ loại túi làm

bằng polythene Tỷ lệ xâm nhiễm cao nhất xảy ra trong túi vải trắng chiếm tới 81%

Khả năng kiểm soát của ong đạt thấp nhất là từ 51 - 57% trong túi polypropylene

Tỷ lệ chết của vật chủ do ký sinh gây ra tương quan dương với mật độ thả ong ký

sinh A calandrae [59]

Gredilha et al (2006) đã khảo sát mức độ ký sinh của ong ký sinh A

calandrae trên mọt thuốc lá (L serricorne) sống trong thức ăn gia súc ở Rio de

Janeiro tại cửa hàng bán lẻ Ấu trùng mọt thuốc lá được duy trì trong điều kiện phòng thí nghiệm đến giai đoạn trưởng thành để đánh giá khả năng ký sinh của ong Từ số nhộng ong thu được ở phòng thí nghiệm, có 84,6% sâu mọt bị ký sinh; 10,27% phát triển thành mọt trưởng thành và 5,13% vật chủ bị chết [60] Từ đó,

Trang 36

tác giả cho rằng loài ong ký sinh này là kẻ thù tự nhiên quan trọng của một số sâu mọt gây hại nông sản bảo quản, cụ thể có thể sử dụng trong việc kiểm soát sinh học loài mọt thuốc lá

Ngamo et al (2007), cũng có nhận xét rằng ong ký sinh A calandrae là tác nhân kiểm soát sinh học của mọt đậu đỏ (C maculatus) Ong ký sinh A calandrae

ký sinh vào giai đoạn sâu non, có thể được sử dụng trong kiểm soát sinh học loài côn trùng hại ngũ cốc này Trong điều kiện thực tế, sau 5 tháng bảo quản đậu đũa trong kho có sự thành lập mối quan hệ giữa ký sinh và vật chủ của nó Với số lượng

lớn cá thể ong ký sinh A calandrae có thể kiểm soát hiệu quả sự gây hại của mọt đậu đỏ Kết quả thí nghiệm cho thấy ong ký sinh A calandrae ưa thích ký sinh vào

sâu non tuổi 4 của mọt đậu đỏ Kết quả thí nghiệm cũng được đánh giá nhằm ước tính mật độ phù hợp cho sự xâm nhiễm của ký sinh Một cá thể ong cái ong ký sinh

A calandrae đã giao phối có thể làm giảm 4,97% sự xuất hiện của mọt đậu đỏ và

khi thả 4 ong cái đã giao phối thì làm giảm 42,34% sự xuất hiện của mọt Với mật

độ quần thể phù hợp, ong ký sinh A calandrae có thể đóng vai trò quan trọng trong

kiểm soát sinh học mọt đậu đỏ hại đậu đũa trong quá trình bảo quản [61]

Khi Chaisaeng (2007) nghiên cứu trong phòng thí nghiệm về kiểm soát loài

mọt ngô (S zeamais) của ong ký sinh A calandrae Tác giả đã thiết lập 2 thí ở điều

kiện nhiệt độ 25 - 29°C, độ ẩm 60 - 70% và chế độ chiếu sáng tự nhiên Một thí

nghiệm ngắn hạn với mức mật độ thả ong ký sinh A calandrae ban đầu là 0; 4; 8;

chứa gạo xay Ở công thức 16 con cái/hộp, tỷ lệ ký sinh xuất hiện cao nhất (57,96 ± 1,70%), tuy nhiên không có sự khác nhau đáng kể so với công thức 20 con cái/hộp (45,00 ± 1,18%) Xu hướng xuất hiện của ký sinh tăng khi mật độ thả ký sinh tăng vào mỗi hộp nuôi Sự suy giảm ký sinh xuất hiện ở mật độ thả ký sinh cao nhất được thử nghiệm (20 con cái/hộp) so với công thức 16 con cái/hộp có lẽ là do bội

ký sinh Một thí nghiệm dài hạn được tiến hành để xác định mật độ ký sinh (0; 2; 4; 6; 8 hoặc 10 con cái/hộp) trong đó hiệu quả ngăn chặn mọt trên gạo trong 6 tháng bảo quản cao nhất là 10 con/hộp Các công thức được thả ong lặp lại sau khi lấy mẫu hàng tháng Số mọt ngô giảm khi mật độ ký sinh tăng Việc kiểm soát tốt nhất

đã thu được với 10 cá thể ong ký sinh cái vào mỗi hộp Ở mật độ này, số lượng mọt ngô xuất hiện vẫn ổn định từ 3 đến 6 tháng Dựa trên các thí nghiệm ngắn hạn,

Trang 37

tương quan số lượng giữa ký sinh và vật chủ ở mức 01/47 là tỷ lệ mà số lượng ong

ký sinh được sinh ra là lớn nhất và cho khả năng kiểm soát tốt mọt gây hại Dựa trên các thí nghiệm dài hạn, tương quan số lượng giữa ký sinh và vật chủ ở mức 1/30 cho khả năng kiểm soát tốt nhất mọt ngô trong việc thả ong hàng tháng Kết quả cho thấy, các thí nghiệm quy mô lớn về kiểm soát sinh học loài mọt ngô với

ong ký sinh A calandrae có tính khả thi [28]

Hình 1.3 Mọt ngô (Sitophilus zeamais)

(Nguồn: Chaisaeng, 2007) [28]

Hansen và Steenberg (2007) nghiên cứu sử dụng hai loài ong ký sinh là A

calandrae và Lariophagus distinguendus Forster kết hợp với nấm Beauveria bassiana

(Bals.) để khống chế mọt Sitophilus granarius (Linnaeus) gây hại hạt lúa mì Thí

nghiệm được tiến hành ở điều kiện nhiệt độ 25°C, độ ẩm 70%, chu kỳ chiếu sáng L:D

là 16:8 giờ Ở công thức không sử dụng ong ký sinh và nấm thì số lượng mọt xuất hiện trên hạt lúa mì sau 26 tuần tăng lên gấp 5.000 lần Trong khi nếu chỉ sử dụng hai loài

ong ký sinh A calandrae và L distinguendus thì tỷ lệ khống chế mọt đạt trên 99,9% Ở công thức vừa sử dụng hai loài ong ký sinh và kết hợp nấm B bassiana tỷ lệ mọt bị

khống chế đạt 83 - 98% Các tác giả nhận xét mặc dù hai loài ong ký sinh có bị ảnh hưởng bởi nấm trong quá trình phát triển nhưng vẫn đạt tỷ lệ khống chế mọt cao so với công thức đối chứng là không thả ong và không xử lý nấm [62]

Theo Hany et al (2009), ong ký sinh A calandrae có khả năng kiểm soát các loài mọt đỏ (C maculatus) và mọt đậu xanh (C chinensis) trên hạt đậu; mọt đục hạt (R

dominica) và mọt gạo (S oryzae) trên hạt lúa mì Hiệu quả của việc thả ong trực tiếp

(bên trong túi nhựa) hạt đậu hoặc hạt lúa mì với A calandrae được nghiên cứu trên

quần thể sâu mọt, sự thiệt hại của hạt được tính bằng tỷ lệ phần trăm và sự giảm khối

Trang 38

lượng tỷ lệ hạt bảo quản do sự phá hại của sâu mọt đậu đỏ và mọt đậu xanh trên hạt đậu; mọt đục hạt và mọt gạo trên hạt lúa mì tại Ai Cập Kết quả cho thấy hàng tháng

thả ong ký sinh A calandrae đã làm giảm tốc độ gia tăng quần thể mọt trong thử

nghiệm trên hạt đậu ở mức từ 35,20 đến 42,14% Với mức độ giảm này đã làm giảm sự xuất hiện quần thể mọt trên hạt đậu từ 31,24 đến 36,71% vào cuối thời gian bảo quản là

6 tháng Trong trường hợp hạt lúa mì, tốc độ gia tăng mọt hàng tháng giảm từ 29,05 đến 46,80% Tỷ lệ này đã làm giảm sự xuất hiện quần thể mọt vào cuối thời gian bảo quản từ 31,51 đến 47,98% Khối lượng hạt đậu giảm sau thời gian bảo quản từ 32,71 đến 40,99% là kết quả của việc thả ong ký sinh Trường hợp với hạt lúa mì, sự giảm khối lượng hạt dao động từ 72,67 đến 81,66% [63]

Kết quả thực nghiệm của Visarathanonth et al (2010) cho thấy tuổi ấu trùng

mọt vào 21 ngày là giai đoạn thích hợp nhất cho việc nuôi ong ký sinh Để có được 1.124 ± 236 con ong đã sử dụng 220 g gạo nâu, sau 33 ngày nuôi Việc đánh giá

khả năng kiểm soát mọt ngô (S zeamais) của ong ký sinh A calandrae dựa trên hai

công thức thả ong bao gồm 1.000 và 800 con ong Mỗi công thức với khối lượng 25

kg gạo Kết quả, ong ký sinh A calandrae có khả năng kiểm soát tốt loài mọt ngô

và chất lượng gạo bảo quản cũng được đảm bảo [39]

Sitthichaiyakul và Amornsak (2014) đã nghiên cứu sự khống chế mọt ngô của

ong ký sinh A calandrae trên hạt gạo nâu Nhóm tác giả thiết kế thí nghiệm dạng silo

bằng hộp nhựa có kích thước ngang 15 cm x rộng 7 cm x cao 21,5 cm Trong hộp nhựa ngăn thành 4 tầng cách nhau bằng tấm lưới có đường kính 1 mm Độ cao mỗi tầng tính từ dưới lên theo thứ tự 0 cm, 5,5 cm, 11 cm và 14,5 cm Mỗi tầng được để hỗn hợp gạo nâu gồm 90 g gạo không nhiễm mọt ngô và 30 g gạo có sâu non mọt

ngô sau 21 ngày thả mọt trưởng thành Thả 50 cặp ong ký sinh A calandrae vào lỗ đã tạo sẵn trên cùng của hộp nhựa silo Sau 3 ngày thu bắt trưởng thành ong ký sinh A

calandrae ra khỏi silo Sau hai tuần đếm số lượng ong ký sinh A calandrae và mọt

ngô trưởng thành Kết quả cho thấy số ong ký sinh A calandrae xuất hiện tăng dần từ

tầng thấp nhất đến tầng cao lần lượt là 66,3 con; 123,5 con; 141,0 con và 192,3 con Ngược lại số lượng trưởng thành mọt ngô xuất hiện lại giảm dần từ tầng thấp đến tầng cao của silo lần lượt là 301,5 con; 225,0 con; 200,7 con và 138,6 con Nhóm tác

giả cũng nhận xét, ong ký sinh A calandrae có thể phân bố trong toàn bộ mô hình

Trang 39

bảo quản dưới dạng silo và có thể khống chế tốt mọt ngô ở hầu hết các tầng silo đặc biệt ở tầng silo cao nhất [35]

1.3 Nghiên cứu ở Việt Nam

1.3.1 Nghiên cứu thành phần loài thiên địch trong kho bảo quản nông sản

Cho đến nay, thành phần loài thiên địch của sâu mọt hại nông sản trong kho ở Việt Nam còn ít được quan tâm nghiên cứu

Theo Dương Minh Tú (2005), bọ xít bắt mồi Xylocoris flavipes (Reuter) và ong ký sinh Theocolax elegans Westwood có mức độ phổ biến tương đối cao trong

kho thóc dự trữ đổ rời ở miền Bắc Việt Nam [64]

Hai loài thiên địch gồm bọ xít bắt mồi Xylocoris flavipes (Reuter) và ong ký sinh Bracon hebetor (Say) cũng được ghi nhận tại Cần Thơ và An Giang trong danh sách thành phần loài côn trùng kho của Trần Văn Hai và cs (2008) [65]

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Quý Dương (2010) đã ghi nhận 7 loài thiên địch với 3 loài Cánh màng ký sinh sâu mọt gây hại trên đậu đỗ lưu trữ ở Việt Nam là ong

xanh ký sinh có mắt cánh (Dibrachys sp.), ong xanh ký sinh gốc bụng vàng (Enargopelte sp.) và ong xanh ký sinh vân cánh nâu (Theocolax elegans Westwood) Bốn loài thiên địch khác cũng được xác định như bọ xít Xylocoris flavipes (Reuter), nhậy sách Liposcelis entomophila (Enderlein) và Liposcelis bostrychophila (Badonnel), một loài càng cua mình dài Chelifer cancroides Linnaeus thuộc bộ Bò cạp giả

(Pseudoscorpionida) [66]

Gần đây nhất, kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Dương và Khuất Đăng Long (2017) về các loài ong ký sinh mọt hại ngô bảo quản ở Sơn La đã ghi nhận có

6 loài ong ký sinh, trong đó có 2 loài thuộc họ Bethylidae gồm Cephalonomia

tarsalis (Ashmead, 1893) và Holepyris syvanidis (Brèthes, 1913); 4 loài thuộc họ

Pteromalidae gồm A calandrae, Cerocephala dinoderi Gahan, Lariophagus

distinguendus (Forster) và Theocolax elegans [67]

1.3.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh học mọt thuốc lá

Ở Việt Nam, đặc điểm hình thái và đặc điểm sinh học mọt thuốc lá (L

serricorne) có nghiên cứu của tác giả Bùi Công Hiển (1995) [9] Nghiên cứu đã mô

tả hình thái mọt trưởng thành, trứng mọt, ấu trùng mọt (kích thước ấu trùng tuổi cuối dài 4 mm) Mọt gây hại thuốc lá, gạo, lạc, ớt, đồ gia vị bảo quản trong kho Một số đặc điểm sinh học được đánh giá như sức đẻ trứng của trưởng thành mọt cái (một

Trang 40

trưởng thành cái có thể đẻ 10 - 100 trứng, trung bình 20 - 30 trứng) Thời gian của trứng khoảng 6 - 7 ngày sau đó nở thành ấu trùng

Cho đến nay, đặc điểm sinh học mọt thuốc lá gây hại trên thức ăn nuôi cá chưa

có nghiên cứu nào được công bố

1.3.3 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, tập tính, sinh thái học và khả năng kiểm soát sâu mọt của ong ký sinh A calandrae

Cho đến nay, ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về đặc điểm sinh học, tập tính, đặc điểm sinh thái học cũng như khả năng kiểm soát sâu mọt gây hại nông sản

trong kho của ong ký sinh A calandrae được công bố.

Nhận xét chung các nghiên cứu ở Việt Nam

Nhìn chung tại Việt Nam các nghiên cứu về thành phần loài thiên địch của côn trùng hại nông sản trong kho đã được một số tác giả quan tâm như Dương Minh

Tú (2005) ghi nhận 2 loài ở miền Bắc Việt Nam (bọ xít bắt mồi Xylocoris flavipes

và ong ký sinh Theocolax elegans) [64] Tại Cần Thơ và An Giang có 2 loài là X

flavipes và ong ký sinh Bracon hebetor được ghi nhận bởi Trần Văn Hai và cs.,

2008 [65] Năm 2010 Nguyễn Quý Dương đã công bố 7 loài thiên địch trên đậu đỗ

ở Việt Nam trong đó có 3 loài ong ký sinh (Dibrachys sp., Enargopelte sp và T

elegans) và 4 loài thiên địch khác gồm bọ xít X flavipes, nhậy sách Liposcelis entomophila, L bostrychophila và loài càng cua mình dài Chelifer cancroides [66]

Nguyễn Văn Dương và Khuất Đăng Long (2017) ghi nhận 6 loài ong ký sinh trên

ngô tại Sơn La gồm Cephalonomia tarsalis, Holepyris syvanidis, A calandrae,

Cerocephala dinoderi, Lariophagus distinguendus và T elegans [67]

Như vậy, các nghiên cứu về thiên địch của sâu hại nông sản trong kho còn rất hạn chế Các kết quả đã công bố chủ yếu chỉ tập trung nghiên cứu về thành phần loài

và sự bắt gặp trên một số loại nông sản mà chưa nghiên cứu từng đối tượng cụ thể, đặc biệt như đối với các loài ong ký sinh

Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, một số tập tính, đặc điểm sinh thái cũng như

khả năng kiểm soát của ong ký sinh A calandrae trên sâu mọt bộ Cánh cứng hại

nông sản trong kho ở Việt Nam chưa được đánh giá

Ngày đăng: 01/03/2021, 19:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm